Mụ ngan
Sự chết chóc ghê rợn trong họ nhà gà không ảnh hưởng đến các
chú ngan, thím ngan cũng cùng ngụ một sân. Loài ngan khỏe mạnh, ít khi trở trời
mà bị trái gió.
Xóm gà vịt này có hai con ngan trắng.
Độ nọ cũng còn có thêm một đàn ngan nhỏ. Nhưng bây giờ đã tan
tác mất cả. Chẳng phải vì bệnh dây, mà là vì nhiều sự không may khác. Đời sống
lăn dài vào thời gian rộng lớn và cao cả, triền miên đã bao nhiêu năm, trong khối
óc tí hon của muôn loài. Với chúng - nhất là những con vật luẩn quẩn xung quanh
thì trái lại. Ngày tháng vụn vặt, chỉ có những đau thương nhỏ bé, những xa cách
ít đáng để ý. Ấy là cuộc sống tủn mủn, bèo nhèo. Chúng chẳng làm hại ai, chẳng
hít hớt mất của ai ít khí trời, dù chúng cũng thở ra, thở vào cẩn thận. Như những
con giun, cái kiến làm sao mà được nhòm ngó tới.
Đếm đàn ngan con có được sáu cái đầu cả thảy. Sáu cái đầu
xinh xinh, sáu cặp mắt tròn xoe, đen láy và ngơ ngác. Chúng luẩn quẩn líp nhíp
xung quanh hai bàn chân tõe ngón rất thô kệch của bà mẹ. Mà tâm tính của mẹ
chúng thì cũng "thô kệch" như hai bàn chân nọ. Mụ đần độn đến phát
ghét lên được. Thực là một thứ đàn bà đoảng. Mặt mũi lúc nào cũng ngẩn ngơ, lúc
nào cũng lắc lư như một bà nhiêu ra chợ mà bị kẻ cắp xén mất túi. Mỗi khi cất
bước, đôi chân khụng khiêng đi vòng kiềng lại đu đưa tất cả mình lên. Nom đến
chậm.
Cũng bởi cái tối dạ, chậm chạp ấy mà vô tình, mụ đã giết một
đứa con của mụ.
Một hôm, cu Lặc đem ngô ra sân cho ngan ăn. Mụ ngan xô đến.
Đàn con cũng tất tả chạy theo. Chúng len, đun, tranh nhau trèo vào chậu ngô. Mẹ
chúng đứng ngoài xốc cành cạch từng hột một.
Nhưng lũ trẻ leo vào đầy chậu, khiến cho mụ bị vướng, không
xoi được hột nào nữa. Tức mình mụ cũng thò chân vào cái chậu sành. Rồi mụ bước
nốt cả chân kia vào. Thành ra mụ đứng phè phè giữa chậu, cứ cúi xuống mà xốc,
tranh ăn của cả các con. Một bàn chân mụ - cái bàn chân có ba ngón trước tõe
ra, mạng liền với nhau - giẫm lên lưng một con nhỏ. Con ngan nhỏ kêu thảm thiết.
Nhưng mụ mẹ vẫn chưa biết, vẫn dí chặt chân lên lưng nó mà đớp ngô như thường.
Đến khi mụ dịch chân đi để thò mỏ ăn chỗ khác thì con ngan khốn nạn kia không
thể đứng dậy được nữa. Nó gãy xương lưng.
Ăn no rồi, mụ vỗ hai cánh dẫn năm trẻ xuống ao lội chơi. Mặc
thây một con bị trọng thương, cứ việc nằm rụi, kêu khắc khoải. Mụ lờ tít hay là
không biết. Đến chiều, con nhỏ ấy chết. Mụ như không biết có một đứa con mình vừa
mới chết. Thế thì cố nhiên không phải lỗi ở mụ. Bởi vì mụ vẫn thò ra thụt vào
cái cổ, vẫn lúc lắc bộ đuôi. Những tiếng kíu kíu thốt ra, như vẫn biểu lộ một nỗi
vui sướng vu vơ, ngây ngô.
Thế là một ngan con chết. Mươi hôm sau, hai mống nữa cũng chết
theo. Chúng bơi dưới ao, rúc đầu mò vào ven bờ. Hai con lập tức bị lươn rút vào
tổ. Lũ trẻ con trong nhà đi tìm chỉ thấy hai cái đuôi chổng vọc lên. Cái đầu kẹt
trong lỗ, bị lươn cắn thủng một vết sâu hoắm.
Còn lại có ba nhách lơ láo.
Lại một hôm nữa, mụ dẫn ba trẻ ấy ra ngoài ruộng chơi. Mấy bữa
trời đổi gió, cả đàn diều hâu ở miền xa đâu trên núi bay về. Chúng dang cánh ra
liệng vòng tròn trên đồng lúa. Chúng lửng lơ trong không, lẫn vào từng khoảng
mây xanh. Những tiếng kêu rin rít nổi lên như tiếng sáo đẩu. Không phải là
chúng cứ liệng chơi "xây giếng cho tròn" mãi ở trên trời cao thăm thẳm
ấy. Chúng liệng đi, liệng lại thỉnh thoảng sà xuống ở một chỗ quạnh quẽ, hoặc để
tìm một cái ngòi nước vào mà tắm, hoặc để kiếm mồi. Hôm ấy, có một con diều hâu
liệng vòng tròn rất cao. Bỗng nghiêng cánh, đâm bổ xuống. Nó vừa trông thấy mấy
cái mồi. Đó là ba con ngan nhỏ cùng với mẹ ra nhởn nhơ ngoài đồng. Diều hâu sà
xuống tận nơi, thò dài hai cái chân sắt, quắp lấy một con ngan, rồi bay bổng
lên, vụt đi. Nó tìm đến một nơi thanh vắng, thả ngan xuống, mổ cho chết rồi ăn
thịt. Một lát sau, có một gã diều hâu nữa sà đến cũng quắp một con ngan. Văng vẳng
tiếng ngan kêu thảm thiết trên cao.
Mụ ngan mẹ cũng nghe được rõ ràng những tiếng kêu cứu ấy. Bởi
vì mụ có nghển cổ, có liếc mắt lên trời. Nhưng rồi mụ lại cúi xuống mổ cỏ và
lúc lắc cái đuôi của mụ. Còn có mỗi một con ngan nhỏ khiếp sợ, chúi vào bụng mẹ.
Song mẹ nó cũng vô tâm, không để ý chi. Thế là hai con ngan nhỏ bị diều hâu bắt
ăn thịt. Phải tay một mụ gà thì không bao giờ mụ chịu im như vậy. Sống chết mụ
cũng xù lông ra, nhảy lên đánh nhau ngay với quân thù. Đằng này, có thể như
không bao giờ mụ ngan nghĩ đến cái điều phiền nhiễu đó. Mụ đủng đỉnh dẫn một con
lõng chõng về, mỏ và mắt thản nhiên như lúc đi ra.
Cả đàn sáu con ngan, chỉ còn vỏn vẹn có một. Cái sân gà vịt vừa
bị một trận chết dây kinh khủng, bây giờ lại càng vắng vẻ thêm. Các cổng chuồng
bị bỏ trống, không cài then. Những lối bùn đã mọc rêu xanh. Chẳng có mấy vết
chân ba ngón qua lại.
Tối đến, nhà ngan ngủ dưới gậm chuồng gà. Con ngan nhỏ nằm
bên cạnh, mỏ rúc xuống cánh. Bao giờ chúng cũng ngủ đây. Cái giống ngan luộm
thuộm yên trí rằng ngủ ở đấy đã là sạch sẽ.
Một đêm kia, có một con rắn mai gầm từ dưới ao bò lên. Thân
nó trườn bằng một cái đòn gánh và vằn những khúc vàng, khúc đen. Bởi vậy, rắn ấy
còn có tên là rắn cạp nong cạp nia. Nó luồn men bờ ao, đánh hơi thấy mùi tanh ở
chuồng gà thì bò vào. Và nó bắt gặp ba con ngan, liền rướn bạnh cổ ra, phun phè
phè. Hai ngan lớn lật đật chạy. Bởi rắn ấy là ông Ba Mươi, đối với các loài vật
trong nhà. Cũng chẳng biết có phải vì sợ mà vợ chồng nhà ngan chạy, có khi chẳng
biết sợ cũng nên. Chú ngan nhỏ chậm chân, bị rắn tiêm một nhát vào lưng. Tội
nghiệp, chú nằm quay lơ, giẫy giụa một lát thì gục xuống chết. Con rắn lừ đừ
trườn đi mất.
Sáng hôm sau, Lặc thấy xác con ngan nằm chết rũ. Nhìn một vệt
dài lằn nhẵn trong rãnh bùn ướt từ dưới ao lên trên gậm chuồng, Lặc biết ngay
là con ngan kia bị rắn phun. Nó chạy vào nhà, hô hoán ầm lên. Lũ trẻ thập thò
ra xem, níu nhau, rón rén bước từng bước một, như sợ con rắn nguy hiểm hãy còn
luẩn quẩn đâu quanh ở đấy.
Lặc xách cẳng con ngan lên. Nó ngắm nghía và nói :
- Hoài của. Thế lày mà rắn cắn chết. Thịt ăn đương
mềm nắm. Chốc nữa tôi vào xin ông mang về...
- Ăn?
- Chứ nỵ gì! Hôm lọ, con gà chọi tôi cũng mang
về ăn đây. Chỉ phải bỏ cái diều đựng cơm thôi. Ngon đáo để. Tôi gì, thịt ăn chẳng
có, có thịt vứt đi.
- Nhưng đằng này rắn phun độc lắm.
Lũ trẻ xanh mắt lại. Chúng chắc rằng ăn thịt ngan rắn cắn, thể
nào nhà Lặc cũng chết ngay đuôi ra. Lặc mang con ngan về.
Nhưng sáng hôm sau, Lặc vẫn đến như thường. Mặt mũi vẫn hồng
hào và cái bụng vẫn như chiếc trống cái. Cả bọn trẻ xúm lại.
- Ăn hết thịt ngan chưa?
- Mấy con lữa cũng hết bay.
- Thế thực anh không sợ nọc rắn độc hử?
Lặc nói nhỏ, ra lối bí mật:
- Sợ quái gì. Núc nuộc gà thì bỏ một cái đinh lăm phân
vào lồi. Sắt kỵ nhau với rắn, thế nà nọc rắn tan ra nước.
Chỉ phải bỏ đi có lước suýt, còn thì nhắm được tuốt!
Lũ trẻ ngẩn ngơ nhìn nhau. Ra lối phục cái mẹo ấy là đúng.
Con ngan nhỏ cuối cùng chết đi, hết dấu vết của đàn ngan.
Không ai nhớ nữa. Cả mẹ và cả đến cha chúng. Tàn mùa hè thì hoa xoan rụng.
Hai vợ chồng nhà ngan lại quanh quẩn. Chồng là một chàng ngan
bạch. Thằng cha to gấp đôi vợ. Loài này, bao giờ đực cũng lớn hơn mái. Toàn
thân trắng muốt. Nhưng ở cuối mỏ, sùi lên những mụn đỏ. Nếu nó in ít, có thể tưởng
đấy là trứng cá của loài ngan, nhưng đây nó dầy bì bì, đỏ tía như màu hoa mào
gà và ngay ở trên trán, mụn đỏ cũng mọc cao lên như một cái nấm. Những cái mụn
đỏ ấy làm xấu dáng của ngan, dù là một con ngan trắng muốt. Vì còn có những thứ
ngan khác, hoặc đen biếc, hoặc trắng đốm đen, bẩn như những bà già trong làng
đi chợ mùa lạnh mà mặc váy rách vá chùm vá đụp.
Nhưng vẫn chỉ vì tính nết của ngan làm cho người ta ít ưa
chúng.
Chàng ngan kia bướng bỉnh lạ. Nếu bị người đuổi, chàng chỉ rảo
từng bước thủng thỉnh. Và lại còn thò cổ lại "hỏi han" người ta. Nếu
chỉ bị đuổi xoàng, chàng còn mổ lại người ta là đằng khác nữa. Chàng không nhát
như mấy anh vịt, lúc nào cũng chỉ đứng ngẩn tò te ra nghe ngóng để rình chạy.
Song chắc là vốn bẩm sinh ra thế, chứ thực ngan ta chẳng có tâm tính chi. Đã một
lần, có một đứa trẻ ngắt hai chiếc lá khoai san hà. Nó vật hai con ngan xuống
và lấy lá khoai chùm kín cả đôi bên mắt của chúng. Đôi ngan bừng mắt ra, thấy
màu xanh xanh của lá phủ trên mặt thì quên hết cả trước sau. Chúng cho rằng
chúng đương được lơ mơ ở trong bụi cỏ. Bụi cỏ non xanh và mát. Thế là chúng cứ
nằm chỏng chân lên, im lặng không nhúc nhích, cho mãi tới lúc hai chiếc lá khô
cong, hé nhìn lên thấy trời, mới lóp ngóp bò dậy. Lại thủng thỉnh bước một,
gieo những bước nặng lạch bạch xuống nền sân.
Một hôm chàng ngan lừ đừ ra đầu ngõ. Hắn đi ngơ ngác lờ phờ,
lắc lư cái mình, lắc lư cái chân, mà lắc lư cả đến chiếc đuôi ngắn củn. Bất đồ
gặp một đứa trẻ độ ba bốn tuổi, chập chững đi vào trong ngõ. Ngõ hẹp và sâu, có
những cây xoan cao, thân mốc trắng, cành nặng trĩu những chùm quả chín khô, vàng
thẫm. Thằng bé cũng trông thấy con ngan. Nó cởi trần, cởi truồng nhưng nó không
sợ ngan chút nào. Nó thò tay ra vớ lấy đầu con vật. Chàng ngan cũng chẳng sợ thằng
bé, chàng liền rúc một mỏ vào rốn nó. Thấy buồn buồn, nó lấy tay gạt đi. Chàng
ngan lại rúc nữa. Lần này chàng rúc xuống phía dưới. Đúng. Thế là chàng cứ bặp
bặp hai cái mỏ, vừa lôi vừa nhay thằng bé.
Thằng bé giãy giụa, gào "Mẹ ơi! Mẹ ơi!" ầm lên. Mọi
người chạy ra thì bé đã cố dứt được cái mỏ ngan tai quái ra rồi. Chẳng ai ngờ
là gã ngan đờ đẫn nọ lại vừa đánh nhau với thằng bé. Bởi thằng bé chưa biết nói
sõi. Nó chỉ khóc. Mà gã ngan thì vẫn đứng cạnh đấy, thò dài cổ ra "hỏi
han" mọi người, với một điệu ngẩn ngơ.
Người ta tưởng có một ổ kiến lửa chi đó ở quanh đấy.
Sau nhà, có một vườn cải. Đấy là một khoảng đất tận góc vườn
đằng kia, giáp bờ ao, vun xới bón tưới do công trình của Lặc. Cũng là ở trong
vườn, nhưng Lặc rào kín bốn phía. Để đề phòng sự tàn phá của bọn gà vịt nghịch
ngợm. Chỉ hở mỗi một cái cửa nhỏ. Mỗi ngày hai buổi, Lặc xách vò nước vào tưới.
Bốn luống cải chạy đều một hàng. Màu xanh tươi tắn trải lên
trên màu đất vàng sẫm. Có luống vừa bén chân, mới trổ được đôi ba tờ lá bé. Những
mảnh lá xanh rờn, có khía răng cưa xung quanh, khum xuống sát đất. Cải này trồng
để ăn vào tết Nguyên Đán. Cũng có luống những tầu lá cải đã vồng cao. Khía lá
rách mảnh vào chiều sâu. Ở giữa chòm lá lòe xòe, vươn lên một cái thân dài mụ mẫm
và phấn trắng. Đầu thân, lơ thơ có những chùm hoa nhỏ, những chùm hoa của những
đóa hoa nhỏ xíu ấy, nở ra những cánh vàng li ti. Đó là những luống cải đã già rồi
để làm dưa. Nhưng vườn chỉ đẹp, khi những cây cải già nở hoa vàng. Có không biết
bao nhiêu bướm trắng từ xứ mô tê nào rủ nhau đến chơi vườn cải. Chúng họp thành
đàn, bay rập rờn trên từng cánh lá. Chỉ bay thôi mà không đậu. Những cánh trăng
trắng phấp phới trên nền cải xanh lốm đốm hoa vàng. Lại thêm mưa xuân về sớm.
Mưa không ra mưa, mà là trời đổ bụi mưa xuống. Trước gió hiu hiu, những bụi trắng
bay loăng quăng, vẩn vơ.
Căn vườn xinh xinh là thế, mà một bữa kia, có kẻ phàm phu nào
vào bới tung hết cả lên. Chỉ vì hôm ấy, Lặc tưới vườn nhưng lúc ra quên cài
then cửa. Một lúc sau, nghe có tiếng khịt khịt thở mũi. Rồi lại tiếng chân lạch
bạch. Rồi thì một cái mỏ vàng to bè bè, hai con mắt lơ láo và cả cái đầu đỏ
khé, thò vào trong phên. Thấy phên ngỏ rộng, hai cái chân thấp lũn chũn cũng
rún lên nữa: à, chàng ngan đực đương ỳ ạch leo vào vườn. Chàng vừa leo vào
xong, còn đứng nhởn nhơ nhìn khu vườn man mác một màu xanh ngợp mắt, thì ở ngoài
lại có tiếng thở, lại có tiếng chân đi, lại có cái đầu đỏ nữa thò vào. Con mụ!
Mụ ngan cũng nhảy vào vườn nốt.
Ôi chao! Thực là hả hê, thực là phê pha. Mấy khi có được những
lá xanh non và mềm thế kia để cho mát ruột. Vợ chồng nhà ngan cắm cúi vặt mổ lá
cải. Chúng tỉa từng lá, xốc ngoem ngoẻm. Chúng ăn những cây lá cải non.
Chúng nằm xệp cả xuống giữa luống mà xốc xoàn xoạt. Vừa ăn, vừa
giày vò, vừa ngoe nguẩy cái đuôi lý thú. Chẳng bao lâu quang đãng hết một góc
hai luống cải. Còn trơ lại mặt đất những cái gốc trụi. Ăn mệt ư? Không, chỉ vỗ
cánh đành đạch, đứng nghỉ ngơi một lát rồi lại tiếp tục. Chúng ăn vô hồi kỳ trận.
Vườn cải nát hết. Đàn bướm trắng lờn vờn trong bụi mưa. Bụi mưa vẫn phơi phới
xuống. Hai cái mỏ, hai cái chân, giẫm và nuốt tan hoang cả.
Cuộc tàn phá đương dữ dội thì có một đứa trẻ đi ra vườn, nghé
qua khe nứa, trông thấy, nó hoảng hốt chạy vào trong nhà.
Cu Lặc hớt hơ hớt hải chạy ra. Môi nó mắm lại. Những bước
chân giận dữ vang thình thịch, có thể dẫm chết cả chó. Có đứa cướp vườn cải! Có
đứa cướp vườn cải! Làng nước ơi, hại cu Lặc chưa!
Lặc giương to đôi mắt mà nhìn vào vườn, hai con ngan mải ăn,
không biết. Đến lúc Lặc bước vào thì chúng mới nghếch mắt lên nhìn, nhưng lại
cúi xuống ngay, lại xốc lá cải liền liền. Lặc thì Lặc, nhà ngan ít cần, mà nói
rằng chúng chẳng cần mới đúng. Cửa ngỏ thì đi vào. Có lá non đấy, tha hồ xơi tự
nhiên. Giản dị lắm. Nhưng người ta lại không thể nghĩ giản dị như vậy.
Lặc co cẳng đá phốc anh ngan đực một cái. Thằng nỡm bắn bổng
lên, chúi vào khe giậu. Con mụ cũng được ăn một đá tương tự. Chúng lóp ngóp bò
dậy, và trong lúc thảng thốt, không hiểu thế nào ra thế nào cả. Chúng vươn cái
cổ chĩa là là xuống, trợn mắt lên, đồng thanh cất tiếng kêu kíu kíu. Cái gì thế?
Cái gì thế hử?
Lặc đá liền liền. Lũ trẻ reo à à. Mỗi lần bị ngã mà lóp ngóp
bò dậy, hai con ngan lại càng vươn thưỡn cổ ra, đôi mỏ đánh vào nhau cặp cặp.
Như cố ý hỏi rồi kháng cự lại. Chúng quay cổ nghênh địch, không chịu chạy. Lặc
đá tới tấp. Loài ngan khỏe thực. Người đá lắm chỉ nghe tiếng bồm bộp. Sau, Lặc
xách cổ cả đôi ngan, đem nhốt vào chuồng. Nó cài kỹ lưỡng cả hai cái chốt lại.
Vợ chồng nhà ngan bị bỏ tù. Cho đến lúc ấy, chúng vẫn không
hiểu chi, cứ vung cổ ra kêu kít kít, rất bướng.
Ba hôm sau, đôi ngan được thả ra. Chúng vỗ cánh, rướn chân,
bay vè vè trong sân. Nhưng bỗng nhiên, chàng ngan đực vù lên cao. Chị vợ cũng nối
cánh. Hai con ngan trắng phau phau bay bổng lên không trung, thấp thoáng trong
nền mây trắng. Chúng bay cả ra cánh đồng. Thực là một sự bất ngờ kỳ khôi. Loài
ngan có bay biếc trên trời bao giờ đâu. Kỳ tình ngan cũng biết và có thể bay
cao lắm. Nhưng ít khi chúng trổ tài cho thiên hạ rõ. Chắc là mấy bữa nay cậu mợ
quẩn chân lắm, bây giờ đã được tự do thì xê dịch lên trên trời một tí cho sướng
cái thân.
Lặc co cẳng chạy đuổi theo. Hai con ngan hạ cánh xuống giữa
cánh đồng. Lặc túm được và lại xách cổ cả hai, bôông bêêng lôi chúng về nhà.
Chàng ngan đực bị xử tội chết ngay ngày hôm sau.
