Hễ cứ Xuân về là tôi lại ngậm ngùi nhớ Văn Cao và bài
hát Mùa Xuân Đầu Tiên, nhạc phẩm cuối cùng sau mấy chục năm anh bặt tiếng.
Ô hay, người nhạc sĩ nếu có gọi là thiên tài cũng không có gì quá đáng, đã cho
đời nhiều tuyệt phẩm lãng mạn như Buồn tàn thu, Thiên Thai, và cả những
hùng ca được cả nước hát và thuộc nằm lòng sau cách mạng Tháng Tám 1945
như Tiến quân ca, Thăng Long hành khúc ca, Trường ca sông Lô, Tiền về Hà Nội…
đã đặt tay lên chiếc dương cầm cũ kỹ và thề rằng sẽ không bao giờ viết ca khúc
nữa là sao?
Những năm 70, 80 thế kỷ trước tôi làm tạp chí Cửa Biển ở Hải Phòng. Tên tạp chí
được gợi ý từ một trường ca về Hải Phòng của anh Văn Cao (Những người trên Cửa
Biển - 1956). Tự hứa ngừng viết ca khúc với tâm trạng đau đớn, không biết có giống
với Ba Nha khi đặt cây Dao cầm lên đá mộ Tử Kỳ đập vỡ tan tành, nhưng dù sao lời
thề của Văn Cao cũng bắt chúng ta nhớ lại chuyện đôi bạn tri kỷ ấy. Có lẽ những
năm đau khổ nhất của đời Văn cao là những năm tháng thiếu tri kỷ. Anh không tiếp
tục dòng ca khúc lãng mạn lẫn bi hùng của mình, nhưng thơ của anh trong giai đoạn
có thể gọi là tai ương ấy vẫn ngân lên với Hải Phòng quê hương.“Sinh ra tôi
đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận/ Bãi sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng
đã dựng ven sông…” Và tình yêu của anh dành cho thành phố Cửa Biển tri kỷ hầu
như còn nguyên vẹn: “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam
như tôi biết yêu tôi”. Hải phòng với “kíp thợ đêm lê về đến xóm/ nghe rét mùa
đông nổi cuối sông” và anh vẫn nhớ về những năm tháng thuở “nguyên phong” Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa:“ những năm đầu chính quyền cách mạng/ giấc mơ của Hải
Phòng/ như bóng cò trắng bay về lòng tôi thuở nhỏ”. Với những con người Hải
Phòng gần gũi anh là giới cầm ca: “có người hàng năm mặt trời không thấy mọc/
khép đùi xếp phách tiễn đêm đi/ hôm nay ngồi chép bài ca mới/ hương cốm mùi rơm
ngát giếng đình”.
Tình yêu Hải Phòng của Văn Cao, cái giận hờn của Văn Cao
không như của Nguyễn Đình Thi, nhà thơ cùng sinh ra ở thành phố Cảng như anh. Nhớ
một chiều tháng Chạp, đang rộn rịp làm báo Tết thì anh Thi ghé qua chơi, anh về
Hải Phòng thăm bà cụ và ông em đang ốm, Xin bài cho số Tết, anh bảo đưa bút giấy
ra đây rồi ngồi xuống chép cho tạp chí một bài thơ. Bài Nhớ Hải Phòng, thơ hay,
có máu chảy bên trong các vần chữ. Giai đoạn đó anh Thi tuy vẫn oai phong trên
lưng ngựa nhưng đang gặp rắc rối với mấy vở kịch nên cũng rất “tâm trạng”.
Nhưng tâm trạng của anh Thi cũng rất khác. Tôi nhớ được bốn câu trong bài thơ ấy:
“Nơi ấy đã cho ta mơ ước/ Cho ta suy nghĩ buổi ban đầu/ Nơi ấy bao lần ta đã
khóc/ Ta đã khinh, đã giận làm sao!” Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ: bài thơ này mà in
kèm theo một hình nền của anh Văn thì tuyệt. Tôi gửi bài thơ cho anh Văn Cao
xin minh họa, nhưng chờ mãi vẫn không thấy anh trả lời. Phải chăng vì cái yêu
cái giận cái khinh của anh khác với anh Thi?
Mỗi lần anh về, dù ngồi trên chuyến tàu chợ một trăm cây số
mà nhiều khi mất trọn cả ngày, hay quá giang trên chiếc U-át của ai đó, hay có
dịp hiếm hoi được xe HP lên đón về như thượng khách, thì đó luôn là một sự kiện,
ít nhất cũng trong giới trí thức, văn nghệ sỹ đất Cảng. Nhiều bài hát hay nhất của anh
không được dựng, được hát trên sân khấu, trên đài phát thanh, nhưng mỗi lần anh
về lại Hải Phòng là Thiên Thai, Đàn Chim Việt hay Chiến sĩ Việt
Nam lại ngân lên trong lòng và trên miệng mỗi ai từng là fan của Văn Cao
“từ thuở ban đầu lưu luyến ấy” của cách mạng. Với Văn Cao, không chỉ Văn Cao mà
cả Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái cũng vậy, Hải Phòng và người Hải
Phòng luôn là nguồn an ủi lớn. Không phải do tiền bạc, hay do thứ rượu Thủy
Nguyên trong vắt, đắm say cùng đặc sản biển chất đầy chợ Cố Đạo luôn hào phóng
chào đón theo cách của dân Cảng trọng nghĩa khinh tài, trọng “tài” khinh tiền,
không phải sự hâm mộ hư danh, vụ lợi nào. Mà vì tình thương yêu của người Hải
Phòng, của bạn bè cũ mới, của cả những người chưa từng là bạn bè. Tình
thương yêu ấy chắc anh cảm nhận được rõ ràng khi đặt chân lên mặt đất thành phố
quê hương, đã có sức hút mãnh liệt. Nói cho ngay, những năm tháng ấy, anh
sống “không chỉ bằng bánh mì” dù bánh mì anh cũng phải hụt hơi mới kiếm ra, mà bằng
tình thương yêu của con người. “Dân không thương thì mình chết từ lâu rồi!”. Ít
nhất đã có ba người nói với tôi câu đó là anh Phùng Quán, anh Nguyên Hồng và anh
Văn Cao.
Con người luôn ở hàng đầu trong ký ức mọi người nhờ những tuyệt phẩm
âm nhạc và bài Quốc ca, người nhạc sĩ mà Trịnh Công Sơn tụng ca như là “một ông
hoàng sang trọng, làm ra thứ âm nhạc của thần tiên bay bổng” người mà Phạm Duy
vui vẻ thừa nhận là “thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng tài hoa hơn tôi
nhiều”, cây sáo đại của nền tân nhạc Việt im tiếng nhiều năm vì những lý do ai
cũng biết mà không tiện nói ra ấy, bỗng đột nhiên ngồi vào piano vào một ngày lạnh
giá ở phố Yết Kiêu Hà Nội. Và ông đã cùng cây đàn cất lên âm thanh và ca từ cho
một ca khúc mà đến nay, hơn ba mươi năm sau, giữa mùa xuân đang về của thập kỷ
thứ hai thế kỷ 21, vẫn làm ta rưng rưng khi nghe lần nữa Thanh Thúy, Ánh Tuyết
hay tự mình nghêu ngao dù sai làn, lạc chữ. Nhà thơ Văn Thao con trai ông nhớ lại:
“Ngày 30-4-1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, cả dân tộc reo vui. Văn
Cao im lặng. Chỉ thấy đôi mắt ông sáng lên lấp lánh. Có một cái gì đó đang chuyển
động trong đầu. Một âm thanh mơ hồ, mỏng mảnh như làn khói thoảng qua. Một tiếng
gà gáy mênh mang. Một tia nắng lấp lánh... Và một cánh én. Những âm thanh, những
hình ảnh chập chờn trong đầu ông rồi lại tan biến. Những khuôn mặt bừng sáng.
Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy
và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ“bị
vỗ vai”. Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịptết
Bính Thìn”.
Văn Thao không viết ra nhưng ai cũng hiểu, ca khúc tuyệt vời
nàylà trầm tích của tình yêu thương con người lắng đọng sau hơn nửa năm im lặng
từnhững ngày 30/4 đáng nhớ ấy. Và “mùa xuân đầu tiên” đã có sức mạnh hóa giải lờinguyền
“không tiếp tục viết ca khúc nữa” của nhạc sĩ tài ba.
Từ mùa xuân đầu tiên, mùaxuân mơ ước ấy với khói bay trên sông,
gà đang gáy trưa bên sông, với người mẹ nhìn đàn con nay đã về, với nước mắt
trên vai anh, với những phút giây đang long lanh. Và tuyệt vời hơn hết thẩy,
sâu thẳm hơn hết thẩy cái cảnh cái tình bên ngoài là dòng suối nhân văn, dòng
suối tình người chảy bên dưới, lúc trầm lắng, lúc ào ạt trong tâm hồn, trong
huyết quản của mỗi ai từng chia ly, từng đau khổ, cõi người xác xơ vì sự ghẻ lạnh
nhân thế nơi này nơi khác, của những ai đã vì nghĩa lớn mà từng dấn thân, chấp
nhận điều khó chấp nhận nhất của đời người là chiến tranh. Cho nên trong “mùa
xuân đầu tiên” không thể nào quên của những ngày tháng 1975 ấy, không có gì lạ
khi vỡ òa lên trong anh, trên những phím đàn của anh những lời hân hoan
đáng giá nhất ca ngợi hòa bình khi người mới biết quê người, người biết
thương người và người biết yêu người… Cả dân tộc làm nên mùa xuân đầu tiên
nhưng người nhạc sĩ tài năng đã nhấn đúng từng sợi dây đàn nhạy cảm trong tâm hồn
của mỗi người Việt, năm ấy và đến cả bây giờ. Vì đó cũng chính là nỗi niềm, là
kinh nghiệm sống của chính anh.
Có lẽ tất cả người Việt Nam, dù trong cuộc chiến đứng ở tuyến
nào, nơi nào đều có cùng tâm trạng, sau hàng trăm năm mất nước, lạc nòi, sau mấy
chục năm chiến tranh tàn khốc, điêu linh, mong mùa xuân đầu tiên năm Bính Thìn ấy
thực sự là một mùa xuân hội tụ. Vượt lên trên những đau khổ ngút trời của cuộc
chiến tranh 30 năm đằng đẵng, còn niềm vui nào lớn hơn hòa bình và đất nước bị
chia cắt đã liền một giải?
Hơn ba mươi năm từ độ ấy, mỗi lần nghe Mùa Xuân đầu tiên, tôi
lại cất cái kính lão xuống, dụi những giọt nước mắt không muốn vẫn cứ chảy ra,
rời cái màn hình vô cảm nhưng lại đầy ắp nỗi niềm nhân thế, vui có buồn có, đau
khổ, tội ác, nghèo đói và cả chiến tranh đây đó nữa. Ngả vật ra vì mệt mỏi, tôi
lẩm nhẩm theo lời bài hát và tự hỏi: “Liệu mình đã biết thương người, liệu
mình đã biết yêu người hay chưa?”
Thanh Đa 12/2011


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét