Hầu như, vào thời nào cũng vậy, Ninh Bình quê tôi đều có quyền
tự hào chính đáng khi đóng góp cho đất nước những vần thơ thật giàu ý nghĩa
cùng những tên tuổi nhà thơ thật khó nguôi quên. Truyền thống tinh thần tốt đẹp
ấy âm thầm chảy trong tâm khảm những người làm văn nghệ, kể cả những người yêu
văn nghệ, thời nay. Ở xứ này, thơ luôn được coi trọng và mê đắm đến mức lạ
lùng. Các cây bút sinh ra từ vùng quê Trương Hán Siêu thêm lý do để nặng lòng với
thơ, hơn thế, còn xem thơ như là một cõi thiêng mà đất trời và ông
cha ngàn đời trao truyền lại cho hậu duệ mai sau.
Tôi có nhiều dịp ngâm ngợi và thưởng ngoạn không ít những vần thơ lay động của
một số cây bút thơ tiểu biểu của đất cố đô Ninh Bình. Lần này, tôi muốn đến với
một người thơ có thể xem là khá đặc biệt: nhà thơ - Tiến sĩ Trần Lâm Bình. Ai
cũng biết đó là những danh xưng khác nhau, một đằng là nghệ thuật, đằng kia là
khoa học. Nhưng ai dám cấm cản ta được cuốn hút bởi văn chương, từ cảm nhận cho
đến sáng tạo? Xin hãy đọc hai câu thơ sau trong bài Người đi của Trần
Lâm Bình: Mùa thu xếp lá trên đường/ Bước chân xào xạc, nắng vương đáy chiều. Tôi
cảm tình với việc chọn lựa từ xếp. Trời vào thu, đi trên đường, ta dễ
vướng chân vào lá thu. Chúng ngổn ngang thậm chí lộn xộn bởi chúng vô tình, vô
can với ta. Nhưng với mùa thu - mùa lá rụng thì sao? Không thế. Không thể thế!
Chúng được xếp lại trong không gian - mùa rộng lớn đến vô tận. Một sự
phát hiện lạ. Cũng là lạ ở sự tưởng tượng sau: đáy chiều. Nhà thơ biết
cảm nhận bằng một thứ giác quan bên trong - bằng và nhờ tâm tưởng. Rồi một khi
đã nương theo người viết thì tự nhiên thế giới bên trong của ta như được mở rộng
thêm ra… Ở nhiều chiều kích. Nghĩa là, giác quan của người đọc trở nên tinh tế,
vi diệu hơn nhờ thi ca đấy! Còn đây là những vần thơ chủ yếu luận bàn về sự đời
của anh trong bài có tựa đề là Gom: Trăng gom gió mát dịu êm/ Hồn thơ
hoài cổ gom miền thu xưa/ Nghĩa đời gom nắng trong mưa/ Cô đơn gom mãi vẫn thừa
cô đơn… Anh chủ động cho liên tưởng thi ca của mình lan toả theo từ trường
của một nam châm được định danh là gom. Một mối quan hệ cụ thể giữa trăng và gió không
dễ hình dung trong động thái gom, lại được triển khai tới ba tính chất: mát,
dịu, êm. Chúng quyện hoà vào nhau mà vẫn giữa được sự khác biệt. Đến câu
thơ Hồn thơ hoài cổ gom miền thu xưa thì trừu tượng hơn, bởi nương tựa
hẳn vào tri thức. Không thể không lưu tâm tới hồn thơ hoài cổ, mà
phải là thơ Á Đông kia! Hệ quả dễ chấp nhận đến như không thể khác: gom miền
thu xưa. Ta chớt nhớ tới kho tàng cổ thi viết về mùa thu trong suốt thời
trung đại… Hai câu thơ sau đó gắn nhiều hơn với cuộc đời mà vẫn khiến ta không
khỏi ngạc nhiên. Phải trải đời với nhiều suy nghiệm mới chắt lọc được ý tứ sâu
xa mà dung dị này: Nghĩa đời gom nắng trong mưa. Câu còn lại ẩn chứa
những tâm tư khiến những ai quen vô tình không thể không thấy giật mình: Cô
đơn gom mãi vẫn thừa cô đơn… Ta không nên e ngại sự cô đơn tinh
thần ở dạng đó. Nó thường khởi nguồn cho những sáng tạo tinh thần linh diệu.
Trần Lâm Bình còn có nhiều vần thơ lý sự về đời thấm
thía không kém. Chẳng hạn: Liệu có mấy ai sống trên đời lại không mong tìm những ngày
xanh an lành! Nhưng thế nào là ngày xanh? Câu hỏi hệ trọng vì quyết định
tới con đường ta chọn lựa để tìm đến với nó: Em cứ đi/ Tìm hết ngày xanh/
Khi nhìn đỉnh Ba Vì cao hơn Tam Đảo/ Em cứ đi tìm ngày xanh hoài bão/ Chợt nhận
ra đỉnh Phan xi păng cao hơn đỉnh Ba Vì… Hình như cái nhìn của tác giả bắt
nguồn từ diệu pháp của nhà Phật, ở chỗ này: tất thảy gần như tuỳ thuộc vào tư
niệm của người tìm kiếm. Nên anh có thể điềm tĩnh để viết: Em mê cuồng/ Đi
tìm ngày xanh. Cần chú tâm tới sự mê cuồng. Nếu không sớm định
niệm thì cái bình an ta mong cầu dầu có chính đáng đến đâu cũng dễ thành
vô vọng. Khi ấy thật khó tránh khỏi đớn đau. Kể cả bất hạnh nữa: Tìm ngày
xanh/ Bạc trắng ngày về… Một người quen suy niệm về nhân tình thế thái như
vậy chính là tác giả của bài thơ khác có tựa đề là Vị mặn. Như xác
minh cho một châm ngôn sống, anh cả quyết dụng bút: Người đầu bếp/ luôn
khéo léo tra vừa những món sơn hào hải vị/ Nên khách mời/ chẳng thể nhận ra vị
mặn mòi của muối/ Khi gặp món nhạt phèo/ mới thấy hết sự khôn ngoan của lưỡi/
Cái điều hiển nhiên ấy mà/ nhưng người đời cứ không chịu nhận ra. Bài thơ
vô tình nhắc nhở ta: tác giả còn là vị tiến sỹ khoa học kia đấy! Rõ là một thứ
tư duy luận lý đích thực nhưng không đến mức sa đà để trở nên tư biện khô khan,
rối rắm. Bí quyết nằm ở đâu vậy? Tôi cứ băn khoăn tự hỏi. Đọc kỹ thơ anh, tôi
tiếp cận dần tới câu trả lời này: chính là ở sự thật sống động và tâm tình chân
chất phía sau các con chữ đấy mà!.
Người
đời thường bảo thơ hay là thứ thơ nói hộ được tâm tình của nhiều người. Nhất là
những ai trong cùng cảnh ngộ. Tôi thêm một lần nhận chân ra điều giản dị này
khi đến với bài thơ Đâu rồi vị ngọt tuổi thơ? của Trần Lâm Bình. Anh
nén lòng viết: Chiều nay dạo trên hè phố/ Tuổi thơ chợt ùa về. Ấy là khi
những trái bàng vàng ruộm ký ức bỗng rụng vào khoảng trời thơ
bé của tôi và bạn. Thế là, cũng như anh, chúng ta lập tức Tìm lại
ngày xưa ngọt ngào. Bằng mọi cách có thể. Tuổi thơ chợt sống dậy với
bao kỷ niệm thân quen: Cái thời quên nhớ mong manh. Rồi nữa: Cái
thời vụng dại khi chưa biết gì. Kể cả những mối tình thơ dại bâng quơ nữa.
Thương ai, nhớ ai đây? Mơ hồ và mông lung quá! Chính là khi: Em cùng
tôi bứt lá si/ Làm tiền mua, bán mỗi khi chơi hàng. Chuyến trở về trong
tâm tưởng như được thơ anh chắp thêm đôi cánh để có thể bay cao, bay xa hơn: Tôi
về tìm chuyến đò ngang/ Dập dình câu hát mênh mang đôi bờ. Bởi còn khả năng
vượt qua bến bờ diệu vợi của thời gian nữa: Tôi về tìm lại tuổi thơ/
Nghiêng nghiêng cánh võng đôi bờ thời gian. Thế nhưng, quê chúng tôi cũng
như bao miền quê khác trên trái đất này luôn mang những dáng hình cụ thể, rất cụ
thể. Có như vậy ta mới cảm nhận được quê hương mình như thân xác nóng hổi của một
con người sống động. Tác giả rất có lý khi hạ bút viết: Tôi rắc tuổi thơ/
Trên những vỡ cày mới lật/ Mồ hôi trộn cùng bùn đất/ Chang chang bãi vắng phù
sa. Một cảm xúc mới lạ ngập tràn lòng ta. Khiến cho: Đất dường như trẻ
mãi, do: Đâu đây giọt mồ hôi rơi trên luống cày xưa vẫn còn ngai
ngái. Câu thơ như được chủ động kéo ra, rộng dài mênh mang theo cảm nghĩ
triền miên của nhân vật trữ tình. Để có thể ăn nhập với sự ngân vang của lòng
người giàu cảm hứng. Trong sự bồi hồi thảng thốt đến khó tả của con tim: Đất
rưng rưng/ Níu bước chân người (Cánh đồng tuổi thơ). Có vô cớ không
đây?
Không. Tuyệt đối không. Mọi chuyện lớn nhỏ ở đời đều có những
nguyên nhân xa gần. Mà chủ yếu có lẽ ở chỗ: Ngày đi hạt mới ươm cây/
Ngày về hoa trắng rắc đầy cầu ao… (Về làng). Thời gian âm thầm trôi đi.
Bao nhiêu vật đã đổi, bao nhiêu sao đã rời! Chứng kiến sự đổi thay ấy, lòng người
sao tránh khỏi rưng rưng? Đúng như sự diễn tả trong một câu thơ khác của
Trần Lâm Bình: Ta về cánh đồng ký ức/ Tuổi thơ xô ngả nghiêng chiều. Nhà
thơ nói được cái thật khó nói, lại bằng hình ảnh lung linh của nghệ thuật
thi ca. Những vần thơ sau kịp đến, vừa liền mạch vừa xôn xao một cách lạ thường: Lúa
đồng lên hương rạo rực/ Vắt ngang sông tiếng sáo diều. Hương ngạt ngào của
lúa đồng ở dưới và tiếng dìu dặt của sáo diều ở trên. Tưởng rất khó giao hoà. Ấy
vậy mà trên thực tế chúng đã tìm đến nhau, đồng vọng cùng nhau nhờ liên tưởng kỳ
diệu của thi ca. Nhưng tìm về tuổi thơ đâu chỉ trở về với những hình những cảnh
dẫu trở thành máu thịt ấy. Với con người, tình quê mới là cái sâu nhất, đậm nhất.
Vậy nên, hầu như không thể khác: Ta về tìm thời thơ bé/ Lang thang
bao nỗi vui buồn/ Dáng chị y như dáng mẹ/ Cơm chiều xới cả hoàng hôn (Ta về).
Tôi đặc biệt nao lòng với câu thơ cuối: Cơm chiều xới cả hoàng hôn. Cảnh
có, mà là cảnh thật. Cố nhiên trong sự liên tưởng để nhân lên trập trùng ý
nghĩa. Nhưng trên hết là cái tình kín đáo ý nhị bộc lộ trong cảnh. Tôi nghĩ,
suy rộng ra, đó là đường hướng chính, đường hướng chung dẫn dắt tâm tình trong
thơ Trần Lâm Bình khi có dịp sống lại với những Ký ức làng quê một
cách đầy ý thức. Đấy là: Chiếu chèo bên hội, ngóng trông bên chầu. Đấy
còn là: Hương khuya đưa lối hẹn trầu lên cơi. Lắng sâu nhất có lẽ là
những hình ảnh này: Cả làng quần áo phơi sào/ Lũ tôi tay xước bờ rào vẫn
phơi. Không có sự bóng bẩy làm duyên làm dáng của ngôn từ. Chỉ đọng lại những
cảnh thực với lòng thực. Để rồi từ cảnh tượng làng quê đột ngột hiện lên bật nổi
những con người: Đàn ông nghiện nước chè tươi/ Hãm nồi nước đặc gọi mời cả
thôn/ Đồng xa trăng khuyết hay tròn/ Thuốc lào mồi lửa bằng nùn bổi rơm. Và: Đàn
bà tất tưởi sớm hôm/ Gồng lưng gánh mỏi bãi cồn trắng phau/ Phận người nín nhịn
nỗi đau/ Khi con của mẹ rừng sâu không về! Thi ca xưa nay không hiếm những
hình ảnh chói sáng hay đậm đà về những người đàn ông và đàn bà thôn quê chân chất.
Vậy mà, tôi dám cả quyết, những vần thơ trên vẫn có đủ nội lực để chen vào mảnh
đất vốn rất hẹp ấy đấy! Và rồi cả cái cảnh Chợ quê này nữa: Chợ
quê vừa bán vừa mua/ Mới tang tảng sáng nhìn chưa rõ người/ Chật quang thúng,
chật tiếng cười/ Hương đồng gió nội còn rười rượi sương… Bán mua mua bán vụng về/
Râm ran khắp nẻo chân đê cuối làng. Nhất là: Chợ quê chẳng có bạc
vàng/ Trên vai tung tẩy gánh hàng nhà quê. Câu thơ không hẳn là muốn nói về
chợ. Cái chính là nói về bản tính của người nhà quê, từng ăn sâu vào nếp sống,
nếp nghĩ của biết bao thế hệ, góp phần làm nên sức sống bề bỉ của dân tộc Việt
Nam ta. Tôi vừa có ý đối sánh theo hướng đề cao một số câu thơ của Trần Lâm
Bình. Không, ta chẳng bao giờ ưa cái thói vênh mặt đến mức kệch cỡm với đời, với
người. Nhưng chẳng lẽ ta không có quyền tự hào, tự tin một cách chính đáng? Xin
đưa ra một đường dẫn khác vậy: bài Đường làng. Ấy là khi: Con đường
rắc tuổi thơ tôi…, nghĩa là cảnh và tình quấn quyện đến mức không thể tách
rời. Từ đó giúp hiểu được tâm trạng của nhân vật trữ tình ở khổ thơ mở đầu: Bồng
bềnh như đi trên mây/ Mùa vàng đường làng rũ lối/ Hăng hăng mùi thơm rơm bổi/
Hương đồng rộn bước đường làng. Câu kết của bài thơ đến như một sự tất yếu: Tan
đám mây chiều nông nổi/ Ùa ra rũ rối đường làng. Tôi nói vậy vì câu thơ vừa
liền mạch với cấu tứ chung lại vừa ăn nhập với ý tưởng toàn bài. Phong phú đấy
mà rất nhất quán. Ấn tượng của bài thơ chủ yếu nằm ở chỗ đó chăng!
Trong nhiều hình ảnh có sức ám gợi của thơ Trần Lâm Bình, tôi đặc biệt thấm
thía với những giọt phù sa. Bởi vì, như nhiều miền đất khác của Tổ quốc, đất
Ninh Bình chúng tôi từ ngàn đời nay luôn được bồi đắp bởi mỡ mầu của những dòng
sông đỏ nặng phù sa. Cảm hứng của bài Thủy triều và bãi phù sa được bắt
nguồn từ đấy. Đây là phía em: Em như phù sa mịn màng đất bãi/ Chúm chím nụ
hoa chờ ngày kết trái. Còn đây là phía anh: Anh như dòng chảy đỏ lựng
phù sa/ Thủy triều rám nắng săn mịn làn da. Thật tinh tế! Phải tinh ý mới
nhận ra. Qua nỗi mong chờ ngày kết trái của hoa và sức mạnh săn
mịn làn da của bãi bồi. Sự khái quát như dòng chảy tự nhiên ở câu sau làm
nên chất phù sa đỏ lựng của thi ca: Bên lở bên bồi lắng theo
dòng chảy/ Thầm thì thời gian bập bùng lửa cháy… Chất phù sa ấy góp phần
làm nên sự phì nhiêu của cánh đồng thi ca dân tộc. Bằng lao động nghệ thuật bền
bỉ không ngưng nghỉ. Ta kịp nhận ra sức sáng tạo không biết mệt mỏi của bao thế
hệ nhà thơ sinh ra và lớn lên từ mọi triền sông trên khắp mọi miền đất của Tổ
quốc. Nói bằng sự trăn trở đáng yêu của Trần Lâm Bình là sự Mắc cạn. Anh
chủ động diễn giải bằng thơ: Tôi về vắt giọt phù sa/ Để em ngồi giặt áo
hoa bến làng. Thơ hay ở sự trong lành của cảm nghĩ. Rồi: Tôi
về gọi hẹp mênh mang/ Để tà áo mỏng bay ngang sóng chiều. Thơ hay còn ở sự
bay bổng của trí tưởng tượng giàu có. Để rồi, như không thể cưỡng lại nổi,
anh đối diện với chính lòng mình với sự thành thực - thành thực đến tận cùng: Dòng
sông mắc cạn bãi bồi/ Trái tim mắc cạn giữa lời yêu thương! Này, hỡi chàng
thi sỹ, cái lẽ đời cũng như cái lẽ nghề luôn nghiệt ngã lắm đấy! Nhìn ở phía
nào, anh cũng đều như mắc cạn thật, bởi anh buộc mình phải đứng ở Ngã
ba nơi nước dồn tụ, lại giữa sóng to gió cả: Nước nguồn xuống
ngã ba sông/ Để con sóng biếc vít cong mái chèo. Cái khó nằm ở sự lựa chọn: Ngã
ba đường bộ sải theo hướng nào… Không dễ dàng đâu! Nhưng tôi tin bạn đọc sẽ
để ngỏ lòng cùng chia sẻ những Khát vọng phù sa của Trần Lâm Bình: Khát
vọng phù sa dòng sông tuổi thơ vẫn thầm thì chảy/ Bãi ngô ven bờ xõa tóc ra
hong. Tôi thích câu kết ở sự dung chứa những sự thật rất đỗi lớn
lao: Những khát vọng phía chân trời mơ ước/ Khát vọng nào cũng nảy mầm từ
những giọt phù sa. Câu thơ có sức kích thích mạnh mẽ, thúc đẩy ta hướng về
phía trước - phía bình minh rạng ngời của những khát khao cháy bỏng…
Tôi nghĩ, nhà thơ Trần Lâm Bình nên biết ơn làng quê đã trao
cho anh một trái tim nhân tình nhân nghĩa rộng mở, nhờ đó anh có thể cảm thông
như đến tận cùng cuộc sống của những người dân lam lũ không chỉ ở quê mình mà
còn ở những miền quê khác: Đi thì lội phía hừng đông/ Về thì bì bõm giữa
mông mênh chiều/ Bãi bồi gió táp nắng thiêu/ Ông tôi như ngọn thủy triều… bể
dâu (Thương ông). Đã rõ là thơ anh ngày càng có xu hướng mở lòng tới
những phận người khổ đau ở những vùng quê khác nữa. Thêm vào đó, Trần Lâm Bình
cũng nên lên tiếng cảm ơn văn chương dân gian - một trong những nguồn cội thẳm
sâu góp phần bồi đắp nên vóc dáng và hồn cốt của thơ anh, như có lần anh tự nhắc
nhở: Ngày về vịn khúc ca dao bên cầu (Cảnh quên). Có thể đó là những
ý tứ khơi gợi: Ngổn ngang giữa ngã ba lòng/ Liệu duyên phận có đèo bòng
không em? (Ngã ba). Nhiều hơn cả là những hình ảnh và ngôn từ quen thuộc: Men
theo câu hát “Trúc xinh…” tôi tìm (Tháng giêng). Hoặc như: Ao
làng xưa ngát hương sen/ Trăng thanh ai tắm bỏ quên yếm đào? (Ký ức làng
quê)… Thơ anh nhờ vậy mới có thể tìm được hình hài tương hợp với hồn vía, đáp ứng
được phần nào sự mong mỏi của người đọc qua ý nguyện của chính người viết nên
nó: Người ở lại, kẻ lang thang/ Làng quê ký ức hành trang chân trời! (Ký
ức làng quê). Được như thế, với người cầm bút, đã là may mắn và hạnh phúc lắm rồi!
Phải vậy không, hỡi người thơ - nhà khoa học Cố đô Hoa Lư?.
Đà Lạt, Xuân 2013
Phạm Quang Trung


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét