Nhạc sĩ Lê Uyên Phương, Đà Lạt và
Mặc cho cuộc giằng co quyền lực Pháp - Nhật và sự tăng cường ảnh
hưởng của Việt Minh vài năm trước 1945, thì không gian đô thị Đà Lạt dường như
vẫn êm đềm như thể nằm ngoài những chộn rộn chính biến. Hay nói cách khác, sự rập
rình bất an vẫn còn được phủ lên một lớp sương mù êm ả và thơ mộng. Thi thoảng
trong lòng phố bình yên giả tạo đó, có những tiếng súng nổ, những vụ ám sát,
khủng bố nhỏm nhưng cũng mau quên đi. Mùi thuốc súng như thể bị khử tan bởi sự
trong lành của khí hậu ở một miền xứ yên bình.
Nhưng chỉ những ai quá thông thạo và nhạy cảm về chính trị mới
dự cảm được một cuộc bể dâu đang đến âm thầm, rất gần.
Nhân vật Lập trong bài viết này là Lê Minh Lập, hay Lê Văn Lộc,
về sau thành công trong âm nhạc với bút danh Lê Uyên Phương - Một nhạc sĩ người
Đà Lạt với những tình khúc gắn với khung cảnh, tinh thần, hơi thở và tâm tính
Đà Lạt.
Câu chuyện về tuổi thơ với âm nhạc này của cậu bé Lập được phục
dựng lại từ hai bài tuỳ bút Âm nhạc ở thiên đường và Tuổi nhỏ,
Những cây đàn và Đà Lạt trong tập Không có mây trên thành phố Los
Angeles (truyện và tùy bút, Lê Uyên Phương, Tân Thư, Hoa Kỳ, 1990) xem như là một
cách tiếp cận chân dung Lê Uyên Phương khác, ở một giai đoạn có thể xem là nền
tảng nhưng ít được nhắc đến trong cuộc đời người nhạc sĩ tài hoa này.
Lập, đứa bé trai sinh năm 1941 trong một gia đình lao động nhập
cư. Cha là Phan Văn Tự, gốc Quảng Nam từng phải đổi sang họ Lê, lấy lại tên Lê
Văn Tự để tránh hệ lụy sau cuộc cách mạng Phan Bội Châu; mẹ người gốc Huế, thuộc
dòng hoàng phái.
Trong những năm tháng cuối thập niên 1930, Đà Lạt - “Thủ đô
mùa hè” được hối hả xây dựng; đường sá mở rộng, biệt thự mọc lên hài hòa với cảnh
trí núi đồi. Những công nhân, phu đường đổ về thị xã đông hơn - về sau đa số họ
trở thành cư dân ở đô thị này.
Nhà của Lập có một quán ăn, nấu cơm tháng cho những công chức
lục lộm thầy thông, thầy phán, những ông cai, ông chánh làm nghề cầu đường. Tiệm
cơm ăn nên làm ra nhờ vào những toán thợ thầy đến và đi liên tục theo những dự
án công trình.
Sót lại từ trí nhớ non nớt của Lập là một cảnh sống thanh
bình bao quanh ngôi nhà nhỏ bé. Đứng từ tiệm ăn, có thể phóng tầm mắt nhìn xuống
một thung lũng mùa xuân hoa vàng rực rỡ, xa xa là lối mòn băng qua đồi thông,
lác đác những ngôi biệt thự trắng ẩn dưới những tán rừng xanh. Cảnh sắc Đà Lạt
thuở còn nguyên sơ tuy có bề hiu quạnh nhưng lại mang vẻ đẹp của một thế giới
ngập tràn thiên nhiên, hòa làm một với không khí những mảnh chuyện cổ tích mà
đêm đêm cha mẹ vẫn kể cho Lập nghe trước khi chìm vào giấc ngủ.
Những ngày còn thơ, người mà Lập bầu bạn, gần gũi nhất là Kiều
Nga, chị cả trong gia đình. Lúc rảnh rỗi, chị cả thường cõng Lập lên đồi thông
gần nhà để nhặt củi ngo về giúp mẹ nhóm bếp bán quán. Những thớ ngo tốt còn được
dùng để đốt lấy ánh sáng khi đêm về vì thời bấy giờ vào những năm đói kém, dầu
lạc dùng khêu đèn là thứ rất hiếm hoi và đắt đỏ.
Chị Nga mê âm nhạc. Cha chắt chiu tiền mua cho con gái cây
đàn mandolin từ một cửa hàng trong thành phố. Mỗi tối trăng sáng, trời dịu mát,
khi cả nhà quây quần trước hiên nhà, chị cả mở chiếc thùng đàn hình trái tim có
những chấm nhỏ màu vàng bao quanh, cây mandolin màu vàng nâu có hình kỷ hà trạm
trổ bắt đầu ngân rung lên thứ âm thanh trong trẻo. Những ca khúc mùa đầu của nền
tân nhạc Việt Nam như Huyền Trân công chúa của Lê Xuân Ái hay Quê
nhà tôi của Hoàng Quý qua giọng ca ngọt ngào và tiếng đàn của chị Nga đã
đưa Lập vào vùng trời âm nhạc nhạc đầy xao xuyến giữa thành phố của núi đồi heo
hút, lạnh giá.
Điều ước đầu tiên trong cuộc đời Lập, đó là có một cây đàn, để
được như chị cả. Một buổi chiều tha thẩn trên đồi thông, khi gùi củi đã đầy, chị
Nga lấy một miếng gỗ thông đẽo hình cây đàn rồi buộc sợi dây cước vào hai đầu,
siết căng để khi gãy, có thể cất lên tiếng nhạc. Với Lập, đó là cây đàn đầu
tiên, tuyệt phẩm lớn lao nhất trong cuộc đời mà mình may mắn có được.
Năm Lập gần năm tuổi thì cuộc chính biến (Pháp giải giáp Nhật)
diễn ra, tạo nên những đợt chấn động lên chốn bình yên gia đình cậu đang sinh sống.
Thành phố xáo trộn. Công sở, nhà dân, cửa hiệu, quán xá đóng cửa. Những dòng
người tản cư ngược xuôi. Khi đêm về, tiếng súng nổ lác đác những góc đồi vốn tịch
lặng. Cả gia đình Lập phải đào một căn hầm giữa nhà để giấu tài sản, chuẩn bị
cho một đợt tản cư. Giữa thế giới những vật dụng quen thuộc mưu sinh của gia
đình, là nồi, niêu, soong, chảo, thì có cả “chỗ nằm” cho hai cây đàn của hai chị
em. Trước khi đặt cây đàn vào lòng đất, Lập và chị cả đã gảy lên những giai điệu
buồn bã. Cả hai bật khóc khi người lớn đặt lên đó một tấm ván rồi đổ đất phủ lấp.
Đó không còn là một sự cất giấu những vật dụng vô tri, mà là một cuộc mai táng
thật sự, cuộc mai táng đầu tiên mà cậu chứng kiến trong cuộc đời.
Một cảm giác mất mát, chia lìa mà mãi về sau, cho đến những
năm cuối đời, tiếng nấc của cây đàn trong lòng đất vẫn âm vang; những thanh âm
đồng vọng; trong sáng, tức tưởi của nó cứ ngân rung trong tâm tưởng Lập.
Khi trở lại thành phố sau đợt tản cư, ngôi quán nhỏ đổ nát,
những dãy hàng quán trong thành phố bị xới tung, việc đào bới kiếm tìm lại những
tài sản cũ không dễ dàng. Thậm chí, đã có chuyện sau những cuộc vật đổi sao dời
chóng vánh đó, người ta không dám trở lại nhìn nhận mảnh vườn, ngôi nhà, những
vật dụng thân thuộc của mình cũng là thường tình.
Khu rừng hoa vàng chỉ còn là ký ức. Những đêm trăng sáng ngập
tràn với âm nhạc đã lùi vào quá khứ. Người ta vẫn phải tiếp tục sống. Mọi sự được
làm lại từ số không. Gia đình Lập đến dựng nhà ở một khu phố gần chợ cũ, nằm
trên đường An Nam. Từ ngôi nhà mới, cũng nhìn xuống một lũng đồi có nhiều dây
nhà mới, nhìn lên phía Bắc, trên một ngọn đồi cao là một biệt thự kiều Pháp, xa
hơn, là những nông trại nhỏ và một nghĩa trang nhiều ngôi mộ có thánh giá, hơi
chếch về phía Tây là ngọn đồi có ngôi nhà thờ tường vàng ngói đỏ, mặt chính diện
như một chữ A cách điệu, gọi là Domaine de Marie, nơi có nhà dòng Nữ tu Bác Ái
Vĩnh Sơn của những soeur khoác trên mình những bộ tu phục rộng thùng thình và đội
khăn lúp trắng lớn trên đầu như những đám mây bồng bềnh ngộ nghĩnh.
Thế nhưng trong tâm trí cậu bé, tiếng đàn vẫn vang vọng, ngôi
nhà cũ vẫn hiện về trong tâm tưởng. Tất cả, có giai điệu buồn bã và mất mát. Đó
là thứ âm nhạc được truyền từ dưới mặt đất âm u, là hơi mưa thở ra trong khí trời,
là hơi sương tỏa ra trong từng phiến hoa cỏ.
Và ngày ngày, cậu bé như người mộng du. Cậu thả mình trong một
cuộc phiêu diêu tìm kiếm thanh âm ký ức, riêng tư và đầy kỳ lạ…
Đêm nọ, khi đang miên man lần theo tiếng dế lạc trong góc phố,
cậu nghe âm nhạc phát ra từ cửa sổ một căn nhà phố hai tầng gần khu chợ. Lập bỏ
quên tiếng dế, lần theo giai điệu êm đềm, ghé mắt vào khe cửa và nhận ra bên
trong căn nhà là một thánh đường. Thực sự là một thánh đường nhỏ bé. Trong đèn
màu và ánh lửa hồng từ góc lò sưởi, một ông Tây đang say sưa kéo vĩ cầm. Tiếng
vĩ cầm khi réo rắt lúc dìu dặt với giai điệu sâu lắng ngọt ngào như những giọt
mật thấm sâu vào trái tim non thổn thức. Trong thứ ánh sáng quyến rũ của một hộp
đêm xứ lạnh - cõi thánh đường thu nhỏ giữa thành phố hồi sinh sau cuộc bể dâu - những đôi tình nhân dìu vai nhau nhún nhảy êm đềm trong suối nhạc du dương. Ánh
sáng, thanh âm, sắc màu hòa quyện vào nhau… vừa gần gũi lại vừa thanh tao quá đỗi.
Bên bức tường phố đêm lạnh buốt, Lập nhắm mắt và tưởng tượng
đến một ngày mình được chạm tay vào cây vĩ cầm, được tấu lên những giai điệu của
niềm say mê sâu thẳm giữa một thế giới ngổn ngang.
Thời gian qua mau, trong đôi mắt hồn nhiên của cậu bé ưa
thích khám phá, những con đường dường như ngắn lại, còn giấc mơ về âm nhạc thì
vẫn âm thầm lớn lên. Năm mười một tuổi, Lập có niềm hứng thú đặc biệt với việc
ngày ngày du hý, chinh phục những con dốc trong thành phố. Những chiều sau giờ
học, cậu cùng Bửu Ấn - anh con bác - và bạn của Ấn, là Bảo là thợ phụ ở một tiệm
may - đạp xe lang thang từ Hồ Xuân Hương ra ga Đà Lạt, từ Saint - Benoit qua hồ
Than Thở. Đà Lạt bấy giờ đã đông đúc hơn, nhà cửa nhiều hơn nhưng dưới thời
Hoàng triều cương thổ, người nhập cư cho đến du khách vào “đất vua” được kiểm
soát chặt chẽ, nên cảnh sắc vẫn vậy, vừa mang vẻ sang cả xa hoa lại vừa thâm trầm,
tĩnh tại.
Một buổi chiều, sau khi lang thang trên ngọn đồi phía Đông
thành phố, ba thiếu niên mơ mộng nằm phơi mình nhìn mây trời bay. Bửu Ấn nhẫn
nha kể lại câu chuyện vừa đọc được trong quyển truyện nói về cuộc đời một nhạc
sĩ tài hoa. Câu chuyện gợi lên trong tâm hồn những đứa trẻ một niềm giao cảm
chung. Bảo đưa ý tưởng sẽ lấy số tiền gom góp được sau thời gian làm thuê ở tiệm
may để cả bọn mua một cây đàn guitar. Lập và Ấn sốt sắng hưởng ứng. Ba đứa trẻ
đạp xe chạy về phố Duy Tân, đặt vào tay cô chủ tiệm mấy trăm bạc để nhận về cây
guitar mới, thùng đàn màu vàng còn thơm mùi vec ni. Bảo ôm đàn ngồi sau xe, Ấn
rướn cổ đạp nhanh, Lập lót thót đạp theo sau, đổ dốc Duy Tân rồi chạy lên ngọn
đồi gần thác Cam Ly. Hai chiếc xe đạp được tấp vội vào bụi cây. Ba thiếu niên
ngồi trên đỉnh đồi, bắt đầu nhìn thung lũng bao la nhuộm đỏ ráng chiều, và, những
thanh âm từ sáu dây đàn ngỡ ngàng vụng về cất lên hòa trong tiếng thác đổ. Những
nốt nhạc bật ra không theo một giai điệu nào nhưng mang trong nó sự lấp lánh của
niềm hạnh phúc diệu kỳ. Những thanh âm đánh thức niềm hoài bão ngờ đã vùi chôn
trong Lập. Tiếng vọng của cây đàn hôm nay dường như là hóa thân từ xác cây đàn
gỗ thông nằm trong lòng đất đã mười năm trời…
Thứ âm nhạc đến từ thiên đường, quả thật, đã xảy ra như thế,
với riêng Lập, như một mầu nhiệm.
Kể từ đó, đã có bốn lần âm nhạc tìm đến khua rộn tâm hồn, vuốt
ve trái tim để rồi sau đó, cuốn cuộc đời Lập nổi trôi cùng với nó như một định
mệnh.
Một buổi chiều khác, khi đang cùng Bửu Ấn tha thẩn trên một
ngọn đồi gần một trường tiểu học, Lập nghe chiếc loa phóng thanh hội chợ gần đó
phát lên một khúc nhạc lạ lùng, khiến cậu mê say dõi theo như người mất hồn. Về
sau, Lập vẫn còn nhớ những giai điệu tuyệt vời ấy - một đoạn Valse của Johann
Strauss. Trên nền kèn đồng như dòng suối dịu êm, thi thoảng những nốt dương cầm
rơi thánh thót khiến không gian thời khắc cuối ngày trở nên lung linh lạ kỳ. Từ
những giai điệu đẹp đó, Lập nhìn và hiểu thế giới từ những khoảng khắc đầy nhạc
tính.
Cũng nhiều lần từ sau buổi chiều đó, Lập thích thú ngồi một
mình trên ngọn đồi gần nhà trên đường Hàm Nghi để lắng nghe những bản concerto
êm đềm phát ra từ chiếc loa phóng thanh của rạp hát Ngọc Hiệp trước mỗi giờ chiếu
phim.
Bản thân địa hình Đà Lạt đã là một bản giao hưởng với những
giai điệu, cung bậc giàu sắc thái. Nhưng lặn tìm trong nó chất nhạc của đời sống
cũng là một đam mê của cậu thiếu niên lớn lên ở thành phố này. Lập thường xuyên
đến ngôi nhà thờ Tin Lành mới xây ở gần nhà để dự lễ, dù cậu không phải là một
con chiên. Cậu đến nhà Chúa vì sự quyến rũ của Thánh Ca. Những đêm lễ Giáng
Sinh, Phục Sinh, Lập chìm đắm trong những lễ thức thành kính được kết cấu bằng
âm nhạc, tụng ca. Hình ảnh những cô gái trong dàn đồng ca nhà thờ mặc đồng phục
trắng, cầm trên tay những quyển sách Thánh nhạc bìa bọc da màu đen luôn toát
lên vẻ lung linh thanh thoát đến lạ lùng.
Lập chỉ đứng xa nhìn, tưởng chừng không bao giờ chạm tới được.
Họ là những thiên thần từ trời vừa bước xuống cõi trần, để chỉ cất lên tiếng
hát mê hoặc nhân gian rồi sẽ tan biến vào trong khói sương, bay đi mất. Thứ âm nhạc
thánh thiện từ những bài Thánh Ca thoát ra trên những đôi môi ngoan đã đưa Lập
đi đến mộ phi vụ bí mật mà có lẽ nếu có dõi mắt nhìn xuống trần gian để phán
xét người trần, Chúa cũng sẽ niệm tình tha thứ: cậu đã lấy cắp một quyển sách
Thánh Ca bọc bìa da màu đen để đem về nhà, ngày ngày ngồi trong góc tối say sưa
nghiên cứu. Mendelssohn, Bach, Schubert đã đến với cậu từ quyển Thánh ca. Về
sau, chỉ có một lý lẽ để chính cậu tìm thấy sự bao dung với hành vi kia: chẳng
phải Kinh Thánh trong khởi nguyên cõi nhân gian đầy đam mê này cũng đã được tạo
nên từ một phi vụ đánh cắp vĩ đại xảy ra nơi chốn Địa Đàng đó sao?!
Vài năm sau, gia đình Lập chuyển sang ở một nơi mới, trên đường
Võ Tánh (nay là Bùi Thị Xuân), gần Viện Đại học Đà Lạt. Hàng xóm là gia đình
viên đại úy. Ông đại úy có cậu con trai nhỏ hơn Lộc vài tuổi, tên Vi Liêm Pha.
Cũng như Lập, Pha có niềm đam mê đặc biệt với âm nhạc. Những trưa trốn ngủ, Pha
thường rủ Lập chui vào qua nhà mình bật radio nghe nhạc. Lúc bấy giờ, Đài phát
thanh Đà Lạt có chương trình Âm Nhạc Hoa Kỳ vào lúc một giờ trưa. Đôi bạn thiếu
niên ngồi bên nhau và uống no say những giai điệu lạ lùng đến từ một xứ sở xa
xôi qua chiếc loa radio được vặn volume rất nhỏ, sợ người lớn thức giấc, rày
la. Những bản jazz đến với Lập trong tiếng thì thầm cất lên từ sóng vô tuyến
phát thanh. Hoàn toàn mới mẻ. Lập say mê thứ hơi thở của jazz, mê sự ngẫu hứng
trên nền sax nóng bỏng. Jazz thực sự là sự hòa điệu tự nhiên giữa hơi thở và
cõi vắng bặt của lý trí con người. Từ chiếc loa radio cũ kỹ trong gian phòng chật
chội của người bạn chung xóm, Duke Ellingtonm Bessie Smith, Lil Hardin
Armstrong,… đã đến với thế giới tâm hồn của Lập, hình thành nên thứ cảm thức âm
nhạc du ca - hiện sinh trong những tình khúc mà Lập đặt bút viết về sau này.
“Thời gian qua, đã trăm ngàn lần tôi được nghe mọi loại âm nhạc
của loài người, từ một chiếc cassette rẻ tiền cho đến một giàn máy vô cùng đắt
giá, tôi đã dự những buổi hòa nhạc với vài chục người cho đến những buổi hòa nhạc
với hàng chục ngàn khán giả, tôi đã đi khắp nơi, đã nghe mọi loại nhạc trong mọi
khung cảnh trên mặt đất này. Nhưng đôi môi nóng bỏng của âm nhạc đã hôn lên con
tim tôi trong những ngày thơ ấu ở cái vùng đất diệu kỳ xa xôi đó, quả thật đã
như những con dấu in đậm nét trên định mệnh tôi.
Tôi biết rằng tôi đã thuộc về một nơi nào đó rất chênh vênh
giữa lý trí của con người, linh hồn của thượng đế và hơi thở của tình yêu”,
trong đoạn tùy bút viết ngày 19 tháng 2 năm 1987, ở tuổi 46, tức, 12 năm trước
khi mất, Lập viết.
Nguyễn Vĩnh Nguyên
Nguồn: Trích từ sách “Đà Lạt - Một thời hương xa”
cuốn du khảo văn hóa Đà Lạt


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét