Trữ tình một sắc thơ kháng chiến
Một nhà thơ nổi tiếng đã nói “Dân tộc Việt Nam ai cũng là thi
sĩ”. Từ nghìn xưa, trên đất nước ta, từ anh nông dân lao động cần cù đến người
chiến sĩ đánh giặc giữ nước đều biết làm thơ để nói lên tâm tư tình cảm mình.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ hào hùng trong giai đoạn từ sau
Cách mạng tháng Tám đã được minh họa lại như một áng sử thi rực rỡ sắc màu, bởi
những tác giả thuộc đủ các tầng lớp. Nổi bật nhất là những bài thơ mang dấu ấn
chiến tranh, được sáng tác bởi những tác giả chính là những chiến sĩ, cán bộ
đang trực diện chiến đấu với kẻ thù trên trận địa: Tố Hữu, Huỳnh Văn Nghệ,
Chính Hữu, Quang Dũng... Trong số đó, được coi là đứng ở một cõi riêng khá độc
đáo và được đưa vào chương trình phổ thông trung học là nhà thơ chiến sĩ Quang
Dũng.
Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988), tên thật trong khai sinh
là Bùi Đình Diệm (còn gọi là Dậu vì sinh ra nhằm năm Dậu), người huyện Đan
Phượng, tỉnh Hà Tây. Theo học Ban Trung học trường Thăng Long (Hà Nội), khi tốt
nghiệp Trung học, ông đi dạy tư ở Sơn Tây. Sau Cách mạng tháng Tám, khi thực
dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, với tinh thần yêu nước sẵn có như bao thanh
niên thủ đô khác, ông hăng hái gia nhập quân đội, công tác tại phòng Quân vụ, Bắc
bộ, làm phóng viên tiền phương cho báo Chiến đấu khu II. Sau đó, Quang Dũng
được điều đi học trường Bổ túc Trung cấp Quân sự Sơn Tây (1947), khi mãn khóa,
ông được phân công làm Đại đội trưởng Tiểu đoàn 212, Trung đoàn 52 Tây Tiến, từng
làm quân địch ở sân bay Cát Bi, Bạch Mai kinh hồn bạt vía và kiêm thêm vai trò
Đoàn phó Đoàn Võ trang Tuyên truyền Việt Lào. Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây
Tiến, ông làm Trưởng ban Tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm Trưởng
đoàn Văn nghệ Liên khu III. Những năm sống và chiến đấu ở Trung đoàn Tây Tiến
là khoảng thời gian oanh kiệt, hết sức ý nghĩa trong đời thơ Quang Dũng. Bài
thơ hay nhất Tây Tiến sáng tác trong giai đoạn này, theo lời tác giả
kể lại cho bạn bè: “Hồi ấy trong đoàn chúng tôi có rất nhiều người sốt rét trọc
cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn nên bộ đội không những đau ốm mà
còn chết vì sốt rét cũng nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân, cứ mỗi lần nghe
tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà Trưởng thôn để tiễn một con người
vĩnh biệt núi rừng”.
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài. Ngoài làm thơ, ông còn viết
kịch, xuất bản truyện ngắn và vẽ tranh triển lãm củng các họa sĩ nổi tiếng. Ông
cũng sáng tác nhạc: ca khúc nổi tiếng Ba Vì của Quang Dũng, được
trình bày nhiều lần trong khu kháng chiến. Bài thơ đỉnh cao Tây Tiến được sáng
tác khi ông đi dự Đại hội Toàn quân ở Liên khu III (1948) tại Phù Lưu Chanh, Hà
Đông. Tháng 8 năm 1951, Quang Dũng xuất ngũ và tiếp tục công tác trong ngành
văn nghệ. Sau khi làm Biên tập viên báo Văn nghệ, nhà thơ Quang Dũng chuyển
về làm việc tại nhà xuất bản Văn học. Thơ Quang Dũng nhất là bài Tây Tiến được
nhiều người yêu thích, xuất bản và phổ biến rộng rãi ngay cả ở miền Nam lúc bấy
giờ. Dù nổi tiếng, nhà thơ Quang Dũng rất chơn chất, khiêm tốn, sống đạm bạc và
không thích khoa trương hoặc nói về mình, tác phẩm của mình. Trong trò
chuyện, quan hệ giữa bạn bè, ông hay lắng nghe người khác nói, hơn là đặt vấn đề
dù ai cũng biết Quang Dũng có vóc người tầm thước, đẹp trai và rất giỏi về văn
nghệ. Ông cũng coi trọng sứ mệnh cao quý của nghệ thuật văn chương nên rất đố kỵ
với hạng nhà giàu muốn đánh đổi tác phẩm văn chương bằng tiền bạc. Khi nhận được
thư của một đại gia mời nhà thơ nổi tiếng đến tận nhà sáng tác thơ để được biếu
tiền, Quang Dũng không ngại từ chối và chua chát “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng
đến thế ư?”
Người ta hay nhắc lại tính mê chủ nghĩa xê dịch kiểu Nguyễn
Tuân của tác giả Tây Tiến. Nhà văn Đỗ Chu, trong một lần hợp mặt bạn văn kháng
chiến đã bật mí về một quãng đời đầy chất lãng mạn của Quang Dũng. Nhà thơ rủ một
người bạn họa sĩ nổi tiếng ở Thủ đô, tạo một chiếc xe trâu định hành phương
Nam. Trên đường đi, hai người định kiếm ăn độ nhật bằng cách ghé vào những
nơi phố xá, chỗ đông người vẽ tranh bán vì Quang Dũng cũng là một tay vẽ giỏi.
Đi giữa đường thì trâu bị bệnh, không kéo xe được nữa, hai người phải bán trâu
và xe đi. Ông bạn họa sĩ đồng hành nản lòng, bỏ về Bắc. Quang Dũng một mình,
sang xe lửa tiếp tục vào Nam. Khi đến tận Sài Gòn, nhà thơ lại đáo sang
Campuchia, rồi cuối cùng quay về Hà Nội. Sau đó, vì mê cách mạng, Quang Dũng
sang Trung Quốc để tìm cách mạng hoạt động nhưng cũng không xong nên đành trở lại
quê nhà. Với gia đình, vốn có thể lực khỏe mạnh, Quang Dũng gánh vác hết mọi
công việc nặng nhọc trong nhà, lúc nào cũng thể hiện sự quan tâm và lòng
yêu thương vợ
con.
Với bạn bè, nhà thơ Quang Dũng rất nể trọng và thường lui tới
với các văn nghệ sĩ nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Tô Hoài, Nguyễn
Tuân, Trần Lê Văn, cô Xuân Quỳnh, họa sĩ Phan Kế An… Nhà cửa đơn sơ trang trí với
vài bức tranh trên vách do Quang Dũng vẽ bằng mực tàu. Cả nhà thường ăn uống đạm
bạc. Theo lời người con gái út Bùi Phương Thảo, nhiều khi khách đến chơi nhà,
chỉ có vài đĩa đậu phọng, đậu nành để tiếp khách nhưng mọi người vẫn trò chuyện
vui như bắp rang.
Ngoài tranh vẽ và một nhạc phẩm, Quang Dũng có tác phẩm những tác phẩm tiêu biểu
như Mùa hoa gạo (1950); Bài thơ sông Hồng (1956); Rừng biển
quê hương (1957); Nhà đồi (1970); Làng Đồi đánh giặc (1976); Gương
mặt Hồ Tây (Bút ký, in chung 1984); Mây đầu ô (1986); Quang
Dũng (Tác phẩm chọn lọc, 1988)… Nhiều bài thơ hay của nhà thơ Quang
Dũng được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc: Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc); Đôi
bờ và Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát hành ở
Paris, Pháp); Kẻ ở (Cung Tiến phổ nhạc); Không đề (được 4
nhạc sĩ phổ nhạc: Việt Dũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương, Quang Vinh). Trong đó,
tuy số lượng thơ long sáng tác không nhiều, nhưng Quang Dũng đã có những tác phẩm
được coi là xuất sắc, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người yêu thơ
như các bài: Tây Tiến, Đôi bờ, Đôi mắt người Sơn Tây… Ông được Nhà nước tặng
giải thưởng về Văn học Nghệ thuật (2001).
Hành trình vào thế giới bút mực, minh
họa chân dung cuộc đời và sự nghiệp của Quang Dũng, ta thấy mạch tư tưởng nổi bật
lên trước hết là lòng yêu đất nước. Nội dung chủ đề ấy tiềm ẩn trong một bài
thơ tiêu biểu Tây Tiến qua nỗi nhớ triền miên day dứt của tác giả về một địa
danh lịch sử oai hùng cùng với hình ảnh không thể nào quên của những chiến sĩ của
yêu nước. Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ hoang sơ mà thơ mộng ấm áp với
núi rừng hiểm trở. Điểm xuyết vào thế núi sông hình sông hùng vĩ hữu tình với
là những cô sơn nữ xiêm y đẹp màu hoang dã, e ấp trong tiếng khèn man dại mang
mang tạo nên một bầu không khí mơ màng nửa hư nửa thực. Miền Tây còn là một
vùng đất tạo nguồn cảm hứng sáng tác cho văn nghệ sĩ. Ấy là các tác phẩm Tiếng
hát con tàu (Chế Lan Viên), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), Cô gái Hưng Yên
đi mở mang Tây Bắc (Huy Cận)… Nơi đó là địa bàn hoạt động của đoàn quân
Tây Tiến, thành lập từ năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, để bảo vệ
biên giới Việt-Lào, đánh tiêu hao quân đội Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ
Việt Nam. Trong đoàn quân Tây Tiến đa phần là thanh niên Hà Nội, chiến đấu
trong hoàn cảnh rất gian khổ, thiếu thốn về vật chất lại bị bệnh sốt rét hoành
hành ghê gớm. Dù vậy, chiến sĩ Tây Tiến vẫn chiến đấu dũng cảm với tinh thần lạc
quan cách mạng. Từng là đại đội trưởng của đoàn quân anh hùng đó nên tác giả
Quang Dũng không thể nào quên biết bao kỷ niệm về vùng đất lịch sử chan hòa
tình đất tình người và tình đồng chí trong thời gian hoạt động cho sự nghiệp giải
phóng.
Nỗi nhớ thể hiện một nét son sáng đẹp trong tâm hồn của Quang
Dũng: tình cảm về nguồn, triền miên kéo dài bắt đầu từ câu cảm thán đầu
tiên Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi, của bài thơ ban đầu chịu số phận long
đong nhưng có giá trị đỉnh cao và rất được nhiều người ưa thích. Ở bài thơ ấy
Quang Dũng, đã thể hiện một bút pháp tài hoa độc đáo và phong cách lãng mạn ấn
tượng của một nhà thơ có chân tài. Tác giả có những nhận xét tinh tế, sáng tạo,
đầy chất lãng mạn “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai
hùm/ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Tư tưởng
thâm thúy, lắng đọng đầy ắp tính nhân văn “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục
lên súng mũ bỏ quên đời”. Chọn lọc chi tiết, từ ngữ đắt giá, cô đọng gợi ý tượng
hình: Mường Hịch, Pha Luông, Mai Châu, đời xanh…
Nhịp thơ, tiết tấu âm thanh thích hợp, luôn chuyển biến lên xuống như một âm ba để thích nghi với thi tứ, thi cảnh: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây, súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/ Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi…”. Nhạc thơ du dương vốn có sẵn vì nhà thơ sử dụng thể thơ mới bảy chữ đã có tính nhạc truyền thống theo âm bình trắc. Trừ một đôi chỗ phá cách để bất ngờ tạo cảm giác mơ hồ, chơi vơi và mênh mang cho người đọc. “Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi” là cách nhà thơ chỉ sử dụng toàn thanh bằng - một biện pháp nghệ thuật cũng được sử dụng ở các nhà thơ nổi tiếng: “Giang hồ mê chơi quên quê hương” (Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà); hoặc “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Nhị hồ - Xuân Diệu).
Nhịp thơ, tiết tấu âm thanh thích hợp, luôn chuyển biến lên xuống như một âm ba để thích nghi với thi tứ, thi cảnh: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây, súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/ Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi…”. Nhạc thơ du dương vốn có sẵn vì nhà thơ sử dụng thể thơ mới bảy chữ đã có tính nhạc truyền thống theo âm bình trắc. Trừ một đôi chỗ phá cách để bất ngờ tạo cảm giác mơ hồ, chơi vơi và mênh mang cho người đọc. “Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi” là cách nhà thơ chỉ sử dụng toàn thanh bằng - một biện pháp nghệ thuật cũng được sử dụng ở các nhà thơ nổi tiếng: “Giang hồ mê chơi quên quê hương” (Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà); hoặc “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Nhị hồ - Xuân Diệu).
Cũng không thể không biết nhà thơ Quang Dũng từng có những vần
thơ tuyệt bút về tình yêu: “Em mãi là hai mươi tuổi/ Ta mãi là mùa xanh
xưa/ Những cây ổi thơm ngày ấy/ Và vầng hoa ngâu mưa Thu/ Tóc anh đã thành mây
trắng/ Mắt em dáng thời gian qua…” (Không đề).
Nhận định về Quang Dũng, ông hoàng thơ tình Xuân Diệu khi đọc
thơ tác giả Tây Tiến, có cảm nhận “nghe như ngậm nhạc trong miệng” vì thơ
Quang Dũng rất giàu tính nhạc - và cả tính họa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng
có lời khen dành cho nhà thơ: “Một người chiến sĩ trẻ, tài hoa trong đoàn quân
Tây Tiến ngày đó, sau này là nhà thơ Quang Dũng”. Tóm lại, ta có thể nói nhà
thơ Quang Dũng khu biệt độc lập như một ốc đảo cheo leo giữa trùng khơi thi ca
và lẻ loi hiu quạnh như một vì sao cô độc trong không gian văn chương kháng chiến,
nhưng là một người thơ (Từ dùng của nhà văn Nguyễn Tuân) tài năng hiếm hoi,
không khác chi một loài hoa lạ ngan ngát hương rừng. Nhiều bài thơ xuất sắc được
người đọc, đa phần là sinh viên học sinh, những chiến sĩ cách mạng và cả những
anh lính cộng hòa cũng ưa thích, tìm chép và thuộc lòng, nhà thơ Quang Dũng,
đáng được xem là ngòi bút thơ áo lính tài hoa trong thi đàn dân tộc.
Nguyễn Thanh
Nguồn: Văn nghệ số 35+36/2018





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét