Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019

Tình yêu và con tim trong tình sầu của Trịnh Công Sơn

Tình yêu và con tim trong 
tình sầu của Trịnh Công Sơn 
Bùi Xuân Phái, Chân dung Trịnh Công Sơn 
(vẽ bằng màu nước và cát, 30 x 40 cm)
"Tình Sầu" là một bài hát đẹp, chứa rất nhiều hình ảnh ẩn dụ của Trịnh Công Sơn. Trong bài hát này, để diễn tả về tình yêu, tuy không thật sâu thẳm như những gì Kahlil Gibran đã viết về tình yêu trong "The Prophet", ca từ của bài hát vẫn thật đẹp và bay bổng. Chúng làm cho tôi nghĩ đến những "mật khải" đầy hình ảnh và ẩn dụ về tình yêu cũng đã được diễn tả trong các tác phẩm của nhà thơ xứ Liban. Chẳng hạn những câu như "Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu/ Tình thắp cơn sầu, tình dìu qua hố sâu, tình vời lên núi cao / Rồi trong cơn yêu dấu, tình đày tình xa nhau", hay "Tình đi âm thầm nghìn trùng như vết sương, lạnh lùng như dấu chim…", và "Tình yêu như trái chín trên cây rụng rời/ Một mai thức dậy chuyện trò với lá cây, rồi buồn như lá bay/ Một dòng sông nước cuốn, một cuộc tình không may", v.v.…, làm tôi nhớ đến Gibran với "Khi tình yêu vẫy gọi, hãy bước theo người/ cho dù đường tình có gian nan, trắc trở/ Và khi đôi cánh tình yêu ủ ấp ngươi, hãy nương thuận theo người/ Cho dù lưỡi kiếm giấu trong đôi cánh tình yêu có thể làm thương tổn ngươi/ Và khi tình yêu cất tiếng, hãy tín cẩn người/ Cho dù giọng nói người có thể làm vỡ tan những giấc mộng của ngươi, như gió bấc thổi khiến mảnh vườn trở thành tan tác, tiêu sơ/ Vì khi tình yêu tấn phong ngươi, người cũng đóng đinh ngươi trên cây thập tự/ Ngay cả khi tình yêu làm ngươi vươn lớn, người cũng sẽ tỉa cắt cành ngươi/ Ngay cả khi tình yêu vươn lên đỉnh cao của ngươi và vuốt ve những cành non tơ ngươi đang run trong nắng/ Thì người cũng sẽ đi xuống tận gốc rễ ngươi và lay động những chùm rễ ngươi đang bám vào đất (…)". (1)
Nhưng ngôn ngữ tình yêu của Trịnh Công Sơn phả rõ hơi thở thời đại: "Tình yêu như vết cháy trên da thịt người", và, nhất là, "Tình yêu như trái phá con tim mù lòa". Đó là những hình ảnh của tình yêu trong một thời đại của chiến tranh bỏng cháy và lửa khói tan hoang. "Tình yêu như nỗi chết cơn đau thật dài/ Tình khâu môi cười/ Hình hài xưa đã thay/ Mặn nồng xưa cũng phai". Tình yêu nằm trong khí quyển của mất mát, đau thương. Và của cái chết. "Bản năng chết" (Thanatos), ở đây, như muốn bao trùm lấy cõi tình ấy, cho dù cái hạnh phúc trong yêu, cái rực rỡ lấp lánh và tiếng cười reo vui như nắng của tình yêu, hàm chứa "bản năng sống" (Eros) của con người, vẫn bập bùng trong đó. (2)
Khi dẫn câu đầu tiên trong bài hát này của Trịnh, "Tình yêu như trái phá/ con tim mù lòa", tôi để một dấu gạch chéo giữa hai hình ảnh nói về "tình yêu" và "con tim", vì, trên đại thể, tôi cũng có suy nghĩ như chị Thái Kim Lan trong góp ý của chị (3), về cấu trúc của đoạn ca từ này, cho bản dịch "Tình Sầu" (Meditations on Love) của dịch giả Đinh Từ Bích Thúy. (4) Dù sao, cũng có những điểm khác biệt trong cái nhìn mà tôi muốn thử chia sẻ ở đây.
Từ những ngày đầu tiên nghe Tình Sầu, khoảng trên dưới bốn mươi năm trước (những năm cuối của thập niên ’60), do Khánh Ly hát, trong băng nhựa lớn của thời ấy, tôi đã cảm nhận là những ca từ đó được đặt theo một cấu trúc song song, hai vế, có thể mang tính đối chọi. Tình yêu và Con tim. Tình yêu là sức mạnh cuốn hút, khó chống cưỡng. Nó chứa trong bản thân nó ánh sáng chói lọi và hơi nóng thiêu đốt. Còn con tim? Bản thân nó là mù lòa (có lẽ là do "ngây thơ"/naive) cho dù nó có những "lý lẽ" riêng của nó (và những lý lẽ này không được soi sáng bằng mặt trời của lý trí, của đầu óc biện biệt mà lý trí soi đường). Bản dịch tiếng Anh của Đinh Từ Bích Thúy, nhìn chung, thật đẹp và hay. Nó chuyển được chất thơ trong ca từ của Trịnh Công Sơn. (Bản dịch tiếng Anh, "Diễm from Days of Long Ago", của Đinh Từ Bích Thúy cho bài viết "Diễm của Những Ngày Xưa" của Trịnh Công Sơn cũng thế, thật đẹp!) Riêng câu hát của Trịnh Công Sơn, "Tình yêu như trái phá/ con tim mù lòa", tôi nghĩ không nên hiểu theo nghĩa cụ tượng là tình yêu là chủ thể của việc "bắn nổ", "phá vỡ" và làm "mù lòa" con tim, vì nó tác động như kiểu một "trái phá". Dĩ nhiên, tình yêu, trong những khía cạnh khác, cũng có tác dụng chói chang của mặt trời, con mắt treo trên cao kia, làm con người bị "lóa", bị "lòa". Một cái "lóa" và "lòa" mang đầy nét biểu tượng.
Tôi đồng ý với Thái Kim Lan (3) là trong câu dịch tiếng Anh của Đinh Từ Bích Thúy, “Love as an artillery shell that blinds the heart” cho đoạn ca từ trên, từ "that" không thể có mặt vì "giữa hai câu này không có liên hệ nhân quả kiểu “trái phá” là nguyên nhân làm “mù loà” con tim." Theo tôi, hai đoạn của ca từ có thể có một quan hệ khác mà tôi sẽ trình bày ở dưới.
Ngoài sự hợp lý khi viết " Trái phá mà nổ thì con tim đã nổ tung rồi, còn “mù lòa” chi nữa!", chị Thái Kim Lan còn cho rằng "giữa hai câu này không có liên hệ nhân quả" vì "ở giữa hai câu - hai câu chứ không phải một câu kép – “Tình yêu như trái phá” và “Con tim mù lòa” là một dấu nghỉ bằng 1 phách rưỡi. Như thế theo nhịp điệu thì sau chữ “phá” là nốt ngân như một dấu nghỉ chuyển sang một ý khác." Phần trình bày này, tôi nghĩ, không thật chặt. Vì một lẽ là: cũng những nốt nhạc đó đã được dùng để chuyển những lời hát như "Tình yêu như vết cháy trên da thịt người", "Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu", "Tình yêu như trái chín trên cây rụng rời", "Tình yêu như thương áo quen hơi ngọt ngào", "Tình yêu cho anh đến bên cơn muộn phiền", "Tình yêu như đốt sáng con tim tật nguyền"… Có thể nói tất cả những đoạn ấy đều cho thấy đó là những câu hoàn chỉnh, chạy suốt chiều dài của đoạn nhạc, mà không phải là hai ý tách biệt như trong câu hát mà chúng ta đang xét. Ngoại trừ câu "Tình yêu như nỗi chết cơn đau thật dài" thì có lẽ muốn hiểu sao cũng được", có nghĩa muốn hiểu nó là "Tình yêu như nỗi chết, (như) cơn đau thật dài" (một ý chạy suốt) cũng được, mà hiểu là "Tình yêu như nỗi chết/ (Tình yêu như) cơn đau thật dài" cũng được (hai ý tách ra làm hai câu, lặp lại nhau ở phần chủ thể để nhấn mạnh cường độ và hiệu ứng của tình yêu). Như thế, lý luận của chị Thái Kim Lan sợ rằng sẽ vấp vào sự không thống nhất. Vì đó là những câu hát khác nhau của cùng một đoạn nhạc. Phần ca từ "Tình yêu như trái phá/ con tim mù lòa" cũng nằm trên đoạn nhạc ấy. Nếu dùng các nốt nhạc, các dấu nghỉ để phân tích ý nghĩa và cấu trúc của phần ca từ này, thì ta sẽ nói thế nào về những câu vừa được dẫn ở trên, khi chúng, trong cấu trúc ngữ pháp, đều là những câu hoàn chỉnh. Ý nghĩa của những từ ngữ trong mỗi câu ấy gắn bó chặt chẽ lấy nhau. Ngoài ra, trong đoạn "Tình yêu như trái phá/ con tim mù lòa", những chữ "yêu", "phá", "tim" và "lòa" đều được biểu thị bằng một nốt đen có chấm lưu, nghĩa là chúng đều cần ngân và nghỉ cả. Không phải chỉ sau chữ "phá" mới nghỉ. Vì thế, dùng dấu nghỉ sau chữ "phá" để cho rằng phải tách hai ý “Tình yêu như trái phá” và “Con tim mù lòa” ra khỏi nhau là không thật xác đáng. Đúng là hai ý đó không có liên hệ nhân quả, và chúng phải tách khỏi nhau. Nhưng có lẽ nên lý luận một cách khác.
Tôi cho rằng “Tình yêu như trái phá” và “Con tim mù lòa” là hai ý niệm biểu thị bản chất muôn đời của tình yêu và con tim. Bản chất con tim (khi bàn đến khía cạnh tình yêu) là mù loà thì bao nhiêu người đã nói đến; riêng về bản chất của tình yêu, Trịnh Công Sơn đã tìm được một ẩn dụ lạ lùng và hoàn toàn mới. Tình yêu như trái phá.Phát biểu này mang đầy tính sáng tạo. Nó đắt giá. Những bài hát của anh cuốn hút người nghe cũng chính là vì những hình ảnh và ngôn ngữ sáng tạo như thế. Về mặt ngữ pháp, khi những mệnh đề độc lập ngắn (short independent clauses) được đặt gần nhau, thay vì phải dùng những dấu chấm hoặc dấu chấm phẩy để tách chúng ra khỏi nhau, người ta có thể dùng dấu phẩy để thực hiện điều ấy. Thay vì viết "Trời xanh. Mây trắng. Và lòng nàng thì nắng sáng tràn trề", người ta có thể viết "Trời xanh, mây trắng, và lòng nàng thì nắng sáng tràn trề". Thậm chí, để tạo sự hài hoà, cân đối (parallelism), người ta còn có thể viết "Trời thì xanh, mây thì trắng, và lòng nàng thì nắng sáng tràn trề". Viết theo cách thứ nhất thì ba ý được diễn ra thành ba câu (hơi mới, vì câu thứ ba bắt đầu bằng một liên từ). Còn viết theo cách thứ hai và thứ ba thì đó là một câu hợp (compound sentence) [không phải câu phức (complex sentence)], do ba mệnh đề độc lập kết hợp thành. Một câu nổi tiếng theo dạng này là câu của Julius Caesar, "Veni, vidi, vici." (câu này thường được dịch sang tiếng Anh thành "I came, I saw, I conquered"). Nếu chêm liên từ "và" hoặc dấu chấm phẩy vào thì sẽ làm mất hiệu ứng của toàn câu nói nổi tiếng này, vì, điều đó, hoặc sẽ làm chậm lại nhịp câu, hoặc sẽ làm cho câu nói trở thành tầm thường, mất đi cái âm vang của một phát biểu ngạo nghễ, đầy nét chiến thắng.
Trở lại với "Tình yêu như trái phá/ con tim mù lòa", trước hết, về mặt ngữ pháp, tôi nghĩ đây có thể là một cấu trúc song song. "Tình yêu (thì) như trái phá/ Con tim (thì) mù lòa". Xem nó là hai câu riêng cũng được, nếu ta hình dung giữa chúng có một dấu chấm. Xem cấu trúc này là một câu hợp, được tổ chức bằng hai mệnh đề độc lập ngắn đặt bên nhau cũng được, nếu ta hình dung giữa hai ý đó có một dấu chấm phẩy [mặc dù cũng có trường hợp dấu chấm phẩy được dùng để tách hai câu văn có một mối liên hệ giữa chúng chặt chẽ hơn là đối với những câu xung quanh: "To say that we have a clear conscience is to utter a solecism; had we never sinned, we should have had no conscience." ("Nói rằng chúng ta có một lương tâm trong sạch là phát biểu một điều không đúng, không hợp thức, không thích đáng về mặt văn phạm; nếu chúng ta không bao giờ phạm lỗi, chúng ta đã không có lương tâm" –Thomas Carlyle). Trường hợp này, dấu chấm phẩy là một soft period. ] Cũng xem cấu trúc của "Tình yêu như trái phá/ con tim mù loà" là một câu được kết hợp bởi hai mệnh đề độc lập, như đã trình bày ở trên, người ta còn có thể dùng dấu phẩy để tách chúng ra, vì đây là những mệnh đề độc lập (rất) ngắn gọn. Và ngữ pháp cho phép nói như thế. Như thí dụ về câu nói nổi tiếng, với những mệnh đề độc lập (rất) ngắn gọn đặt cạnh nhau, của Julius Caesar đã dẫn ở trên.
Ngoài ra, người ta còn có thể hình dung nó thành "Tình yêu như trái phá, (mà) con tim (thì) mù lòa". Liên từ kết hợp "mà" ở đây có thể được dịch bằng từ "yet" trong tiếng Anh. Đó là một dạng của contrast/concession clause. Như trong "John ran well, yet he lost.", trong đó, "John ran well" và "he lost" là hai mệnh đề độc lập ngắn đặt kề bên nhau để biểu thị sự đối chọi: John chạy giỏi, thế mà anh ta lại thua cuộc (Dấu phẩy luôn được dùng trong kết hợp kiểu này trước liên từ nối kết). "Trái phá" dội tới, những ai "khôn ngoan" thì tìm đường chạy đi, tìm cách "lánh nạn". Chỉ có những kẻ ngây thơ trong cuộc tình, mù loà hay điên cuồng vì thấy ánh lửa của tình yêu loé sáng rực rỡ nên mới trở thành những kẻ "ma dẫn lối, quỷ đưa đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi". Khi nhìn đoạn ca từ đang xét trong cái nhìn như thế, ta dễ thấy hơn cái ý nghĩa khá rõ ràng nhưng, cùng lúc, cũng khá biến ảo của nó.
Cuối cùng, về chữ "khâu", trong "Tình khâu môi cười/ Hình hài xưa đã thay/ Mặn nồng xưa cũng phai". Dịch là "Love seals smiling lips" như dịch giả Đinh Từ Bích Thuý là một cách "thương lượng" khôn ngoan, khéo léo và tế nhị trong việc dịch. Cho dù khi "thương lượng", mỗi người dịch lại có thể có một cung cách khác nhau. Đọc hai bản dịch tiểu thuyết biên niên sử đoạt giải Nobel năm 1961, "The Bridge on the Drina", của Ivo Andric, do Nguyễn Hiến Lê và Vương Đăng dịch mà tôi đang có (cả hai bản dịch đều được xuất bản trước 1975), người ta cũng có thể thấy khá rõ điều ấy. Theo tôi, Nguyễn Hiến Lê dịch sáng hơn; Vương Đăng dịch có những chỗ chưa được thật sáng, nhưng dịch đầy đủ hơn và có phần thơ hơn ở một số chỗ. Dù chỉ là một thí dụ rất đơn giản, chỉ cần đọc tựa đề hai bản dịch của hai người, ta cũng có thể phần nào cảm nhận được điều ấy: Nguyễn Hiến Lê dịch là "Chiếc cầu trên sông Drina", còn Vương Đăng dịch là "Nhịp cầu trên sông Drina". (Thật ra, phải nhìn vào những đoạn dài và tế nhị hơn trong tác phẩm, người ta mới có thể thấy hoặc cảm nhận được phần nào điều ấy. Vì cả hai bản dịch, nói chung, đều là những bản dịch hay). Nhìn vào những bản Việt dịch khác nhau của tác phẩm "The Prophet" của Kahlil Gibran (cho đến giờ, có ít nhất là 5 bản dịch khác nhau mà tôi được biết), một tác phẩm thơ, người ta còn thấy rõ hơn sự "thương lượng" quan trọng ấy trong khi dịch. (Đoạn dịch ngắn ở trên là sự "thương lượng" của tôi.)
Trong bài hát nổi tiếng và quen thuộc "Sealed with a Kiss", kể chuyện, trong cơn ngây ngất của tình yêu, một anh chàng hứa sẽ viết thư cho người yêu mỗi ngày, và niêm đóng mỗi lá thư tình đó bằng một nụ hôn: "(…) Darling, I promise you this:/ I’ll send you all my love/ every day in a letter / sealed with a kiss" và "I don’t wanna say goodbye/ for the summer/ knowing the love we’ll miss/ Oh, let us make a pledge/ to meet in September/ and seal with a kiss." Sự niêm đóng, phong kín mỗi lá tình thư đó bằng một nụ hôn của chàng trai, ở đây, là để nói đến một thứ tình yêu hạnh phúc, còn nhiều hy vọng và ánh sáng trước mắt. Còn sự niêm phong, đóng kín môi cười trong "Tình khâu môi cười/ Hình hài xưa đã thay/ Mặn nồng xưa cũng phai" là một sự niêm đóng trong xót xa và tiếc nuối. Cuộc tình đã đi qua, đau thương đã nếm trải, hạnh phúc đã rụng rời như trái chín, và môi cười xưa đã khâu kín cuộc tình. Và khâu kín cả một cuộc đời. Tôi viết "môi cười xưa đã khâu kín cuộc tình" mà không viết "cuộc tình xưa đã khâu kín môi cười" (như trên mặt văn bản) vì, dù sao, tôi vẫn còn rất muốn nghĩ rằng, cho dù cuộc tình đã "hư hao", nhưng, khi người ta đã đi qua cuộc tình đó, tất cả những kỷ niệm vàng ngọc và son tươi cũng như đớn đau và chảy máu mà cuộc tình đã đem lại vẫn cứ còn được niêm phong, lưu giữ mãi trong một chốn sâu thẳm của trái tim, của tâm hồn người ta. "Một lần là trăm năm" chính là vết phỏng cháy mà tình yêu còn để lại "trên da thịt người". Cũng như trên con tim khờ dại.
Một cuộc tình, một trái tim, và một bài hát.
Chúng kết đọng vào nhau. Thành một giọt sáng hân hoan và đau khổ. Và, cũng giống như một giọt nước mắt, nó được thả rơi xuống mặt một hồ nước long lanh.
Và một chút dư ba, lạnh, vẫn còn rập rờn trên ánh nước.
Chú thích:
(1) Kahlil Gibran, The Prophet, New York: Alfred A Knopf, 1977: "When love beckons to you, follow him/ Though his ways are hard and steep/ And when his wings enfolds you yield to him/ Though the sword hidden among his pinions may wound you/ And when he speaks to you believe in him/ Though his voice may shatter your dreams as the north wind lays waste the garden/ For even as love crowns you so shall he crucify you. Even as he is for your growth so is he for your pruning/ Even as he ascends to your height and caresses your tenderest branches that quiver in the sun/ So shall he descend to your roots and shake them in their clinging to the earth (…)".
(2) Trong phân tâm học của Freud, sự phân tích về hai bản năng này trong cuộc sống con người là một phân tích khá quan trọng. Nhiều tác giả đã liên hệ đến phân tích này của Freud trong những nhận định hay trong những bài viết, những tác phẩm mang tính văn học của mình. Có thể kể Đỗ Lai Thúy, Đỗ Kiên Cường, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hoài Nam, Đoàn Minh Tâm, v.v… Liên hệ điều này đến các ca khúc của Trịnh Công Sơn, có thể xem Hoài Nam, "Người lắng âm vọng nhân sinh", http://www.nguoidaibieu.com.vn/
(3) Xem góp ý của Thái Kim Lan trong đường dẫn http://damau.org/
(4) Xem đường dẫn ở trên.
18/4/2010
Bùi Vĩnh Phúc
Theo https://www.nhatbaovanhoa.com/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...