Người ta bày ra một cái bát chiết yêu. Một đứa trẻ túm hai
cánh ngan, giơ cao lên. Một đứa khác cầm hai chân, Lặc tóm cổ ngan, vặt nhẵn một
tụm lông ở phía mỏ dưới. Nó kề lưỡi dao vào đấy, khía mạnh một cái. Máu đỏ tươi
chảy xuống bát. Con ngan giương mắt ra thở khò khè. Nhưng cái màng trắng ở một
bên mi kéo lên, khép kín đôi mắt ấy lại. Nó giẫy mấy cái mạnh, rồi nhuôi ra.
Mụ ngan đứng cạnh, nhìn vớ vẩn. Mụ nghĩ ngợi chi? Vẫn thò ra
thụt vào cái cổ, như là thản nhiên. Thực mụ cũng chẳng biết người ta đương xúm
lại để làm gì chồng mụ. Giống này có nhớ chi biết chi. Một việc qua rồi, được
coi tựa như việc chưa có lần nào đã tới. Mụ chỉ nhớ khi có hạt ngô đo đỏ, hạt
thóc vàng vàng, tàu lá xanh xanh thì xô đến khởi sự ăn.
Mụ chưa bị chết. Mụ chỉ phải xén cụt hai đầu cánh, để từ giờ
cụt hứng bay. Nhưng án của mụ cũng đã được tuyên. Ông ngoại tôi nói :
- Còn con ngan này thì đến hăm ba, cho nó về chầu ông Công.
Đôi ri đá
Ít lâu nay, có một loài lạ lạc vào vườn. Anh chim sẻ xưa nay
vẫn to hó đứng trong đầu nhà, kêu tẹc tẹc không được điềm tĩnh và đều đặn như mọi
khi. Ra vẻ thảng thốt. Như thể lo rằng có những kẻ lạ nào đương dò dẫm, tìm kiếm
nơi ăn chốn ở trong vườn nhà mình.
Quả đúng như nỗi lo của sẻ.
Có hai con chim ri đá, mấy bữa rày thường lai vãng đến vườn.
Chúng nhấm nhoắt chuyền từ cây bưởi sang cây khế, đến cành hồng bì. Sẻ ta đứng
băn khoăn trên nóc đầu hồi, nhớn nhác nhìn, ra điệu ghét lắm.
Bấy giờ là đầu mùa đông. Ngoài ruộng, lúa chín vàng hây. Những
bông thóc nếp mập và tươi ong óng, trĩu gù lưng xuống. Màu vàng san sát giải từ
cánh đồng làng Nghĩa Đô mênh mông đến tận bờ tre làng Phú Gia.
Theo với mùa lúa, từng đàn chim ri bay về mọi cánh đồng. Và
hai con ri đá kia thẩn thơ vào trong vườn này.
Đó là một đôi vợ chồng. Chàng và nàng. Có lẽ là đôi vợ chồng
mới cưới nhau mùa thu vừa rồi cũng nên.
Nếu nói so sánh, ta có thể nói so sánh rằng đôi ri đá ấy tựa
như một cặp vợ chồng quê mùa mới rủ nhau lên tỉnh. Họ lờ khờ, ngẩn ngơ - nghĩa
là đặc nhà quê! Họ thuộc loài ri đá chính tông. Và có hiệu là ri rừng. Người loắt
choắt, bé chưa bằng ri cam, mà lại bé hơn cả chim sẻ. Trông một ri đá chỉ bằng
nửa chim sẻ. Vừa như chiếc hạt mít mập mạp, có dính chút đuôi. Đôi mắt nâu lờ đờ.
Cặp mỏ ngắn, cục mịch thây lẩy trước đôi mắt như một viên cuội xam xám. Lông
màu nâu, mượt, trơn và mịn. Đôi chân cũng xám như mỏ. Ở con chim ri, có bóng
hình một người cù rù nhưng nhẫn nại, lam lũ và luôn luôn chân lấm tay bùn - người
cần lao của đồng ruộng.
Một buổi sáng, vợ chồng ri đá ở đâu sà đến cây bưởi. Chúng
kêu kéc kéc nho nhỏ. Thế là, trên nóc nhà, chim sẻ lắng tai nghe tiếng bỗng tẹc
tẹc ầm ĩ. Dáng hẳn chàng ta chửi đứa nào dám vào nhà mình. Nhưng sẻ chỉ nỏ mỏ
công kích suông thế thôi, không dám xuống tận nơi.
Vợ chồng ri đá điềm nhiên, chẳng để ý đến sự lèm bèm đó.
Chàng nghiêng má nhìn cây hồng bì rồi rún cẳng nhảy sang. Nhẹ như một chiếc lá
rơi, và cũng lẩn ngay vào lá, không động tĩnh gì hết. Nàng bay theo chàng, dáng
bay hơi nặng nề, đôi cánh vỗ sè sè, bởi người nàng có đẫy đà chút đỉnh. Không
hiểu nàng ri đá đã có con lần nào chưa, chứ thực trông nàng chẳng được gọn mấy.
Đầu bơ phờ. Lông bụng bạc phếch. Cườm ngực, cườm cổ không đen nhánh và bóng mượt
như của chàng. Có cái lối của những người đàn bà xười xĩnh từ khi còn con gái
đã ăn mặc xốc xếch, bây giờ chẳng thiết điểm trang gì nữa.
Chàng xáo xác trong cây hồng bì. Cây hồng bì thấp nhưng dày
lá. Vả lại, với một anh ri bé bỏng, thế đã là khá cao rồi. Nàng cũng sục sạo
trong cây, như kiếm chác một cái gì. Chẳng có lẽ. Họ tìm chi trong tụm lá hồng
bì đó? Loài ri đá không biết ăn sâu. Mà đâu có bông lúa vàng ở đây. Kìa, đôi vợ
chồng lại bay ra đậu ở một cành cây cụt. Họ nghiêng má nhìn trời. Trời cao và
xanh, không cùng. Vụt một cái, bốn cánh bay đi loang loáng.
Người ta thấy ở ngoài đầu xóm, hai vợ chồng ri đá đến đậu
trên một mái rạ cũ. Rạ đã bạc trắng và nát mủn. Chị chim ri hé mỏ mổ vào cuộng
rạ. Anh cong đuôi lên để lôi cuộng rạ đứt ra. Khi đã lôi được, anh quắp lấy và
bay vụt đi. Cô ả cũng bay liền ngay theo. Họ bay về cây hồng bì. Cây hồng bì ở
ngay trước sân, bên cạnh một bể nước. Những lá mùa đông rụng xuống, vàng úa
trên giại nứa. Chàng đặt cuống rạ vào một cành hồng bì kín và cao nhất. Rồi họ
lại bay đi, vợ theo đuôi chồng, đến lấy rạ ở lớp mái nhà nát nọ, chị mổ và anh
kéo. Dù được mẩu dài hay mẩu ngắn, anh không phiền hà, quắp ngay lấy, mang về
cây. Công việc như thế, đều đều suốt ngày, như người ta mắc cửi.
Được chừng ba hôm, bác chim sẻ hay qua cây hồng bì, đã thấy
trong có lù lù một nắm rạ lòng thòng, bẩn thỉu như một mớ rơm rửa bát. À, ra
hai vợ chồng con ri đá đến ngụ cư ở nơi này. Họ đương làm nhà.
Bao nhiêu công việc xây dựng, người chồng phải đương lấy cả.
Chàng tha rác liền liền về cây. Chàng xếp đặt cho thực khéo, thực gọn. Trong
khi ấy, nàng chỉ biết có việc mổ đứt cuống rạ và việc bay nhởn nhơ theo chồng.
Thỉnh thoảng nàng lại khẽ hát kéc kéc, như để khuyến khích hoặc nói bông cho
chàng được buồn cười. Chẳng hiểu chàng có thấy vui không, nhưng chàng vẫn hậm hụi,
cắm cúi làm như thường.
Chàng đặt móng cho lớp nhà mới bây giờ một lớp rạ. Rồi chàng
đi tìm ở những bẹ cau và bẹ dừa lấy những sợi dây rất nhỏ. Việc tha những sợi
dây này vẫn là việc của anh chồng chịu khó. Chàng đem về, đánh đai rất xinh,
vòng trong những cuộng rạ dựng thành một khung tròn hình lòng tổ.
Cái lòng tổ êm ái đã hoàn thành, sau ba ngày chịu khó.
Bây giờ chàng đi tìm lá khô. Chẳng biết chàng mò mẫm thế nào
mà tha về được từng nạm lá duối, đem chất lù lù cả lên xung quanh thành tổ. Mỗi
chuyến chàng mang về chừng đôi ba tờ lá nhỏ.
Một chuyến kia, vợ chồng ri đá song song bay từ ngoài bờ giậu
vào vườn. Vừa sà xuống cây hồng bì, anh ri đá đã hoảng hốt buông rời mấy chiếc
lá, cuống cuồng nhào lên, bay tít tắp ra tận ngoài đồng. Chị vợ cũng nhớn nhác
ruổi theo.
Có gì đâu! Dưới gốc cây hồng bì lộn xộn bao nhiêu là người.
Khắp sân, đầy đống những lượm lúa vàng rượi. Người ta kê một chiếc cối đá hổng
đáy ra đấy. Lượm lúa chắc nịch được cặp vào hai thanh tre rồi người ta đập lên
cối đá từng hồi, cho thóc rơi vung vãi ra bốn phía. Họ vừa làm vừa cười cười,
nói nói ồm ồm, cả đàn ông lẫn đàn bà. Thấy thế, vợ chồng nhà ri đá sợ hết vía.
Không dám bén mảng về nữa. Nói của đáng tội, chiều hôm đó cậu mợ cũng về. Nhưng
ở sân vẫn còn tíu tít ồn ã những người, nên lại vội vàng bay đi. Sáng hôm sau,
chàng lại về. Mỏ ngậm rác cẩn thận. Song người ta vẫn thi nhau đập lúa thình thịch.
Chàng lại bỏ đi, để rơi mấy chiếc lá khô xuống đất.
Người đập lúa trong sân, bác sẻ mon men xuống kiếm chác, nhặt
những hạt thóc rơi rụng. Không thấy bóng vợ chồng anh ri đá đâu, ý chừng sẻ ta
hả hê lắm.
Gió may dạt dào, đánh lúc lắc những cành hồng bì mảnh khảnh.
Cái tổ hoang kia, không chim nào ngó đến, những ruộng rạ ở xung quanh đã ải sẵn,
cứ trệ xuống dần. Rồi nó chỉ còn là một nắm rác, một nắm bùi nhùi của một đứa
trẻ nào gài vu vơ lên đấy Hai con chim sợ người đã bỏ phí mất một cái nhà đương
dựng. Nó sắp rơi hoài xuống cỏ mất.
Công việc gặt hái đã xong. Sân vườn lại trở về hiu quạnh như
thường ngày. Chỉ còn tiếng chim sẻ rền rĩ trên đầu hồi. Cây hồng bì không phải
mùa quả, hoang vắng lạnh lùng như một cây rừng. Đôi chim ri chẳng trở về nữa
hay sao?
Không, họ lại trở về. Một hôm, từ lúc mới vừa rạng sáng, đã
nghe có tiếng lạt xạt trong cây. Bấy giờ bác sẻ chưa trở dậy. Đến khi trở dậy,
ra đứng ngoài đầu ống, thì bác đã thấy vợ chồng ri đá đương nối đuôi nhau tha
rác về cây hồng bì. Bác lại trông xuống mà hé cái mỏ, bắt đầu kêu khan kêu vã.
Họ tha về những cuộng rạ nát. Lại những cuộng rạ nát nhũn! Bởi vì họ lại bắt đầu.
Nghĩa là vợ chồng chim ri lại kì cục xây lên trên cái tổ dở dang kia, một cái tổ
khác, mới nguyên. Lại những cuống rạ mục, lại những dây dợ ở những bẹ dừa, bẹ
cau. Lại những chiếc lá duối khô, lá quăn quăn. Và lại vẫn anh chồng còm cọm
tha rác suốt ngày để cho chị vợ thẩn thơ bay theo. Có khi, chàng bắt được ở đâu
cả một mảng mạng nhện nhăng nhít, cũng lôi thôi tha về.
Chẳng bao lâu, cái tổ đã có lòng trũng xuống, và những chiếc
lá khô thì làm thành một vòng tường cao. Ở trên trông vào, tựa hình một cái tổ
bé tí tẹo của trẻ con chơi. Giá ở nhiều loài chim khác, như bọn chào mào, sáo sậu
ắt hẳn cái tổ kia đã được khánh thành. Nhưng với ri đá, chưa thể gọi thế là
xong được. Họ còn tạo tác thêm. Nói là họ, cho ra vẻ có vợ có chồng mà thôi, kỳ
thực công việc xây dựng đều do mỏ và chân của chồng. Chàng nựng vợ đủ điều.
Chàng đi kiếm ở các xó vườn lạ về những cẳng lá xoan, cẳng lá
khế đã khô đét. Chàng xếp thành từng lượt ngang dọc trên nóc tổ. A! Anh chàng lợp
một cái mái. Cái mái nhà để che mưa che nắng. Chàng lại đi khuân lá duối, khuân
cẳng rạ về và xếp một lượt dày lợp lên trên những lượt cẳng. Xong xuôi đâu đấy
cả rồi, chàng loay hoay khoét một cái lỗ. Khi đục xong lỗ, ấy là lúc công cuộc
làm tổ đã hoàn thành. Chàng chui vào trong tổ cất lên mấy tiếng ke ke. Ở ngoài,
vợ chàng cũng đáp lại như thế. Chàng liền bay ra, đứng cạnh nàng, tỏ vẻ như âu
yếm. Chàng xích lại một chút, chị vợ cũng rún rún đôi chân và rung rung đôi
cánh. Hai cái mỏ chíu vào nhau, chịn đuôi vào nhau. Đôi chim hoan hỉ nhìn nhau
và cùng xù lông ra giũ phành phạch. Chàng khoan khoái bay tung tăng đi vu vơ
đâu một lúc, rồi lại trở về, cùng chui tọt vào tổ. Cái tổ kín và riêng tây như
một nếp nhà của người ta.
Thế là tổ đã làm xong. Trông nó xù xì tựa như một mớ rác lộn.
Song đó chỉ là cái bề ngoài không quan trọng thôi. Này, ta hãy đến gần, ló đầu
vào một tí xem. Đường cửa tổ tròn, xung quanh nhẵn thín, chui ra chui vào rất gọn,
không vướng víu mảy may. Cái lòng tổ thì êm và mịn, vừa chỗ cho nàng ri cái nằm.
Ri đực chỉ rón rén nằm ghếch bên cạnh. Hai cái mỏ cùng chìa ra phía cửa.
Từ hôm ấy, sớm mờ mờ đã nghe tiếng ri động lạt xạt trong cây
hồng bì. Họ đùa nhau chắc? Chị vợ thì nằm xù xù trong tổ cả ngày. Nàng nằm ấp dọn
cho những ngày sắp sinh trứng. Đến khi hoàng hôn xuống, thì cả hai vợ chồng
cùng chui vào tổ, lại cùng nằm chầu mỏ ra ngoài cửa.
Họ chờ đến ngày đẻ trứng.
Những con chim hét đen chậm chụi mỏ vàng bệch, đã từ phương
xa bay về. Những dấu hiệu mùa lạnh sắp đến.
Gió may trở về đã từ lâu, hiu hiu và hiền lành. Nhưng chiều ấy,
gió may bỗng đột nhiên nổi cơn đùng đùng. Trời đất âm u sẫm lại. Từng làn mây
nước lớn xám xịt, chuyển vận theo gió bay xuôi hỗn độn, tới tấp như ở trong một
cuộc thay đổi kỳ lạ của trời đất. Sáng hôm sau, trời đổ mưa xuống đều đều nhưng
không to lắm, vòm không mù trắng những nước. Và trời cứ mưa đều đều, lai rai,
nhỏ nhẻ như thế, hết ngày ấy sang ngày khác. Ông mặt trời đã đi đâu mất để cho
nơi nơi thi nhau khóc ra mưa ra gió. Người ta đều phải ở trong nhà. Đường cái
làng lầy lội, bùn xám ngập cao tới lưng ống chân.
Đôi chim ri cũng phải ở trong nhà. Chúng nằm ro ró mà nhìn ra
xem mưa. Chao ôi! Cái thứ trời gì mà cứ xối mãi nước xuống, xối mãi nước xuống.
Mưa vài hôm, đôi chim đã bắt đầu thấy buồn buồn. Mưa được bốn ngày thì lành lạnh.
Những hạt nước đọng ở trên mái tổ rích vào, thấm xuống, ướt hết cả xung quanh.
Nhưng sự lạnh và sự thấm nước đó chưa đáng để ý bởi đôi chim mặc bộ lông dày và
họ có hơi ấm của nhau. Song chúng không dám bay ra ngoài. Nằm nhịn đói cũng đã
thường quen, không hề chi. Trời vẫn mưa. Bây giờ lại có những giọt nước mới dột
đến, lá và cành khô không chịu thấm được hơn. Hạt nước lăn trên mái tổ rồi rỏ tạch
tạch xuống đầu vợ chồng gã chim ri. Lại có thêm gió. Gió đu đưa cành cây hồng
bì. Từng loạt nước rơi xuống rào rào, liên tiếp. Vợ chồng ri đá xù lông ra lắc
bụi nước. Nhưng rồi bụi nước, tuy đã lắc mãi, cũng bám được vào lông chim. Hai
cái đầu thấm nước, bết lông vào với nhau, bé tọp hẳn lại. Trông thảm như hai
người ốm liệt giường mà bị cạo trọc đầu. Lúc này là lúc mà vợ chồng chim ri
không thể nén được nữa. Nếu họ không đi tránh mưa, nước cứ rỏ tạch tạch luôn
vào đầu thì đến chết rét mất. Bởi trời lạnh. Buổi sáng, người ta mó tay vào
trong nước thấy buốt thon thót. Mưa thì liên miên. Giọt tranh chảy rinh rích xuống
bốn bên xung quanh.
Một hôm, hai vợ chồng chim ri đành lòng rời cái tổ ẩm ướt, đi
tìm một mái nhà nào để tạm ẩn. Chúng bay đi trong bụi mưa, bốn cánh ướt vỗ nặng
nề. Bấy giờ mới xế trưa, nhưng trời đầy mây xám và trắng những nước, tưởng như
trời đã sắp tối. Vợ chồng chim ri rời tổ, bác sẻ già kia không biết. Mấy bữa
nay mưa gió, bác ta rúc tránh vào trong ống tre.
Nhưng cũng còn cuộc trở về của đôi chim. Ấy là một ngày mùa
đông có nắng, sau trận mưa dai dẳng liên miên đến nửa tháng. Mọi vật vẫn chưa
khỏi hẳn ẩm ướt, nước ẩm nhiều quá. Bức tường ngoài ngõ, thảm rêu xanh om. Tuy
nắng, nhưng nắng chưa đủ gây ấm. Không khí vẫn phảng phất hơi giá.
Đôi chim ri lìa tổ ngơ ngác ở đâu về đậu bên cây bưởi. Bác sẻ
ở dưới sân, đứng trong ánh nắng để hong lông, hong cánh, trông thấy đôi chim đáng
ghét liền bay vù lên nóc nhà và kêu choe chóe như bị ai bóp cổ. Chàng ri đực liệng
vào trong chòm lá hồng bì. Chàng vào thăm lại tổ. Trận mưa cũng có làm hư hại mất
đôi chút. Mấy chú nhện lạc lõng nơi nào tới đã chăng mạng kín cả cửa ngõ. Ri ta
mới tức làm sao. Ri mổ luôn cho mấy mỏ tan hoang cả khung cửi nhện. Vào trong tổ,
chàng dùng mỏ và cẳng, bới xếp, dọn lại một lát thì giường nệm lại phẳng phiu
và gần được như cũ. Chàng chui ra, nhường chỗ cho vợ vào. Chị vợ lại nằm xềm xệp
thò chiếc mỏ ngắn ngủn ra cửa.
Và hai vợ chồng lại thay nhau ấp tổ. Mươi hôm, ri cái đã đẻ
ra một chiếc trứng nhỏ xíu. Trước sau chị đẻ ra được bốn chiếc trứng. Bốn chiếc
trứng chỉ nhỉnh hơn bốn củ lạc lớn, màu trắng đục, lốm đốm nâu, nằm đều đặn, gọn
thon lỏn trong lòng tổ. Chị ri phải xoè lông bụng ra mới đủ che kín được cho cả
bốn trứng.
Trong cái tiểu gia đình này, cứ nửa mừng và nửa lo. Sáng ngày
ra, hai vợ chồng hát nho nhỏ. Họ hát ra sao? Chỉ có mỗi một điệu hót ke ke. Và
riêng khi nào vui lắm, âu yếm nhau lắm, họ mới rung hai cánh mà làm điệu mỏ ri
ri ri… Họ ăn ở dè lén, bình lặng, chịu khó, ít ồn ã. Cuộc đời trôi chảy âm thầm
dưới khe lá xanh, y như cuộc đời của những người Nghĩa Đô, cần cù và nghèo khó
trên cái khung cửi, trong bốn lũy tre già. Họ ít nói năng, trái hẳn với loài sẻ
láu táu, luôn kêu lải nhải.
Bốn trứng đã tới kỳ nở. Những cái mỏ non nớt tự mổ rạn bốn vỏ
trứng để thoát ra. Thế là bốn con ri nhỏ vào ánh sáng. Mẹ chúng nhảy ra cửa, đứng
doạng chân, ngó bố của chúng đứng gần đấy. Bốn con mắt nâu đục nhìn nhau lơ
láo.
Bây giờ cái tổ là chiếc giường của người đàn bà con mọn. Bừa
bãi đầy những vỏ trứng vỡ, nhớp nháp như mấy cái tã. Nhớp nháp bốn nhách chim đỏ
hỏn. Mụ ri cái lại càng phờ phạc, đờ đẫn tợn. Anh chồng cũng ra vẻ lo lắng
thay. Song giờ đương là đầu tháng chạp. Không còn mưa rớt của tháng bảy như trận
mưa tầm tã hôm xưa nữa. Thời tiết lạnh, nhưng hanh và khô cứng.
Bốn con ri cũng đã nhớn nhao. Bố mẹ chúng rạc cả người về nỗi
kiếm mồi nuôi con. Chúng lớn dần dần cùng với tết Nguyên đán cũng lần lần
nghiêng đến với mọi người.
Năm nay, ở Nghĩa Đô, người ta ăn một cái tết Nguyên Đán không
vui. Bởi vì làng có mỗi nghề làm lĩnh. Lĩnh, lụa lại ế. Hàng dệt ra không bán
đi được. Chẳng có ai mua. Nhiều khung cửi phải xếp lại. Những vày tơ bỏ trống.
Vắng tiếng lóc cóc ran rỉ của cái vày tơ. Ngày phiên không có những bác thợ cửi
say rượu, mặt đỏ gay đi chệnh choạng trên đường cái làng. Công việc chẳng có,
bao nhiêu dấn vốn đều hết cả, người ta đã phải đi quảy đất thuê, đi làm thợ nề
và đi lên tỉnh kéo xe. Có những kẻ liều lĩnh đã ký giấy "mộ phu" sang
bên "Tân thế giới".
Cái tết hờ hững đến với mọi sự lạnh nhạt. Giá gạo cao tới ba
đồng rưỡi một chục đấu nhỏ. Xưa nay chưa cao thế bao giờ! Túng quẫn quá, người
ta không cần và không thể nghĩ đến lo tết lắm nữa. Hàng lá rong vào làng rao ơi
ới, rồi lại ê hề quảy ra. Làng mạc buồn teo.
Chiều hôm ba mươi, cả làng vắng lạnh. Ấy là một buổi chiều bồn
chồn và khó chịu. Người ta ở cái hoàng hôn u uất đó để đợi một năm mới vẫn hằng
mong ước sắp đến. Một năm mới đầy những bí mật của hy vọng còn khuất ở bên kia
một lần lặn mặt trời và một đêm đen thẫm, nặng trịch nữa. "Nhờ phép tổ"
mà nghề nghiệp có được khá khẩm chăng!
Gia đình tôi cũng không còn phong lưu như xưa. Ngày mồng một,
không có pháo để đốt. Tôi mặc tấm áo vải chéo go cũ, đi đôi guốc sơn bóng
nhoáng, đầu vuốt nước lã lên để rẽ cho được mượt. Tôi thơ thẩn trong cổng, hai
tay thủ túi, buồn ngẩn ngơ. Cả làng, chỉ có vài nhà đốt pháo. Nghe lẹt đẹt như
gõ mẹt vậy.
Nhưng sáng ngày mồng hai, nhà tôi được có một người đến lễ tết,
khách đem theo một bánh pháo. Bác quyền Vực, người bên làng Phú Gia, một học
trò "tam tự kinh" ngày xưa của ông ngoại tôi. Bác Vực đi lính, tết được
nghỉ phép về chơi quê.
Bác ăn vận rất ngộ. Đầu bác đội chiếc mũ Tây lợp vải vàng và
mặc quần áo cũng màu vàng, xù ra. Bắp chân quấn xà cạp chặt chẽ lên tận đầu gối.
Bác dận một đôi giày có cổ rất to, da mốc thếch như da cóc. Đi giày nện gót
trên sân gạch, nghe kêu kệt kệt, đến ghê.
Lặc cầm bánh pháo của bác Vực, đem ra sân. Bánh pháo dài chưa
đủ một gang tay. Hắn treo lên trên cây hồng bì. Rồi hắn cầm một cái sào dài, đầu
có mồi lửa, một tay bịt tai, một tay run run châm. Pháo bén lửa nổ xì toạch, xì
toạch toang toang. Mươi cái xác pháo toàn hồng, rắc ra sân như những cánh hoa
đào bích.
Con Đực đương luẩn quẩn dưới bếp, đột nhiên nghe tiếng pháo,
hốt hoảng chúi cổ cúp đuôi chạy biến ra ngoài đồng. Nó sợ, Lặc phải đi tìm và
lôi nó, nó mới dám về.
Nhưng cái gia đình chim ri ở trên cây hồng bì thì không bao
giờ về nữa. Sớm ấy, bỗng nghe tiếng pháo kinh khủng nổ vang động trong cây, cả
nhà chim ri cuống cuồng bay đi. Những con chim nhỏ ngã xuống, cố vỗ cánh bay
ngoi ngóp. Tan tác mỗi con về một phía. Ai cũng lạc lõng. Tội nghiệp, bốn con
chim nhỏ mới ra ràng. Ngày nào chúng cũng đứng chen chân ở cửa tổ để ngơ ngác
nhìn ra xung quanh và nhìn lên trời. Bố mẹ chúng thì lượn xập xoè như muốn bay
cho các con bắt chước.
Sớm ngày mồng hai tết Nguyên đán ấy, sợ những tiếng pháo nổ một
cách rất vô tình ở dưới gốc hồng bì, đôi vợ chồng ri đá chịu khó và nhẫn nại
kia, cùng một đàn bốn đứa con thơ dại, tan tác bay đi, không bao giờ còn trở về
cây nữa. Chẳng ai biết được cái bầu đoàn khốn khổ long đong bạt đi đâu và về
sau ra làm sao.
Đến độ tháng ba năm đó, đương mùa hoa bưởi nở, cũng có một
đôi chim ri lảng vảng về vườn - biết có phải những con chim cũ? - song chúng chỉ
đậu trong cây hồng bì một lát. Bác sẻ già đứng đầu hồi, ngó cổ xuống, trông thấy,
liền kêu tẹc tẹc rộn rã như muốn khơi chuyện cãi nhau.
1940
Con mèo lười
My (Mèo đen)
- Đốm (Chó trắng đốm vàng)
- Bẻ - Dê nhỏ (tiếng Tày: tu bẻ là con dê)
- Bẻ em (Em của Bẻ)
- Bốn Bê (Bốn bò con)
- Ông Giăng
- Ông Ké (Tiếng Tày: ông già)
- Bù nhìn điếc
- Vài con ỉn (lợn)
- Vài con gà, ngỗng, vịt
I/
Một vườn cỏ vàng úa giữa vườn, bên một hòn đá tảng, có một ổ
rơm khô. Lui vào trong, phía tay phải, nhô ra nửa mái nhà sàn. Sau nhà, một bờ
rào thưa. Xa xa nổi lên một trái núi xanh.
Vườn vắng. Tiếng nước lần, nước chảy trên núi xuống, ở một
cái máng đâu đấy, rỏ lách tách. Buổi trưa trong góc vườn này càng vắng vẻ hơn.
1.
My, một con mèo đói. Lông đen mượt, nhưng gầy lộ một vẻ buồn
thảm, tuy vậy, đôi mắt xanh lè tinh quái, láu lỉnh, rình mò. My trèo lên tảng
đá, rướn chân, nghển đâu, trông, nghe bốn phía, như chờ đợi gì. Cuối cùng,
không có gi cả thì gào lên mày tiếng buồn, rồi rón rén trở vào. Vườn lại vắng.
Tiếng nước lần rơi lách tách. Chim bìm bịp rúc từng hồi, khiến cho người ta biết
đã xế trưa.
My lại trở ra, quanh quẩn đánh hơi tìm ăn như lúc nãy My
đương đứng trên tảng đá, trông, nghe, chờ đợi.
Bẻ em ra.
2.
Bẻ em - (đon đả) My đứng làm gì đấy? My đứng đợi anh Bẻ
tôi phải không? Anh Bẻ tô'J đi lâu về quá nhỉ? Tôi cũng đợi anh Bẻ đây.
My - Không, tôi chỉ đợi ai đến cho tôi một ít xương cá,
một bát cơm. Anh Bẻ có gì cho tôi ăn không? Anh ấy thì có quái gì mà cho tôi! Tôi
đói quá. Ba hôm nay, từ lúc ông Ké đi lên nương, tôi chẳng được một miếng vào bụng.
Anh có gì cho tôi ăn ngay bây giờ không?
Bẻ em - Trông thấy người là thấy đói, thây xin ăn. Sao
lười thế, hèn thế, lúc nào cũng phải dựa vào ai khác mới sống nổi!
My - Anh mắng thì tôi chịu, chứ tôi biết làm sao. Từ thuở
bé, tôi gầy còm ốm yếu, lạ mắc bệnh ho kinh niên, lúc nào cũng rên gừ gừ, cho
nên tôi phải ăn cơm với cá, tôi phải nằm bếp tro ấm, chứ đổ cho tôi cái tiếng
lười, thì oan đấy.
Bẻ em - Sao đằng ấy không ra suối bắt lấy cá mà ăn?
My - Chân tôi mắc chứng tê thấp, quanh năm phải đi bít tất
sù sù thế này, tôi lội nước sao được.
Bẻ em - Sao đằng ấy không đi lên nương bắt chuột, đuổi
chuột cho ông Ké?
My - Tớ là giống mèo mũi đỏ, không biết bắt chuột, chỉ
biết ăn vụng.
Bẻ em - Này, thế thì cố đi lên nương với ông Ké, nghe
nói trên nương giữa rừng sẵn thức ăn, thức chơi lắm. Hôm qua anh Bẻ tớ theo ông
Ké lên nương đấy. Hôm nay tớ đợi anh ấy về xem thế nào. Có gì thú thì chúng tớ
sẽ cùng đi.
My - Tôi chẳng đi đâu. Tôi chỉ đi quanh trong nhà được
thôi.
Bẻ em - Nói như đằng ấy thì chỉ còn có cách đợi ông Ké về;
ông cho ăn cơm với cá rồi nằm ngủ bếp ấm, thế là xong chuyện.
My - Thế thì tôi thích lắm. (Vẻ lo lắng). Này anh, những
ai định đi lên nương? Không ở nhà nữa à? Bỏ nhà này à?
Bẻ em - Chúng ta sẽ đi hết. Đằng ấy tính xem mùa thu
này, ở đây cỏ sẽ úa, cỏ úa ăn đắng lắm. Mà trên nương thì có cỏ tốt, chúng ta cần
ăn cho chóng lớn để còn đi theo đàn làm việc được. Các anh Ỉn lên đấy cũng gần
cây chuối hơn. Bạn Gà, bạn Ngỗng thì muốn đi tìm chỗ có nhiều con giun, cái dế.
Cả anh Đốm cũng bảo: "Sẽ lên nương, vì nương mới phá, ông Ké chưa làm được
bờ rào, phải canh giữ nhiều. Chúng ta lên giúp ông Ké. Nhiều lắm, nhiều bạn muốn
lên nương lắm".
My - Thế thì các anh đi hết á?
Bẻ em - Có lẽ thế.
My - Không còn ai ở nhà với tôi? Không còn ai cho tôi
quà bánh nữa à? Bỏ tôi chết đói à?
Bẻ em - Chỉ còn mình đằng ấy ở nhà thôi. Để đằng ấy tập
làm lây cái ăn dần đi chứ. Hay là cùng đi với chúng mình. Thì ở đây đợi anh Bẻ
về xem tin tức trên nương ra sao. Lát nữa, bọn các anh Ỉn, anh Đốm cũng đến đây
đợi anh Bẻ đấy.
My - Để tôi nghĩ đã. (Im lặng). Này, anh có thấy anh em
nhà Gà, nhà Ngỗng ra đây không?
Bẻ em - Cánh ấy hôm nay sang kiếm ăn bên vườn ngô.
My - (Rối rít). Ấy ấy, tôi phải sang xem có xin họ được
cái gì ăn tạm cho khỏi nhạt miệng. Đói quá, đói quá.
Bẻ em - (Tức giận). Đồ tồi. Thôi cút đi.
My lủi thủi ra. Bẻ em đứng lên hòn đá tảng nghển nhìn về phía
núi xanh. Như ngứa chân, Bẻ nhảy lóc cóc trên hòn đá, rồi lại xuống xếp lại ô cỏ
khô, nằm nghỉ.
Bỗng có bốn chú Bê ồn ào từ bên trái chạy thốc ra. Trên múi mỗi
chú đeo chéo hai cái gạc tre nhọn hoắt.
3.
Tiếng bê kêu lộn xộn, bốn Bê cứ chạy quanh.
Bốn Bê - (Kêu). Mò... Cứu tôi với...
Cứu tôi với... mò... mò.
Bẻ em - Làm sao khổ thế kia, hử?
Bốn Bê - (Cùng kêu một lượt). Cứu tôi với...
Bẻ em - Đói hả?
Bốn Bê - (Cùng nói). Đói lắm.
Bẻ em - Đói thì ăn cỏ. cỏ kia kia. Ai cấm các cậu.
Một Bê - Cỏ đắng quá, không ăn được cỏ đắng.
Bốn Bê - Mẹ ơi! Mò... mò...
Bẻ em - Ông Ké đóng cái gạc này lên đầu à?
Một Bê - Ông lão Ké độc ác ấy đóng cái gạc này lên mũi
em. Không hiểu sao, từ hôm ấy thì mẹ em sợ em lắm. Mỗi lần em nghiêng đầu đòi
bú thì mẹ lại chạy. Em đói quá. Mà cỏ thì đắng, không ăn được. Em đành nhịn đói
dài. Từ hôm em không được bú, em gầy quá. Bụng em chẳng còn một giọt sữa, bụng
em tóp lại, cả ngày cứ sôi bụng ầm ầm. Em lại khóc. Mẹ em thương em, đến liếm
sườn cho em. Nhưng không hiểu sao, hễ em đòi bú thì mẹ em lại chạy thật xa. Anh
có hiểu tại sao không?
Bẻ em - Cũng dễ hiểu thôi. Tại cái gạc này nó đâm vào bụng
mẹ em (Cười, sờ bộ gạc của từng Bê). Ông Ké buộc chắc lắm. Đánh đai xung quanh,
chật nứt đầu ra, còn gì!
Bốn Bê - Thế hả giời ơi? Anh gỡ xuống cho em đi.
Bẻ em - Chắc lắm. Không gỡ được. Nhưng mà kể ra to xác bằng
các cậu mà chưa rời được vú mẹ thì cũng cần phải đóng hai cái gạc như thế vào đầu
để được tiến bộ, còn than thở nỗi gì!
Một Bê - Anh không cứu em ư...
Một Bê - Không ai cứu tôi ư, hả giời?
Một Bê - Ối giời ơi, người ta đóng gông vào mũi tôi. Tôi
phải chết đói mà cái gông cứ đeo trên mũi thế này ư?
Một Bê - Mẹ ơi, đói quá. Vú mẹ đâu?
Bốn Bê - Anh ơi! Tại sao lão Ké độc ác lại đóng gông lên
mũi em? Lão thù gì em thế?
Bẻ em - Im cả đi. Tôi kể cho mà nghe chuyện này. Ngày
trước, mẹ chúng tôi ở tận bên kia sông xa lắm. Chúng tôi vừa sinh ra được ít
ngày, đã phải đeo gác lên mũi rồi ông Ké sang đem về bên này nuôi, ông Ké bảo:
"Cỏ thì ăn không ngon như bú sữa, nhưng ăn cỏ thì sẽ chóng cứng xương,
chóng lớn". Từ đấy, hai anh em chịu khó đi tìm cỏ ăn, có khi leo mấy ngọn
núi mới gặp cỏ tốt, rất khó nhọc, nhưng chúng tôi chịu khó, không phàn nàn. Giường
cỏ này, vách đá này, đêm ngủ có ông Giăng xuống kể chuyện cổ tích cho nghe vui
lắm. Khi mới ở bên sông sang, chúng tôi cũng khóc, cũng oán ông Ké. Nhưng sau
nghĩ lại mới biết ông Ké tử tế. Ồng ấy không cho bú sữa mẹ, mà bảo ăn cỏ, là vì
ta sắp lớn rồi, ta không ỷ lại, ta phải đi kiếm lấy mà ăn.
Bốn Bê - (Nói lần lượt). Nhưng mà cỏ đắng lắm, không ăn
được cỏ đắng.
Bẻ em - (Reo lên). Thế thì tôi giúp các cậu cách này. Cỏ
sẽ không đắng, mà cỏ ngọt như đường phèn.
Bốn Bê - Ở đâu đấy?
Bẻ em - Ở trên nương mới của ông Ké. Ở trên nương thì đất
mát gần rừng, nhiều cỏ tươi lắm, hôm qua anh tôi theo ông Ké lên thăm nương đấy.
Tôi đương ngồi đợi anh ấy. ở đây nhiều bạn muốn đi nương lắm. Các cậu cũng nên
đi thôi. Trên nương mới nhà ông Ké, cỏ ngọt như đường phèn. Đợi anh tôi về thì
biết tin.
Một Bê - (Nói với cả bọn). Ta đứng đây đợi anh Bẻ.
Một Bê - Thế ngày trước, làm thế nào anh bỏ được cái gạc
trên đầu?
Bẻ em - Ăn cỏ tốt, đầu nó to ra, tự dưng cái gạc gãy,
rơi xuống.
Một Bê - Nếu vậy, chúng ta đứng đây đợi anh Bẻ để lên
nương ăn cỏ tốt.
(Bẻ vào).
4.
Cả Đốm cũng chạy theo. Đốm vừa gặp Bẻ giữa đường. Đốm tăng tả,
rối rít chạy quanh Bẻ. Bẻ thì vui sướng tưng bừng từ dáng đi cái vẩy đầu, vẩy
tai, giơ chân.
Bẻ em - (Reo). Anh tôi kìa! Anh.
Đốm - (Hấp tấp). Anh Bẻ đấy. Nhiều chuyện vui lắm, vui lắm.
(Cả bọn xúm quanh Bẻ, bốn chú Bê đứng ngây nhìn. Trong câu
chuyện nghe Bẻ kể, nhiều khi cả bọn cùng nhảy, reo lên).
Bẻ - Các cậu có biết vợ chồng bác Gấu ở trên rừng không?
Đốm - Tôi chưa trông thấy các bác Gấu lần nào.
Bẻ em - Về mùa xuân, em nghe tiếng gấu gọi nhau trên
núi.
Bẻ - Phải đấy, vợ chồng bác Gấu và lũ Gấu con. Cả nhà Gấu
ở trong rừng thẳm. Mùa xuân, Gấu kéo nhau đi bẻ măng và uống mật ong. Mùa thu,
Gấu đi nhặt quả hạt dẻ. Gấu bố, Gấu mẹ, Gấu con cùng béo rung rinh, chân nặng
những mỡ, bước đi lặc lè, lặc lè. Béo đến nỗi mà khi mùa đông tới, suốt ba
tháng rét, cả nhà Gấu đứng tránh gió trong gốc cây không đi kiếm ăn, chỉ mút
hai bàn chân mỡ cũng đủ no. Sang xuân ấm áp, cả nhà Gấu lại kéo đi bẻ măng và uống
mật ong, mùa thu lại nhặt ăn quả hạt dẻ, qua hai mùa ãn măng, hạt dẻ và uống mật
ong thì Gấu bố, Gấu mẹ, Gấu con lại béo rung rinh, chân nặng những mỡ, bước đi
lặc lè, lặc lè... Đấy, cái nương của chúng ta ở trong vùng nhà bác Gấu.
Đốm, Bẻ em - Chúng ta cũng sẽ béo lặc lè, lặc lè như vợ
chổng bác Gấu.
Bẻ - Có ai biết anh Hươu không?
Đốm - Có, Hươu thì tôi quen. Hươu thì sao?
Bẻ em - Tôi biết anh Hươu thích ăn quả trám trắng.
Bẻ - Ở trên rừng thì hươu nhiều như lá cây và hươu sung
sướng vô cùng. Hươu uống nước ở những ngọn nước nguồn trong nhất núi. Hươu ăn
những quả trám trắng rất ngon vừa rụng xuống. Hươu làm chủ những sườn cỏ mượt,
cỏ ngọt, trời xanh rộng thế nào thì những cánh đồng cỏ của hươu bát ngát như thế.
Bẻ em - Ấy đấy. (Quay lại bốn Bê). Những sườn cỏ mượt, cỏ
ngọt, rộng bát ngát như trời xanh.
Bẻ - Cái nương của nhà ông Ké chúng ta ở trên sườn đồi,
giữa những đất Gấu, đất Hươu sung sướng. Hôm qua tôi gặp, mấy anh Hươu đến chơi
nhà ông Ké. Quần áo các anh ấy cũng vàng như của các chú Bê này, nhưng mượt mà
óng ả, và các anh béo tốt bằng trăm chú Bê. Mắt cứ sáng như hai ông sao mai,
tai Hươu cao dỏng, lá cỏ nở ngoài mười bước còn nghe tiếng, chân Hươu rướn lên
như gió. Tôi chưa gặp ai đẹp trai bằng những anh Hươu tôi gặp hôm qua. Trong những
cánh rừng thần tiên kia, họ sống, lao động, đói tìm ăn, khát tìm uống, đêm nào
cũng vui hát với ông Giăng, ông Sao, mãi tới khuya mới ngủ.
Bẻ - Ông Giăng ở đâu cũng có. Ở nương cao, lên chơi nhà
ông Giăng lại càng gần nữa.
Một Bê - Có thật ở nương cỏ ngọt như đường phèn không, hả
anh?
Bẻ - Đúng, cỏ non ở trên nương ngọt như đường phèn.
Bốn Bê - Anh cho chúng tôi lên nương với.
Bẻ em - Lúc nào thì đi? Hay là ta đi ngay.
Bẻ - Đi ngay càng hay. Nếu ông Ké trông thấy cả bọn lên
nương, hẳn ông Ké ngạc nhiên và thích lắm. Ta đi ngay chiều nay thôi, đi vào
lúc có ông Giăng cho mát.
Đốm - Để tôi về tìm cơm ăn cho chắc dạ đã.
Bẻ em - Đi rủ bọn Ngỗng, bọn Gà, cả nhà bác Ỉn nữa.
(Bốn chú Bê cùng cuống quýt)
Bẻ - Tất cả chúng ta đều đi rủ thêm các bạn cùng lên
nương. Hẹn gặp lại nhau ở đây, lúc ông Giăng lên.
Đốm - Ông Giăng lên thì bắt đầu đi.
Bẻ em - Phải, ông Giăng lên thì bắt đầu đi. (Cả bọn toan
đi, mỗi người một ngả. Bốn Bê càng luống cuống).
Bốn Bê - Chúng em thì thế nào?
Bẻ em - Các bạn cứ nằm đây chờ ông Giăng lên.
Đốm - (Hốt hoảng). Khoan, khoan đã. Tôi nhớ rồi. Còn lão
bù nhìn Điếc thì thế nào. Đường lên nương sẽ đi qua vườn ngô, thế nào bù nhìn
Điếc cũng biết, thế nào lão cũng cản trở. Chúng ta phải tính lại đi.
Bẻ - Không nên quá lo. Tôi cũng vừa đi qua vườn ngô đấy.
Lão chỉ là bù nhìn canh ruộng ngô, người ta quên vẽ cho lão cái tai thế là lão
hóa ra điếc; bọn chim sẻ, chim ri khinh lão điếc thường sà xuống tận lưng lão
mà bẻ trộm ngô, chúng ta đã thương lão mà ngày ngày cắt canh gác chim hộ. Bây
giờ thì lão phải đi đòi lấy tai về mà nghe lây, chứ lão ỷ lại, lão ràng buộc thế
nào được ta, cản trở thế nào được ta.
Đốm - Nhưng mà hai cái tay lão ấy dài lắm, hai cái roi của
lão dài lắm, lão quất tất cả những ai muốn qua ruộng ngô. Chúng ta đi qua, lại
đi đông, thế nào lão cũng trông thấy, lão sẽ đánh chúng ta.
Bẻ - Không sợ.
Đốm - Nhưng mà lão đánh đau lắm.
Bẻ - Tôi hỏi lại: có ai muốn lên nương không?
(Tất cả nhao nhao "có, có").
Bẻ - Thế là được rồi. Cương quyết chiều nay đi. Chúng ta
sẽ tìm cách đối phó với bù nhìn Điếc.
Bẻ em - Đối phó thế nào?
Bẻ - Trước nhất, cần chúng ta nhất định đi. Đã nhất định,
thế nào cũng đi được. Thôi, mau mau đi rủ các bạn. Đúng lúc ông Giăng lên thì
đi đấy.
(Bốn Bê luống cuống).
Một Bê - Chúng em thì thế nào?
Bẻ - Các bạn có quyết tâm đi không?
Bốn Bê - Quyết. Có, có, quyết tâm...
Bẻ - Vậy thì các bạn cứ đợi đây. Đến lúc anh em tới đủ,
mát trời ông Giăng lên thì ta cùng đi.
Tất cả đi ra, còn lại bốn Bê. Bê nằm, Bê ngồi quanh tảng đá.
Có Bê buồn mõm, ra quơ vài cái cỏ nhai, rồi lại nhả ra, lại vào nằm bên tảng
đá. Vẻ chờ đợi, buồn buồn, đói đói, sốt ruột. Lát sau My rón rén vào.
5.
My - Đi đâu mà cả lũ nằm đây thế này?
Một Bê - Nằm đợi lên nương đây.
Một Bê - Anh có biết nhà bác Gấu không. Bác Gấu uống mật
ong, ăn hạt dẻ quanh năm, cứ béo lặc lè, lặc lè...
My - (Tinh nghịch). Thế hả, còn gì hay, kể nghe nốt nào!
Một Bê - Có biết anh Hươu không? Ở trên rừng, Hươu chỉ
ăn quả trám trắng và ăn toàn cỏ non ngọt như đường phèn, ngọt hơn cả sữa mẹ em,
vì thế mà anh Hươu rất khỏe, rất xinh trai. Anh Hươu ở gần nương nhà ông Ké,
hôm qua anh ấy đến chơi, anh Bẻ cũng gặp...
My - Thế hả? Còn chuyện gì hay, kể nốt nghe nào?
Một Bê - Cái nương nhà ông Ké bây giờ rất vui; cấy lúa,
lại gieo vừng, trồng mấy trăm gốc sắn. Nhiều người ở trên ấy với ông Ké làm
nương cả ngày. Tối đến, đêm nào ông Giăng cũng thắp đèn sáng trưng ở ngay trên
đầu, trèo lên chơi nhà ông Giăng gần lắm, lúc nào cũng được.
My - Thế hả? Còn gì nữa?
Một Bê - Ở đây nhiều bạn sắp lên trên nương đấy. Bốn
chúng tôi cũng sắp đi.
My - Bao giờ đi?
Một Bê - Chốc nữa, lúc ông Giăng lên.
Một Bê - Trên rừng nhiều cỏ, cỏ rừng mùa đông không chết
rét như cỏ đồng, cỏ rừng không đắng như cỏ đồng, cỏ rừng ngọt như sữa mẹ tôi.
Chốc nữa anh hỏi anh Bẻ mà xem, sướng lắm.
My - (Cười), Ừ, sướng. Này các chú Bê khờ dại, lặng yên
tôi kể chuyện thằng Cuội cho mà nghe, chuyện thằng Cuội ngày xưa đánh lừa ông Hổ.
Một hôm Cuội đem ở đâu về một miếng thịt. Cuội ngồi nướng ăn, thịt nướng thơm bốc
lên, làm cho ông Hổ đi qua mà không đi được, cứ đứng thèm rớt rãi ròng ròng. Cuội
bèn chia cho ông Hổ một miếng. Ông Hổ vừa nhai vừa khen, hỏi thịt gì mà ngon thế?
Cuội đáp rằng thịt rốn tôi cắt ra đấy, thịt rốn ngon nhất trần gian. Ông Hổ tưởng
thật, bèn mượn Cuội con dao, cúi xuống xẻo một mảng thịt rốn bỏ vào lửa nướng...
Một Bê - Người ta bảo ông Hổ khôn nhất, khỏe nhất rừng
mà, sao ông Hổ lại dại thế. Ông ấy có chết không?
My - Sống thì cũng thành tật. Nhưng thế cũng chưa phải
là dại, có những đứa còn dại hơn ông Hổ nhiều.
Một Bê - Ai mà lại đi cắt rốn ăn, ai còn dại hơn thế nữa.
My - Thế mà có đứa còn dại hơn đấy. Chẳng nói đâu xa, những
đứa dại ấy là các chú chứ chẳng ai đâu.
Bốn Bê - Sao anh lại bảo chúng tôi dại?
My - Thế ra bọn này chết đến đít mà không biết. Này nhé
lão Ké là người độc ác nên lão mới đóng cùm lên đầu các chú, để các chú không
được bú mẹ, các chú phải ăn cỏ và phải học cày bừa. Trên nương cao, làm gì có cỏ
tốt. Chẳng qua là trên ấy đương vỡ đất mới, lão Ké sai bọn thằng Bẻ về lừa các
chú lên, lên để kéo cày kéo bừa đấy thôi.
Một Bê - Mẹ tôi dặn tôi: "Lớn lên thì con đi
cày", tôi sợ gì cày đâu.
My - Chú mày muốn khó nhọc vào thân thì cũng mặc xác
chú. Nhưng mà các chú cũng chẳng đi qua được vườn ngô. Cái gậy lão bù nhìn Điếc
dài như thế, nó giáng cho một cái thì chết mất ngáp.
Một Bê - Thế anh không đi? Anh Bẻ không đến rủ anh hả?
My - Không ai động dại lên rừng như bọn các người. Tao đến
để cứu các chú đây, biết điều thì tỉnh ngay đi.
Một Bê - Anh cứu em với.
My - Một chú muốn cứu. Chú nào nữa?
My - Hai chú. Chú nào nữa. (Im lặng). Được, ta sẽ cứu
cho. Có gì là khó đâu. Chỉ việc là không đi thì đừng đến đây nữa. Mặc cho chúng
đi, các chú ở nhà, đến mùa xuân này, có bác thợ đúc cày người Mèo ở trên núi xuống,
bác thợ đúc sẽ lấy búa gõ những cái cùm trên đầu các chú xuống, thì lại tha hồ
mà bú mẹ. Như tôi đây, chẳng phải làm gì. Suốt ngày chỉ chơi, đói thì đi lây
cơm, lấy cá nướng mà ăn. Rồi tao ăn trộm, tao chia cho chúng mày, chúng mày ăn
trộm cũng chia cho tao. Như thế, chúng ta chỉ còn có việc ăn, ngủ, chơi thôi,
thế mới thật thích. Đã nghe ra chưa?
Hai Bê - Chúng em nghe ra rồi.
My - Thế thì đi đâu mà chơi, đừng nằm đây nữa. Tao còn
phải đi cứu nốt những đứa khờ dại như chúng mày.
(My ra).
II/
Một Bê - Đi chơi thôi.
Một Bê - Không.
Một Bê - Mày còn muốn lên nương à.
Một Bê - Ta không lên nương nữa. Nhưng phải ngồi đây đợi
anh Bẻ để trả lời anh ấy rằng ta không lên nương nữa.
Một Bê - Dốt quá. Cứ đi, cần gì phải đợi.
Một Bê - Mẹ đã dạy ta ở đời phải ngay thẳng, ta chưa biết
nói dối, ta chưa sai hẹn với ai bao giờ. Mày quên lời mẹ dặn rồi a?
Một Bê - Đi chơi thôi.
Một Bê ra, một Bê ra theo. Còn hai Bê đứng ngẩn ngơ quanh tảng
đá.
Một Bê - Chúng ta trả lời anh Bẻ rằng sợ lắm không đi nữa.
(Nhìn về phía sau). Ông Giăng lên rồi kia.
III
<Vẫn ở vườn cỏ ấy. Bấy giờ là chập choạng tối, những tụm cỏ,
bóng mái nhà, bóng núi có tối hơn. Nhưng đằng sau núi thì trời dần dần sáng như
lụa, chưa trông thấy ông Giăng, nhưng mà ánh trăng đã hắt xuống mọi vật một ánh
sáng nõn, êm đềm.
Hai Bê, bên tảng đá, một đứng, một nằm nghe Bẻ đương nói thì
Đốm, rồi Bẻ em lần lượt ra.
1.
Đốm - (Hấp tấp). Tôi vừa đánh thằng My, tôi đánh nó một
trận nên thân. Nó xui bọn nhà Ỉn đừng đi, tôi tức quá, tôi cho nó một trận bò
lê kéo càng.
Một Bê - Thế thì ít bạn đi quá.
Bẻ em - (Đi ra). Không ít đâu. Họ đương sắp tới. Hàng
đoàn hàng lũ đây. Đông lắm. Đêm nay ta vừa đi vừa hát, không biết mỏi chân!
Bẻ - Tốt quá, tốt quá. Hãy đứng lại đây. Tôi đã đi hỏi
các người già trong xóm, nghe nói thì tôi hiểu thằng My, tôi hiểu bù nhìn Điếc
rồi.
Đốm - Thế thằng My thế nào.
Bẻ - Các ông già trong xóm bảo My là một đứa lười. Người
ta bảo nó phải đuổi bọn Chuột trộm cắp đi thì nó nói: "Tôi là mèo đỏ mũi,
không biết bắt chuột, chỉ ăn vụng thôi". Và nó chỉ toàn đi ăn vụng. Đã hèn
làm, lại chỉ muốn ăn ngon. Cơm không cá không ăn, ngủ không có bếp tro ấm, có
chăn bông thì không ngủ được. Suốt đời chỉ giả vờ ốm, rúc quanh ống quần người
ta. Nhưng mà cả xóm này đều biết nó là thằng lười, không ai tin nó. Bây giờ nó
sợ chúng ta lên nương hết, ông Ké cũng lên nương thì không ai ở nhà cho nó ăn,
để nó ăn bám, nên nó không cho chúng ta đi.
Đốm - Nếu vậy, lôi cả nó đi nữa. Bắt nó phải bắt chuột,
bắt nó phải làm việc. Để đấy tôi đi bắt nó cho.
Một Bê - Còn bù nhìn Điếc thì thế nào?
Bẻ - Lão cũng là một người lười. Lão chỉ tránh việc. Lão
không có tai mà lão cứ đứng đấy kêu, không biết đi đòi người ta làm tai cho, lại
còn nhờ chúng ta đuổi chim. Chúng ta sẽ mặc lão từ nay, để lão phải đi đòi lấy
hai cái tai của lão.
Đốm - Thế thì chẳng sợ bù nhìn Điếc. Không bao giờ chúng
ta sợ kẻ lười biếng.
Hai Bê - Không sợ bù nhìn Điếc nữa.
Bẻ - Các bạn đi gọi nốt những ai đi chậm thì nhanh lên.
Đốm - Tôi về bắt thằng My đi.
Hai Bê - Chúng ta đi tìm Bê.
2.
Bẻ em - Làm thế nào qua được vườn ngô. Cái gậy bù nhìn
Điếc dài lắm, lão quật xuống được khắp vườn.
Bẻ - Chúng ta sẽ hỏi ông Giăng. Ông Giăng đương lên kia.
Ông Giăng từ từ nhô lên bên núi. Ông Giăng hiền từ như một nụ
cười. Trời trong. Đôi lúc thoáng qua một đám mây.
Bẻ em - Ông Giăng, ông Giăng đẹp lão lắm.
Bẻ - Ông Ké bảo rằng ở trên nương núi cao mà, những đêm
rằm thì ông Giăng xuống đúng ngay đỉnh đầu chúng ta thế này, tha hồ trèo lên nhảy
múa, hò hát.
Bẻ em - Thích nhỉ, em ở nương thì em sẽ lên chơi ông
Giăng luôn, ông Giăng vui lắm, cứ thấy mặt là thấy cười.
Trăng sáng óng ánh. Bóng núi bóng cây in thẫm nét. Nước lần ở
máng rỏ lách tách. Bài hát "Trăng sáng trên cao" 1 nghe khi xa khi gân, không biết tiếng hát
trong làng hay trên ông Giăng.
Ông Giăng - Các em đứng làm gì đấy?
Bẻ - Chúng tôi đợi bạn đê đi lên nương.
Ông Giăng - Đi lên với ông Ké trên nương à? Hoan nghênh
lắm. Mấy lâu nay, người các làng lũ lượt lên núi vỡ đất phá nương. Hôm qua, hôm
kia, hàng đàn trâu, đàn bò với người đeo vai cầy lên nương. Lại nhiều người đi
đêm, đêm nào ta cũng soi đường cho người đi. Họ vừa đi, vừa hát. Chốc nữa, các
em cũng cứ theo ánh trăng của ta mà đi.
Bẻ em - Nhưng mà lão bù nhìn Điếc đánh chúng tôi.
Ông Giăng - Sợ gì!
Bẻ em - Nhưng chúng tôi qua vườn ngô, thế nào lão cũng
giơ roi ra chặn đường, cái tay lão dài, cái roi lão dài, lão không có tai,
không nghe tiêng chúng tôi đi, nhưng mà gậy lão nện xuống thì vỡ đầu mất. Làm
thế nào, hả ông Giăng?
Ông Giăng - Này nhé. Lão trông thấy các em, nhưng lão
không nghe thấy các em đi. Thế thì lúc ấy ông Giăng gọi đám mây bay xuống bịt mắt
lão lại, lão sẽ không trông thấy gì nữa. Tha hồ đi qua.
Bẻ - Thế nào nhỉ? Bao giờ thì ông Giăng bịt măt bù nhìn
Điếc cho chúng tôi đi qua vườn ngô?
Ông Giăng - Để xem lão đương làm gì nào.
Bẻ - Đừng đi vội. Ông Giăng nhìn xa hộ xem các bạn tôi
đã đến chưa?
Bẻ em - Nhất định phải tìm bạn Đốm. Tôi không sợ. Đã là
anh em thì không được bỏ nhau. Biết đâu cái thằng My độc ác lại không lập mưu
đánh chết Đốm rồi. Tôi trở lại tìm bạn Đốm.
Bẻ em, toan chạy ra, giữa lúc Đốm dắt My vào.
3.
Đốm - Không đánh nhau nữa. Chúng tôi đoàn kết rồi (Cả bọn
reo lên).
Tất cả - Thế nào thế này...
Đốm - Tôi với bạn ấy đã toan choảng nhau. Nhưng vừa gặp
lúc ông Giăng lên. Ông ấy phân xử. Ông ấy bảo: "Đốm không được nóng tính.
Đánh nhau không thể làm cho My hiểu Đốm, mà lại càng ghét nhau hơn. Bây giờ phải
nói với nhau dịu dàng". Ông Giăng lại bảo My: "My nghe lời ông Giăng
đây. Tại sao My đói? Là vì em không chịu làm. Em bảo tại mũi em đỏ nên em không
biết bắt chuột, em hãy thử bắt chuột đi đã, xem sao". Bạn My cãi:
"Nhưng mà chúng nó lên nương hết cả rồi. Tôi cũng muốn bắt chuột, tôi cũng
muốn giữ nhà, nhưng không còn ai ở nhà". Ông Giăng cười: "Nếu em muốn
chữa bệnh lười của em thì có nhiều cách. Em đừng coi thường Bê, mà em phải bắt
chước Bê. Em đi theo các bạn lên nương, các bạn giúp em cùng canh giữ vườn tược,
nhà cửa, mà trước nhất là bạn Đốm đây. Các bạn lên nương giúp ông Ké vỡ nương
đó là một việc làm có ích". Nghe ông Giăng nói thế, My bèn bắt tay tôi.
Chúng tôi cùng nghĩ rằng: "Tại sao chúng tôi cùng ở một nhà lại không làm
lành với nhau. Ai nói câu cãi nhau như chó với mèo, từ nay câu ấy không đúng,
chúng tôi phải làm cho từ nay ai cũng phải khen ngợi: thương nhau như chó với
mèo".
My - Anh Đốm nói đúng. Tục ngữ từ nay có câu: Thương
nhau như chó với mèo!
Bẻ em - Chân bạn có bệnh tê thấp phải đi bít tất quanh
năm thế kia thì lội nước sao được.
My - Xin đừng chế giễu em! Em sẽ bắt cá bắt chuột được.
Bẻ em - Tai bạn không chịu được gió, đi đường xa gió thổi
thì lộng óc lắm.
My - Xin đừng chế giễu em. Không bao giờ em kêu đói nữa.
Chúng em vừa qua vườn ngô, lão bù nhìn Điếc đuổi đánh chúng em không được đấy.
Đốm - Đấy là ông Giăng ông ấy thử quyết tâm của chúng
tôi, ông ấy hỏi My: "Các bạn em lên nương đã đi lâu rồi, em có nhất định
theo các bạn không? Đi qua vườn ngô một mình em có dám không?". My đáp:
"Em không sợ bù nhìn Điếc nữa, em quyết tâm rồi". Chúng tôi đi qua vườn
ngô, sáng trăng vằng vặc, lão Điếc quất roi xuống như mưa. My can đảm lắm,
trúng mấy roi của lão, bật cả từng mảng lông, mà không khóc vẫn chạy vượt lên tới
đây.
Ông Giăng - Đốm và My là những bạn can đảm.
Tất cả hoan hô, hoa chân múa tay chạy quanh hai bạn.
My - Nhưng mà em còn lạc hậu. Em lười từ thuở bé tới giờ
rồi. Lên nương thì các bạn phải giúp em.
Bẻ em - Xin lỗi bạn, vừa rồi tôi nói đùa, tôi không ghét
bạn mà tôi sẽ giúp bạn.
Một Ỉn lùi lũi đi ra: "Tôi mới là lạc hậu".
Ỉn - (Vừa thở vừa nói). Tôi mới là lạc hậu. Tôi chỉ đi
chậm có vài bước mà không theo kịp các bạn.
Bốn Ỉn - Thảo nào, cứ thấy thiếu một...
Tất cả - Hoan hô! Hoan hô!
Bẻ - Thưa các bạn, gió mát đương thổi, trăng rằm đương
trong leo lẻo, chúng ta đương phấn khởi, chúng ta hãy lên đường cho khỏe chân.
Ông Giăng - Các em cứ đi, vừa đi vừa hát cho thật vui.
Ông Giăng sẽ soi đường thật sáng cho các em đi lên đến tận nương.
Tất cả - Ông Giăng soi đường cho chúng ta lên đến tận
nương!
Bẻ - Vâng chúng tôi lên đường. Chúng tôi lên đường đi tới
quê hương mật ong của bác Gấu rất béo, chúng tôi đến những cánh đồng cỏ ngọt của
anh Hươu đẹp trai, chúng tôi tới những đồi nương mới khai phá của ông Ké hiền từ,
rất kính yêu của chúng tôi. Chúng tôi giúp ông Ké trông nhà cửa vườn ruộng.
Chúng tôi làm việc, mỗi đứa một việc rất chăm, không bao giờ biết mỏi, không
bao giờ còn lười. Chúng tôi đương đi tới vùng đồi nương yêu quý và giàu có,
lòng vui sướng xiết bao. Ông Giăng ơi! Ông Giăng, ông cùng đi cùng hát với
chúng tôi.
Tiếng hát đồng thanh tưng bừng nổi lên. Tất cả bọn, dắt nhau,
vừa đi, vừa nhảy, vừa hát, quanh một vòng rồi xa dần vào chân núi. Tiếng hát
chan hòa. Ánh trăng lung linh. Ông Giăng cũng rún rẩy. Cây núi rập rờn. Tiếng
hát xa, dắt cả ông Giăng theo.
4/1956
Ghi chú:
1. Trăng sáng trên cao: Một bài hát tiếng Tày, bài hát phổ biến ở Cao - Bắc - Lạng từ năm 1940 khi mới ra đời đội Tuyên truyền Việt Nam giải phóng quân.
|











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét