Đi tìm lời giải về Trịnh Công Sơn
Lời giải:
Số phận con người do đâu?
Tài năng nghề nghiệp do đâu?
Vì sao ca từ nhạc Trịnh trở nên huyền ảo đến khó hiểu?
Vốn ca từ ở đâu Trịnh Công Sơn lấy để sáng tác âm nhạc?
Người nghệ sĩ khi sáng tác nghệ thuật là thế nào?
Tài năng của người nghệ sĩ?
Cảm hứng và sự tưởng tượng của người nghệ sĩ trong sáng tác
nghệ thuật?
Dòng nhạc Trịnh ảnh hưởng chủ thuyết nào?
Cái thú nghe nhạc Trịnh đêm khuya theo cảm nghĩ riêng.
Để hiểu phần nào về nhạc và con người
của Trịnh Công Sơn, theo tôi: suy bụng ta ra bụng người và nghe nhạc của
ông thường xuyên. Nói hiểu ở đây là cảm về ca từ của ông theo cách
riêng của mỗi người. Lời giải chỉ khơi gợi cho những điều còn thắc mắc: vì sao
và tại sao Trịnh Công Sơn trở thành nhạc sĩ tài hoa được mọi người yêu thích
qua hai dòng nhạc: Phản chiến và Tình ca vượt thời gian…
Lời giải 1: Số phận con người do đâu?
Những người theo phái duy tâm cho rằng
số phận con người do thần thánh chi phối tạo nên; thuyết luân hồi nhân quả của
đạo Phật cho rằng số phận do tạo nghiệp của người đó lúc còn sinh thời; người
theo phái thực tế cho số phận là do con người tự tạo: vì tư tưởng sinh ra hành
động - hành động sinh ra thói quen - thói quen sinh ra tính cách - tính cách
sinh ra số phận. Ví dụ: Một anh có thói quen ăn trộm, trước tiên anh ta phải có
suy nghĩ ăn trộm, suy nghĩ này dẫn anh ta đến hành động ăn trộm, ăn trộm lâu
ngày trở thành thói quen, “ăn cắp quen tay ngủ ngày quen mắt”. Thói quen lặp lại
thường xuyên trở thành tính cách của một người dẫn tới số phận. Rồi một ngày nọ
anh ta bị bắt ở tù vì tội ăn trộm: đó là số phận theo quy luật nhân quả do
chính bản thân mình tạo ra. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp người ta không thể
giải thích được số phận của một con người theo quan niệm trường phái thì họ
dung hòa: số phận do con người tự tạo 70% + thần thánh chi phối 30% = 100
% số phận một người.
Ngoài ra, người ta còn có cách quy
ra số phận con người kể từ khi người đó sinh ra là lớn lên rồi chết:
Thời đại người đó sinh ra và lớn lên…
Sinh ra thời chiến hay thời bình, ở đô thị hay làng quê,
trong gia đình giàu hay nghèo, khuyết tật hay bình thường….
Học thức nghề nghiệp: tài năng do thiên phú hay do di truyền
hoặc do sự học hỏi trui rèn của bản thân.
Nhân sinh quan, tâm lý, tính cách, sở thích v.v...
Lời giải 2: Tài năng nghề nghiệp do đâu?
Xin đưa ra công thức tham khảo cho
các ngành nghề:
Nền văn hóa và đất đai phong cảnh
thiên nhiên của một vùng đất nơi sinh ra và lớn lên + Thời đại sinh sống + Tài
năng thiên phú hay di truyền + Tài năng học hành của bản thân + Sở thích, tính
cách… + Trao dồi tôi luyện + Quá trình làm việc và sự sáng tạo không ngừng
+ v.v…. = Nghề nghiệp tài năng của một người.
Tới đây có thể hình dung ra tài năng
của Trịnh Công Sơn và tài năng của ta do đâu mà có. Như vậy số phận con
người và tài năng nghề nghiệp được hình thành gồm nhiều yếu tố. Trịnh Công
Sơn giống như chúng ta cũng sinh ra trong một hoàn cảnh nào đó. Trịnh Công Sơn
là người xứ Huế, có lẽ đất đai phong cảnh nên thơ của dòng sông Hương núi Ngự… Vùng
đất sinh nhiều anh hùng hào kiệt đã thấm sâu bao đời mà Trịnh Công Sơn là người
may mắn thừa hưởng tinh hoa đó chăng?
Lời giải 3: Vì sao ca từ nhạc Trịnh trở nên huyền ảo đến
khó hiểu?
Cách nói lạ không phải là mới mẻ đối
với các nhạc sĩ, thi sĩ… Nói lạ là một phương pháp sáng tác trong văn học có từ
lâu đời. Cách nói lạ của các nhạc sĩ thi sĩ khác chỉ là hơi lạ - cái hơi lạ này
thường ai cũng đoán hiểu theo một ý nào đó không làm mọi người ngỡ ngàng hay kinh
ngạc... Cách nói lạ của Trịnh Công Sơn thì rất đổi xa lạ và rất tân kỳ. Ngôn từ
nói lạ của ông nghe hoa mỹ và cuốn hút lạ lùng. Cách sắp xếp ca từ của ông về
hình thức trông rất tân kỳ và khi nghe cho nhiều cung bậc cảm xúc lạ… Nên ca từ
của ông trở trừu tượng và khó lý giải theo cách hiểu thông thường, nên nhiều
người kinh ngạc vì cái độc đáo tân kỳ của ông! (Nói ông sắp xếp ca từ: không có
nghĩa là ông viết ca từ ra giấy, rồi suy ngẫm xếp nó lại theo lý trí rạch ròi,
nếu có thì rất ít,… Mà sự sắp xếp này là do cảm xúc sắp xếp tự nhiên, nó bật ra
từ trong sâu kín tâm hồn của ông)
- Cấp độ 1: Ca từ tân kỳ đến ngỡ
ngàng: có bài cảm hiểu rõ ràng, có bài cảm hiểu lơ mơ nhưng hiểu ý tác giả. Ca
từ đẹp như bài thơ và có sức hút ma mị gồm các ca khúc: Ướt mi, Diễm xưa,
Biển nhớ v.v… (có khoảng vài chục ca khúc yêu thích và thịnh hành ở cấp độ một)
- Cấp độ 2: Ca từ tân kỳ đến
kinh ngạc và hại não: hiểu lơ mơ, không hiểu, trăn trở suy nghĩ về ca từ nói lạ.
Theo ước đoán những ca khúc đứng tóp 100 trở lên thì rất khó hiểu, nhưng người
ta vẫn nghe vẫn thích vì cách nói lạ ngộ nghĩnh giàu hình ảnh và giàu màu
sắc ca từ. Vì sao mà nhạc Trịnh Công Sơn càng về sau thì càng khó hiểu: Trịnh
Công Sơn có khoảng 600 ca khúc, mỗi ca khúc cho là 36 trường canh, mỗi trường
canh là một cụm ca từ, đem nhân cho 600 thì bằng: 21.600 cụm ca từ
khác nhau. Từ 100 ca khúc trở xuống hầu như không thấy sự trùng lấp ca từ.
Ngoài dòng nhạc Phản chiến ông chỉ có một chủ đề nói về Tình yêu
và thân phận, như vậy ông có trăm cách nói lạ khác nhau về tình yêu thân phận.
Ví dụ: “Anh yêu em, anh nhớ em…” Ông có trăm cách nói hàm ý bóng gió không bị
trùng lấp câu chữ. Giã sử 600 ca khúc không có sự trùng lấp ca từ thì Trịnh
Công Sơn phải moi tim vắt óc mới nặn ra những ca từ luôn khác biệt, nhưng người
nhạc sĩ tài hoa này giàu sức tưởng tượng thì dù có một ngàn ca khúc thì ông
cũng dễ dàng đặt ca từ. Chỉ cần ông đặt tựa bài hát ra như, “Đóa hoa vô thường”
thì ông sẽ cảm tác ngay và các ca từ trước đó sẽ không bị lặp lại. Nhạc của ông
mang hơi hám của: Đạo ca, Kiếp ca, Tâm ca, Suy niệm ca…
Theo tôi, cách nói lạ “Tân kỳ độc
đáo và sắc sảo” của Trịnh Công Sơn chưa có trong văn học cổ kim tính cho tận
bây giờ. Ông nói đến sự vật nào thì sự vật đó như nằm trong không gian ba chiều
cảm sờ nắn được. Trịnh Công Sơn không phải người rối loạn ngôn ngữ, ông chỉ nói
quanh quẩn về tình yêu kiếp nhân sinh như bao nhà thơ, nhà văn và các nhạc sĩ
sáng tác khác. Lắm lúc ông không dùng phép tu từ trong sáng tác văn chương
thông thường, hoặc ông không dùng trực từ chỉ định về cái chết cụ thể như: Anh
chết, em chết hay sự thương yêu đau khổ nhớ nhung… Mà ông hình dung sự vật, sự
việc qua lăng kính riêng biệt của ông đó là cách nói hàm ý lạ. Từ đó ông diễn lại
tiếng mẹ đẻ bằng cách sắp xếp ngôn ngữ nghe rất xa lạ của cách nói thông thường.
Tuy nhiên, không gây cảm giác khó chịu, trái lại còn thu hút người nghe vì
nó lạ ngộ chưa từng nghe thấy! - Từ đó sinh ra cách nói lạ độc đáo khó hiểu,
khó lý giải. Ông không cho là mình nói lạ như mọi người nghĩ về ông, ông nói lạ
vượt khuôn phép khuôn khổ của cách nói cách nghĩ bình thường là đương nhiên khó
hiểu. Nghe nhạc của ông lắm lúc không hiểu hết thâm ý của ông, nhưng cảm thì rất
nhiều cung bậc. Thông thường con người có xu hướng nghe nói rõ ràng trong giao
tiếp hàng ngày, nên cho Trịnh Công Sơn sáng tác trong tinh thần không ổn định.
Vì ngôn ngữ đời thường được ông tu sửa theo cách ông nghĩ. Ông có cảm xúc cực
nhạy và siêu phàm cũng là tự nhiên của ông vì đó là bẩm sinh thiên phú. Có lần
tôi bắt chước cách nói lạ của ông, tôi thử rồi thấy mình như thằng khùng thằng
điên!... Mọi người làm được thì xã hội sẽ ra sao? Ông có thần giao cách cảm đặc
biệt giao tiếp với trời đất vũ trụ với tiềm thức nhiều kiếp luân hồi của mình
thì đố ai biết!... Mà không tin không được vì không có cách lý giải nào thuyết
phục hơn. Tôi nhớ đã đọc trong một quyển sách: Một nhà văn nước ngoài viết về
tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tả lại cảnh chiến tranh đã xảy ra trên một
vùng đất rất xa nơi nhà văn ở và cách xa thời đại nhà văn sống vài trăm năm… Ông
tả các vũ khí đánh nhau và nhiều thứ khác giống hệt các vật mà các nhà khảo cổ
khai quật. Rồi không có sự giải thích nào thuyết phục bằng cách cho ông là người
của tiền kiếp luân hồi và nơi xảy ra chiến tranh là quê hương của ông, ông là
người lính chết trong trận chiến đó. Người ta cho rằng tiền kiếp của con người
nằm ở tiềm thức, nằm mơ thấy mình hóa bướm hóa rắn là do tiền kiếp trước của
mình là bướm là rắn! Những hiện tượng như vậy xảy ra trong đời sống thường
ngày, khoa học không giải thích được thì con người mượn sự mầu nhiệm huyền bí để
giải thích đó là tự nhiên xưa nay.
Tôi có nghe hai ca khúc của Trịnh
Công Sơn do danh ca Khánh Ly hát, tôi không biết tên tựa bài hát vì nghe qua
usb. Bài thứ nhất có lời: Tôi là ai, là ai ba trăm năm trước, tôi là ai, là ai,
là ai, vu vơ đất bồi, em ngồi ngọn sóng mang thai. Tôi là ai, là ai ba trăm năm
trước, tôi là ai, là ai, là ai, Sài Gòn gánh gió trên vai, mưa lầy lội, tôi tìm
tập trung dấu vết hươu nai, không ai chờ đợi hình bóng tôi phai. Tôi là ai, là
ai, hôm nay tôi đến tôi tìm tôi. Tôi là ai, là ai ba trăm năm trước, tôi là ai,
là ai, là ai, ra đi vời vợi, gót hồng lạc dấu em tôi. Tôi là ai, là ai ba trăm
năm trước, tôi là ai, là ai, là ai, trở lại hóa kiếp rong chơi giữa nơi nầy. Phố
phường Sài Gòn nhớ nhớ quên quên, đi quanh tôi tìm hình bóng xưa quen, đi tìm
em, tìm em, cho tôi dấu vết bóng phù nam. Tôi là ai, là ai, hôm nay tôi đến tôi
tìm tôi.
Bài thứ hai có lời: Nhật nguyệt
í a trên cao, ta ngồi ối à dưới thấp, một dòng í a trong veo, sao lòng í a còn
đục, bầy vạc í a bay qua kêu còn í a tịch lặng, đường đời í a không xa, sao chồn
í a gối chân. Nhật nguyệt í a trên cao, ta ngồi ôi à dưới thấp, một đường í a
cong veo, nắng vàng ối a đột ngột, từ độ í a chim thiên hót lời ối a mệnh bạc,
từng giọt í a vô biên, chối chim ối à tiếng tăm. Bài này Khánh Ly hát giọng
như tụng kinh niệm Phật với cây đàn guitar khẩy hai dây nghe tịch lặng, đều đều
như tiếng gõ mõ tụng niệm của các thiền sư ở chùa. Bài này thuộc loại “khổ
nghe” ở cấp độ 2, hại não!
Riêng hai bài nhạc này cho nhiều
nghi ngờ: Trịnh Công Sơn có thể là Phật tử tại gia. Ông rất tin vào thuyết luân
hồi nhân quả của Phật giáo, và tin sẽ hóa kiếp là Trịnh Công Sơn sau 300 năm nữa.
Ai có thể chờ 300 năm sau coi có Trịnh Công Sơn luân hồi như ông nghĩ không? Trịnh
Công Sơn sáng tác qua giấc mơ tiềm thức, thần giao cách cảm v.v… Ông cảm cái kiếp
trước của mình qua những ca từ khó hiểu cũng là chuyện bình thường của con người,
vì ai cũng có cái đặc biệt không giải thích được. Trong âm nhạc của Trịnh Công
Sơn thường luôn nói lạ và nói lạ là bẩm sinh là thiên phú của ông. Như câu “Em
ngồi ngọn sóng mang thai” - Nghe lạ ngộ!
Những ca khúc ông xưng hô “anh, em”
thì nghe dễ hiểu như dòng nhạc Boléro thịnh hành. Trái lại, những ca khúc ông
xưng “ta, tôi” hoặc có những ca khúc ông xưng hô rất ít từ: “anh, em, ta, tôi,
thậm chí không xưng từ nào”… Ông nói bóng gió và tạo ghép rất nhiều hình ảnh lạ
ngộ đến vô lý để diễn đạt sự chiêm nghiệm ở tầng siêu thức tiềm thức của ông
thì hàm súc rất sâu xa khó hiểu. Nhạc của ông có cái hiểu cái không là ngôn ngữ
nào ông sử dụng đời thường thì dễ, câu nào ông sắp xếp ngôn ngữ nói lạ thì rất
khó hiểu. Có bài ông tự sự với núi, gió, suối, mây… bằng triết lý suy niệm của
riêng ông, cho thấy ông có tâm trạng cô đơn không biết giải bày cùng ai: vì… người
yêu đã bỏ ông đi! Hoặc ông gọi “người ơi, ai ơi” da diết nỗi lòng thương nhớ
khôn siết! Có những ca khúc ông so sánh tình yêu với cỏ cây nghe rất hay lạ và
đậm chất thơ trữ tình.
Tựa bài hát của Trịnh Công Sơn thường
nghe: đẹp và thơ, nhưng có bài nghe rất ngộ lạ, hàm ý sâu xa khó hiểu, rất khó
đoán được nội dung ca khúc muốn nói cái gì. Ở dòng nhạc Bolero thì tên ca khúc
thường biểu thị nội dung khá rõ nét. Nói vui!: Muốn nghe hiểu nhạc Trịnh thì
nghĩ như đang giao tiếp với một người nước ngoài mà ta nghe chưa quen và nói
chưa thạo ngôn ngữ của họ. Vì nhạc Trịnh có câu hiểu dễ, có câu nhíu mài lơ mơ,
có câu vỗ trán lắc đầu không hiểu gì hết, giống như nghe thằng Tây nói chuyện vậy.
Khi biết chủ đề ca khúc thì phải: cảm ca từ, đón câu ý, cảm giọng ca và tiết tấu
giai điệu, rồi phối lại thành câu ý coi muốn nói hay ám chỉ cái gì. Vì vậy,
không giỏi tiếng Tây mà nghe thằng Tây nói 10 chữ hiểu được năm ba chữ, rồi phối
câu ghép từ, đón ý nó muốn nói cái gì: là giỏi rồi!...Nghe nhạc kiểu này thì mất
cảm xúc và hại não chết luôn, nhưng nhạc Trịnh thì trái lại. Có lẽ Trịnh Công
Sơn bị ảnh hưởng chủ thuyết siêu thực nên ca từ của ông đậm hình ảnh của thể loại
thơ siêu thực khó hiểu. Tuy nhiên: nhờ hòa âm hay + giai điệu nhẹ nhàng tự sự +
tiếng hát Khánh Ly truyền cảm sâu lắng = làm cho hình ảnh ca từ như trôi trong
không gian ba chiều: tạo nhiều cảm giác thực - ảo và lơ mơ bềnh bồng rất thích
thú!... Và có cả sự tò mò thắc mắc: là vì sao và tại sao, Trịnh Công Sơn lại nói
lạ với những dụng ý gì!?
Lời giải 4: Vốn ca từ ở đâu, Trịnh Công Sơn lấy để sáng
tác âm nhạc?
Vốn ca từ được Trịnh Công Sơn: lấy từ
ca dao tục ngữ tiếng mẹ đẻ, lấy từ tiếng ru của bà và sự dỗ dành âu yếm của mẹ,
lấy từ ký ức tuổi thơ hồn nhiên, từ nền văn hóa nơi ông sinh ra và lớn lên; lấy
từ kiến thức văn học triết học mà ông học hỏi và trải nghiệm, lấy sự chiêm nghiệm
từ tiềm thức của những giấc mơ, từ linh cảm siêu nhiên huyền bí… Ông còn lấy
thành phố, con đường, công viên, quán nước, vỉa hè, ánh điện…Ông vay mượn trời
đất: mây, núi, cây cỏ, sông suối, chim muông… Nói chung ông lấy thế giới vật chất
và thế giới tinh thần trộn lẫn để sáng tác ca từ theo cách riêng của mình.(Nói
vui là không đụng hàng!) Vì khi trời đất đã ưu ái thì phải cho phải giúp ông những
cái ông cần để cảm tác về “cuộc đời” về “cái tôi” về “sự huyền bí” mà tạo hóa
vô tình hay hữu ý ban phát cho ông cũng như ban phát cho những tài năng khác là
có nhiệm vụ làm đẹp cuộc đời như là cách trả nợ đời và trả nợ tạo hóa chăng? (…)
Người nhạc sĩ sáng tác quan trọng
nhất là tiếng đàn nhạc cụ, tôi không có đàn piano nên không biết âm thanh của
nó có gợi ra nhiều ý tưởng sáng tác hơn đàn guitar không? Theo tôi thì người nhạc
sĩ chuyên loại nhạc cụ nào thì sáng tác loại đó. Tuy nhiên, có những nhạc cụ
khó gây men và khơi dậy nỗi lòng sâu kín của người nhạc sĩ. Âm thanh tiếng đàn
là sợi dây kết nối vô hình từ cảm xúc tới tiềm thức, ký ức và vượt xa không
gian hiện thực… Trừ những nhạc sĩ sáng tác không cần tiếng đàn, họ xướng âm là
la la lá, đồ mi sol….là sáng tác được một bản nhạc hay đàng hoàng. Thời chiến
tranh các nhạc sĩ cách mạng sáng tác chỉ cây đàn măn đô lin, bơm đạn bắn không
còn thì lấy gì sáng tác, vậy mà họ làm được. Tiếng đàn có âm tối, âm sáng, âm
buồn âm vui nên dễ kích thích nỗi niềm người nhạc sĩ, người nhạc sĩ sáng tác
không gian thời gian chung quanh như lắng đọng… Họ không nghe thấy gì ngoài tiếng
đàn và giai điệu mà họ ngân nga thả hồn tìm kiếm để bắt lấy nó cho kỳ được! Một
tiếng động không làm họ bị chi phối, một tiếng động lớn sẽ làm họ giựt mình,
lúc đó mạch cảm xúc bị gián đoạn thì làm họ rất bực mình, vì nối lại mạch cảm
xúc không như trước, giống như cắt sợi dây đứt hai rồi đem nối nó lại vậy. Theo
quan niệm phương đông thì người nghệ sĩ nằm trong thế giới “Thiên địa nhân”.
Cái khí thiêng của núi sông, văn hóa cội nguồn của một vùng đất cũng ăn sâu vào
ký ức tiềm thức của người nghệ sĩ tự bao đời. Trịnh Công Sơn sáng tác ra ca từ
và những ngôn từ đó âm vang tận tiềm thức, ký ức đã được lưu giữ tự bao đời của
cha ông truyền lại. Sự ấp ủ trăn trở của người nghệ sĩ vốn hình thành như men
say dầy dậy trong tâm thức, tiềm thức hồi nào không hay biết… Và chỉ khi người
nghệ sĩ dâng trào cảm xúc thì men say ấy đã chín mùi thành chất xúc tác giúp
cho người nghệ sĩ sớm thăng hoa trong sáng tác nghệ thuật: người nghệ sĩ say
men lâng lâng rồi cho ra những ý tưởng tân kỳ độc đáo!... Khoảnh khắc, hơi men
tan vào vũ trụ để lại tâm hồn người nghệ sĩ nỗi khắc khoải triền miên về điều
mà mình vừa miên man chạm tới: hơi men tan đi, khao khát vẫn còn. Và nó để lại
cho người nghệ sĩ áng thơ văn tuyệt tác, như những bản Tình ca của nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn đã để lại cho đời! Tới đây đã hiểu phần nào về con người Trịnh Công
Sơn và hiểu về ta ra sao. Sao ta không tài hoa như ông, đừng vội, vì chúng ta
có tài năng khác mà ông không có.
Lời giải 6: Tài năng của người nghệ sĩ?
Theo quan niệm Á đông - cái tài là
do thiên phú, cái tài còn là tinh hoa của dân tộc của trời đất ưu ái cho một
người nào đó. Vì vậy khi người nghệ sĩ sáng tác thì trời đất núi sông phát ra
siêu lực giúp họ cảm tác nghệ thuật - vì trời đất ưu ái thì phải giúp họ, đây
cũng là quy luật tự nhiên của vũ trụ vô cùng và khó hiểu! Tài năng của người
nghệ sĩ như tảng băng trôi: “phần nổi là thực, phần chìm là ảo, khi sáng tác
hai cái này tan chảy vào nhau”. Nhạc sĩ và nhà thơ thì cho ra những ngôn từ thực ảo,
vì nhà thơ và nhạc sĩ luôn mạnh về cảm xúc: Người thiên về sắc thái cuồng nhiệt,
người thiên về triết lý trữ tình tinh tế như Trịnh Công Sơn… Độc đáo ở Trịnh
Công Sơn là cách biểu đạt ngôn từ một cách ma mị nên có người tặng ông là Phù
thủy văn chương!... Ca từ của ông như có hồn níu kéo người nghe một niềm
cảm xúc kỳ lạ! Ông có sức hình dung sự vật lạ kỳ nên cho ra những ngôn từ cũng
kỳ lạ không kém. Bấy nhiêu đã thấy trí tưởng tượng của Trịnh Công Sơn là siêu
việt!… Đôi mắt của ông rất tinh tường tinh tế, đầu óc của ông thì rất tự do
phóng khoáng, giúp ông vượt khỏi ngưỡng hiện thực để đi đến cái siêu cao hơn. Sự
vật mà ông nghĩ tới luôn nằm trong không gian ba chiều nên trở thực và ảo, lung
linh trong trí giúp ông tạo ra ca từ cũng lung linh thực ảo. Và cái thực-ảo làm
ngôn ngữ của ông trở nói lạ, nhằm diễn đạt sự vật theo suy niệm của riêng ông.
Vì ông sáng tác cho “cái tôi” của ông, chứ không cho “cái tôi của mọi người”.
Ngoài sáng tác nhạc, Trịnh Công Sơn còn được biết đến là một nhà thơ và họa sĩ,
ông sáng tác nhạc giống như khi làm thơ hoặc vẽ, nên nhạc của ông đậm sắc thái
thơ và họa… Ví như ông cầm bút cọ phát thảo lên khung vẽ những nét sơ khai rồi đậm
dần theo cái mà ông tưởng đến… Và đôi khi chỉ là những nét mơ hồ, trừu tượng và
rất khó hiểu. Một người nghệ sĩ mang trong người nhiều yếu tố nghệ thuật thì
khi sáng tác những thứ đó bị chi phối lẫn nhau, cái này có hồn xác của cái kia
ngự trị ít nhiều: Hỏi vì sao trong âm nhạc Trịnh Công Sơn luôn có thơ có họa… Chính
hai cái này trộn lẫn làm ngôn ngữ trở nên huyền ảo chăng!?
- Một nhạc công đệm đàn “mùi” quá làm
cho Khánh Ly hát “mùi” hơn. Hát xong, Khánh Ly tươi cười bước xuống vỗ vai anh
nhạc công: “Cám ơn tiếng đàn réo rắc của anh, tôi say theo tiếng đàn mà hát
không muốn nghỉ!” - Anh nhạc công cười phấn khích: “Nghe Khánh Ly hát “mùi” làm
tôi đắm đuối đàn theo muốn đứt ruột gan!” - Một khán giả bước tới hỏi: “Anh nói
vậy, mà bây giờ anh có đàn được như vậy cho thần tượng của tôi hát lại được
không?... Chứ tôi thấy anh phăng anh phiu dữ lắm đó nghen!” - Anh nhạc công toe
toét: “Anh có bắn tôi thì tôi chịu, chứ bắt tôi đàn giống như lúc nảy thì chịu
thua!” - Khánh Ly và nhạc công cười xòa. Vị thính giả bước tới hỏi Trịnh Công
Sơn đang ngồi ghế danh dự: “Nhạc sĩ sáng tác nghe hay quá!… Mà sao ca từ nghe lạ
quá, hỏng hiểu gì hết! - Trịnh Công Sơn cười nín thinh không trả lời vì sợ anh
ta hỏi thêm: Nhạc sĩ sáng tác như vậy mà nhạc sĩ có hiểu nhạc của mình nói gì
hay không? Trịnh Công Sơn suy nghiệm: “Tại sao lúc đó mình sáng tác như vậy,
nghe cũng là lạ và khó hiểu!” Có thể ông hiểu lơ mơ về ca từ nhạc của mình như
ta hiểu bây giờ vậy, vì đó là cảm xúc nên không theo qui luật nào! (Tôi nói xàm
cho vui rồi lại xàm tiếp!). Như câu chuyện là thật thì Trịnh Công Sơn khó giải
bày, vì ông giống như anh nghệ sĩ đàn guitar ngẫu hứng theo tiếng hát mùi mẫn của
Khánh Ly vừa rồi. Anh ta phấn khích phăng phiu, nhấn nhá mọi cách gây hứng thú
cho Khánh Ly hát mỗi lúc một hay và ngược lại tiếng hát Khánh Ly đã làm anh phấn
khích. Người nghệ sĩ luôn có cái cảm đồng điệu như vũ trụ đồng điệu với người
nghệ sĩ trong sáng tác. Tương tác xảy ra nhất thời, người nghệ sĩ phải nhanh
trí bắt lấy cái thần khí lúc đạt đỉnh thăng hoa: nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn đều
cảm được cái này, không có nó họ không thể sáng tác, cố ép chỉ là con số không!
Lời giải 7: Cảm hứng và sự tưởng tượng của người nghệ sĩ
trong sáng tác nghệ thuật?
Ở người nghệ sĩ quan trọng nhất là cảm
hứng và sự tưởng tượng, cảm hứng giúp người nghệ sĩ sáng tác qua hình dung tưởng
tượng của mình. Khi cảm hứng đạt đỉnh lúc này tinh thần người nghệ sĩ hòa vào
trời đất vạn vật rồi tương tác lẫn nhau. Người nghệ sĩ cảm thấy tinh thần sáng
suốt và tinh tế hơn. Người nghệ sĩ có cảm giác tinh thần bềnh bồng, nhịp tim đập
nhanh hơn như có luồng khí thiên nhập vào người (…). Lúc này người nghệ sĩ tập
trung cao độ, quên đi mọi thứ để cho nhiều ý tưởng mới lạ xuất hiện… Người nghệ
sĩ chưa kịp nắm bắt ý này thì ý kia lướt tới xô đẩy như sóng trào: là nhà thơ
trong đầu âm vang tiếng thơ rồi tuôn trăm dòng nối tiếp ra trang giấy cách vô
thức, nhà văn thì viết hằng giờ liền mà ý tưởng cứ luôn mới mẻ không ngừng!... Đôi
tay cầm bút của người nghệ sĩ thường khó đuổi kịp ý nghĩ vì vậy mà bản thảo nguệch
ngoạc chữ khó đọc, bản thảo không kịp sửa bỏ lâu ngày làm người nghệ sĩ khó đọc
lại chữ của mình, vì vậy người nghệ sĩ khá vất vả để ghi chép hết những dòng ý
nghĩ mới lạ lúc cảm hứng lên đến cao trào. Linh thức của người nghệ sĩ là điểm
nối: tiềm thức con người với vũ trụ…Vì vậy con người mới sáng tạo ra cái kỳ diệu
độc đáo như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn! Bao nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn khác
cũng sáng tác như thế. Tôi không thần thánh Trịnh Công Sơn, vì ai cũng có thể
trở thành vĩ nhân về thiên tài xuất chúng của mình. Tôi trân quý và cám ơn ông
đã để lại cho cuộc đời tôi đang ở một tài sản âm nhạc vô giá về: Tình yêu
và Thân phận - cho mọi người có cái để suy ngẫm riêng tư về cuộc đời
mình đang sống… Và cuộc đời này đâu chỉ có tôi và bạn!? Nghe nhạc Trịnh Công
Sơn, tôi cảm con người ông rất hiền lành và cảm được sự cô đơn đâu đó của
ông (…) Tôi không thấy có lời bon chen nào trong ca từ âm nhạc của ông. Và ông
đã đứng giữa ngã rẽ của thế sự cuộc đời (…) Ông không đai nghiến, yếm thế cuộc
đời ông ở, ông yêu nó vô cùng. Tâm ông thấm nhuần triết lý Đạo Phật về lòng bác
ái, yêu thương đồng loại (ở dòng nhạc Phản chiến).
Trong âm nhạc của ông ta nghe ông tự
sự về “cái tôi cái ta”: cái tôi thương, cái tôi nhớ, cái ta nghĩ ngợi, cái ta
suy niệm, cái tôi của tiền kiếp, cái ta chiêm nghiệm về thế giới huyền
bí v.v… Biết bao “cái tôi cái ta” đã hình thành trong con người nói lạ của Trịnh
Công Sơn. Tôi không may mắn nghe hết 600 ca khúc mà ai đó liệt kê. Theo tôi những
ca khúc chưa phát hành còn rất nhiều điều trăn trở về “cái tôi cái ta và cái độc
đáo” của ông chưa thật sự được khám phá: “Người nào phát kiến ra cái mới mẻ
chưa từng có trong lịch sử cổ kim, hoặc, một câu nói làm kinh động thế giới thì
người đó có thể trở thành vĩ nhân về cái tài đặc biệt của mình”
Tóm lại, tưởng tượng ví như mây ngũ
sắc của buổi hoàng hôn có nhiều hình dạng kỳ quái: Nhà thơ hình dung kia là đàn
ngựa chạy tung khói bụi, kia là núi non chập chùng trong bão tố. Nhà văn thì
hình dung đó là vị thần đang cưỡi trâu cưỡi bò, hay đó là bồng lai tiên cảnh có
các vị tiên râu dài tới ngực đang ngồi đàm đạo đánh cờ v.v… Phúc chốc, sinh ra cảm
hứng cảm tác, cái mình cảm cái mình nghĩ. Trịnh Công Sơn thì khác, ông cho đó
là cảnh cái chết, cảnh biệt ly…. Cảm hứng còn được viết ra bằng trí tưởng tượng
vô song và không tưởng của các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ…Lúc đó cái thần
thái vượt lên chín tầng mây để giao thoa cùng trời đất vũ trụ: họ nói, họ hát,
họ vẽ như người cõi trên! Hỏi mấy ai hiểu được tranh trừu tượng, thơ siêu thực
gì đó cho đúng nghĩa của người cảm tác: biết đâu chính cái khó hiểu là đỉnh cao
nghệ thuật của trăm năm sau, vì thế giới này cũng đã từng như vậy!
Lời giải 8: Dòng nhạc Trịnh ảnh hưởng chủ thuyết nào?
Con người sinh ra và lớn lên trong một
hoàn cảnh hay thời đại nào đó… Tư tưởng và trào lưu của thời đại đó ít nhiều ảnh
hưởng đến tư tưởng của một số người đương thời. Tư tưởng trào lưu đôi khi hợp
thời này nhưng không hợp thời kia, tư tưởng người này không hẳn giống người kia
là chuyện hiển nhiên.(…)
Trịnh Công Sơn sinh sống vào thời đất
nước bị chia đôi (…). Thời đó có nhiều chủ thuyết ra đời: thuyết lâu đời nhất là
Phật giáo trong đó có thuyết luân hồi; gần hơn là thuyết siêu thực trong thơ ca
và thuyết hiện sinh trong lối sống v.v… Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ trí thức
nên ít nhiều bị ảnh hưởng các thuyết trên là đương nhiên. Là người nghệ sĩ trí
thức ông không thể đứng ngoài thế sự (…). Hoàn cảnh lúc đó buộc ông đứng trước ngã
rẽ và rất khó cho ông(…) Là một nhạc sĩ tài năng ông chọn dòng nhạc Phản chiến
để bày tỏ quan điểm và thức tỉnh mọi người (…). Âm nhạc Trịnh Công Sơn chủ yếu có
hai dòng: “Tình yêu - Thân phận” và “Phản chiến”. Ở dòng Tình yêu và Thân phận: Ngôn ngữ có bài đậm nét của thể thơ siêu thực khó hiểu. Phần lớn nói
về: cái tôi của tình yêu, cái tôi của chiêm nghiệm, cái tôi của kiếp nhân
sinh v.v... Ở dòng Phản chiến ông ngầm kêu gọi buông bỏ: Tham sân si và kêu gọi
lòng yêu thương bác ái của con người. Đây là giáo lý chủ chốt của Đạo Phật và
là cội nguồn của mọi khổ đau do lòng tham của con người sinh ra. Ngôn ngữ ca từ
của ông diễn đạt một hình thái khác, nhưng ẩn chứa cái tâm của ông về thế sự cuộc
đời mà ông đang ở trọ. Có thể nói Trịnh Công Sơn được biết đến và nổi tiếng từ
dòng nhạc Phản chiến: Thời đó sinh viên và các tầng lớp trí thức sử dụng nhạc
Phản chiến của ông trong các dịp du ca hội họp và nghỉ hè v.v.... Như vậy, Trịnh
Công Sơn ít nhiều chịu ảnh hưởng của các chủ thuyết nói trên. Theo tôi về tư tưởng
sáng tác, ông ảnh hưởng giáo lý nhà Phật là chủ yếu. Thiết nghĩ, đó là cái
Tâm Phật của người nghệ sĩ chân chính: vì tâm sinh tướng - Tâm tướng ông
không thuần khiết thì không biểu thị ra bên ngoài bằng cái Tâm tướng của
ngôn từ ca từ thông qua cách nói lạ. Ông nói lạ mà nghe cuốn hút, ông nói lạ mà
nghe tình cảm, ông nói lạ mà nghe sâu sắc, ông nói lạ mà nghe ngộ nghĩnh đáng
yêu.v.v… Và cái nói lạ đó không ngoài tình yêu thân phận, tình người và cuộc đời
chúng ta đang sống. Những lời ông nói đó còn thật hơn cuộc đời thực, vì cái thật
đó được ông khơi gợi nói ra mà ai cũng có thể cảm nhận được theo cách riêng của
mình; còn cái thật của cuộc đời thì đôi khi bị khuất lấp, ít người thố lộ ra
cho mọi người cảm được mùi vị đắng cay, thương yêu, nhung nhớ, khổ đau của cuộc
đời. v.v… Đôi khi cái lạ đẹp, cái kỳ ảo đó không hiểu mấy nhưng vẫn hay và nghe
tự nhiên. Ngôn từ của Trịnh Công Sơn nghe đẹp cả hình thức lẫn nội dung. Và cái
đẹp đó không của riêng Trịnh Công Sơn mà là của mọi người nghe nhạc của ông: cần
vươn tới chân thiện mỹ trong đời sống hiện đại ngày nay.
Lời giải 9: Cái thú nghe nhạc Trịnh đêm khuya theo cảm
nghĩ riêng
Đêm nghe nhạc Trịnh: hình dung như
thước phim chiếu trong đầu: không gian mở rộng nhiều bối cảnh quen thuộc đến ngỡ
ngàng, phụ thuộc vào độ cảm, sức tưởng tượng của người nghe. Nhân vật thường mờ
nhạt nhưng đậm ngôn ngữ kỳ ảo đến cuốn hút. Nghe một lúc ngỡ lạc vào xứ sở
lạ kỳ… Rồi phấn khích đứng xem nhà ảo thuật ngôn ngữ dùng mọi thủ pháp
đánh lừa thị giác người xem…Ngôn ngữ hoán đổi liên tục tạo nhiều ngữ nghĩa, nhiều
sắc thái cung bậc đến choáng ngộp! Rồi nhà ảo thuật như vẽ vào tâm trí người
nghe hỗn độn tranh ấn tượng lẫn trừu tượng… Người nghe nhanh trí phối những
tranh ấy thành bức tranh tổng thể để có cái hiểu cảm riêng. Và đây cũng là cái
thú độc đáo khi nghe nhạc Trịnh: câu rõ nghĩa đứng cạnh câu lờ mờ nghĩa, câu dễ
hiểu đứng cạnh câu khó hiểu… Người nghe hụt hẩng bơ vơ thì câu rõ nghĩa lại xuất
hiện kéo cảm xúc trở lại.
Nghe nhạc Trịnh giống như trò chơi đố chữ xếp hình, trò rượt đuổi của mấy đứa con nít, ý này đuổi ý kia loạn xà ngầu… Người nghe chú ý tìm bắt sao cho được tên đứng gần nhất là thích lắm rồi! Ngôn ngữ âm nhạc có khác hơn ngôn ngữ thơ văn, vì: ca từ + phối âm + tiếng hát…= Thường cho ra nhiều hình ảnh cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhất là ngôn ngữ nhạc Trịnh biến hóa nhiều hình ảnh không tưởng, bất ngờ, choáng ngộp, một phần nhờ vào âm thanh phối khí, độ cảm của ca sĩ khi hát - ngôn ngữ ca từ như bóng ma ám ảnh người nghe, nhạc ngưng rồi mà dư âm còn kéo, lòa nhòa thực hư - mà hay mà say mê! Nói vui: Một cô gái đẹp dễ tán tỉnh sẽ không thu hút bằng cô gái bí hiểm… Cái bí hiểm này làm mình tức trăn trở tìm mọi chiêu trò để chinh phục nàng, nhưng chinh hoài mà nàng không phục, cứ tiếp tục chinh, chinh mãi! Nghe nhạc Trịnh cũng vậy!
Nghe nhạc Trịnh giống như trò chơi đố chữ xếp hình, trò rượt đuổi của mấy đứa con nít, ý này đuổi ý kia loạn xà ngầu… Người nghe chú ý tìm bắt sao cho được tên đứng gần nhất là thích lắm rồi! Ngôn ngữ âm nhạc có khác hơn ngôn ngữ thơ văn, vì: ca từ + phối âm + tiếng hát…= Thường cho ra nhiều hình ảnh cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhất là ngôn ngữ nhạc Trịnh biến hóa nhiều hình ảnh không tưởng, bất ngờ, choáng ngộp, một phần nhờ vào âm thanh phối khí, độ cảm của ca sĩ khi hát - ngôn ngữ ca từ như bóng ma ám ảnh người nghe, nhạc ngưng rồi mà dư âm còn kéo, lòa nhòa thực hư - mà hay mà say mê! Nói vui: Một cô gái đẹp dễ tán tỉnh sẽ không thu hút bằng cô gái bí hiểm… Cái bí hiểm này làm mình tức trăn trở tìm mọi chiêu trò để chinh phục nàng, nhưng chinh hoài mà nàng không phục, cứ tiếp tục chinh, chinh mãi! Nghe nhạc Trịnh cũng vậy!
Quá trình nghe nhạc Trịnh Công Sơn,
tôi có một số lý giải theo cách nghĩ riêng: Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn,
ông hiếm dùng ngôn ngữ của dòng nhạc bình dân Bolero, ông dùng phong cách văn
chương ít hơn ngôn ngữ đặc thù nói lạ của ông. Như ông ẩn dụ A với B… thì cùng một
lúc ông cho ra nhiều hình ảnh ở B… Nhạc Trịnh Công Sơn có bài như bức tranh trừu
tượng với những mảng màu kết hợp ngẫu nhiên qua cách ông dựng ngôn ngữ… Nó chứa
nhiều hình ảnh biến ảo và những hình ảnh đó như một phần tiềm thức hay giấc mơ
của ông: vì giấc mơ thường rời rạc, đứt quảng và mờ nhạt... Hình ảnh này vừa
khơi gợi thì hình ảnh kia hé mở níu kéo người nghe lạc vào mê cung của ngôn ngữ
nói lạ đầy sắc thái cung bậc cảm xúc, khơi gợi trí tò mò… Nghe ông nói cái này lại
nghĩ đến cái kia, có cái nghe nghịch lý, vậy mà hay mà mê! Ông là nhà ngôn ngữ
nói lạ đại tài biết dẫn dụ người nghe đến cuốn hút: “Hãy nghe nữa đi để tìm ra
kho báu bí mật được cất giấu bên trong những con chữ tầm thường” v.v… Nói vui!:
Ngôn ngữ của ông giống như khi chiếu phim thì cần 24 ảnh trong một giây để tạo
hình ảnh thật cho não nhận diện sự vật sự việc cho người hiểu biết, đằng này
máy chiếu của ông bị hư, lúc thì thiếu ảnh lúc thì dư ảnh làm cho sự vật sự việc
mờ nhòa không rõ nét, chỉ cố hình dung phán đoán sự vật sự việc đó một cách thiếu
chính xác và mơ hồ đến khó hiểu. Hay ông kết hợp giữa “thực và ảo”: tức A và B:
A là vật thực, B là vật ảo; hay A là ảo, B là thực… Và cùng một lúc ông đưa ra
nhiều hình ảnh thực - ảo... Khó phân phân đâu là thực và đâu là ảo, đâu là có
và đâu là không v.v... Vì vậy, tôi xin đưa ra công thức tham khảo khi nghe nhạc Trịnh
Công Sơn theo cách lý giải riêng của mình:
Ngôn ngữ nhạc Trịnh Công Sơn =
Lời nói thông thường đứng cạnh lời nói không thông thường + Lời thông thường đứng
cạnh lời hàm súc triết lý + Hình ảnh thực đứng cạnh hình ảnh ảo và ngược lại +
Ngôn ngữ thường ngày được hoán đổi hay định danh lại một từ nào đó nghe rất mới
lạ + Ngôn ngữ ca từ có hình ảnh thơ siêu thực + Ngôn ngữ nói lạ đôi lúc nằm
ngoài phép tu từ + Ngôn ngữ tiềm thức, ngôn ngữ giấc mơ của cái tôi bí hiểm +
Ngôn ngữ linh thức về thế giới siêu hình huyền bí + Thế giới nhân sinh quan của
Trịnh Công Sơn + v.v…= Ngôn ngữ huyền ảo của Trịnh Công Sơn tạo ra hai thế
giới thực và hư.
Như nói ở trên: từ đây người
xem bị lóa mắt chăm chú nhà ảo thuật mong tìm ra cái sơ hở, cái tẩy, cái mẹo,
cái siêu kỹ thuật của nhà ảo thuật, kết quả là con số không!...Cuối cùng chỉ biết
vỗ tay cảm thán trước cái biệt tài kỳ ảo, cái độc đáo và cái khéo tay của nhà ảo
thuật ngôn ngữ đại tài! Lạc vào “vườn âm nhạc của Trịnh Công Sơn như lạc vào
“vườn kỳ ngộ” của xứ sở không tưởng!... Ở đó ta tìm thấy ta về tình yêu kiếp
nhân sinh, về cuộc đời ta đang ở qua vô số mảnh ghép vỡ vụn. Nghe nhạc Trịnh
như say men chếch choáng, suy nhớ tháng ngày yêu xa thương gần của một thời đẹp
đẽ hay cay đắng… Nói như vậy để hiểu khi nghe nhạc Trịnh thường bắt con người
ta phải suy tưởng viễn vong. Ngôn từ của ông đậm hình ảnh kỳ ảo thì trí não người
nghe cũng phải đậm hình ảnh tưởng tượng… Và chính ngôn ngữ kỳ lạ xuất hiện bất
ngờ suốt chiều dài giai điệu đã làm người nghe phải kinh ngạc đến kinh dị! Rồi
tưởng thưởng hết lời vì đã cho họ thưởng ngoạn một thế giới mộng mị chưa từng
có bao giờ và kể cả trong chiêm bao! Nghe nhạc Trịnh đêm khuya, giai điệu cùng
tiếng hát Khánh Ly như thay lời muốn nói dùm ta về tình yêu, về cuộc đời, về
thân phận kiếp luân hồi…Rồi cái ta cái tôi nhỏ bé cảm lớn hơn đẹp hơn trong ý
nghĩ: yêu không cuồng, nhớ không lụy, hờn tợ gió bay, không đay nghiến yếm thế
và yêu mọi người. Âm nhạc của ông còn nhắc ta khi đã thương thì lòng phải mở phải
đẹp, phải trách nhiệm với người mình thương - vì sống là phải đẹp phải trách
nhiệm để khi cái ta vĩnh hằng thì lòng thanh thản cho gió cuốn bay đi!... Mọi
thứ được cảm nhận qua ngôn ngữ kỳ ảo của ông, ông nói thương nói nhớ nghe mộng
mị lạ lùng và ngộ, ông rất rất nhiều cách nói thương nhớ như thế. Ngôn ngữ của
ông đa dạng về hình thái ngữ nghĩa và hàm súc sâu sắc - cái nào nghe, coi, cũng
hay cũng đẹp cũng lạ! Hỏi sao mà người nghe nhạc của ông mỗi lúc một nhiều. Giới
trẻ hát và nghe nhạc của ông cũng chỉ mong cảm được cái đẹp, cái cao quý cao
thượng về: “yêu tình, yêu đời, yêu người, yêu mình”: Yêu như yêu lần đầu, xa
như chưa bao giờ, nhớ như nhớ thuở nào, và quên như chưa bao giờ…
Mọi thứ đều đẹp trong ngôn ngữ lung linh sắc màu, và cái ma mị ẩn hiện tâm trí người nghe qua “triết lý tình/ triết lý đời/ triết lý cái tôi chiêm nghiệm” của Trịnh Công Sơn về cõi vô thường: hai tay buông xuôi thì chẳng còn gì ngoài thân xác trở về cát bụi!... Vũ trụ này có bao la vô cùng thì ngày nào đó nó cũng chết như kiếp người nhỏ bé: vì có sinh tất có diệt! Tưởng chừng ngôn ngữ rất nghịch lạ và khó hiểu sẽ làm Trịnh Công Sơn rời xa mọi người rồi đi vào quên lãng mãi mãi, trái lại, người nghe một nhiều. Các nhà chuyên môn thì tốn thời gian giấy mực hội thảo hội đàm về ngôn ngữ nói lạ của ông - coi Trịnh Công Sơn là một hiện tượng lạ trong ngôn ngữ nghệ thuật hiếm thấy. Theo tính toán của các nhà làm nghệ thuật, nhạc Trịnh Công Sơn có nhiều người nghe và yêu thích nhất kể từ thế kỷ trước cho đến nay, dù rằng ngôn ngữ ca từ của ông có mơ hồ trừu tượng. Và nhạc của ông có thời được trả tác quyền nhiều nhất.
Mọi thứ đều đẹp trong ngôn ngữ lung linh sắc màu, và cái ma mị ẩn hiện tâm trí người nghe qua “triết lý tình/ triết lý đời/ triết lý cái tôi chiêm nghiệm” của Trịnh Công Sơn về cõi vô thường: hai tay buông xuôi thì chẳng còn gì ngoài thân xác trở về cát bụi!... Vũ trụ này có bao la vô cùng thì ngày nào đó nó cũng chết như kiếp người nhỏ bé: vì có sinh tất có diệt! Tưởng chừng ngôn ngữ rất nghịch lạ và khó hiểu sẽ làm Trịnh Công Sơn rời xa mọi người rồi đi vào quên lãng mãi mãi, trái lại, người nghe một nhiều. Các nhà chuyên môn thì tốn thời gian giấy mực hội thảo hội đàm về ngôn ngữ nói lạ của ông - coi Trịnh Công Sơn là một hiện tượng lạ trong ngôn ngữ nghệ thuật hiếm thấy. Theo tính toán của các nhà làm nghệ thuật, nhạc Trịnh Công Sơn có nhiều người nghe và yêu thích nhất kể từ thế kỷ trước cho đến nay, dù rằng ngôn ngữ ca từ của ông có mơ hồ trừu tượng. Và nhạc của ông có thời được trả tác quyền nhiều nhất.
Xin mượn ý Khổng Tử: “Âm nhạc giúp
con người thưởng ngoạn tinh thần, âm nhạc còn là cách tập hợp để truyền bá tư
tưởng đẹp của tác giả” - Trịnh Công Sơn là những tác giả như thế! Đó là
cái Tâm Phật của ông về tình yêu thương kiếp người, về cuộc đời mà ông
đã sống!
Cuối cùng xin mượn lời Trịnh Công
Sơn để kết: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những
linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo!”
Chú thích:
Bài chia sẻ về Trịnh Công Sơn và âm nhạc của ông qua góc nhìn
người nghe nhạc: người viết không có tham vọng mở ra thế giới tâm hồn, tâm linh
của Trịnh Công Sơn hay bình phẩm điều gì về ông. Người viết chỉ cảm thấy những
gì khi nghe nhạc của ông rồi nói ra cái cảm nghĩ riêng của mình. Bài chia sẻ
còn nhiều sai sót hạn hẹp mong mọi người lượng thứ.
Nhìn lại chặng đường Văn học Việt thì có rất nhiều văn sĩ thi
sĩ nổi tiếng được lưu danh vào lịch sử Văn học nước nhà qua các thời kỳ vàng
son, sáng giá nhất trên bầu trời Nghệ thuật văn chương là cụ Nguyễn Du với truyện
Kiều 3.254 câu lục bát bất hủ, cụ Du là nhà thơ có sức học uyên bác vào thời
Văn học Trung Đại, tác phẩm truyện Kiều đưa Cụ cùng thể thơ lục bát đạt đến đỉnh
cao của danh vọng và nghệ thuật thơ ca.
Từ ngày cụ Du tạ thế năm 1820, mãi đến
khi Trịnh Công Sơn ra đời mới có ngôi sao Nghệ thuật Tân nhạc lấp lánh trên bầu
trời Đất Việt. Hai trăm năm không quá dài không quá ngắn, cụ Du có đủ thời gian
ra thách thức và tự khẳng định mình là số một thi ca từ cổ chí kim, không nhân
vật tài ba nào có thể sửa dùm cho Cụ một chữ trong 3.254 câu lục bát tuyệt tác.
Tuy nhiên cụ Du vẫn hiểu là “nghệ thuật không có đỉnh cao tuyệt đối”, nghệ thuật
sau cao hơn nghệ thuật trước là định luật phát triển tự nhiên xưa nay. Và thời
gian còn là cái nôi sinh ra nhân tài cho đất nước, đất nước có nhiều nhân tài
thì sự tôn trọng cũng bắt nguồn từ đó, đó còn là sự may mắn cho một dân tộc. Trịnh
Công Sơn là nhân vật hậu thế, nổi danh khoảng thập niên 50 của thế kỷ 20, danh
của ông lan rộng ra nước ngoài vì tài năng âm nhạc xuất chúng của ông, nhất là
dòng nhạc Phản Chiến, thể hiện rõ tấm lòng yêu quê hương đất nước, yêu con người
và hòa bình của ông; ông có “Đĩa vàng” và Giải thưởng âm nhạc tại Nhật, có tên
trong Tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp (1).
Năm 2019, do nhạc và danh tiếng của ông có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong nước và
cộng đồng quốc tế, Google đã vinh danh ông vì sự cống hiến đó.
Ngôn ngữ ca từ của Trịnh Công Sơn được
giới chuyên môn xem là thơ, nếu xem Trịnh Công Sơn là một thi sĩ “nói lạ” độc
đáo thì Văn chương Việt có thêm một nhà thơ cá biệt và hiếm có.
Thơ cụ Du sinh động hiện thực bởi muôn màu
cuộc sống tả chân, người đọc Kiều cảm cùng cảnh ngộ với nhân vật mà cụ Du quan
niệm Tài - Mệnh tương đố, đồng thời bừng bừng căm giận chế độ phong kiến hà khắc
và thối nát, quan lại tham ô sách nhiễu dân lành, chà đạp lên thân phận người
phụ nữ như: Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Tú Bà, v.v….
Bút pháp của cụ Du đã đạt đến đỉnh
cao của nghệ thuật tả chân bằng lối thơ lục bát có thủ pháp điêu luyện. Trái với
cụ Du, ngôn ngữ ca từ của Trịnh Công Sơn được xem là thơ thì bãng lãng sương
mai của thể thơ siêu thực khó hiểu. Ngôn ngữ lạ kỳ của Trịnh Công Sơn dẫn đến
người yêu thích nhạc của ông gọi ông với nhiều mỹ danh thán phục: Phù thủy văn
chương/ Phù thủy ngôn từ/ Phù thủy của chiếc đũa thần: ví như ông gõ vào con chữ
nào thì lập tức nó biến hóa có hồn có xác theo ý ông muốn. Các nhà chuyên môn gọi
ông là “hiện tượng Trịnh Công Sơn”, họ còn tìm thấy ở ngôn ngữ của ông chứa đựng
nhiều tầng nghĩa: Triết học/ Phật học/ Thiền học, v.v… Từ cổ chí kim có ngôn ngữ
nghệ thuật nào cùng một lúc chứa đựng nhiều tầng nghĩa như vậy không? Hỏi thiên
tài âm nhạc thế giới là có ngôn ngữ ca từ nào như Trịnh Công sơn không?
Tài năng của Trịnh Công Sơn có thể nằm
trong 2 câu mà cụ Du đã tả tài nghệ nàng Kiều:
Thông minh vốn sẵn tư trời
Trịnh Công Sơn có thông minh
không, tất nhiên là có, ông là thi sĩ, họa sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, vì vậy ngôn ngữ
ca từ của ông mang đậm thơ và họa, có thể hai cái này làm ngôn ngữ của ông nhòa
nhạt vào nhau nên bãng lãng khói sương của bức họa như thơ: họa tức thơ, thơ tức
tình, tình tức cảnh,… Cứ nối tiếp xuyên suốt đi từ quá khứ đến hiện tại và tương
lai: quá khứ hư ảo, hiện tại mờ nhòa, tương lai bãng lãng, nó làm người nghe
quay cuồng không bắt kịp hình ảnh nào là thực và hình ảnh nào là hư….
Về niềm tin sáng tác cụ
Du chủ trương Tài Mệnh tương đố:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau.
Trịnh Công Sơn thì tin
kiếp luân hồi huyền bí trong giáo lý nhà Phật, như: Một cõi đi về/ Cát bụi/ Ngẫu
nhiên,…
Cụ Du và Trịnh Công Sơn đều lấy
thiên nhiên làm thước đo cái đẹp, Cụ tả chị em nàng Kiều:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da (Thúy Vân)
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh (Thúy Kiều)
Trịnh Công Sơn tả mỹ nhân của
mình:
Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh
Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai (Như cánh vạc bay)
Cụ Du tả thực một cách tài
tình, như sờ như thấy trước mắt, Trịnh Công Sơn thì thần kỳ hư ảo, hai ông thổi
hồn vào mây gió, hoa lá,…đều biết ghen biết hờn.
Tóm lại, hai ông đã đứng trên
đỉnh núi cao của Nghệ thuật ngôn từ, bút pháp tả chân của cụ Du đạt đến đỉnh
toàn bích; bút pháp của Trịnh Công Sơn phù phiếm biến hóa của thế giới
siêu thực. Hai ngọn núi Ngôn từ hùng vĩ của thơ ca sừng sững đứng giữa bầu trời
Đất Việt: đệ nhất thắng cảnh trong kho tàng Văn hóa văn học Việt cho đến tận
ngày nay: “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”, ví như cụ Du đã tả
vẻ đẹp cân phân của chị em Thúy Kiều.
Phần cụ Du tới đây là hết.
Trịnh Công Sơn có hơn 600 ca
khúc, mỗi ngôn ngữ ca từ được xem là một bài thơ hay, đem nối các ca khúc đơn lẻ
thành một bản “Trường ca về tình yêu thân phận và quê hương đất nước” thì số
câu chữ khá kinh ngạc. Giã sử mỗi ca khúc có 32 trường canh, mỗi trường canh là
5 chữ ca từ (xin tính dùm).
Người ta đồn là nhạc của Trịnh Công
Sơn chứa nhiều chữ “học”: Triết học/ Phật học/ Thiền học, v.v… Mấy chữ ‘học’ này là
ngoài sự hiểu biết, người viết cảm được cái gì thì nói ra cái đó:
Nghe nhạc Trịnh rất cần sự yên tỉnh
nhất là lúc đi ngủ, bên cạnh chiếc máy nghe nhạc, nằm nhắm mắt hít thở thật sâu
rồi thở ra nhẹ nhàng làm nhiều lần cho tâm bình ổn như khi ngồi Thiền, sau đó lắng
nghe Hồng Nhung, Ngọc Lan, Khánh Ly hát nhạc Trịnh… Nên chọn tiếng hát Khánh Ly
trước 1975, khi đó chị còn trẻ, tâm trạng của một người trẻ khi yêu hay bị dỡ
dang thường có khác hơn lúc lớn tuổi, mọi cảm xúc được thể hiện rõ qua giọng
hát nồng nàn tình ái và sâu lắng của chị. Là người trẻ thì chọn những ca khúc đầu
tay của Trịnh Công Sơn: Ướt mi/ Biển nhớ/ Diễm xưa,… vì Trịnh Công Sơn lúc này còn
trẻ, ông yêu cuồng nhiệt và say đắm hơn. Người già bệnh tật, sắp chết thì chọn:
Một cõi đi về/ Cát bụi/ Ngẫu nhiên, nghe thường xuyên thì không còn hoang mang sợ
chết khi bệnh tật tuổi già, hoặc nghe những ca khúc có triết lý suy niệm sâu xa
thì rất tuyệt. Đây chỉ là gợi ý.
Đúng là nhạc Trịnh cho ta nhiều
tầng nghĩa như chữ “học” nói ở trên, nghe nhạc Trịnh đêm khuya, tính Thiền xuất
hiện lúc cái tâm đuổi rượt theo ca từ nói lạ, nó làm quên đi mọi thứ buồn vui của
cuộc đời, bởi sự chiêm nghiệm về cuộc đời được Trịnh Công Sơn khắc họa vào lời
ca tiếng hát, người nghe tập trung cao độ vì sự khó hiểu của ngôn ngữ ca từ nói
lạ của ông, người nghe cố suy viễn cách nào đi nữa thì cũng không ngoài những ý
đẹp mà Trịnh Công Sơn muốn đưa vào ca khúc của mình. Và chính cái này đã làm
cái tâm như được thanh lọc qua «lớp lọc ca từ» (như sỏi, cát, đá của bình lọc nước)
nhằm loại bỏ cặn bã: phiền muộn lo âu sẽ biến mất khi tâm được thanh lọc qua lớp
ca từ, rồi dần dần đi vào giấc ngủ bình yên.
Giai điệu slow, boston đi thư
thả cùng lời ca tiếng hát, tựa hồ như gõ mõ tụng kinh của các vị thiền sư ở
chùa ngồi Thiền: tay gõ mõ, mắt nhắm nghiền, miệng râm rang kinh Phật, mọi hành
động chìm sâu vào vô thức, lúc ấy, sắc dục không còn xâm thực nội tâm, chỉ có lời
kinh Phật như cây bút tẩy, tẩy xóa vết hằn dục vọng nơi trang giấy lòng đã bị
thời gian hoen ố lâu ngày bởi cuộc sống kim tiền bề bộn. Ví như mặt hồ nước:
tâm động làm sóng động, sóng động che tâm, dẫn đến tâm hành động thiếu sáng suốt;
tâm tịnh sóng yên, lúc đó tâm nhìn tận đáy của tâm một cách sáng suốt nhất để
biết đâu là đúng là sai. Nghe nhạc Trịnh thường xuyên làm tâm bớt vọng động,
sáng suốt trong cách nghĩ cách làm: đó là Thiền tâm khi nghe nhạc Trịnh, cũng
không nhất thiết phải nghe ban đêm, nghe bất kỳ lúc nào và ở đâu.
Có lẽ Trịnh Công Sơn đúc rút từ
chân lý cuộc sống thực và sách vở mà ông đã chiêm nghiệm nó, ông lấy đó làm nền
tản cho triết lý sống của mình bằng ba trụ cột: Chân – Thiện – Mỹ, đây là hình
dạng của chữ Đức trong mọi ý nghĩ của những con người có trí tuệ; ông nhìn sự vật
hiện tượng nào thì ở đó lóe lên cái đẹp, cái chân thiện, vì vậy mọi sự vật hiện
tượng đối với ông đều có hồn có xác như một sinh linh thật sự, dẫn ông đến mọi
ý nghĩ và hành động: yêu thương cỏ cây, sỏi đá, yêu thương con người và quê
hương đất nước của ông, nổi bật ở dòng Phản Chiến ông luôn ngầm kêu gọi mọi người
cần hướng đến ba đức tính cao đẹp đó. Nghe nhạc Trịnh cho ta triết lý sống đẹp,
sống chân thành, sống vị tha, sống cho đến lúc hai tay buông xuôi, chỉ để cho
gió cuốn tấm lòng đẹp đó bay đi, một triết lý diệu mỹ của Phật pháp về tình yêu
thương bất vụ lợi mà Trịnh Công Sơn đã cảm tác vào nhạc.(…). Triết lý sinh tử
trong các ca khúc: Một cõi đi về/ Cát bụi/ Ngẫu nhiên, nó làm người nghe tỉnh tâm
không lo sợ chết và an nhiên trong cuộc sống bề bộn, vì chết không phải là hết,
chết là sự bắt đầu cho kiếp sống mới.
Thuở thiếu thời Trịnh Công Sơn
có dịp xây cho mình một tượng đài vững chắc đó là tính Phật trong ông, theo như
ông mô tả dưới đây:
Tôi là Phật tử trong một gia
đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và
thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đi đến chùa vì thích yên tĩnh. Có những năm
tháng bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi
thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những cầu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã
có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản
văn hóa Đông Tây nhặt được, còn có kinh kệ vô tình nằm ở đấy.(2)
Trong ông thấm nhuần triết lý
nhà Phật về lòng từ bi hỉ xả chúng sinh, vì vậy, trong các ca khúc ông luôn thể
hiện một tình yêu cao đẹp với mỹ nhân của mình “yêu em yêu thêm tình phụ”, v.v….Ở
dòng nhạc Phản Chiến, tính Phật của ông bừng bừng sự phẫn nộ khi chiến tranh
làm cho đồng bào và đất nước ông điêu linh. Nghe nhạc Trịnh ta thấy: yêu thương
không thù hận/ bao la không hẹp hòi/ vị tha không cố chấp,… đây là Phật tính nổi
bật nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn.
Ảnh hưởng nhạc Trịnh trong đời
sống xã hội đương thời: Thế giới ngày nay không quá cách xa, âm nhạc trở thành
những người bạn kết nối và giao lưu không biên giới ngày tràn ngập thị trường
âm nhạc trong nước bằng nhiều thể loại nhạc trẻ trung, mang nhiều phong cách mới
lạ và phong phú đa dạng, góp phần đẩy nhanh nền Tân nhạc Việt theo hướng hiện đại,
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu nghe nhạc của đông đảo người nghe, nhất là giới trẻ.
Tuy nhiên, một bộ phận của giới trẻ ngày tỏ ra mệt mỏi với lối sống nhanh sống
gắp, họ muốn tìm về cội nguồn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện” để ngẫm lại chính
mình. Và tìm cách thanh lọc nội tâm đã có ít nhiều tham vọng trong cuộc sống
kim tiền, qua con đường “Nghe hát nhạc Trịnh”. Nhạc Trịnh dẫu có mơ hồ khó hiểu,
trừu tượng hay siêu thực ra sao thì ở đó họ vẫn bắt gặp được cái đẹp, mong tìm
cho mình sự thanh thản trong tâm hồn vốn nặng nề của cuộc sống thực dụng. Nghe
nhạc Trịnh như nghe ông thầy sống giảng luân lý, hoặc cùng một lúc nghe nhiều
môn học:Triết học/ Phật học/ Thiền học/ Ngữ học/ Văn học, v.v…phụ thuộc độ nhạy và sự
hiểu biết của mỗi người, vì lẽ đó, nhạc Trịnh mới tồn tại và được mọi giới mọi
ngành hát và nghe như một “Thánh kinh” về cuộc đời tạm bợ. Có thể khẳng định:
bao giờ “Chân – Thiện – Mỹ” không còn trong đời sống xã hội thì nhạc Trịnh sẽ
biến mất vĩnh viễn.
Xin bịa câu chuyện vui để kết:
Cụ Du và cụ Sơn, hai cụ thắp trầm
hương bàn chuyện thơ nhạc, cụ Sơn gọi cụ Du bằng cụ Cố thầy vì tài làm thơ xuất
chúng của cụ Du, cụ Du đỉnh đạc trong bộ áo dài khăn đống thời Trung Đại, Cụ
nói với học trò Trịnh Công Sơn khả quý của mình:
- Ta rất mừng vì có đồ đệ xuống đây
để cùng ta đối ẩm và đàm đạo chuyện thơ văn…- cụ Du vuốt râu trầm ngâm - Gần
200 năm nay ta rất cô đơn buồn tẻ vì không thấy ngôi sao nào lấp lánh trên bầu
trời Văn học nghệ thuật Đất Việt như ta từng mong muốn bấy lâu, nay có đồ đệ là
Ngôi sao Tân nhạc sáng chói trên bầu trời Nghệ thuật văn chương Đất Việt làm ta
rất mừng vui! – cụ Du cười mãn nguyện – Ta biết hậu sinh khả quý mà! – Cụ nhắm
trà thơm trông thích thú.
Trịnh Công Sơn trong bộ veston lịch
lãm, vẫn cặp kính trắng ngày nào cùng nụ cười hiền lành, ông vuốt mái tóc dài
nghệ sĩ nói:
- Dạ thưa cụ Cố, con nói ra điều này xin Cụ
thứ lỗi…- Trịnh Công Sơn ởm ờ, cụ Du giục:
- Trò nói mau cho ta biết chuyện là sao?
- Dạ, tại cái thuyết Tài - Mệnh tương đố của
Cụ đã làm con không sống tới tuổi “thất thập cổ lai hy”, để con có thêm thời
gian cống hiến cho những người yêu thích nhạc cùng bạn bè quốc tế ạ!
- Vậy mi tạ thế năm bao nhiêu tuổi?
- cụ Du vuốt chòm râu bạc như tiên, hỏi:
- Thưa Cụ, 62 tuổi ạ! - Trịnh Công Sơn buồn
buồn.
Cụ Du ngẫm nghĩ rồi cười:
- Trò còn thọ hơn ta 8 tuổi!
-… !!!
Câu chuyện vui trên đây cho thấy sự
mất mát trong nền Văn học nghệ thuật Việt là không nhỏ.
Chú thích:
(1) Bách khoa toàn thư mở
Người viết không có ý so sánh Thi hào Nguyễn Du với Trịnh
Công Sơn, chỉ gợi lên những gì đã đọc qua Kiều và nghe nhạc Trịnh, cảm nghĩ ra
sao thì viết ra vậy. Nếu Trịnh Công Sơn lọt vào tốp thiên tài âm nhạc thế giới
như Mozart, Beethoven thì Đất Việt có vui không, tất nhiên là có. “Tài
năng xuất chúng sẽ mang vinh quang cho tổ quốc”, đúng như Google đã vinh danh cố
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Chiến tranh đã kết thúc hơn bốn mươi năm, các thế hệ con người
tiếp tục sinh ra sống và làm việc trong một đất nước hòa bình thịnh vượng, tự
do và hạnh phúc, có cả những con người từ hai phía còn sống sót qua cuộc chiến
tranh khốc liệt và dai dẳng của người Mỹ trên đất nước Việt Nam một thời khói lửa.
Vết thương chiến tranh ngày một lành, tư tưởng những con người một thời khắc
khe đã có cách nhìn mới về thời đại mà người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn
sinh sống và làm việc.
Thời ấy, chiến tranh ác liệt đã thôi thúc người nghệ sĩ có tấm
lòng nhân ái đã phải bày tỏ tình cảm của mình qua dòng nhạc Phản chiến đã làm
khuấy động hàng triệu con tim người Việt trong nước và lan rộng ra nước ngoài, ảnh
hưởng tới những con người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới xuống đường
đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Lúc ấy, sinh mạng của người nghệ sĩ thực sự
đi giữa hai lằn tên mũi đạn, nhưng người nhạc sĩ có trái tim “nhân ái” thực sự
can đảm không chùng bước, không nghiêng ngả mà dùng âm nhạc để nói lên số phận
dân tộc, số phận đồng bào ruột thịt phải sống trong cảnh chiến tranh dầu soi lửa
bỏng.
Có lẽ Trịnh Công Sơn là người nhạc sĩ rất đặc biệt trong các
nhạc sĩ cùng thời, ông đem lòng nhiệt huyết có trách nhiệm của một công dân bằng
cách dấn thân vào con đường âm nhạc Phản Chiến mà không sợ nguy nan, nó như thứ
vũ khí đắc lực duy nhất thay cho tiếng nói của những con người thống khổ và vô
tội. Lời nhạc Phản chiến của ông bừng bừng phẫn nộ, lúc tha thiết cảm thương
dân tộc cảm thương đồng bào mình, lúc hô hào quyết liệt đòi hòa bình cho dân tộc
nhỏ bé, lúc thở than bất lực trước sức mạnh vũ khí chiến tranh hiện đại cày xéo
quê hương đêm ngày trong lửa đạn, uất hận nhìn đồng bào mình chết trong cảnh
nhà tan cửa nát, ruộng vườn bỏ hoang, v.v…
Ca Khúc “Gia Tài Của Mẹ” là ca khúc tóm lược lịch sử và là
quan điểm rõ nét của Trịnh Công Sơn về cuộc chiến tranh cùng với ca khúc: “Nối
Vòng Tay Lớn” thể hiện niềm vui dân tộc - đó là hai ca khúc chủ đạo nói lên sự
khởi đầu và kết thúc chiến tranh vào ngày 30/4/1975.
“Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày (…)
Mẹ mong con chớ quên màu da
Chớ quên màu da nước Việt xưa….” (Gia Tài Của Mẹ)
“Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la, anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay nắm nối tròn một vòng Việt Nam (…)
Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi từ đồng hoang vượt hết núi đèo
Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo
Từ quê nghèo lên phố lớn năm tay nối liền
Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tự sinh. (Nối Vòng Tay Lớn)
Âm nhạc Phản Chiến của Trịnh Công Sơn mô tả chiến tranh tàn
phá khốc liệt không khác những thước phim thời sự chiến trường có góc nhìn hiện
thực và rõ nét nhất, nó làm người nghe phải chứng kiến cảnh chiến tranh tàn khốc
trước mắt là có biết bao số phận người già và em bé kêu gào trong lửa đạn, lê lếch
thịt da nát tan, nhà cửa cháy rực, ruộng vườn hoang phế, v.v… Người nghe cảm cùng
cảnh ngộ đến rơi lệ, thương cho dân tộc, cho đất nước nhỏ bé của mình, v.v….
“Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn…..”(Đại Bác Ru Đêm)
“Bên xác người già yếu
Có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy
Bên những vồng khô khoai…” (Hát Trên Những Xác Người)
“… Đường anh em sao đi hoài không tới
Đường văn minh xương cao cùng với núi
Đường lương tâm mênh mông hoài bóng tối….” (Hãy Nhìn Lại)
“Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn năm qua tuổi mòn
Mẹ nhìn quê hương nghe con mình buồn giọt lệ ăn ăn
Giọt lệ ăn năn đưa con về trần tủi nhục cung thân….” (Ca Dao
Mẹ)
“Người già co ro chiều thiu thiu ngủ
Người già co ro buồn nghe tiếng nổ
Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi….” (Người Già Em Bé)
“Xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa
Trên giáo đường thành phố trên nền nhà hoang vu…” (Dành Cho
Những Xác Người)
“Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn….” (Hát Trên Những Xác Người)
“… Giọt nước mắt thương con con ngủ mẹ mừng
Giọt nước mắt thương sông ấp ủ rêu rong
Giọt nước mắt thương đất đất cằn cỗi bao năm
Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong….” (Nước Mắt
Cho Quê Hương). v.v…
Trên dưới 60 ca khúc Phản Chiến, chỉ vài lời mô tả ít ỏi cũng
đã cho thấy cảnh chiến tranh tàn phá đến thê lương ra sao. Chiến tranh đến nỗi
người ta điên cuồng vỗ tay hoan hô trong trạng thái hoảng loạn của người mẹ người
chị…
Lời nhạc Phản Chiến đậm tính nhân bản, dễ dàng nhìn được cái
Tâm Phật của Trịnh Công Sơn về lòng từ bi bác ái và lòng yêu thương chúng sinh
của Phật pháp, một tôn giáo ảnh hưởng đến tư tưởng và tình cảm của Trịnh Công
Sơn trong sáng tác nghệ thuật ở cả hai dòng nhạc Tình Ca và Phản Chiến. Ngôn ngữ
ở dòng nhạc Phản Chiến có thể coi là một chứng tích hùng hồn về lịch sử chiến
tranh một thời đã đem đến sự thống khổ cho dân tộc và là bức tranh hiện thực của
cuộc chiến được lưu giữ dưới dạng ký ức và ngôn ngữ âm nhạc trong kho tàng Văn
chương nghệ thuật Việt.
Người ta cho rằng Trịnh Công Sơn là người viết Tình Ca hay nhất,
nghĩ lại, ông viết dòng nhạc Phản Chiến hay hơn Tình Ca, vì đó là nỗi đau thực
và lớn lao của một dân tộc nhỏ bé đã có hàng triệu cái chết vô tội của các lớp
người già trẻ….
Ở dòng Tình Ca, bài hát nào cũng thắp thoáng bóng giai nhân
như khói lam sương mai, thơ mộng và trừu tượng. Trái lại ở dòng Phản Chiến thì
hình tượng về đất nước điêu linh, hình tượng về người mẹ thống khổ, hình tượng
về em bé trần truồng đầy vết bỏng cháy, tất cả được đẩy lên hiện thực đến nao
lòng qua ngôn ngữ tả thực đến trần trụi bởi sự uất hận tột cùng của tác giả. Ở
dòng Tình Ca ông mở rộng vòng tay tha thứ, buồn bã mềm yếu, trái lại, ở dòng nhạc
Phản Chiến ông mạnh mẽ kiên cường quyết đấu tranh đòi hòa bình cho quê hương đất
nước của mình, ông ôm khổ đau dân tộc vào con người nhỏ bé của ông, ông xem đó
là trách nhiệm của mỗi người con Việt qua những bài hát tự tình quê hương, tự
tình dân tộc, bất lực trước cảnh bom đạn trút đổ lên đầu đồng bào và đất nước của
ông.
Hãy nghe đoạn tự sự dưới đây để thấy tính “Phật” của ông đã
hình thành từ lúc thiếu thời và là nguồn gốc âm nhạc của ông sau này.
Tôi là Phật tử trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật
giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi
hay đi đến chùa vì thích yên tĩnh. Có những năm tháng bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng
nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa
những cầu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà
Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hóa Đông Tây nhặt được, còn
có kinh kệ vô tình nằm ở đấy. (1)
Trịnh Công Sơn, một nửa con người Nhà Phật, một nửa văn hóa
Đông Tây, hai nền văn hóa đại diện cho văn minh nhân loại đã hình thành nên
cái Tâm chính kiến của người nghệ sĩ khi đã giác ngộ minh triết.
Nhạc Trịnh Công Sơn càng lúc có nhiều thế hệ nối tiếp “nghe -
hát” và lan rộng ra thế giới bên ngoài: vì trong âm nhạc của ông luôn chứa đựng
hai chữ “Tình thương” giữa người với người, nhất là ở dòng nhạc Phản Chiến,
chính vì vậy năm 2019, Google đã vinh danh ông vì sự cống hiến đó và ông
là người Việt Nam đầu tiên được tôn vinh.
Trịnh Công Sơn không phải là người cầu an cho danh vọng riêng
tư, như vậy âm nhạc của ông sẽ lem máu đồng bào của mình. Không! Ông cùng đồng
bào đứng lên đòi hòa bình như ông từng ôm đàn hát trước hàng ngàn sinh viên ở
hai trường đại học Sài Gòn và Huế vào thời trước 1975, những ca khúc Phản Chiến
của ông được giới sinh viên trí thức nồng nhiệt đón nhận, họ chuyền tay chép rồi
hát những lúc sinh hoạt cấm trại và hội họp qua những ca khúc Phản Chiến có
trong các tập: Khúc Da Vàng/ Kinh Việt Nam/ Ta Phải Thấy Mặt Trời/ Phụ khúc Da
Vàng. Nên truyền thông nước ngoài ví Trịnh Công Sơn và Khánh Ly như đôi danh ca
Bob Dylan và joan Baez ở Mỹ với những ca khúc Phản Chiến tranh nỗi tiếng thế giới
(2).
Nhạc sĩ Văn Cao đã viết về Trịnh Công Sơn như sau: “Sơn đã
hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng niềm
vui, biết đau tận cùng của nỗi đau của tổ quốc mẹ hiền” (3)
“Thế giới không ngừng chiến tranh thì âm nhạc Phản Chiến của
Trịnh Công Sơn vẫn còn giá trị ở đâu đó trên quả địa cầu.”
(14 giờ 35. Ngày 1.03. 2019 Kỷ Hợi)
Nguồn:
- (1) Trịnh Công Sơn, Tập San Giác Ngộ, tháng 4 năm 2001
- (2) Bùi Văn Phú talawas. Org. 01.04.2008.
- (3) Nhiều tác giả - Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người. NXB Hội
Nhà Văn Hà Nội, 2012.
- Bách khoa toàn thư mở.
- Trịnh Công Sơn có được “Đĩa vàng” và (Giải thưởng âm nhạc) tại Nhật, ông có tên trong bộ tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp. Rất nhiều binh lính của Thiệu bỏ ngũ khi nghe bản nhạc “Người con gái Việt Nam da vàng”. Lệnh cấm nhạc Phản chiến của Trịnh Công Sơn, do Tổng thống Thiệu ký mang số: 33 ngày 8.2.1969(Wikipedia tiếng Việt).
- Năm 2019, Google vinh danh Trịnh Công Sơn do sự cống hiến của ông.
- Trịnh Công Sơn có được “Đĩa vàng” và (Giải thưởng âm nhạc) tại Nhật, ông có tên trong bộ tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp. Rất nhiều binh lính của Thiệu bỏ ngũ khi nghe bản nhạc “Người con gái Việt Nam da vàng”. Lệnh cấm nhạc Phản chiến của Trịnh Công Sơn, do Tổng thống Thiệu ký mang số: 33 ngày 8.2.1969(Wikipedia tiếng Việt).
- Năm 2019, Google vinh danh Trịnh Công Sơn do sự cống hiến của ông.















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét