Dặm ngàn hương cốm, dặm ngàn nhớ thương
Tôi được tác giả đưa cho cuốn sách này mà không có chữ kí và lời đề tặng trong
một buổi sáng hanh hao nắng bên sông Hồng mùa nước nổi mênh bờ bên phía
giáp sông Đà kẻ chỉ xa mờ và muôn trùng con són như vỗ lên những mái ngói mốc
rêu thành phố Việt Trì. Tôi dẹp ngay giây phật lòng vừa lóe. Kệ! Miễn là có
sách, được đọc mà không mất tiền mua.
Lại chợt liên tưởng tới các nghệ nhân tạc tượng mồ Tây Nguyên. Họ chỉ
sung sướng thăng hoa trong quá trình sáng tạo... Còn cái sự chân tình pha
chút khủng khỉnh của bạn văn trong lần sơ giao cũng chẳng lấy làm lòng.
Chưa đi hết bối rối thì cái li rượu nhỏ bằng pha lê có chân phía bên kia bàn đã
reo lên một tiếng " keng" với li của tôi. Cái li bên trong những ngón
tay búp măng trắng muốt dài và đẹp như lời một bài hát của Trịnh, như của một
nghệ sĩ piano. Và cái cách nâng li rượu thật quí phái, sang trọng mà sau khi đọc
xong cuốn sách của Ông tôi mới hiểu phần nào.
Trước hết, tôi hả hê sung sướng vì ngay từ trang đầu tiên cho đến khi khép lại
tác phẩm, tác giả xưng " Tôi" viết hoa để trần thuật và giãi bày cảm
xúc. Phá lệ chính tả để làm một chữ "Tôi" viết hoa giữa thanh thiên
bạch nhật. Điều này như hành động của một anh hùng. Nó là một minh triết. Nói
quá vì tư tình ư? Thì hãy nhìn vào lịch sử nhân loại mà xem. Hành trình mất
mươi nghìn năm con người đi lên cũng bởi những cái Tôi cá nhân xuất sắc không
trộn lẫn, dám làm ,dám chịu và ngạo nghễ khẳng định ta đây giữa đời sống. Mờ mờ
nhân ảnh đám đông chỉ là thói a dua phản động, kéo lùi lịch sử của những chế độ
xã hội nhăm nhăm rình rập thủ tiêu cá nhân không đội trời chung với độc tài,
chuyên chế. Xin nhỏ một giọt nước mắt cho những kiếp người bản thân mình sống hẳn
hoi, sờ sờ ra đấy mà chỉ dám xưng "chúng ta", "chúng
tôi" để dễ bề tỏ ra khách quan tăng uy tín cho mình và đổ lỗi cho người
khác trong tương lai nhãn tiền.
"Dặm ngàn hương cốm..." là tập tùy bút gồm hai mươi lăm bài viết về
những cái đã qua. Chỉ đọc tên tác phẩm ở mục lục cũng thấy điều đó: "Cọ
ngàn xưa...", "Niệm khúc...", "ngôi nhà cổ đã mất",
" hoa đào năm cũ", "Nhớ dưới mưa xuân", "chút hồi ức
về miền thơ ấu"... Nhưng những cái cũ càng này không phải nằm trong bảo
tàng kí ức mà nó đang đồng hành rực cháy, ám ảnh, thiêu đốt trước hết là tác giả
và những người đọc nó. Nó không già không chết mà mãi tươi non để con người soi
mình và sống tốt đẹp hơn. Một dẫn chứng ngẫu nhiên: "Họ không giúp được gì
cho nhau nữa, nhưng khi sống, họ đã lắng nghe nhau..Sự có mặt của nhau đã làm
giàu có thêm thế giới bình an trong họ nơi trần thế" ( tr 293)
Về mặt đề tài, trừ số ít viết về Hà Nội- thành phố có những liên hệ máu thịt với
dòng họ và bản thân tác giả, còn lại là loạt bài về nơi chôn nhau cắt rốn, quê
hương xứ sở vùng đất Tổ vua Hùng Phú Thọ. Với tôi, như bắt gặp những tiếng reo
của các địa danh: Bạch Hạc, Việt Trì, Thanh Sơn, Phù Ninh, Liên Hoa, Trạm Thản,
Gia Thanh, An Thái, Kim Đức ... Những cái tên như ngậm nhạc trong miệng vì đơn
giản là có tuổi thơ tôi. Nơi " Tôi lớn lên quả trám đã bùi/ Rễ
si buông cước lá sòi rưng rưng/ Tôi chưa với tới trái bàng/ Kiễng chân
chóng mặt cầu vồng lên năm" (HT) Nơi có nhà bá Thủ- chị ruột
bố tôi lấy chồng ở chợ Phú Lộc có cây đa tám cội mà mỗi lần tôi hồi bảy, tám tuổi
cùng bà nội ngược chơi lại được bá mua phở lợn mậu dịch năm hào cho
ăn; sau tiếng kẻng nghỉ trưa của Hợp tác lại lụt thụt bên những dộc ruộng chằm bắt
trạch về kho trám chua làm bữa.
Có những gì ở miền quê ấy? Đó là thiên nhiên nhễ nhại một triền đồi sỏi đá
Trung du trong cái nắng xiên khoai với cây cọ lẻ đi rong bên sườn đồi. Đó là những
sản vật dân dã có lẽ cùng tuổi với Hùng vương thứ nhất. Những quả trám, những cọ,
những dọc, những khoai, những sắn, những chè, những dứa, những mít, những
sung... dân dã được gọi tên bằng những từ Việt cổ, bằng phương ngữ: nhậy cọ, ken, cóm,
ruộng rộc, hom sắn, bị xổi, bị hẩu, làm hèm, cái néo,
thóccum... gắn bó nghìn đời với các thế hệ chủ nhân của nó. Nhưng diệu kì
thay, dưới ngòi bút tài hoa và cái nhìn độc đáo của Thiện Kế, những thân thuộc,
ta tưởng chừng biết rất kĩ về chúng, chẳng có gì để nói thêm lại hiện ra tinh
khôi với những chiều kích mới. Thấm thía những câu thơ của M.Evtusenko về tội lỗi
dương dương tự đắc của người đời:" Chúng ta tưởng biết kĩ càng sâu sắc/
Nhưng thử hỏi thực tình ta đã biết gì đâu". Ở phương diện này, NTTKế
là bậc thầy. Nhờ có Ông mà tôi- một kẻ phàm phu mới biết ngửi thế nào là hương
cốm, rượu cốm nếp cái hoa vàng, rượu sen, trà ốc, tằm rụt, cách chọn nơi đào giếng...;
lại cũng mới biết cá Anh Vũ- một đặc sản tiến vua, một món ăn quí tộc nếu dưới
một kilôgam chưa chính danh thì phải gọi là con Buột, nhiều người nhầm loài cá
này với cá Dầm xanh; mới biết quả dọc không phải chỉ dùng nấu canh mà còn có thể
rửa tay tẩy nhựa chè. Tầm ngầm lục lại trí nhớ xem " cải sót" là gì?
Những món ăn của thương sinh, dưới bàn tay chế biến vô cùng tỉ mẩn, công phu
theo những tính toán và những tuân thủ nghiêm ngặt như là một nghi lễ, thành Đạo
của mẹ, của bà, của chị và của những thường dân mà kiếp sống lẫn cùng cây cỏ,
vô danh từ buổi được mẹ khai sinh oa oa tiếng khóc chào đời cho đến khi nằm xuống
bỗng trở nên cao lương mĩ vị, tỏa thơm ngào ngạt khắp không gian và tâm hồn người
ẩm thực. Sâu xa hơn, những phận sắn, phận người... dù phải trải qua thiên ma
bách chiết, bị dày vò, bị băm, bị cắt, bị chặt, bị cho vào lửa, bị nhấn xuống
bùn... nhưng sau mỗi lần như thế lại hiện ra sáng ngời những phẩm chất mới cao
đẹp tiềm ẩn trong bản chất mà sự sống phải cần tới, phải biết ơn.Tôi thầm nghĩ:
những trang viết loại này của tác giả xứng đáng kiêu hãnh ngẩng cao đầu bên những
bậc thầy Vũ Bằng, Thạch Lam và Nguyễn "lư đồng mắt cua".Tôi tin quan
niệm đúng đắn của mình, rằng nghệ sĩ là người nhặt một cọng cỏ lên và làm cho
nó trở thành bất tử. Trong DNHCM, những nhận xét trực tiếp của người viết hay
qua miệng nhân vật cũng mang lại cho người đọc những suy ngẫm và bài học về cuộc
sống và kinh nghiệm sống. Tỉ dụ:" Dẫu là vua cá thì cũng chẳng thoát khỏi
mùi tanh"." Cỏ cây cũng như con người, chỗ này thì là vàng, ở chỗ kia
thì lại là ống bơ gỉ". " Vạn vật cũng như con người...Chăm gì, bón
gì, tưới gì cũng không bằng thuận lẽ tự nhiên". " ...thứ hương của kẻ
quân tử thì chỉ có quân tử mới cảm nhận được". " không chỉ sung sướng
mới có sức lưu giữ một số phận". Cây đã cong, dù to, dùng vào việc thẳng
thì trước sau nó cũng vẹo vọ (ý)...Những suy ngẫm này của những số phận kinh lịch
từng trải cay đắng nhiều hơn ngot ngào thốt ra từ tâm can nên không hề cao đạo,
dạy bảo mà giản dị là tỏ bày nên có sức thuyết phục lớn lao.
Ai đã làm cho những vật vô tri vô giác như củ khoai củ sắn, quả sung, quả dọc,
tàu lá chuối tươi hơ lửa, cái cối gạo ven suối, cái mõ trâu, những chiếc lá
khô, ngọn khói... trở nên có hồn, có thân phận và cuộc sống như người? Chính là
tác giả, là người Mẹ, người u già, những người chị, linh mục, sư già... Họ
sống với quan niệm nguyên thủy và nhân văn: vạn vật hữu linh. Chính vì vậy họ sợ
vô tình xúc phạm và làm cho chúng đau. Tác giả đã hơn một lần ngập ngừng không
nỡ bước lên thảm hoa xoan trải mùa trước ngõ. Ông cũng thương nhìn sợi khói như
một sinh linh. Hái hoa thiên lí, Mẹ sợ làm đau những chiếc lá nên phải lựa
thế tay. Mẹ cũng sợ nếu thô bạo sẽ làm đau cái xe đạp cà tàng cà khổ. Ông già
Đông Chắt khấn cây mít già trong vườn trước khi nó bị đốn hạ; đau đớn, sợ hãi
trước một cánh rừng bị tàn sát bằng sự vô cảm... Họ mong muốn chúng trở nên hữu
ích và thành bạn của con người. Đúng như ước nguyện, cỏ cây hoa lá trong tác phẩm
tràn trề nhân tính. Chúng trở thành bằng hữu an ủi vỗ về con người trong một đời
khốn khó. Tất cả đã trở thành tinh hoa trong DNHCM mà một người tử tế như tôi tự
nhận đã quì xuống. Và kết tinh của mọi tinh hoa ấy là tinh hoa Mẹ. Sẽ mãi không
bao giờ quên hình tượng một người mẹ như từ nguyên mẫu trong tác phẩm nổi tiếng
của họa sĩ họ Tô bước thẳng vào cõi trần gian tăm tối. Một người mẹ lẽ ra đài
các kiêu sa, xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong nhung lụa do cha ông lao động
cật lực mà có; hào hoa thanh lịch tới từng chi tiết nhỏ nhất trong mỗi công việc,
cứ như đụng vào bất kì thứ gì thì chúng cũng sẽ kết thành hoa thơm trái ngọt. Mẹ
là hiện thân, là tường minh của lời nhắn nhủ ông cha: giấy rách phải giữ lấy lề.
Bất kì hoàn cảnh nào, dù bình địa ba đào, nương dâu bãi bể cũng không làm Mẹ đổi
khác! Người Mẹ nghĩa tình đã bao dung, tha thứ, chịu đựng, vượt qua mọi gian khổ,
hi sinh trong cơn bĩ cực với cứu cánh tối thượng vì chồng con và những người
máu chảy ruột mềm cùng những người dưng chẳng phải một giọt máu đào yêu quí.
Xúc động biết bao là hình ảnh người mẹ sau khi lo trăm thứ bà chằn cho tết, từ
lọ nước mắm tới áo quần con trẻ, lo từ trong gia đình tới bà con dòng họ, buổi
tối Mẹ lặng lẽ mở rương. Trong đó là vài cái áo phin nõn màu cà phê, vài cái áo
len của những mùa xuân cũ. Cũ tới mức chúng đã bạc màu, đã mỏng ra, đã thưa đi.
Vậy mà những thứ cũ càng nhưng thơm tho tâm hồn Mẹ vẫn phải gánh chịu những cái
nguýt lườm ganh tị. Như muốn ứa nước mắt khi ngay cả khi bây giờ đứa con đã lên
lão mà vẫn da diết một ước mơ: "...con chỉ có một sở nguyện lớn lao đến vô
lý, rằng giá như bây giờ được trở lại ngày xưa. Để Mẹ lại tất bật sắm sanh lo Tết..."
Nhưng mẹ đã xa lắm rồi. Người chỉ để lại ánh hào quang tỏa ngời những trang
sách.
Đáng lẽ đây phải là những dòng đầu theo nguyên tắc Thi pháp học để đóng đinh
tính dõng dạc của một khoa học đã và đang bị cưỡng bức vì những lí do ngu muội,
lừa đảo, rằng trong tác phẩm nghệ thuật, hình thức mang tính nội dung; hình thức
tác phẩm từ bố cục, kết cấu, thời gian, không gian nghệ thuật, giọng điệu, quan
niệm, cái nhìn nghệ thuật của tác giả...chính là nội dung. Cũng như trong đời sống,
ngôn ngữ của một người nào đấy sẽ khiến người ta nghĩ đến tư cách, vốn sống, vốn
văn hóa... của người đó. Nhưng người viết bài này vì đã quá mến yêu, khâm phục
mà " bước qua lời nguyền" để trở về theo lối săm soi các " tính
" truyền thống hơn nửa thế kỉ qua. Như một lời sám hối, vẫn phải dẫn ra
đây một số câu văn mà tác giả đã sáng tạo, đã phục sinh cho lời nói, đầu thai
cho ngôn ngữ nghệ thuật, dạy cho người ta những cách nhìn, cách cảm, cách
nghĩ...về lối thể hiện rưng rưng mà sâu kín trên nguyên tắc tính người với ưu
tiên trước hết là lòng nhân ái " người biết yêu người"; nguyên tắc
phát hiện ra cái mới trong cái tưởng chừng đã cũ và mang lại cho nó những giá
trị thẩm mĩ mới:
- " Đậu phụ mới
xuống tay, nướng than củi róc nước, thái lát mỏng nêm vào nồi loáng thoáng như
tà áo lụa nhìn xa trong sương mù" ( tr 71)
- " Và mùi hương
mộc dịu, nhu mỳ chạm khẽ vào cảm giác khiến ta cay cay sống mũi y như gặp hương
sữa mẹ phai ra từ miệng con trẻ lúc cuối chiều" ( tr 79)
- " Nhìn khói lên
mau hay thưa vào giờ nấu bữa, người ta đoán được ngôi làng trước mặt giàu
nghèo. Khói niềm vui, khói sợ hãi...khói trong veo, thanh bần, san sẻ. Khói của
kẻ xa nhìn về chân trời quê tưởng ra màu khói ấm..." (tr 174) ( Chợt nhớ
tôi cũng có câu văn về khói khi quan sát bếp chiều của người JRai: " Nhà
nghèo xơ như bã quả chanh nên sợi khói cũng gầy")
- " Châu chấu cào
cào dẫn dụ Tôi giấc mơ bời bời mây trắng qua kẽ lá. Dế trũi nhảy, dế chọi cũng
gáy giữa cỏ gà búp trắng báo mưa. Tôi ngủ nơi lòng bà nồng cay hương trầu, vẫn
giật thột lửa vạ đuốc hun ong vàng ngụt cháy lan nửa vườn chè phủ rơm rạ dưỡng
mùn. Tôi hờ gọi ông bà nát tâm can." ( tr 276)
- " Tôi có con
sông thơ giữa rừng thường xanh nơi khẩn hoang ngạt ngàn hoa dại trắng dòng
trong. Bờ cát mật viền cỏ, trái trám chua rụng điểm dấu chân nai. Thuyền bẹ hoa
chuối rừng thắm đỏ xuôi đi giấc mơ con trẻ về thủ đô Tháp Rùa, que kem ngũ sắc..."
( tr 105)
Có thể dễ dàng tìm thấy những đoạn văn như thế ở bất kì trang nào trong "Dặm ngàn hương cốm Mẹ" của Nguyễn Tham Thiện Kế. Nó có sự trang trọng của
Đường thi, sự tỉ mẩn mổ sẻ đi đến tận cùng sự vật hiện tượng của F.Đoxtoevxki
và chan chứa chất thơ của người viết "Thương nhớ mười hai" nhưng trước
hết nó là Tác giả.
Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh xã hội về mặt triết học thì đang vận động phát
triển nhưng thực tiễn còn quá nhiều ngổn ngang. Một bộ phận lớn thường xưng là
" tinh hoa, đỉnh cao trí tuệ, đạo đức, văn minh" đang suy thoái và
hùng hồn chứng minh những điều ngược lại. Cơ sở văn hóa, đạo đức truyền thống
dân tộc tan rã từng mảng lớn. Những chuyện đau lòng tày trời cả nghìn xưa không
có thì nay hiện hữu công nhiên làm cho những người tốt phải giật mình sợ hãi.
Nhưng tôi cứ khăng khăng nghĩ rằng cùng với những cuốn sách như " Nỗi buồn
chiến tranh" của Bảo Ninh, " Chó Bi đời lưu lạc", " Côi cút
giữa cảnh đời" của Ma Văn Kháng..." Dặm ngàn hương cốm Mẹ" là
món ăn tinh thần quí giá (hiển nhiên rồi) và là liều thuốc hiệu quả để xã hội
hoàn lương, nhất là ở phương diện trân trọng sự sống, độ lượng, bao dung,
thương mến con người.
Nâng trên tay cuốn sách, tôi thấy ngát xanh những cánh đồng lúa đã qua thì con
gái rờn rợn đuổi nhau về phía cuối trời. Và tình Mẹ quyện cùng hương cốm sẽ còn
thơm mãi với thời gian.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét