Chất người ấy, mạch thơ ấy
Đọc thơ Mai Liễu, tôi không thể không lưu tâm tới lối cấu tứ
của thơ anh. Cuộc đời luôn rộng mở, nhiều ngả nhiều hướng. Tâm tư con người vốn
vi diệu, ít khi rành mạch, sáng rõ. Cấu tứ thơ, do vậy, sao có thể đơn điệu cho
đành. Thế mà, có lạ không, Mai Liễu chừng như ưa sử dụng một trong những lối cấu
tứ quen thuộc được nhiều nhà thơ xưa nay dùng đi dùng lại tưởng thành mòn cũ,
chán nhàm - cấu tứ bài thơ theo trục thời gian. Và phải thừa nhận rằng, giữa sự
bủa vây của cái xưa cũ, không ít bài thơ của anh đã thực sự vươn tới vẻ hoàn hảo
đáng quý. Chẳng hạn bài Mùa bông.
Sự mềm dẻo của thời gian nghệ thuật cho phép Mai Liễu qua một
bài thơ ngắn có thể bao quát cả một chặng đường đời khá dài của cô gái và chàng
trai nọ:
Thấy
em mê mải với vườn bông
Tôi sốt ruột vịn cọc rào, thầm đếm:
Một mùa bông
Hai mùa bông…
Con gái đi lấy chồng
Gánh theo mấy mùa bông trắng
Thấy em thức những đêm đông
Dệt tình vào thổ cẩm
Tôi chẳng dám hẹn hò em, lại đếm:
Một mùa bông
Hai mùa bông
Con gái đi lấy chồng
Gánh theo mấy mùa thao thức?...
Lòng chung tình được sự bảo
hành của năm tháng. Chỉ tiếc là hai trái tim không cùng một nhịp đập. Có sự lỡ
làng, tiếc nuối nơi chàng trai. Nhưng không hề thấy trách cứ. Càng không thấy sự
hằn học, oán hờn. Riêng sự chờ đợi âm thầm của chàng trai thì rất đáng được cảm
thông, chia sẻ:
Ngày
tiễn em về làm dâu bản khác
Người ta gánh theo mười hòm thổ cẩm…
Tôi về gom lại quả bông khô mà đốt
Lửa
mùa thổ cẩm cháy lan man
Không thể bảo là không có xót xa, dằn vặt trong cái màu lửa của
thổ cẩm cháy lan man kia! Nhà thơ như nhập hẳn vào hồn của chàng trai
như từng nhập vào hồn của người miền núi khi lựa chọn lối cấu tứ ít nhiều mang
tính tự sự cho thơ mình. Tôi nói vậy vì tư duy người vùng cao thường theo mạch
thẳng, ít khi lắt léo, rối rắm. Phải sống đắm mình, sống hết mình với làng bản,
với núi rừng mới mong có được sự nhập thân như thế, để rồi anh có toàn quyền viết: Một
đời tôi vẫn người của núi (Bên thác)
Để những bài thơ kết cấu giản
đơn theo mạch kể có sức lay động, có sức cuốn hút nhất thiết phải lồng vào đó
tâm tình riêng của con người. Dường như Mai Liễu ý thức rất rõ và rất sâu điều
này. Bài Suối vắng có lẽ là một ví dụ điển hình. Anh huy động hết bút
lực để mô tả người thiếu nữ tắm giữa vẻ yên ắng của rừng và sự trong trẻo của
suối:
Bồng
bềnh và dịu êm
Ngực đầy lên nhịp sống
Rồi:
Một
vầng mây nõn trắng
Rơi giữa vòng sóng chao
Nhà thơ khéo dùng cảnh vật giúp nói đến cùng cái điều cần
nói:
Lá
khẽ run trên đầu
Đá ngồi ngây dưới vực
Dựng cảnh, tả người đến thế
cũng đáng mặt tài hoa lắm chứ! Nhưng nếu dừng lại ở đây bài thơ sẽ không có điều
kiện làm người đọc day dứt, bồi hồi như cần phải có. Cái thiếu ấy được khổ kết
lấp đầy. Và, ta có được một cảm giác khá mỹ mãn khi chợt nhận ra:
Nắng
theo em đi rồi
Suối gầy đôi bờ vắng
Có một người lặng im
Vớt lên từng con sóng…
Một cái khó khác ở những bài
thơ kiểu này là phải cấu tứ sao cho thật chặt, thật tinh. Muốn chặt phải
lưu ý đến yếu tố kết dính. Muốn tinh phải dám lọc lựa, gạt bỏ.
Tuy chặt quá sẽ khó tự nhiên, tinh quá sẽ khó sống động. Tinh mà
vẫn sống động, chặt mà không để lộ vết đẽo gọt mới mong đạt đến độ
hoàn thiện, hoàn mỹ nào đó trong thơ. Mà muốn thế thì lại phải cậy
nhờ vào sức mạnh của trí tưởng tượng sáng tạo. Có thể xem bí quyết thành công của Bài
ca riêng nằm ở trường liên tưởng phóng khoáng của người viết:
Từ
lùm cây bên đường
Vút lên
Tiếng họa mi gọi bạn
Em đưa tay ra đón
Những tia nắng trong cây
Những giọt sương trên lá
Tiếng họa mi yên ả đâu đây
Lảnh lót nỗi buồn ban mai trong trẻo
Đêm
đêm quờ tay lên ngực
Giấc mơ họa mi phập phồng
Biết là sương đêm đã mọng
Biết
là tia nắng vẫn thức
Người ơi!
Từ điểm tựa trên, đoạn kết như một tiêu điểm lung linh
ánh sáng, sắc màu và ý nghĩa:
Mặt
đất đang ngậm sương
Bầu trời đang giấu nắng
Em
giấu tình yêu trong ngực
Đêm giấu tiếng họa mi tìm bạn ở nơi nào?
Câu hỏi, như một sự tiếp diễn
tất yếu, tự nhiên buông ra… Tôi nghĩ tới hòn đá hữu ý trong tay nhà thơ chao xuống
mặt nước xao động nơi lòng người đọc. Không chút vô tình nếu tôi được biết sẽ
có nhiều, rất nhiều con sóng lan tỏa sau câu hỏi hữu tình: Đêm giấu tiếng
học mi tìm bạn nơi nào?
Mai Liễu từng tâm sự: “Tôi có
thơ đăng lần đầu năm 1973 và đăng rải rác trong những năm 1980. Nhưng chỉ khi
trở về với cội nguồn miền núi của tôi, thơ tôi mới ít nhiều để lại chút ấn tượng
nào đó trong bạn đọc” (Nhà văn Việt Nam hiện đại - Nxb Hội Nhà văn -1997,
trang 396). Chỉ cần xét riêng lối cấu tứ trong thơ anh, tôi cũng có đủ lý do để
tin vào lời anh nói. Hy vọng anh luôn đắm mình trong suối làng để
thơ anh mãi tuôn chảy từ ngọn nguồn trong trẻo của đời anh, mà trên hết
là của dân tộc đã sinh anh.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét