Tục ngữ - Thành ngữ - Ca dao
Có cách nào để nhận diện phân biệt thành ngữ, tục ngữ, ca
dao?
=> Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận
của câu mà nhiều người đã quen dùng nhưng tự nó không diễn được một ý trọn vẹn.
Thành ngữ chỉ là một nhóm từ được dùng trong phát ngôn, trong ca dao, tục ngữ... Nó ngang hàng với từ, thành ngữ là đơn vị định danh bậc hai của ngôn ngữ:
nó là anh, từ là em. Thành ngữ có nghĩa một chiều, một mặt, nói lên một tình trạng
nhưng không kết thúc. Nó là một hiện tượng ngôn ngữ mang nội dung khái niệm.
Thành ngữ là cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (chưa tạo thành
câu hoàn chỉnh) Không thể thay thế/sửa đổi về mặt ngôn từ. Thường được dùng để
tạo thành các câu hoàn chỉnh trong văn nói/viết. Số lượng thành ngữ trong tiếng
Việt rơi vào khoảng gần 6 nghìn thành ngữ. Kết cấu của thành ngữ rất khó (gần
như không thể) phân định rõ ràng đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ.
- Gừng cay muối mặn.
- Chó treo mèo đậy.
- Chuột sa chĩnh gạo.
- Chuột chạy cùng sào.
- Châu chấu đá xe.
- Thắt lưng buộc bụng.
- Ăn dè hà tiện.
- Múa rìu qua mắt thợ.
- Đói vàng mắt.
- Nhanh như chớp.
- Chậm như rùa.
- Mèo già hóa cáo.
- Mồng một chơi cửa chơi nhà
Mồng hai chơi xóm, mùng ba chơi đình.
- Mồng một Tết cha
Mồng hai Tết mẹ
Mồng ba Tết thầy.
- Án binh bất động. (Thành ngữ Hán- Việt)
- Cầm kỳ thi hoạ.
- Đả thảo kinh xà.
- Đồng sàng dị mộng.
v.v...
=> Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý,
một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê
phán.
Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu,
giàu hình ảnh. Tục ngữ thường thể hiện tri thức/kinh nghiệm dân gian về mọi mặt
của cuộc sống. Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, là một thể loại sáng tác ngang
hàng với ca dao, dân ca.
- Uống nước nhớ nguồn.
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
- Có công mài sắt có ngày nên kim.
- Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
- Thương người như thể thương thân.
- Lá lành đùm lá rách.
- Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
- Chớp Đông nhay nháy gà gáy thì mưa.
- Bán anh em xa, mua láng giềng gần.
- Nước xa không vứu được lửa gần.
- Con giun xéo lắm cũng quằn.
- Cây ngay không sợ chết đứng.
- Dục tốc bất đạt. (Tục ngữ Hán-Việt)
- Ác giả ác báo, thiện lai thiện báo.
- An cư lạc nghiệp.
- Quý hồ tinh bất quý hồ đa.
- Hậu sinh khả úy.
- Hổ phụ sinh hổ tử.
- Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm.
- Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí.
v.v...
=> Ca dao: Là những câu thơ có thể hát thành những
làn điệu dân ca, ru con... hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến
láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn
nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của
ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội...
Ca dao là thuật ngữ Hán Việt, ca là bài hát có chương khúc,
giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
- Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
- Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
- Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.
- Phân loại Ca dao
Theo đặc điểm và nội dung
Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được
chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của
trẻ em.
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba vương ngũ đế...
Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những
bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.
Trời mưa trời gió đùng đùng
Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
Đem về trồng bí trồng bầu
Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.
Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát
ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về
Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu
tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của
đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.
Dập dìu cánh hạc chơi vơi
Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô
Khi đi nhớ cậu cùng cô
Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường
Ca dao trào phúng, bông đùa
Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Đêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Ca dao trữ tình.
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?
Ca dao biết tên tác giả
Ngoài những bài ca dao cổ không biết tên tác giả, ở Việt Nam
còn có những câu thơ lục bát hay và phổ biến tới mức được coi như ca dao bình
thường khác:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. (Bảo Định Giang)
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi? (Bàng Bá Lân)
Nghệ thuật
Thể thơ: Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, thể lục bát
rất phổ biến trong ca dao; thể song thất lục bát được sử dụng không nhiều; thể
vãn thường gồm một câu có bốn hoặc năm chữ, rất đắc dụng trong đồng dao. Ngoài
ra ca dao cũng sử dụng hợp thể là thể thơ gồm từ bốn, năm chữ thường kết hợp với
lục bát biến thể.
Cấu tứ có các loại sau: Cấu tứ theo lối ngẫu nhiên không có
chủ đề nhất định; cấu tứ theo lối đối thoại, và cấu tứ theo lối phô diễn về thiên
nhiên.
* Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa một số Thành ngữ, Tục ngữ Việt
Nam.
Dục tốc bất đạt
"Nếu muốn thành công thì không nên nôn nóng vội vã"
Dục: Muốn, tham muốn. Tốc: mau. Bất: không. Đạt: thành.
Dục tốc bất đạt là muốn làm gấp thì không thành công.
Đức Khổng Tử có nói rằng: Vô dục tốc, vô kiến tiểu lợi: “Dục tốc tắc bất đạt, kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành.” Nghĩa là: Chớ muốn mau, chớ thấy lợi nhỏ: Muốn mau thì không đạt, thấy lợi nhỏ thì việc lớn không thành.
Đức Khổng Tử có nói rằng: Vô dục tốc, vô kiến tiểu lợi: “Dục tốc tắc bất đạt, kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành.” Nghĩa là: Chớ muốn mau, chớ thấy lợi nhỏ: Muốn mau thì không đạt, thấy lợi nhỏ thì việc lớn không thành.
Tiếng Anh: Haste makes waste
Ba mặt một lời
Hai người nói chuyện với nhau có thêm một người làm chứng là
ba người. Ba người cùng biết chuyện nói một lời như nhau tức và việc có thật, đủ
tang chứng, không còn ai nuốt lời được.
Khi “Ba mặt một lời” là nói trực tiếp công khai, rõ ràng, thẳng
thắn khi có cả người khác chứng kiến chứ không phải nói sau lưng.
Sống để dạ chết mang theo
"Mãi mãi ghi nhớ, khắc sâu gìn giữ những điều sâu đậm
hay bí mật có liên quan tới bản thân mình"
Sống để dạ chết mang theo và các biến thể của nó như sống để
bụng chết chôn đi, sống để bụng chết mang theo, sống để dạ chết đem theo… đều
phản ánh hai ý nghĩa:
1. Suốt đời ghi nhớ, khắc sâu vào lòng những tình cảm, những tâm tư nào đó.
1. Suốt đời ghi nhớ, khắc sâu vào lòng những tình cảm, những tâm tư nào đó.
2. Suốt đời giấu kín, gìn giữ những điều bí mật.
Ở ý nghĩa thứ nhất (1), sống để dạ chết mang theo, và các biến
thể của nó, trước hết biểu thị sự ghi nhớ ơn nghĩa suốt đời. Lòng căm thù, sự
oán hận nhiều khi cũng cần khắc sâu tận đáy lòng, cũng phải sống để bụng chết
chôn đi.
Ở ý nghĩa thứ hai (2), sống để dạ chết mang theo và các dạng
thức của nó chỉ rõ sự cần thiết của việc giữ gìn bí mật. Gìn giữ những điều cần
giấu kín là đòi hỏi nghiêm ngặt “một mình mình biết, một mình mình hay”.
Một điều đáng lưu ý là, nghĩa của toàn thành ngữ dường như dồn
gánh nặng về phần đầu của nó “sống để dạ (bụng). Ở vế này, yếu tố dạ (bụng) có
chức năng gợi tả ý nghĩa rất lớn. Bụng (dạ) là nơi thầm kín sâu lắng, ở nơi đó
có thể ghi tạc những ơn nghĩa, khắc sâu lòng căm thù, vùi chặt những điều bí mật…
Nó là từ “chìa khoá” cho cả vế sống để bụng trong việc biểu thị ý nghĩa, vế thứ
hai chỉ có tác dụng nhấn mạnh, làm rõ thêm ý nghĩa ở vế thứ nhất. Vì vậy, chúng
ta không lấy làm lạ là ở vế thứ hai có nhiều biến thể khác nhau mà không làm
phương hại đến ý nghĩa chung của toàn thành ngữ.
Trong thành ngữ này, nhờ sự đối ứng với nhau mà cặp từ “sống…
chết” có giá trị biểu hiện ý nghĩa thời gian. Trong quan niệm của nhân dân ta,
con người khi chết là đi vào thế giới vĩnh hằng. Sự sống, cái chết được đắp nổi
ở hai thế giới kế tiếp nhau. Do vậy, sống để dạ chết mang đi là mãi mãi ghi nhớ,
khắc sâu gìn giữ những điều sâu đậm hay bí mật có liên quan tới bản thân mình.
Nước mắt cá sấu
"Ám chỉ một người bày tỏ sự buồn bã một cách giả tạo"
Cá sấu là một loại bò sát mạnh bạo, ăn thịt động vật mà nó bắt
được. Loài vật này có thể tấn công và bắt những con vật to lớn khoẻ mạnh như
trâu bò và có khi là con người khi vô tình rơi vào phạm vi hoạt động của nó. Do
đó người ta xếp cá sấu vào loại động vật hung bạo nguy hiểm. Có một điểm đặc biệt
là sau khi nuốt chửng con mồi, khoé mắt cá sấu lại chảy nước tương tự như con
người chảy nước mắt khóc thương ai đó. ..Vì sự tương quan này người ta nghĩ là
cá sấu đã khóc cho nạn nhân của nó, kẻ vừa bị nó cướp đi sinh mạng.
Dựa vào tính cách khóc thương kiểu của cá sấu này, người ta
liên tưởng đến những hạng người giả dối trong xã hội. Một mặt hại người, hại bạn,
một mặt thì nói lời tử tế hiền lành. Một mặt thì làm điều xằng bậy, một mặt nói
lời giả nhân, giả nghĩa.
Trong dân gian còn có câu “miệng thì nam mô bồ tát, trong bụng
vác một bồ dao găm”. Hạng người này thật là nguy hiểm!
Tiếng Anh: Crocodile tears
Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn
"Muốn làm việc gì cũng nên cân nhắc chuyện lợi hại trước
và đôi khi sử dụng đồng tiền một cách khôn ngoan, ném tiền đi trước để mua lại
thuận lợi trong công việc"
Đồng tiền được sử dụng để làm tin, làm thân hay để ngã giá
trước khi người ta làm việc gì, được nhiều người coi đó là đồng tiền bỏ ra một
cách khôn ngoan, vì nó có thể giải quyết được nhiều việc, kể cả những việc tưởng
chừng như rất khó làm được.
Tiếng Anh (English): He gives twice who gives without delay
Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng
“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, ý muốn nói rằng việc tạo
dựng thanh danh, uy tín là khó khăn hơn rất nhiều so với việc làm mất đi thanh
danh, uy tín đó. Nếu như người ta phải trải qua nhiều năm dài với biết bao nỗ lực
làm điều tốt đẹp mới có thể tạo ra được một hình ảnh đẹp của chính mình trong
lòng người khác, thì chỉ cần một lần dại dột, một hành vi sai lầm đôi khi cũng
đã quá đủ để xóa đi tất cả
Cũng với ý nghĩa xem trọng danh tiếng, người ta còn nói: “Hùm
chết để da, người ta chết để tiếng”, hàm ý rằng trong suốt một kiếp người, điều
duy nhất còn lưu lại sau khi chết chính là cái danh tiếng mà người ấy đã tạo
ra. Đó có thể là tiếng khen hoặc tiếng chê, là danh thơm tiếng tốt hay sự chê
bai phỉ báng của người đời. Dù là gì đi nữa thì đó cũng được xem là giá trị duy
nhất mà một con người để lại sau khi chết.
Ba voi không được bát nước xáo
Trong nhiều từ điển đều giải thích nghĩa là “nói khoác, không đúng sự thật”, hoặc “huênh hoang, hứa nhiều nhưng không làm đúng như lời đã hứa”.
Ba voi không được bát nước xáo
Trong nhiều từ điển đều giải thích nghĩa là “nói khoác, không đúng sự thật”, hoặc “huênh hoang, hứa nhiều nhưng không làm đúng như lời đã hứa”.
Cơ sở cho cách hiểu trên là sự tương phản về khối lượng. Một
bên là voi, một loài thú rất lớn (thậm chí là ba voi, hoặc mười voi để tăng về
khối lượng) và một bên là bát nước xáo, một lượng rất ít. Đó là nghĩa bóng của
thành ngữ này.
Không một người Việt nào hiểu sai thành ngữ trên (ví dụ hiểu
thịt voi không ngon cho nên nước xáo nhạt). Nhưng về nghĩa thực (nghĩa đen) thì
ít người hiểu rõ.
Trong bài “Kể chuyện về loài voi” của Bá Thành (Tuần tin tức
số 15-1993) có một thông tin rất đáng chú ý: “Thịt voi là loại thịt săn, chắc,
đặc biệt là thịt ở vòi. Khi nấu thịt voi dù có đổ nhiều nước, thịt nở ra vẫn
hút hết nước”. có lẽ nhờ tính chất hút rất nhiều nước của thịt voi mà chúng ta
hiểu rõ thêm về nghĩa đen của thành ngữ này vì đã mấy ai được ăn thịt voi, luộc
thịt voi mà biết rõ.
Bán chỗ nằm, mua chỗ ngồi
Câu này cũng gần nghĩa với câu “Bán gia tài mua danh phận”. ngày trước, ở nông thôn, người ta chuộng chỗ ngồi ở chốn đình trung khi hợp làng. Nhiều người bỏ tiền mua một chức Nhiêu, chức Xã để có một chỗ ngồi, rồi lại phải khao vọng tốn kém.
Vì thế có người phải bán cả nhà, đất để có một danh vị hão. Chỗ nằm tức là nơi nhà ở, chỗ ngồi tức là góc chiếu nơi đình trung.
Bạn tri âm
Tri âm nghĩa là hiểu được tiếng đàn, nghĩa rộng là hiểu được lòng mình. Trong truyện “Kim cổ kỳ quan” của Trung Quốc có ghi lại một tình bạn hiếm có giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ.
Bá Nha làm quan, một lần đi thuyền về quê, ghé đậu vào một bến sông. Trong đêm trăng, Bá Nha đem đàn ra gảy. Vừa lúc đó, Tử Kỳ đi qua, nghe tiếng đàn liền dừng lại. Thấy có người mải mê nghe tiếng đàn, Bá Nha liền mời xuống thuyền. Tử Kỳ là người sành nghe đàn. Khi Bá Nha nghe đến núi cao thì Tử Kỳ khen. “Cao vời vợi như núi Thái Sơn”. Khi Bá Nha nghe đến sông nước thì Tử Kỳ khen “mênh mông như Trường Giang, Hoàng Hà”.
Bán chỗ nằm, mua chỗ ngồi
Câu này cũng gần nghĩa với câu “Bán gia tài mua danh phận”. ngày trước, ở nông thôn, người ta chuộng chỗ ngồi ở chốn đình trung khi hợp làng. Nhiều người bỏ tiền mua một chức Nhiêu, chức Xã để có một chỗ ngồi, rồi lại phải khao vọng tốn kém.
Vì thế có người phải bán cả nhà, đất để có một danh vị hão. Chỗ nằm tức là nơi nhà ở, chỗ ngồi tức là góc chiếu nơi đình trung.
Bạn tri âm
Tri âm nghĩa là hiểu được tiếng đàn, nghĩa rộng là hiểu được lòng mình. Trong truyện “Kim cổ kỳ quan” của Trung Quốc có ghi lại một tình bạn hiếm có giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ.
Bá Nha làm quan, một lần đi thuyền về quê, ghé đậu vào một bến sông. Trong đêm trăng, Bá Nha đem đàn ra gảy. Vừa lúc đó, Tử Kỳ đi qua, nghe tiếng đàn liền dừng lại. Thấy có người mải mê nghe tiếng đàn, Bá Nha liền mời xuống thuyền. Tử Kỳ là người sành nghe đàn. Khi Bá Nha nghe đến núi cao thì Tử Kỳ khen. “Cao vời vợi như núi Thái Sơn”. Khi Bá Nha nghe đến sông nước thì Tử Kỳ khen “mênh mông như Trường Giang, Hoàng Hà”.
Thấy có người hiểu sâu được tiếng đàn của mình, Bá Nha liền kết
làm anh em và hỏi về gia cảnh. Tử Kỳ thưa còn có mẹ già nên hàng ngày phải đi đốn
củi để bán lấy tiền nuôi mẹ. Bá Nha từ biệt Tử Kỳ để xuôi thuyền về quê và hẹn
một tháng sau, khi trở lại nhiệm sở sẽ nghé thăm. Đến hẹn, Bá Nha tìm đến thì Tử
Kỳ đã qua đời, chỉ còn mẹ già. Bá Nha mời mẹ Tử Kỳ về ở với gia đình mình và phụng
dưỡng rất chu đáo. Từ ngày Tử Kỳ mất, Bá Nha treo đàn vì mất bạn tri âm.
Thành ngữ của ta còn có các câu nói về tình bạn như “bạn cố tri” (bạn hiểu nhau từ lâu), “bạn nối khố” (bạn từ thuở hàn vi chia nhau cả cái khố vải).
Thành ngữ của ta còn có các câu nói về tình bạn như “bạn cố tri” (bạn hiểu nhau từ lâu), “bạn nối khố” (bạn từ thuở hàn vi chia nhau cả cái khố vải).
Bầu dục chấm nước cáy (chấm mắm cáy).
Bầu dục là món ăn ngon và bổ trong bộ lòng lợn. Nước cáy là
thứ nước mắm ướp bằng con cáy, thường nặng mùi, có sắc đục, chấm không ngon. Bầu
dục mà đem chấm nước cáy thì phí mất cả chất ngon của bầu dục.
Đại ý câu này nói lên hai đối tượng không phù hợp, không cân
xứng. Cũng còn có ý chê người có miếng ngon mà không biết cách ăn.
Câu này thường bị nói lầm là “dùi đục chấm nước cáy”.
Bạo hổ bằng hà
Thực ra phải nói là bạo hổ băng hà. Bạo hổ là tay không bắt hổ, băng hà là không có thuyền mà dám vượt qua sông lớn. Thành ngữ này ý nói táo bạo nhưng mạo hiểm.
Bằng cái sẩy nẩy cái ung
Sẩy là nốt rôm nhỏ nổi trên da. Nếu không biết giữ gìn thì có thể trở thành cục to nguy hiểm (cái ung, cái nhọt). Câu này khuyên ta đừng có coi thường việc nhỏ hoặc để chỉ một tai nạn lớn từ việc nhỏ gây nên.
Bĩ cực thái lai
Kinh dịch có 64 quẻ, trong đó có quẻ bĩ và quẻ thái. Quẻ bĩ tượng trưng cho sự bế tắc, không thuận lợi, quẻ thái tượng trưng cho sự thuận lợi, hanh thông. Đây cũng là một quan điểm biện chứng, lạc quan. Khi nào sự bế tắc đến cùng cực (bĩ cực) thì sự hanh thông, thuận lợi sẽ tới (thái lai).
Bạo hổ bằng hà
Thực ra phải nói là bạo hổ băng hà. Bạo hổ là tay không bắt hổ, băng hà là không có thuyền mà dám vượt qua sông lớn. Thành ngữ này ý nói táo bạo nhưng mạo hiểm.
Bằng cái sẩy nẩy cái ung
Sẩy là nốt rôm nhỏ nổi trên da. Nếu không biết giữ gìn thì có thể trở thành cục to nguy hiểm (cái ung, cái nhọt). Câu này khuyên ta đừng có coi thường việc nhỏ hoặc để chỉ một tai nạn lớn từ việc nhỏ gây nên.
Bĩ cực thái lai
Kinh dịch có 64 quẻ, trong đó có quẻ bĩ và quẻ thái. Quẻ bĩ tượng trưng cho sự bế tắc, không thuận lợi, quẻ thái tượng trưng cho sự thuận lợi, hanh thông. Đây cũng là một quan điểm biện chứng, lạc quan. Khi nào sự bế tắc đến cùng cực (bĩ cực) thì sự hanh thông, thuận lợi sẽ tới (thái lai).
Câu này nói ý hết khổ đến sướng, giống như câu “khổ tận cam
lai” (khổ là đắng, cam là ngọt, hết thời cay đắng thì đến thời ngọt bùi).
Bố vợ là vớ cọc chèo
Bố vợ là vớ cọc chèo
Trong tiếng Việt hiện đại, vớ là danh từ có nghĩa là bít tất
(miền Nam vẫn dùng), vớ là động từ có nghĩa là tóm được, níu lấy. (chết đuối vớ
được cọc, nạ dòng vớ được trai tơ).
Cả hai nghĩa trên đều không khớp với câu tục ngữ này.
Vớ trong câu tục ngữ là từ cổ, hiện nay chỉ một số vùng còn
dùng như ở Tam Kỳ (Quảng Nam). Vớ là một vật kết bằng thừng, giống hình số 8, một
nửa lồng vào mái chèo còn nửa kia lồng vào khấc ở đầu cọc chèo. Nếu không có
cái vớ thì không chèo được, nếu buộc chặt mái chèo vào cọc chèo cũng không chèo
được.
Câu này có nghĩa là: tình cảm giữa bố vợ và chàng rể dù có buộc
nhưng không chặt chẽ, khăng khít như con đẻ.
Ý này rất hợp với câu thứ hai “Mẹ vợ là bèo trôi sông”.
Bèo trôi sông cũng kết thành mảng nhưng kết không chặt, sóng to gió cả cũng dễ tan.
Bèo trôi sông cũng kết thành mảng nhưng kết không chặt, sóng to gió cả cũng dễ tan.
Từ câu tục ngữ trên nên mới có từ “bạn cọc chèo” để chỉ hai
anh rể lấy hai chị em ruột (bạn đồng hao).
Bợm già mắc bẫy cò ke
Bẫy cò ke là loại bẫy thô sơ dùng để bẫy chim. Bẫy bằng tre, có cần và lẫy. Mồi gắn với lẫy. Hễ chim ăn mồi thì lẫy bật ra và cần tre sẽ sập xuống.
Bẫy cò ke là loại bẫy thô sơ dùng để bẫy chim. Bẫy bằng tre, có cần và lẫy. Mồi gắn với lẫy. Hễ chim ăn mồi thì lẫy bật ra và cần tre sẽ sập xuống.
Bợm già là những tay lọc lõi trong nghề lừa đảo, thế mà có
khi còn mắc bẫy, mắc những mưu lừa tầm thường vì thiếu cảnh giác.
(Cò ke có nhiều cách giải thích. Cò ke là một loại quả dùng
làm mồi. Cò ke là chiếc cò có lẫy).
* 1 số câu thành ngữ về động vật mà trong thành ngữ phải có 2
con vật:
- Mèo già hóa cáo.
- Chó treo, mèo đậy.
- Chó chê mèo lắm lông.
- Mèo đàng chó điếm.
- Ông nói gà bà nói vịt.
- Cõng rắn cắn gà nhà.
- Chim sa cá lặn.
- Chim sa cá nhảy.
- Cá chậu chim lồng.
- Lời ong tiếng ve.
- Chó mái Chim mồi.
- Lên Voi xuống Chó.
- Đầu voi đuôi chuột.
- Gầm gừ như chó với mèo.
Một số tục ngữ/ thành ngữ nói về tiết kiệm, cách ăn nói,
sinh hoạt,.. thường dùng:
Về chi tiêu kế hoạch tiết kiệm:
- Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
- Năng nhặt chặt bị.
- Tích tiểu thành đại.
- Góp gió thành bão.
- Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện.
- Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.
- Ăn chắc, mặc bền.
- Miệng ăn núi lở.
- Ăn giả làm thật.
- Ăn phải dành, có phải kiệm.
- Làm khi lành để dành khi đau.
- Khi có thì chẳng ăn de
Đến khi ăn hết thì dè chẳng ra.
- Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng.
- Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn.
- Ăn ít no lâu, ăn nhiều chóng đói.
Về sinh hoạt, lối sống cư xử hàng ngày:
- Miệng ăn núi nở.
- Đồng rộng cống to
- Ăn như phá mả.
- Ăn có nhai, nói có nghĩ.
- Ăn vóc học hay.
- Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
- Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo.
- Ăn xổi ở thì.
- Ăn chắc mặc bền.
- Ăn cây nào rào cây đấy.
- Ăn cây táo rào cây sung.
Về ý chí, công việc khó khăn/thuận lợi hàng ngày:
- Có chí thì nên.
- Có công mài sắt có ngày nên kim.
- Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.
- Đáy bể mò kim.
- Nhất cử lưỡng tiện.
- Một công đôi việc.
- Nhất xạ nhị điểu.
- Nhất tiễn song điêu.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét