Xã hội học văn chương
Đối tượng của môn xã hội học văn chương là nghiên cứu về sự
kiện văn chương xét như một sự kiện xã hội. Nói như vậy có nghĩa trước hết là
coi văn chương như một hiện tượng xã hội trong đó có nhiều định chế và
cá nhân tham gia vào việc sản xuất, phân phối, tiêu thụ và phê bình các tác phẩm.
Đồng thời cũng có nghĩa là quan tâm tới những dấu ấn của thời đại và đặc trưng
của xã hội nằm trong các văn bản sáng tác văn chương (Gisèle Sapiro, 2014, tr.
5).
Ở đây, người ta có thể nêu ra một loạt câu hỏi khác nhau. Chẳng
hạn, chúng ta cần nghiên cứu về tác phẩm nào, có phải là tác phẩm do chính tác
giả công bố? Nếu vậy thì nói thế nào về những tác phẩm của Kafka mà Max Brod xuất
bản sau khi ông qua đời? Hay là đối với những phiên bản khác nhau do cùng một tác
giả công bố? Hoặc những dị bản mà người ta khám phá qua các nguồn bản thảo khác
nhau? Chúng ta cần chú trọng tới quá trình sinh thành của sản phẩm và đặt nó
trong “dự phóng sáng tạo” (projet créateur) của tác giả như Sartre nói, hay là
phải chú ý tới những cách lý giải về sản phẩm ấy, vốn có thể hết sức khác nhau
tùy theo từng nhóm độc giả và từng thời kỳ lịch sử? (G. Sapiro, 2014, tr. 5)
Quả thực, chúng ta không thể quy giản ý nghĩa của một “tác phẩm”
nói riêng hay một sản phẩm văn hóa nói chung vào ý định của bản thân tác giả mà
thôi. Ngoài chuyện tác giả không phải lúc nào cũng ý thức đầy đủ về điều mình làm,
ý nghĩa của tác phẩm còn phụ thuộc vào hai nhân tố nằm bên ngoài người sáng tác
ra nó (G. Sapiro, 2014, tr. 5).
Nhân tố thứ nhất, ý nghĩa của một tác phẩm không chỉ bộc lộ
qua kiến trúc nội tại của nó, như các nhà thông diễn học thường nhấn mạnh, mà còn
thể hiện trong một không gian sản xuất văn hóa hiện tại và quá khứ khi mà nó được
xuất bản hoặc tái bản – nói cách khác, ý nghĩa của nó được định hình trong mối
quan hệ với các sản phẩm văn hóa khác xét về mặt chủ đề, thể loại và thủ pháp.
Tác phẩm thường chuyển tải những quan niệm của thế giới xã hội ít nhiều được
chia sẻ bởi những người đương thời, tùy theo tầng lớp, giới tính, tộc người… Như
vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là như sau: bối cảnh xã hội chi
phối tác phẩm thực ra là gì? Có phải là tiểu sử đặc thù của tác giả như
Sartre chú trọng khi ông nghiên cứu về Flaubert, hay là tầng lớp xã hội xuất thân
của tác giả như các nhà lý thuyết mác-xít thường nhấn mạnh, hay là các đặc trưng
xã hội của đối tượng công chúng của tác phẩm?.
Gustave Flaubert (1821-1880)
Nhân tố thứ hai liên quan đến những cách tiếp nhận và sử dụng
tác phẩm, cũng như những ý nghĩa mà độc giả gán cho nó. Quá trình tiếp nhận hoàn
toàn không nằm ngoài chuyện sản xuất văn chương. Trước hết, việc tiếp nhận tác
phẩm không chỉ tác động tới ý nghĩa xã hội của tác phẩm, mà còn tác động tới vị
trí của tác phẩm trong trật tự thứ bậc của các sản phẩm văn hóa (do cách đánh
giá của các nhà phê bình, hoặc do cách thức quảng bá và lượng phát hành ở các
tiệm sách). Kế đến, sự tiếp nhận của công chúng cũng có thể tác động tới chính
tác giả - đôi khi tác giả đi đến chỗ điều chỉnh “dự phóng sáng tạo” của mình tùy
theo sự phản ứng, sự mong đợi hoặc thị hiếu của công chúng. Điểm thứ ba, việc
tiếp thụ (hoặc tái tiếp thụ) các tác phẩm của quá khứ hoặc của những nền văn
hóa khác (nhất là thông qua kênh dịch thuật) cũng có thể là yếu tố làm thay đổi
tính chất hay chiều hướng của không gian văn chương (và từ đó cũng có thể ảnh hưởng
tới chiều hướng sáng tác của các tác giả) (G. Sapiro, 2014, tr. 5-6).
Cũng tương tự như nhiều chuyên ngành xã hội học khác, môn xã
hội học văn chương cũng trải qua những giai đoạn giằng xé giữa hai ngành có liên
quan trực tiếp là xã hội học và văn học. Do đặc trưng độc đáo của các tác phẩm
văn chương, nên những công trình nghiên cứu xã hội học văn chương có lúc bị giới
văn học coi là “quá xã hội học” vì họ thường dị ứng với những lối tiếp cận và lập
luận thiên về quan điểm “tất định luận” mà họ cho là quá máy móc và thô thiển,
nhưng cũng có lúc lại bị chính giới xã hội học coi là “quá văn học”. Tuy nhiên,
chính sự giao thoa giữa hai ngành xã hội học và văn học thực ra có thể mang lại
nhiều thành quả đầy hứa hẹn cho tri thức học thuật (G. Sapiro, 2014, tr. 7).
Môn xã hội học văn chương chủ yếu nghiên cứu lãnh vực văn chương dưới
góc độ xã hội học (bao gồm cả những phương pháp, những kỹ thuật khảo sát và
phân tích định lượng và định tính). Về lối tiếp cận và lối đặt vấn đề, đây cũng
là nơi giao thoa giữa các môn xã hội học về nghệ thuật, về văn hóa, truyền thông
đại chúng, xuất bản, dịch thuật… Nhờ đối thoại thường xuyên với các nhà văn học
sử, nên môn này cũng có những nhãn giới nghiên cứu gần gũi với xu hướng nghiên
cứu về giới (gender studies) cũng như xu hướng nghiên cứu hậu thuộc địa (postcolonial
studies) (G. Sapiro, 2014, tr. 7).
Pierre Ansart (1922-2016)
Nói một cách tổng quát, sở dĩ môn xã hội học văn chương quan
tâm tới các thể loại văn chương như anh hùng ca (hay sử thi), văn chương dân
gian, thơ ca, kịch hay tiểu thuyết là vì hai lẽ sau đây: một mặt, những thể loại
văn chương này thường mang dấu ấn của nền văn hóa mà trong đó chúng được sáng tác
và được đọc hoặc nghe; và mặt khác, chúng kiến tạo nên những vũ trụ tưởng tượng
(hay vũ trụ hư cấu) vốn tuân theo lô-gic nội tại của mình. Như vậy, đối tượng của
môn xã hội học văn chương là khảo sát và nghiên cứu về cả hai khía cạnh ấy, khía
cạnh xã hội và khía cạnh văn chương, cũng như các mối quan hệ đa diện giữa hai
khía cạnh này (Pierre Ansart, 1999, tr. 309).[1]
Theo Pierre Ansart, môn xã hội học văn chương thường có những
hướng nghiên cứu quan trọng như sau.
(a) Hướng nghiên cứu đầu tiên là tìm cách tái hiện thế giới xã
hội đã được trình bày trong tác phẩm. Người ta thường làm điều này chẳng hạn đối
với các tiểu thuyết theo xu hướng hiện thực (của Balzac, Maupassant, Zola ở Pháp;
hay Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao ở Việt Nam), hay kể cả với thể loại
bi kịch cổ điển (như các vở kịch của Corneille) mà nhờ đó người ta có thể tái
hiện diện mạo của một thế giới chính trị cụ thể với những xung đột, hệ thống tôn
ti thứ bậc, các quy tắc, luật lệ, giá trị, những cuộc thương lượng và giằng co…
Lối tiếp cận này coi tác phẩm văn chương như một khối tư liệu phong phú có ý
nghĩa về mặt xã hội học.
Lucien Goldmann (1913-1970)
(b) Hướng nghiên cứu kế tiếp là tìm cách trả lời cho một câu
hỏi xã hội học chính yếu sau đây: đâu là những mối quan hệ giữa các thực tại xã
hội của thời đại với các sản phẩm văn chương? Nhiều công trình đã đi theo quan điểm
lý thuyết mác-xít khi nghiên cứu về những mối quan hệ giữa các cấu trúc xã hội
với các nội dung văn chương (như György Lukács, Lý thuyết về tiểu thuyết [La
théorie du roman], 1920). Lucien Goldmann đề xướng một giả thuyết cho rằng các
cấu trúc của thế giới tiểu thuyết có thể tương đồng với các cấu trúc tinh thần
của những nhóm xã hội đương thời với tác phẩm (Lucien Goldmann, Hướng đến
một môn xã hội học về tiểu thuyết [Pour une sociologie du roman],
Gallimard, 1964, tr. 345). Còn Mikhaïl Bakhtine thì cho rằng các vở truyện của
Rabelais đã chuyển tải những nét đặc trưng của nền văn hóa bình dân Pháp thời
trung cổ và thời Phục hưng như sự cười cợt, lễ hội và tiệc tùng của nông dân,
những hình ảnh thô lỗ của thân thể (Mikhaïl M. Bakhtine, Tác phẩm của Rabelais và nền
văn hóa bình dân thời trung cổ và thời Phục hưng [L’oeuvre de
Rabelais et la culture populaire au Moyen Âge et sous la Renaissance],
Gallimard, 1970, tr. 67) (các tác giả vừa nêu đều được chúng tôi dẫn lại theo
P. Ansart, 1999, tr. 309).
(c) Một hướng nghiên cứu khác là không chỉ khảo sát những mối
quan hệ giữa các hình thái xã hội với nội dung văn chương, mà còn tìm hiểu những
mối quan hệ giữa các hình thái xã hội với các thể loại văn chương, cách lựa chọn
ngôn ngữ thể hiện, và các phong cách hành văn.
(d) Một hướng nữa là nghiên cứu xã hội học về các nhà văn, vị
trí xã hội cũng như vai trò thực tế của họ trong xã hội đương thời. Đây cũng là
một lãnh vực nghiên cứu quan trọng vì vị trí của các nhà văn thường thay đổi một
cách lớn lao qua các thế kỷ. Chẳng hạn vào thời kỳ lãng mạn của thế kỷ 19, người
ta thấy xuất hiện vai trò nổi bật của giới nghệ sĩ khi họ đảm nhiệm sứ mệnh miêu
tả và tố cáo thực trạng xã hội (Balzac, Zola) hay sứ mệnh hướng dẫn tư tưởng
cho cả giới trí thức lẫn giới bình dân (Hugo).
Pierre Bourdieu (1930-2002)
(e) Việc khảo sát về các hệ thống sản xuất và phân phối cũng
là một hướng nghiên cứu đem lại nhiều kết quả đáng chú ý. Mạng lưới các nhà xuất
bản, các ấn phẩm, các tờ báo và tạp chí, với tất cả các chủ trương và các phương
tiện tài chánh của mình, có thể tạo điều kiện, thúc đẩy, lèo lái hoặc ngăn trở
việc công bố các tác phẩm văn chương. Những biện pháp kiểm duyệt khác nhau cũng
có thể can thiệp vào đây một cách hết sức đa dạng, theo các tiêu chuẩn thương mại,
chính trị, tôn giáo hoặc đạo đức, tùy từng trường hợp cụ thể. Lãnh vực phân phối
và phát hành cũng thường phải tuân theo lô-gic thương mại trong tình thế cạnh
tranh giữa các nhà xuất bản, tuân theo lô-gic của những định chế chính đáng hóa,
khả năng tài chánh của bộ phận quảng cáo… Thông qua khái niệm “trường văn chương”,
Bourdieu từng đề nghị nghiên cứu các tác giả, các nhà phê bình và các bộ máy “tấn
phong” (consécration) như một trường tự trị với những quy tắc chính đáng
hóa (légitimation) và ưu biệt hóa (distinction) riêng của nó (Pierre
Bourdieu, Các quy tắc của nghệ thuật. Nguồn gốc sinh thành và cấu
trúc của trường văn chương [Les règles de l’art. Genèse et
structure du champ littéraire], Seuil, 1992).
(f) Cuối cùng là hướng nghiên cứu về độc giả, về sự lựa chọn,
thị hiếu, và thói quen đọc sách báo của họ. Điều này ngày nay càng quan trọng
khi mà nền văn hóa đại chúng ngày càng tạo ra một không gian mông mênh cho lãnh
vực sản xuất văn chương. Lãnh vực xã hội học này đề cập tới những vấn đề như: cách
thức tập luyện và làm quen với việc đọc sách báo văn chương, quá trình xã hội hóa
thông qua việc đọc, những hiệu ứng của sự sản xuất và sự tiêu thụ các sản phẩm
văn chương… Lãnh vực nghiên cứu này cũng quan tâm tới hiệu ứng xã hội của các
thể loại văn chương, các lối văn phong, các chủ đề hư cấu, cũng như quan tâm tới
vai trò quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong khâu lựa chọn
và khâu phân phối các sản phẩm văn chương (P. Ansart, 1999, tr. 309).
II. Văn chương và xã hội học
Giữa văn chương và xã hội học, người ta thấy từng có những mối
liên hệ xung khắc hay cạnh tranh nhau, nhưng cũng thường trao đổi và thâm nhập
hoặc hòa lẫn vào nhau (G. Sapiro, 2014, tr. 9).
Văn chương thường quan tâm tới đời sống xã hội dưới nhiều góc
cạnh đa dạng. Với những bức tranh xã hội sống động và sắc sảo như của Balzac
hay Flaubert, truyền thống hiện thực trong văn chương Pháp ngay từ cuối thế kỷ
18 đã đi vào mô tả nền phong hóa của những tầng lớp xã hội khác nhau (từ quí tộc
đến tiện dân và tư sản), những nhóm nghề nghiệp (nhà báo, giới y tế, giới chứng
khoán…), những định chế như hôn nhân, gia đình, nhà trường, hay những sự biến đổi
của xã hội và những hiện tượng di động xã hội (thăng tiến, sa cơ thất thế…) (G.
Sapiro, 2014, tr. 9).
Khuynh hướng tả thực cũng từng xuất hiện một cách sôi động
trong văn chương Việt Nam vào những thập niên 1930 và 1940. Do “cái chân tướng
của ngoại cảnh và của nội giới có thiên hình vạn trạng”, theo nhận xét của Dương
Quảng Hàm, nên chủ đề của các nhà văn tả thực cũng hết sức phong phú, như mô tả
sinh hoạt của các tầng lớp bình dân, lao động (Kép Tư Bền của Nguyễn Công
Hoan; Tôi kéo xe của Tam Lang; hay Lầm than của Lan Khai tả
cuộc đời của giới phu mỏ), những “mặt trái của xã hội ăn chơi, trụy lạc” (như Giông
tố của Vũ Trọng Phụng; Hà Nội lầm than của Trọng Lang tả sinh hoạt
của gái giang hồ và giới làng chơi, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng tả cuộc đời
của dân ăn cắp), hoặc tả cảnh vật, phong tục và sinh hoạt thôn quê (Cậu bé nhà
quê của Nguyễn Lân; Cô Dung của Lan Khai) (Dương Quảng Hàm,
1968, tr. 452).
Ở Pháp, nếu trước kia việc mô tả đời sống xã hội gần như là lãnh
vực độc quyền của giới nhà văn, thì kể từ cuối thế kỷ 19, khi ngành xã hội học
chính thức được xác lập như một ngành khoa học chuyên biệt trong trường đại học,
ngành này đã khiến giới nhà văn không còn vị thế độc quyền ấy nữa. Tuy nhiên,
phải đợi đến hậu bán thế kỷ 20, người ta mới thấy xuất hiện ở Pháp bộ môn xã hội
học văn chương. Lúc đầu, môn này nằm trong khuôn khổ nghiên cứu văn học, về sau
mới trở thành một bộ môn nằm trong ngành xã hội học (G. Sapiro, 2014, tr. 9).
Văn chương, theo John Hall, xét về mặt hình thái điển-hình ý-thể
(ideal-typical form) của nó, phải nói lên sự thật của quá trình trải nghiệm xã
hội, mặc dù sự thật này nhiều khi quá rắc rối nên không dễ mà trình bày được một
cách rạch ròi, tách bạch. Hall cho rằng nói đến “sự thật” ở đây thực ra có nghĩa
là nói đến những nỗ lực khám phá hoặc làm sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm xã hội
(J. Hall, 1979, tr. 35).
Theo John Hall, “sự thật văn chương” bao hàm hai khía cạnh
sau đây.
(a) Trước hết, văn chương là một kiểu diễn ngôn khác với diễn ngôn xã
hội học. Một công trình xã hội học luôn luôn cần được kiểm chứng hoặc phản biện,
nhưng đối với một tác phẩm văn chương thì lại không như thế. Nếu một công trình
điều tra thực nghiệm về thành phố London chẳng hạn chưa đúng hoặc chưa thấu đáo,
thì người ta có thể phải tiến hành thêm một công trình khác để bổ khuyết. Nhưng
người ta không thể làm điều này với những cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens:
nhà văn này khắc họa một bức tranh về tầng lớp trung lưu của thành phố London hơn
là về bản thân thành phố này; thế nhưng chúng ta không thể bác bỏ hay coi thường
hình ảnh này. Sự khác biệt ở đây cũng tương tự như sự khác biệt giữa một tấm hình
chụp với một bức tranh: tấm hình chụp có thể cho thấy đủ mọi chi tiết, nhưng bức
tranh có ưu thế là tô đậm một số điểm bằng cách bỏ qua một số chi tiết.
(b) Khía cạnh thứ hai: đặc trưng của hình thái văn chương là nó mang tính chất “tự
chứng thực” (self-authenticating). Văn chương “là một thứ tư liệu về những sắc
thái cảm nhận của con người, và cách nhìn độc nhất vô nhị có khả năng khiến cho
con người xúc động một cách mạnh mẽ vô song” (J. Hall, 1979, tr. 35).[2]
Như vậy, văn chương là một nỗ lực của con người “nhằm hiểu được
kinh nghiệm xã hội của mình” (J. Hall, 1979, tr. 36). Nếu văn chương mô tả những
kinh nghiệm xã hội đặc thù, không mang tính chất đại diện cho toàn bộ từng tầng
lớp hay toàn bộ xã hội, thì có thể nói môn xã hội học văn chương thường quan tâm
tới những xu thế tổng quát của quá trình phát triển văn chương hơn là tới từng
tác giả cụ thể. Việc phân tích những tác giả cụ thể nào đó có thể giúp chúng ta
hiểu biết về những kinh nghiệm xã hội đặc thù của họ, nhưng việc khảo cứu về những
nguồn gốc xã hội của xu hướng hiện thực và xu hướng hiện đại trong văn chương
chẳng hạn lại có thể cho phép chúng ta đi đến những kết luận tổng quát hơn (như
trên, tr. 37).
Émile Durkheim (1858-1917)
Nếu văn học có thể tận dụng được lối tiếp cận xã hội học để
hiểu sâu hơn vào nội dung văn bản văn chương, thì ngược lại, xét về phía xã hội
học, ngành này cũng có thể đạt được nhiều cái lợi khi nghiên cứu về văn chương.
Điểm thứ nhất, xã hội học không thể tự cho mình cái độc quyền tìm ra sự thật của
xã hội; văn chương có một khả năng to lớn là giúp cho nhà xã hội học trở nên nhạy
cảm hơn đối với xã hội nói chung và những phản ứng của các cá nhân trong xã hội
nói riêng.
Thứ hai, “trí tưởng tượng văn chương” (literary imagination) là một điều
hết sức đáng trân trọng, bởi lẽ nó có khả năng khảo sát và đi vào chiều sâu những
cảm nghĩ và xúc cảm thực tế của các cá nhân.
Thứ ba, nếu bằng chứng văn chương được
sử dụng một cách đúng đắn (tức là được sử dụng như một “vật sở chỉ xã hội” chứ
không phải như một “vật phản ánh xã hội”),[3] thì nhiều khi nó đem lại những thông
tin sắc sảo về những vấn đề cụ thể nào đó mà người ta không thể tìm được qua bất
cứ kênh nào khác.
Và cuối cùng, điểm thứ tư, bằng chứng mà văn chương cung cấp
có thể mang lại một lối lý giải hết sức tổng hợp và toàn diện: những cuốn tiểu
thuyết mà trong đó nhà văn Conrad khảo sát những thân phận cá nhân đơn độc thường
kết thúc bằng cái chết có lẽ mang lại cho chúng ta một cách nhìn sâu sắc và trọn
vẹn hơn về thực tại cảm xúc của con người so với những công trình xã hội học của
Durkheim về hiện tượng tự tử hay về tình trạng “phi chuẩn mực” hay mất phương hướng
của cá nhân trong xã hội (J. Hall, 1979, tr. 38).
Ngược với giả định cho rằng tác phẩm nghệ thuật hoàn toàn độc
lập với xã hội và không hề chịu sự chi phối hay tác động gì bởi xã hội (như
quan niệm lãng mạn coi nghệ sĩ là “người sáng tạo” thuần túy), và cũng trái với
lối tiếp cận duy hình thức (formalism) hoặc lối tiếp cận duy văn bản, môn xã hội
học văn chương quan niệm rằng văn chương là một hoạt động xã hội luôn luôn phụ
thuộc vào những hoàn cảnh sản xuất tác phẩm và tiêu thụ tác phẩm, đồng thời cũng
thường gắn liền với những giá trị, với một thế giới quan hay nhân sinh quan nhất
định nào đó (G. Sapiro, 2014, tr. 10). Do vậy, khi khảo cứu về mối quan hệ giữa
văn bản với bối cảnh xã hội, môn này thường bao hàm cả hai vế: phân tích nội
tại và phân tích ngoại tại. Việc phân tích nội tại tập trung vào
cấu trúc của tác phẩm. Còn việc phân tích ngoại tại thì chú trọng tới bối cảnh
xã hội và chức năng xã hội của tác phẩm.
(Về chiều kích xã hội của văn chương, xem thêm: Huỳnh Như Phương,
2014, tr. 12-18; về mối quan hệ giữa mỹ học nghệ thuật và xã hội học nghệ thuật,
xem thêm Bùi Quang Thắng, 1998, tr. 55-68.)
III. Một số lý thuyết và cách tiếp cận xã hội học về
văn chương
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày trước hết một số quan
niệm tiền xã hội học về văn chương, sau đó là một số lý thuyết xã hội học văn
chương ra đời từ khoảng thập niên 1960 cho tới nay trên thế giới.
1. Một số quan niệm tiền xã hội học
Trước khi ra đời môn xã hội học văn chương, cũng đã có không ít
tác giả và công trình đề cập tới những ý tưởng liên quan tới ảnh hưởng xã hội của
văn chương cũng như mối quan hệ giữa văn chương với xã hội.
Theo Gisèle Sapiro, châu Âu đã từng có một số quan niệm tiền
xã hội học về văn chương như sau (2014, tr. 10-15).
– Platon ở Hy Lạp thời cổ đại: quan niệm rằng nghệ thuật có
thể khơi mào một cơ chế “bắt chước” (mimèsis) và đồng hóa (với nhân vật trong tác
phẩm) nơi công chúng, và để tránh điều này thì cần phải trang bị cho công chúng
một vốn văn hóa đủ mạnh để làm chủ được các tác động xấu của các tác phẩm nghệ
thuật.
Germaine de Staël (1766-1817)
– Giáo hội Công giáo, và nhiều người trong giới trí thức cũng
như giới cầm quyền Âu châu trong những thế kỷ 18 và 19: hoài nghi và định kiến
về giá trị của các ấn phẩm văn chương và báo chí, cho rằng chúng có thể gây ảnh
hưởng xấu và nguy hại cho trật tự xã hội, cho thuần phong mỹ tục.
– Một số nhà nghiên cứu tội phạm học ở châu Âu vào thế kỷ 19
cũng đổ tội cho văn chương và kể cả giới nhà văn là thủ phạm của tình trạng suy
đồi và phạm pháp trong xã hội.
– Germaine de Staël (Về văn chương xét trong mối
quan hệ với các định chế xã hội, 1800) [4]: bà là tác giả đầu tiên bắt đầu tìm cách
xác định những định luật chi phối lịch sử văn chương; bà cũng quan tâm tới những
điều kiện xã hội-chính trị khiến nảy sinh những thể loại mới như thi ca. (Vào
thế kỷ 18 ở Pháp cũng như ở Anh, thuật ngữ “văn chương” [littérature] vẫn còn được
hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả triết học, khoa học, và thơ ca, tiểu thuyết).
Alexis de Tocqueville (1805-1859)
– Alexis de Tocqueville (Chế độ cũ và cách mạng, 1856) [5]: giới học giả và giới nhà văn đã thay thế
giai cấp quí tộc phong kiến và trở thành một “tầng lớp quí tộc về mặt tư tưởng”;
tuy những người này không có chức tước, tài sản hay bổng lộc, cũng không có quyền
hành gì, nhưng lại mang nhiều uy tín trong hoạt động chính trị và nắm giữ vai
trò “lãnh đạo về mặt công luận”.
– Hippolyte Taine (Lịch sử văn chương Anh, 1864) [6]: giải thích rằng một tác phẩm văn chương
là “một bản sao của nền phong hóa [trong xã hội] và [là] dấu hiệu của một tình
trạng tinh thần”. Taine cho rằng có ba nhân tố quy định tình trạng luân lý của
một xã hội và do đó cũng quy định cả tính chất của các tác phẩm văn chương: chủng
tộc (race) (mỗi tộc người có những tính cách và tâm thế bẩm sinh); môi trường (milieu),
bao gồm các điều kiện địa lý và khí hậu, cũng như các điều kiện xã hội và chính
trị; thời điểm (moment) ở từng chặng của lịch sử nhân loại.
(Về quan niệm của Germaine de Staël và Hippolyte Taine, xem
thêm Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học. Một số vấn đề”
(trong Lộc Phương Thủy et al., 2014, tr. 21-23.)
– Gustave Lanson (Lịch sử văn chương và xã hội
học, 1904) [7]: là người đầu tiên khẳng định rằng “‘hiện
tượng văn chương’ về bản chất là một sự kiện xã hội”. Tuy không phủ nhận tính
chất cá nhân của sự sáng tạo, nhưng ông cho rằng công việc của nhà phê bình là đặt
tác phẩm vào trong bối cảnh của hoạt động sáng tác, không chỉ chú ý tới tác giả
mà còn phải quan tâm tới xã hội đương thời và cách thức mà công chúng tiếp nhận
tác phẩm khi nó mới ra đời. Lanson cho rằng cần phải nghiên cứu lịch sử xã hội
của văn chương: nhà văn vừa là một “sản phẩm xã hội”, vừa là một “biểu hiện xã
hội”. Lanson không quan niệm một mối liên hệ nhân quả đơn giản giữa tác phẩm với
xã hội, vì ông coi đây là một mối liên hệ phức tạp nảy sinh từ sự “truyền thông
giữa một cá nhân với một công chúng”. Quả vậy, công chúng không phải chỉ là kẻ
tiếp nhận tác phẩm: “Công chúng đặt hàng tác phẩm sẽ được trình làng: họ đặt hàng
mà không hề hay biết.” Ngoài ra, Lanson còn nêu ra một số định luật của lịch sử
văn chương, như định luật về mối liên hệ tương quan giữa văn chương với đời sống
(“văn chương bộc lộ xã hội”), định luật về những ảnh hưởng từ nước ngoài, định
luật về sự kết tinh của các thể loại, định luật về mối liên hệ tương quan giữa
hình thức và nội dung thẩm mỹ, định luật về những điều kiện xuất hiện các kiệt
tác văn chương, định luật về tác động của tác phẩm đối với công chúng (Voltaire
đã mang lại cho xã hội thế kỷ 17 nguyên tắc bao dung; Dickens đã gây ý thức cho
xã hội đương thời của ông về nhu cầu cải tổ nhà trường và nhà tù). Tuy mang nhiều
ý tưởng khơi mào cho xu hướng phân tích xã hội học, nhưng những nỗ lực của
Lanson không dẫn đến một trào lưu xã hội học văn chương thực thụ nào (G.
Sapiro, 2014, tr. 10-15).
(Về quan niệm của Gustave Lanson, xem thêm Lộc Phương Thủy,
Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học ở Pháp” (trong Lộc Phương Thủy et
al., 2014, tr. 34-37.)
Ở Việt Nam, chúng ta cũng có thể tìm thấy nơi nhiều công trình
văn học sử những ý tưởng mang dấu ấn tiền xã hội học về mối quan hệ giữa văn chương
với xã hội.
Dương Quảng Hàm (1898-1946)
Trong cuốn văn học sử đầu tiên của Việt Nam (Việt Nam văn học
sử yếu, 1941), Dương Quảng Hàm khi đề cập tới sự ra đời của nền quốc văn mới
trong nửa đầu thế kỷ 20, sau khi nói tới những ảnh hưởng của trào lưu tân học
Trung Hoa với những tác giả như Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu, đã nhận xét rằng
giới trí thức và nhà văn nước ta “đã hấp thụ các tư tưởng mới” do “tiếp xúc với
nền Pháp học” trong thời thuộc địa. Dương Quảng Hàm viết: “Về đường luân
lý và xã hội, thì chủ nghĩa cá nhân (trọng quyền lợi và hạnh phúc của
cá nhân) và những quan niệm về công dân (có nghĩa vụ mà cũng có quyền lợi), và
nghề nghiệp (biết trọng cả các nghề), về danh dự (cho danh dự không phải chỉ do
phẩm tước mà thứ nhất là do tài đức, nhân cách mà có) dần dần được nhiều người
theo. (…) Về đường văn chương, xưa kia các cụ thường viết văn chữ nho mà có
ý khinh miệt và nhãng bỏ quốc văn; thường chuộng từ chương mà không vụ thực sự;
thường chú trọng đến các hạng người cao quí mà ít lưu tâm đến kẻ thường dân.
Nay các nhà học thức đã biết trọng quốc văn, biết quan sát và mô tả các cảnh vật
xác thực, biết để ý đến cuộc sinh hoạt của người bình dân” (Dương Quảng Hàm,
1968, tr. 404-405).
Sự xuất hiện của những thể loại văn chương mới vào nửa đầu thế
kỷ 20 như kịch, văn xuôi, tiểu thuyết, thơ mới… cũng mang dấu ấn của những sự
biến đổi lớn lao trong xã hội (xem Dương Quảng Hàm, 1968, tr. 420-428). Ở cuối
cuốn Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930, Bằng Giang từng đặt ra một số câu
hỏi có thể được dùng làm tiền đề cho những công trình xã hội học văn chương thực
thụ, chẳng hạn “tại sao vườn thơ [ở Nam kỳ] lại quạnh quẽ?” trong thời kỳ ấy,
hoặc “tại sao văn học kịch bản [ở Nam kỳ] lại phong phú (183 [kịch bản]) chỉ đứng
sau có tiểu thuyết (211 [cuốn tiểu thuyết])?” (Bằng Giang, 1992, tr. 423).
Jean-Paul Sartre (1905-1980)
Theo Jean-Paul Sartre (Văn chương là gì? 1948), [8] việc viết cũng như việc đọc đều là
những hành vi (acte). Theo ông, cuốn sách “tự trình diện ra [trước độc giả] như
một cứu cánh theo sự tự do của độc giả” (1975, tr. 54) [9]. Chính vì thế, ông phản bác định nghĩa
của Kant về tác phẩm nghệ thuật là một “mục tiêu tối hậu không có cứu cánh” (finalité
sans fin). Nếu Sartre đồng ý với Kant rằng tác phẩm nghệ thuật không có cứu cánh
thì chỉ vì Sartre cho rằng tác phẩm nghệ thuật tự nó là một cứu cánh. Bởi lẽ tác
phẩm nghệ thuật chỉ tồn tại nếu có người chiêm ngưỡng nó. Việc đọc không phải
chỉ là một hành vi cá nhân, mà nó bao hàm một sự cam kết, một sự dấn thân của độc
giả; nó đòi hỏi sự tự do và khả năng sáng tạo của chính độc giả để làm cho tác
phẩm có thể tồn tại. Do vậy, đọc là một “hiệp ước rộng lượng giữa tác giả và độc
giả” (1975, tr. 62) [10]. Tác giả buộc độc giả phải “sáng tạo”
cái mà ông ta đã “hé lộ” (dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 19) [11].
Chức năng truyền thông mà Sartre gán cho văn chương khiến cho
ông đi đến nhận định cho rằng nhà văn có một sứ mệnh trong thời đại của mình.
Ngày nay, khi mà trình độ biết chữ trở nên phổ biến và nhất là với sự phát triển
của báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng, sứ mệnh của nhà văn lại
càng quan trọng hơn. Quyền tự do viết lách được bao hàm trong quyền công dân.
Chính vì thế, theo Sartre, nghệ thuật văn chương không thể thích ứng với bất cứ
chế độ nào, mà cần phải liên đới và ủng hộ cho chế độ dân chủ, vì chỉ trong khuôn
khổ này thì nghệ thuật văn chương mới bảo tồn được đầy đủ ý nghĩa của nó (dẫn lại
theo G. Sapiro, 2014, tr. 19).
(Về quan niệm xã hội học văn chương của Jean-Paul Sartre, xem
thêm Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học ở Pháp” (trong Lộc
Phương Thủy et al., 2014, tr. 34-37).
Năm 1958, Robert Escarpit xuất bản cuốn Xã hội học về văn
chương (Que sais-je?, 1958), và năm 1960, Escarpit lập ra Trung tâm xã hội
học về các sự kiện văn chương tại đại học Bordeaux, sau đó trung tâm này trở thành
Viện văn chương và nghệ thuật đại chúng.
Cũng quan niệm văn chương là một hành vi truyền thông theo chân
Sartre, đồng thời cũng đi theo trào lưu nghiên cứu về các phương tiện truyền thông
đại chúng (media studies) vốn đang thịnh hành lúc ấy, Escarpit đã khai triển bộ
môn xã hội học văn chương trong cuốn sách nêu trên. Xét như hành vi truyền thông,
hoạt động văn chương bao gồm ba lãnh vực: người sản xuất, người phân phối, và
người tiêu thụ. Tương ứng với mỗi lãnh vực này là những chủ đề nghiên cứu sau:
các điều kiện xã hội của quá trình sản xuất; khảo sát về việc xuất bản các tác
phẩm văn chương và các phương tiện phân phối; khảo sát về việc đọc sách văn chương.
Tuy nhiên, môn xã hội học văn chương của Escarpit đi theo hướng phân
tích ngoại tại (analyse externe), vì nó thiên về lối tiếp cận định lượng
và tự giới hạn vào việc khảo sát xã hội học về lãnh vực xuất bản và về việc đọc
sách mà thôi, chứ không đi vào những nét đặc thù của văn bản văn chương.
(Xem thêm:
– Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học trong nghiên cứu của
Robert Escarpit và trường phái Bordeaux” (trong Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương
Ngọc và Phùng Ngọc Kiên, Xã hội học văn học, Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2014, tr. 83-107
– Robert Escarpit, “Xã hội học văn học”, Nguyễn Phương Ngọc dịch,
trong Lộc Phương Thủy et al., tr. 323-373
– Robert Escarpit, “Văn học và xã hội”, Nguyễn Phương Ngọc dịch,
trong Lộc Phương Thủy et al., tr. 374-411.)
4. Từ lý thuyết phản ánh luận đến lý thuyết cấu trúc luận sinh
thành và lý thuyết cultural studies
Trong đường hướng tư tưởng mác-xít, theo định đề duy vật, văn
chương (cũng tương tự như tôn giáo) thuộc về kiến trúc thượng tầng, phản ánh các
mối quan hệ sản xuất trong xã hội [12]. Tuy vậy, lý thuyết phản ánh luận cũng
dẫn đến những tư tưởng khá phong phú về tính tự trị của các tác phẩm văn chương
xét trong mối liên hệ với các điều kiện xã hội (Goldmann, 1970; Macherey, 1971;
Williams, 1977, dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 19). Phải chăng văn chương chỉ
là một sự phản ánh lại thế giới xã hội, hay thực ra bộc lộ một ý thức hệ, một
thế giới quan? Thế giới quan này thể hiện ý thức tập thể của giai cấp thống
trị, hay nó phản ánh những mâu thuẫn đang tồn tại trong quan hệ sản xuất? Đấy là
một vài câu hỏi điển hình mà các nhà lý thuyết mác-xít từng nêu lên (xem Sayre,
2011, dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 20).
Khác với lối tiếp cận tiểu sử vốn thống lãnh trong truyền thống
văn học (mà điển hình là Sartre trong công trình nghiên cứu về Flaubert), đặc
trưng của lối tiếp cận mác-xít là chuyển góc độ phân tích từ bình diện cá nhân
lên bình diện tập thể. Xã hội học văn chương theo quan điểm mác-xít có thể được
phân loại ra thành hai nhánh. Nhánh thứ nhất tập trung vào việc phân tích tác
phẩm, các mối quan hệ giữa các hình thức văn chương với các hoàn cảnh xã hội, và
những mối liên hệ của tác phẩm với ý thức tập thể (điển hình như György Lukács, Lý
thuyết về tiểu thuyết, 1920; Tiểu thuyết lịch sử, 1937; Balzac và xu
hướng hiện thực trong văn chương Pháp, 1945). Nhánh thứ
hai quan tâm tới các hoàn cảnh xã hội của việc sản xuất và việc tiếp nhận tác
phẩm văn chương (khởi sự từ Nhật ký trong tù của Antonio
Gramsci; Lịch sử xã hội của nghệ thuật và văn chương của
Arnold Hauser). Hướng nghiên cứu này về sau được tiếp tục khai triển bởi trường
phái cultural studies (“nghiên cứu văn hóa”) ở Anh (G. Sapiro, 2014,
tr. 20).
Dựa trên các công trình của Lukács, nhà phê bình văn học Pháp
Lucien Goldmann đã phát triển phương pháp cấu trúc luận sinh
thành (structuralisme génétique). Theo Goldmann, tác giả thực thụ của tác
phẩm không phải là cá nhân tác giả, mà là nhóm xã hội mà ông ta hay bà ta thuộc
về. Thế giới quan của nhóm xã hội chính là sự trung giới (médiation) giữa cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội với các tác phẩm văn chương. Theo ông, có một sự “tương đồng
về mặt cấu trúc” (homologie structurale) giữa các vở bi kịch của Racine hay cuốn Pensées (Suy
tưởng) của Pascal với thế giới quan Jansenius vốn thể hiện ý thức tập thể của
giới quí tộc khoa bảng đương thời [13] (G. Sapiro, 2014, tr. 20).
(Xem thêm:
– Lộc Phương Thủy, “Xã hội học văn học trong các công trình
nghiên cứu của Lucien Goldmann” (trong Lộc Phương Thủy Nguyễn Phương Ngọc và Phùng
Ngọc Kiên, Xã hội học văn học, Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014,
tr. 59-82.
– Lucien Goldmann, “Phương pháp cấu trúc phát sinh trong lịch
sử văn học”, Lộc Phương Thủy dịch, trong Lộc Phương Thủy et al., 2014, tr.
260-275.
– Lucien Goldmann, “Tiểu thuyết Mới và hiện thực”, Lộc Phương
Thủy dịch, trong Lộc Phương Thủy et al., 2014, tr. 297-322).
Richard Hoggart (1918-2014)
Cũng đáng chú ý là trường phái cultural studies (“nghiên
cứu văn hóa”) ở Anh với những tác giả như Richard Hoggart (The Uses of Literacy [Cách
sử dụng trình độ biết chữ], 1957), Raymond Williams (Culture and Society [Văn
hóa và xã hội], 1958, The Long Revolution [Cuộc cách mạng lâu dài],
1961).
Tập trung nghiên cứu về nền văn hóa đại chúng mà trường phái
Frankfurt tố cáo là một dạng huyền thoại hóa nhằm nô dịch và làm tha hóa ý thức
của giai cấp công nhân, Hoggart đã mở đầu cho hướng nghiên cứu xã hội học về việc
tiếp nhận các tác phẩm văn chương thông qua những cuộc điều tra về việc đọc sách
báo nơi các tầng lớp lao động, bình dân. Phản bác quan điểm cho rằng các tầng lớp
lao động chỉ là những người tiếp nhận một cách thụ động các sản phẩm của nền công
nghiệp văn hóa, Hoggart chế tạo ra cụm từ “cách đọc xiên xẹo” (lecture oblique)
để nói về cách tiếp nhận đặc thù của các tầng lớp thiệt thòi trong xã hội [14].
Raymond Williams (1921-1988)
Chú ý đến vấn đề làm thế nào để các tầng lớp bình dân có thể
tiếp cận được “nền văn hóa cao cấp”, Williams phân biệt giữa nền văn chương bình
dân được sản xuất “bởi” người dân (folk) với nền văn chương đại chúng hiện đại được
sản xuất “cho” người dân.[15] Khi nghiên cứu về sự xuất hiện của
khái niệm “văn hóa” trong thời kỳ lãng mạn và những hiệu ứng của cuộc cách mạng
công nghiệp đối với văn chương, Williams cũng đã xây dựng những nền tảng cho môn
xã hội học lịch sử về các định chế của đời sống văn chương (như các nhà xuất bản,
các tạp chí, giới hàn lâm, các câu lạc bộ), và từ đó mở ra một môn xã hội học về
văn hóa và về truyền thông.[16]
(Về trường phái cultural studies, xem thêm Trần Hữu
Quang, 2015, tr. 273-280.)
5. Lý thuyết “trường” của Pierre Bourdieu
Khái niệm “tự trị” (autonomy) vốn xuất phát từ quan điểm mác-xít
nhằm điều chỉnh quan niệm phản ánh luận, đã được nhà xã hội học người Pháp
Pierre Bourdieu định nghĩa lại hoàn toàn trong lý thuyết “trường” của ông. Lý
thuyết “trường” của Bourdieu trong lãnh vực xã hội học văn chương dựa trên hai
nguyên tắc chính sau đây: (a) văn chương không phải là một hoạt động nằm ngoài
sự chi phối của xã hội; (b) tuy vậy, văn chương cũng không thể bị quy giản vào
những sự định đoạt về mặt xã hội, kinh tế hay chính trị (G. Sapiro, 2014, tr.
24).
Trước khi đi vào lý thuyết “trường” của Bourdieu trong lãnh vực
xã hội học văn chương, chúng ta hãy tìm hiểu ba khái niệm căn bản trong lý thuyết
của tác giả này, đó là: habitus, vốn, và trường.
Khái niệm habitus
Theo Loïc Wacquant, habitus là một khái niệm triết
học được sử dụng từ xa xưa bởi Aristoteles (với
thuật ngữ tiếng Hy Lạp là ἕξις, hexis, có nghĩa là một tình trạng tương đối
ổn định về mặt sức khỏe, về mặt kiến thức, hay về mặt tính cách), cũng như bởi
những triết gia khác như Thomas Aquinas, Hegel, Weber, Durkheim, Mauss, và
Husserl. Pierre Bourdieu đã sử dụng lại thuật ngữ này vào năm 1967 khi giải thích
công trình của nhà sử học nghệ thuật Erwin Panofsky về mối quan hệ giữa tư tưởng
kinh viện và lối kiến trúc gô-tic trong thời trung cổ (L. Wacquant, 2006, tr.
6).
Bourdieu sử dụng thuật ngữ habitus để nói về một hệ
thống thiên hướng tâm thế (dispositions) tương đối vững bền
(nhưng có thể biến đổi) mà nhờ đó chúng ta tri nhận, phán đoán và hành động
trong thế giới xã hội. Những sơ đồ vô thức này được chúng ta tiếp thụ
trong tiến trình trải qua những hoàn cảnh xã hội đặc thù, thông qua việc nội tâm
hóa những chế ước ngoại tại cũng như những khả năng hành động trong đời sống
ngoại tại. Mặc dù mỗi cá nhân chúng ta có một tiểu sử không ai giống ai, nhưng
do cùng sống với nhau và cùng trải nghiệm những khuôn khổ xã hội chung (hay những
“ma trận” chung, common matrix, bao gồm những chế ước và những khả năng hành
động ấy), nên trong từng xã hội hay cộng đồng nhất định, chúng ta thường có
chung các sơ đồ vô thức ấy - đó là lý do tại sao các cá nhân có cùng
quốc tịch, cùng giai cấp, cùng giới tính, v.v. thường cảm thấy một cách tự phát,
hồn nhiên như mình “đang ở nhà” (at home) khi tiếp xúc với nhau.
Habitus vừa là cái đã được cấu trúc (structured) bởi những
lực xã hội nhất định, vừa là cái có khả năng cấu trúc (structuring), vì nó chi
phối và “tạo hình” các hoạt động đa dạng của cá nhân trong các lãnh vực của đời
sống. Chính do vậy mà Bourdieu gọi habitus là “sản phẩm của cấu trúc,
người sản xuất ra thực tiễn, và người tái sản xuất ra cấu trúc” (L. Wacquant, 2006,
tr. 6-7).
Khái niệm vốn
Bourdieu cho rằng vị trí của mỗi cá nhân trong một
xã hội hay một cộng đồng nào đó phụ thuộc vào mức độ trang bị “vốn” (capital) của
mình. Bourdieu định nghĩa vốn là bất cứ nguồn lực nào mà một cá nhân
có được trong một đấu trường xã hội nhất định nào đó, cho phép người này chiếm
hữu được những lợi ích đặc thù khi tham gia và đua tranh trong đấu trường ấy. Vốn
bao gồm ba loại chính: vốn kinh tế (tài sản vật chất và tài chánh), vốn
văn hóa (hàng hóa biểu tượng quí hiếm, tài năng hay kỹ năng, và chức tước
hay danh hiệu), và vốn xã hội (những nguồn lực có được nhờ là thành
viên của một nhóm nào đó). Loại vốn thứ tư là vốn biểu tượng (symbolic
capital); đây là những hiệu ứng của bất cứ loại vốn nào khi mà người ta không
coi đấy là hiệu ứng (chẳng hạn khi người ta gán những phẩm chất đạo đức cao cả
cho những người thuộc tầng lớp trên do họ “cống hiến” thời gian và tiền bạc vào
việc từ thiện) (L. Wacquant, 2006, tr. 7).
Khái niệm trường
Khái niệm trường hay trường lực (tiếng Pháp: champ,
tiếng Anh: field) được Pierre Bourdieu chế tạo ra vào giữa thập niên 1960
nhằm mục tiêu khảo sát thực nghiệm về lịch sử sinh thành và chuyển hóa của các
thế giới nghệ thuật và văn chương. Sau đó, khái niệm này được Bourdieu và các cộng
sự viên của ông hoàn chỉnh và khai triển trong quá trình nghiên cứu về các lãnh
vực tư tưởng, triết học, khoa học, tôn giáo, hàn lâm, thơ ca, xuất bản, chính
trị, luật pháp, kinh tế, thể thao, hành chánh và báo chí (xem công trình của
Bourdieu mang tên là “Flaubert và trường văn chương Pháp”).
Trong các xã hội phát triển, các lãnh vực đa dạng trong đời sống
như nghệ thuật, khoa học, tôn giáo, kinh tế, luật pháp, chính trị, v.v. luôn luôn
có xu hướng trở thành những tiểu vũ trụ biệt lập nhau, trong đó mỗi tiểu vũ trụ
đều có những quy tắc, luật lệ và hình thái quyền lực riêng biệt - Bourdieu gọi đấy
là các “trường”.
Trước hết, trường là một không gian đã được cấu trúc
hóa một cách rạch ròi, trong đó bao gồm các vị trí nhất định; đó là một “trường
lực” (force field) mà trong đó nó áp đặt những quy định đặc thù của mình lên bất
cứ ai muốn gia nhập. Chẳng hạn, một người muốn trở thành một nhà khoa học thì
không có cách nào khác là buộc phải thủ đắc được một cái “vốn khoa học” tối thiểu
mà giới khoa học yêu cầu, và phải tuân thủ các tập tục và quy định của giới
khoa học thuộc về một thời gian và một không gian nhất định.
Đặc điểm thứ hai: trường là một đấu trường trong đó
các tác nhân và các định chế luôn luôn tìm cách duy trì hoặc lật ngược thế cờ
phân bố vốn (trong lãnh vực khoa học chẳng hạn, biểu hiện thông qua việc xếp hạng
các định chế, các ngành khoa học, các lý thuyết, các phương pháp, các chủ đề, tạp
chí, giải thưởng, v.v.). Nhưng nó cũng có thể trở thành một bãi chiến trường thực
sự nếu hệ thống tôn ti trật tự của nó liên tục rơi vào cảnh giành giựt và tranh
chấp.
Đặc điểm thứ ba: trường thường mang tính chất tự trị
(L. Wacquant, 2006, tr. 7-8).
Mối liên hệ giữa habitus và trường
Nếu habitus tạo hình cho hành động thực tiễn của cá
nhân từ bên trong, thì trường cấu trúc cho hành động và suy nghĩ của
cá nhân từ bên ngoài. Trường bày ra trước mặt cá nhân một loạt quan điểm
và đường đi nước bước mà anh ta/chị ta có thể chọn, mỗi điều đều tương ứng với
cái được, cái mất và những điều có thể xảy ra. Sự chọn lựa của mỗi cá nhân thường
phụ thuộc vào vị trí của mình trong trường có liên quan: những người
chiếm giữ vị trí thống trị thường có xu hướng đi theo những chiến lược bảo thủ
(bảo vệ trật tự phân bố vốn đang tồn tại), còn những người bị đẩy vào
những vị trí lệ thuộc thì thường thiên về những chiến lược làm loạn hoặc lật đổ.
Những người có vị trí ổn định thường muốn bảo tồn trật tự hiện hành, còn những
kẻ mới gia nhập thì lại muốn đảo lộn trật tự ấy.
Hành động thực tiễn (practice) của con người là kết quả của mối
quan hệ giữa habitus với trường. Chính là sự gặp gỡ giữa habitus (thiên
hướng tâm thế) với vị trí (trong một trường nào đó nhất định), cũng như sự tương
hợp (hay sự bất tương hợp) giữa các cấu trúc tinh thần với các cấu trúc xã hội sản
sinh ra hành động thực tiễn của con người cá nhân. Chính vì thế mà
Bourdieu gọi lý thuyết của mình là “cấu trúc luận sinh thành” (genetic
structuralism) (L. Wacquant, 2006, tr. 8).
“Trường” trong lãnh vực văn chương
Trong lãnh vực văn chương, theo Bourdieu, “trường” văn chương
chính là không gian của những khả thể mà nhà văn có thể chọn lựa trong dòng đời
của mình (chẳng hạn, chọn câu vần hay câu thơ tự do, chọn người kể chuyện là người
trong cuộc hay người ngoài cuộc, chọn văn phong gián tiếp hay văn phong trực tiếp,
v.v.). Nhà văn thường được coi là mặc nhiên chấp nhận những luật chơi đang có
hiệu lực trong trường văn chương đương thời. Việc chọn lựa yếu tố thẩm mỹ văn
chương cũng tùy thuộc vào vị trí mà mỗi nhà văn đang chiếm giữ trong trường này.
Những vị trí này được xác định tùy theo khối lượng và thành phần của vốn biểu tượng
cụ thể mà nhà văn đang có, nghĩa là phụ thuộc vào mức độ và loại hình mà nhà văn
được công nhận với tư cách là nhà văn. Sự công nhận về mặt biểu tượng (bởi đồng
nghiệp hay bởi các nhà phê bình) không nhất thiết luôn luôn đi đôi với những sự
thành công về mặt vật chất (số lượng tác phẩm bán được, hay sự tôn phong trên bình
diện định chế), và ngược lại. Như vậy, chúng ta có thể thấy một sự tương đồng cấu
trúc giữa vị trí của nhà văn với sự chọn lựa lập trường của anh ta/ chị ta (G.
Sapiro, 2014, tr. 24).
Chính tình hình phân bố vốn một cách chênh lệch đã định
hình nên cấu trúc các vị trí khác nhau trong trường văn chương. Những nhà văn có
tên tuổi thường giữ vị trí thống trị và do đó có thể áp đặt quan niệm văn chương
của họ lên những người khác; còn những nhà văn ở vào vị trí bị trị thường là những
người mới gia nhập hoặc những nhà văn nằm ở ngoài lề. Tuy nhiên, do tính đặc thù
của trường văn chương nên sự phân ly giữa người “thống trị” với kẻ “bị trị”, giữa
người đã thành danh với kẻ ngoài rìa, hay giữa người cũ với người mới, thường
mang những sắc thái đặc biệt tùy theo những phương thức tích lũy vốn biểu tượng
hết sức đặc thù trong thế giới văn chương. Thí dụ, kể cả sau khi trường phái lãng
mạn đã xác lập được xu thế áp đảo của mình rồi, thì những người theo trào lưu
tiền phong (chẳng hạn phái siêu thực) vẫn có thể tự khẳng định vị trí của mình
bằng cách chối bỏ các quan niệm thống soái của giới văn chương đương thời (G.
Sapiro, 2014, tr. 24-25).
Cấu trúc của trường văn chương còn được định hình bởi sự đối
lập giữa các lực tự trị với các lực ngoại trị. Những người bênh
vực cho nguyên tắc tự trị của phán đoán thẩm mỹ trong thế giới văn chương thường
luôn phải chống lại những sức tác động hoặc áp đặt về mặt đạo đức, chính trị
hay kinh tế đến từ bên ngoài thế giới văn chương. Những sự chống đối này có thể
mang những hình thái khác nhau, tùy theo những cấu hình xã hội-lịch sử cụ thể –
chẳng hạn, quan điểm tự trị có lúc thì được hiện thân trong lập trường nghệ thuật
vị nghệ thuật, nhưng cũng có lúc lại chọn một lập trường dấn thân (G. Sapiro,
2014, tr. 25).
Người ta có thể phân biệt loại cấu hình xã hội trong đó trường
văn chương giữ được tính tự trị tương đối, với loại cấu hình xã hội trong đó trường
văn chương phải gánh chịu sự can thiệp “ngoại trị” mạnh mẽ để hóa giải những
xung đột xảy ra trong nội bộ trường, căn cứ trên những tiêu chuẩn đạo đức, chính
trị và kinh tế mà hoạt động thẩm mỹ văn chương phải lệ thuộc vào đấy (G.
Sapiro, 2014, tr. 25). Trong cuốn Các quy tắc của nghệ thuật (1992),
Bourdieu cũng đã phân tích một tình huống đặc thù trong đó xuất hiện hai cực đối
lập nhau trong trường văn chương: một cực sản xuất hẹp nơi giới nhà văn, và một
cực sản xuất lớn nơi giới xuất bản; một cực thì đề cao sự phán đoán thẩm mỹ giữa
giới nhà văn đồng môn với nhau, còn cực kia thì lại coi trọng những tiêu chuẩn
kinh tế của sự thành công (chẳng hạn doanh thu bán sách) (G. Sapiro, 2014, tr.
25).
Trên đây là một số điểm liên quan đến khả năng vận dụng lý
thuyết “trường” của Bourdieu vào việc phân tích nhà văn và thế giới văn chương.
Tuy nhiên, lý thuyết “trường” này cũng từng được chính Bourdieu áp dụng vào việc
phân tích bản thân một tác phẩm văn chương. Trong phần đầu của cuốn Các
quy tắc của nghệ thuật, Bourdieu đã phân tích các nhân vật trong tác phẩm Giáo dục
tình cảm (1869) của nhà văn Gustave Flaubert theo quan điểm lý thuyết ấy.
Bourdieu viết như sau: “Như vậy, khi Flaubert xây dựng hai cực của trường quyền
lực xét như một môi trường thực thụ hiểu theo nghĩa của Newton, trong
đó các lực xã hội, gồm các lực hút và lực đẩy, diễn ra dưới dạng các động cơ tâm
lý như tình yêu hoặc tham vọng, Flaubert đã thiết lập các điều kiện cho một thứ
thí nghiệm xã hội học: năm chàng thanh niên, trong đó có nhân vật chính Frédéric,
tạm thời tập hợp thành một nhóm bởi họ đều là sinh viên, sẽ được phóng vào
không gian ấy, giống như những hạt được phóng vào trong một trường lực [tiếng
Pháp: champ de forces; tiếng Anh: force-field], và các quỹ đạo của những
hạt này sẽ được quy định bởi mối quan hệ giữa các lực đang hiện diện trong trường
và bởi chính lực quán tính [hay sức ỳ - inertia] của mỗi hạt. Lực quán tính
này, một mặt, nằm trong những thiên hướng [hay tâm thế - dispositions] bắt
nguồn từ nguồn gốc [xã hội] và quỹ đạo của mỗi hạt [tức của mỗi người sinh viên]
- những thiên hướng [hay tâm thế] này có xu hướng tồn tại dai dẳng và đi theo một
quỹ đạo có nhiều khả năng xảy ra. Và mặt khác, lực quán tính này nằm trong những
loại vốn mà họ [tức các sinh viên này] thừa hưởng - những loại vốn này góp phần
xác định những khả thể và những bất khả thể mà trường ấn định cho họ” [17]. Về những điều “khả thể” và “bất khả
thể” này, Bourdieu ghi chú thêm như sau: “Trong thực tế, tương lai xuất hiện như
một mớ quỹ đạo có thể xảy ra dưới những dạng không đồng đều, giữa một giới hạn
cao - chẳng hạn, đối với Frédéric, đó là chuyện trở thành bộ trưởng và người yêu
của bà Dambreuse -, và một giới hạn thấp -chẳng hạn, cũng trong trường hợp Frédéric,
đó là chuyện trở thành một nhân viên thư ký cho một văn phòng luật sư và cưới cô
Roque” [18]
(Về quan niệm xã hội học văn chương của Pierre Bourdieu, xem
thêm Nguyễn Phương Ngọc, “Xã hội học văn học của Pierre Bourdieu”, trong Lộc Phương
Thủy et al., 2014, tr. 108-134.)
Jacques Dubois (1933-)
Dựa trên ý niệm định chế từng được đề cập bởi một số tác giả
mác-xít, Jacques Dubois (giáo sư văn chương Pháp tại đại học Liège, Bỉ) đã định
nghĩa khái niệm “định chế văn chương” (institution littéraire) là một tập hợp các
sự kiện xã hội cấu thành hoạt động văn chương, một “tập hợp các chuẩn mực vốn được
áp dụng vào một lãnh vực hoạt động cụ thể và xác định một tính chính đáng thông
qua một bản hiến chương hay một bản điều lệ” [19]. Theo Dubois, bằng cách khảo sát những
dấu ấn xã hội trong các văn bản, mục tiêu của việc nghiên cứu xã hội học văn chương
là khám phá ra chiều kích ý thức hệ của các tác phẩm và những quan niệm về thế
giới xã hội mà các tác phẩm này chuyển tải. Ông coi văn chương là một thứ “diễn
ngôn xã hội” (discours social) mà nhà nghiên cứu cần phân tích.
Định chế văn chương theo Dubois bao gồm hai lãnh vực sản xuất
(hẹp và rộng), các chức năng xã hội của văn chương, các tổ chức sản xuất và các
tổ chức chính đáng hóa, vị thế xã hội của nhà văn, các điều kiện của việc đọc các
tác phẩm văn chương, vị thế của văn bản cũng như của văn chương.
7. Lý thuyết hệ thống đa hợp (polysystème)
Theo Itamar Even-Zohar (giáo sư về văn chương đối chiếu tại đại
học Tel-Aviv, Israel), [20] hệ thống văn chương bao gồm các hoạt
động văn chương và mạng lưới các mối quan hệ trong các hoạt động này. Ông đã dựa
trên sơ đồ truyền thông của Roman Jakobson [21] để thiết lập sơ đồ hệ thống văn chương
(xem Hình 1).
Hình 1. Hệ thống văn chương (theo Even-Zohar)
Định
chế [bối cảnh]
Kho
thể tài [quy tắc]
Người sản xuất ______________________ Người
tiêu thụ
(“nhà
văn”)
(“độc giả”)
Thị
trường [phân phối]
Sản
phẩm [thông điệp]
Nguồn: Even-Zohar, “Polysystem Studies”, Poetics
Today, vol. 11, no. 1, 1990, tr. 31 (trích lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 28).
Even-Zohar (1939-)
Hệ thống văn chương chính là những mối quan hệ giữa những người
sản xuất (nhà văn) với những người tiêu thụ (độc giả), thông qua hai loại định
chế trung giới:
(a) Trước hết, đó là các nhà xuất bản, các tạp chí, các nhà phê
bình, các nhóm nhà văn, các tổ chức nhà nước, hệ thống nhà trường, các phương
tiện truyền thông đại chúng, v.v., cũng như kho thể tài (répertoire);
(b) Kế đến,
đó là “thị trường”, bao gồm không chỉ những nơi phát hành và phân phối như các
tiệm sách, các thư viện, mà kể cả những tác nhân và những hoạt động nằm trong
khâu lưu hành “sản phẩm”.
“Kho thể tài” [22] (répertoire) là một khái niệm
do Even-Zohar đề xuất để chỉ tổng thể những luật lệ, quy tắc và những kiểu mẫu
(chủ đề, thể loại, phong cách, thủ pháp ngôn ngữ) vốn chi phối việc sáng tạo ra
các văn bản văn chương. Trong kho thể tài này, ông phân biệt giữa những yếu tố “có
sẵn trong tầm tay” (disponibles) mà các nhà văn thường sử dụng, với những yếu tố
“có thể vận dụng” (accessibles) - đây là những yếu tố ít được hoặc không được vận
dụng trong một thời đại nào đó, mặc dù chúng vẫn nằm trong cái “kho” chung. Ông
cũng phân biệt giữa loại kho thể tài thủ cựu (thường e ngại áp dụng
những yếu tố mới) với loại kho thể tài mang tính cách tân (sẵn sàng
tiếp nhận những kiểu mẫu mới đến từ bên ngoài) (G. Sapiro, 2014, tr. 28).
Trong thời trung cổ và thời Phục hưng, thế giới văn chương của
châu Âu chính là một thứ hệ thống đa hợp (polysystème), trong đó trung tâm là
những văn bản viết bằng tiếng La-tinh, và ngoại vi là những văn bản viết bằng các
thứ tiếng địa phương. Nhưng đa hệ thống này dần dà bị tan rã bởi quá trình hình
thành các quốc gia. Tuy vậy, về sau, mối quan hệ giữa các nền văn chương của các
quốc gia Âu châu cũng tiếp tục chịu sự chi phối của trật tự tôn ti giữa trung tâm
với ngoại vi: chẳng hạn, ở châu Âu lúc đầu, văn chương Pháp chiếm vị trí trung
tâm, và sau đó là văn chương Đức (G. Sapiro, 2014, tr. 29).
Even-Zohar cũng là người khởi xướng trào lưu nghiên cứu về các
tác phẩm dịch thuật (translation studies): theo ông, dịch thuật chính là một
nhân tố quan trọng trong quá trình kết tinh của các nền văn hóa quốc gia - đây
là một hiện tượng mà trước đây người ta hầu như không chú ý [23]. Một trong những đóng góp chính của
lý thuyết đa hệ thống là chuyển mối quan tâm từ nền văn hóa nguồn (gốc) sang nền
văn hóa tiếp nhận (đích) bằng cách truy tìm những cơ chế chọn lọc các tác phẩm
cũng như những chuẩn mực dịch thuật (G. Sapiro, 2014, tr. 29).
Trong nền văn học sử Việt Nam, Dương Quảng Hàm nhận xét rằng “[ở]
nước ta ngày xưa, triết học và lịch sử chỉ viết bằng Hán văn (trừ quyển Đại Nam
quốc sử diễn ca là viết bằng văn nôm)”, còn ba thể loại thơ ca, kịch và tiểu
thuyết thì mới có Hán văn và Việt văn (Dương Quảng Hàm, 1968, tr. 458). Về ba
thể loại này, “tuy trong lúc ban đầu (thế kỷ thứ XIV và XV), các tác phẩm còn
chịu ảnh hưởng của Hán văn một cách quá nặng nề nhưng dần dần về sau đã thoát
ly được cái ảnh hưởng ấy mà tự gây lấy tính cách biệt lập” (như trên, tr. 460).
Liên quan đến “kho thể tài” trong lịch sử văn chương Việt Nam, chúng ta có thể
tham khảo chẳng hạn nhận xét sau đây cũng của Dương Quảng Hàm: “Xưa kia, văn nôm
tuy vẫn có, nhưng chỉ là phần phụ đối với văn chữ nho là phần chính” (như trên,
tr. 411); tuy nhiên, khi chuyển sang nền “quốc văn mới, các thể biền văn (phú,
tứ lục, kinh nghĩa, văn sách) hầu như không dùng đến nữa, các thể văn vần (thơ
cổ phong, thơ Đường luật, lục bát, song thất, hát nói, ca khúc) vẫn có một số ít
người viết, nhưng, ngoài lối cũ, lại xuất hiện lối thơ mới (…); duy có các thể
văn xuôi là thịnh hành nhất” (như trên, tr. 420).
Ba hướng tiếp cận lý thuyết vừa nêu trên, với ba khái niệm “trường”,
định chế văn chương và hệ thống đa hợp, chính là những quan điểm lý thuyết chủ
trương đặt các tác phẩm văn chương vào trong bối cảnh xã hội của quá trình sáng
tác - nhằm chống lại quan điểm bản chất luận (essentialist) trong việc phân tích
xã hội học về tác phẩm văn chương. Tuy nhiên, ba hướng tiếp cận này hoàn toàn
không hề coi các tác phẩm văn chương như chịu sự chi phối quyết định của các hoàn
cảnh xã hội ngoại tại, mà ngược lại, cả ba đều nhấn mạnh và coi trọng tính đặc
thù của hoạt động văn chương, bằng cách đặt hoạt động này trong một hệ thống
quan hệ tương đối tự trị (không gian của những khả thể, định chế, kho thể tài…)
và được cấu trúc theo những nguyên tắc tôn ti thứ bậc riêng của lãnh vực văn chương.
Ngoài ra, những lối tiếp cận cấu trúc, định chế và hệ thống ấy
còn cho phép chúng ta có thể so sánh giữa các nền văn hóa với nhau hoặc giữa các
thời kỳ với nhau, bằng cách nhận diện ra những sự khác biệt có ý nghĩa xét về
những khía cạnh như hoàn cảnh sáng tác, không gian của những khả thể hay các
kho thể tài, những nguyên tắc phân định tôn ti thứ bậc (trong trường văn chương),
hoặc các quỹ đạo xã hội (tức tiểu sử) của các tác giả (G. Sapiro, 2014, tr.
29).
Tài liệu tham khảo:
1. Ansart, Pierre (1999), “Sociologie de la littérature”, in
André Akoun et Pierre Ansart (Dir.), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le
Robert, Seuil, p. 309-310.
2. Bằng Giang (1992), Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930, TP.HCM,
Nxb Trẻ.
3. Bourdieu, Pierre (1995), The Rules of Art. Genesis and
Structure of the Literary Field (1992), translated by Susan Emanuel,
Stanford, California, Stanford University Press.
4. Bùi Quang Thắng (1998), Xã hội học nghệ thuật, Hà Nội,
Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa - Thông tin.
6. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu (1941),
Sài Gòn, Bộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu xuất bản, in lần thứ mười.
7. Gros, Edmond (1989), “Sociologie de la littérature”, in Marc
Angenot, Jean Bessière, Douwe Fokkema, Eva Kushner (Dir.), Théorie
littéraire. Problèmes et perspectives, Paris, P.U.F., pp. 127-149.
8. Hà Minh Đức (chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm
Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lý Hoài Thu
(2001), Lý luận văn học, tái bản lần thứ bẩy, Hà Nội, Nxb Giáo dục.
9. Hall, John (1979), The Sociology of Literature, London
and New York, Longman.
10. Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội,
Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học.
11. Huỳnh Như Phương (2014), Lý luận văn học (Nhập môn), tái
bản lần thứ nhất, TP.HCM, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM.
12. Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc và Phùng Ngọc Kiên
(2014), Xã hội học văn học, Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
13. Sapiro, Gisèle (2014), La sociologie de la littérature,
Paris, La Découverte, Coll. Repères.
14. Trần Hữu Quang (2015), Xã hội học báo chí, tái bản lần
thứ nhất, có bổ sung và cập nhật, TP.HCM, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM.
15. Wacquant, Loïc (2006), “Pierre Bourdieu”, in Rob Stones
(Ed.), Key Contemporary Thinkers, London and New York, Macmillan, new
edition, Chapter 16.
Chú thích:
[1] Cũng có một số tác giả phân biệt
giữa xã hội học văn chương với lối tiếp cận phê bình xã hội trong văn học, chẳng
hạn như Edmond Gros: “Có lẽ thoạt nhìn thì xã hội học văn chương [sociologie de
la littérature] và sự phê bình xã hội [sociocritique] có thể gây ra cảm giác là
cả hai đôi khi cùng quan tâm tới những đối tượng y hệt nhau, nhưng nếu không kể
đến những sự chồng lấn bề ngoài ấy thì hiển nhiên là chúng có những mối bận tâm
đối lập nhau một cách căn bản”. Trong lúc lối tiếp cận xã hội học quan tâm tới
những cái nằm ngoài văn bản hoặc có trước văn bản, thì lối tiếp cận phê bình xã
hội tuy không phải không quan tâm tới những điều đó nhưng chú ý đi vào phân tích
nội dung văn bản nhiều hơn (Edmond Gros, 1989, tr. 149).
[2] Nguyên văn câu này như sau: “[Literature]
is a document of how human beings feel and its singleness of vision is capable
of moving human feelings in a uniquely powerful way” (J. Hall, 1979, tr. 35).
[3] John Hall quan niệm rằng khi phân
tích về lãnh vực văn chương, chúng ta nên sử dụng khái niệm “vật sở chỉ xã hội”
(social referent), chứ không nên sử dụng khái niệm “vật phản ánh xã hội” (social reflector)
vì khái niệm “vật phản ánh xã hội” bao hàm quan điểm coi nhà văn như một tác nhân
thụ động trước sức tác động của các yếu tố ngoại giới (thiên theo sơ đồ kích thích/ phản
ứng). Còn khái niệm “vật sở chỉ xã hội” thì nhìn nhà văn như một tác nhân tích
cực, luôn luôn nỗ lực tìm hiểu xã hội thông qua sự sáng tạo của mình, chứ không
chỉ máy móc “phản ánh” lại thực tại ngoại giới (J. Hall, 1979, tr. 32). Chúng tôi
dịch thuật ngữ referent là “vật sở chỉ” dựa theo Cao Xuân Hạo (1998,
tr. 713). “Vật sở chỉ xã hội” là một đối vật xã hội mà một từ ngữ hoặc một tác
phẩm muốn nói về, muốn chỉ định.
[4] De la littérature considérée
dans ses rapports avec les institutions sociales (1800) của Germaine
de Staël.
[7] Đây là một bài thuyết trình của
Gustave Lanson vào năm 1904 mang tên là “Histoire littéraire et sociologie” trình
bày tại trường École des hautes études sociales ở Paris theo lời mời của Émile
Durkheim.
[9] Nguyên văn câu này: le
livre “se propose comme une fin à la liberté du lecteur” (Jean-Paul
Sartre, Qu’est-ce que la littérature?, Nxb Gallimard, 1975, tr. 54, dẫn lại
theo G. Sapiro, 2014, tr. 19).
[10] Nguyên văn: “pacte de
générosité entre l’auteur et le lecteur” (Jean-Paul Sartre, sách đã dẫn, tr.
62, dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 19).
[11] Nhà văn học sử Bằng Giang cũng
từng cho rằng việc “đọc một tác phẩm văn chương để thưởng thức là một hành vi tự
nguyện” (Bằng Giang, 1992, tr. 418). Do “mỗi người có một thương số trí năng, tính
nhạy cảm không đồng đều”, và “[x]ã hội cho dù đạt đến chỗ toàn thiện toàn mỹ cũng
vẫn là một xã hội đa dạng chớ không đơn điệu” (như trên, tr. 420), nên đối với “một
tác phẩm văn chương, không phải tất cả mọi người đều hiểu như nhau mà có mức độ
nhiều hay ít là tùy từng người. Ở đây không thể có chủ nghĩa bình quân được từ
hai phía: người viết và người đọc. Rồi từng người trong những thời điểm khác
nhau lại hiểu tác phẩm văn chương thêm một bậc nữa, hoặc thẩm định lại, hoặc phát
hiện thêm cái hay, cái đẹp của nó về nội dung nghệ thuật” (như trên, tr. 419).
[12] Xem chẳng hạn nhận định sau đây:
“Mỗi thời đại lịch sử có một nền nghệ thuật tương ứng. ‘Xã hội thế nào văn nghệ
thế ấy’” (Hà Minh Đức chủ biên, 2001, tr. 7). “Mối quan hệ của nghệ thuật với
thực tiễn đời sống bộc lộ trước hết ở sự tác động của cơ sở kinh tế xã hội. Nhưng
với tư cách là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, nghệ thuật không
tồn tại một cách cô lập, thụ động mà tồn tại, phát triển trong mối liên hệ qua
lại với các hình thái ý thức khác và những phạm vi hoạt động khác trong đời sống
thực tiễn” (như trên, tr. 8-9). “Trong bối cảnh của thế giới hiện đại, khi những
mối quan hệ giai cấp không còn đơn giản như xưa, (…) mối tương quan mang tính
quyết định luận của đời sống xã hội với nghệ thuật cũng biểu lộ một cách đa dạng,
phức tạp hơn” (như trên, tr. 10).
[13] Khuynh hướng jansénisme là
một khuynh hướng tư tưởng ở Pháp xuất phát từ Jansenius (một vị giám mục Công
giáo, 1585-1638), chủ trương chống lại sự chuyên quyền của vương triều và sự bảo
thủ của giáo hội. Vào thế kỷ 16 và 17, giới quí tộc thường được phân ra làm hai
loại: (a) giới quí tộc khoa bảng (noblesse de robe), thường tốt nghiệp từ môi
trường đại học và đảm nhiệm những nhiệm vụ tư pháp và tài chánh trong triều đình
- vì họ thường mặc áo thụng nên được gọi là giới noblesse de robe; và (b)
giới quí tộc chiến binh (noblesse d’épée) bao gồm những nhà quí tộc đảm nhiệm
những nhiệm vụ quân sự.
[14] Richard Hoggart, Văn
hóa của người nghèo. Khảo sát lối sống của các giai
cấp bình dân ở Anh (1957), bản dịch tiếng Pháp của Nxb
Minuit, 1970, tr. 296 (dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 21).
[15] Raymond Williams, “On High and
Popular Culture” [Về nền văn hóa cao cấp và nền văn hóa bình dân], New
Republic, vol. 171, no. 21, tr. 15 (dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 21).
[16] Raymond Williams, Culture
and Society (1958), và Marxism and Literature (1977)
(dẫn lại theo G. Sapiro, 2014, tr. 21).
[17] Nguyên văn tiếng Pháp: «En
mettant ainsi en place les deux pôles du champ du pouvoir, véritable milieu au
sens newtonien, où s’exercent des forces sociales, attractions ou répulsions,
qui trouvent leur manifestation phénoménale sous la forme de motivations
psychologiques telles que l’amour ou l’ambition, Flaubert instaure les
conditions d’une sorte d’expérimentation sociologique: cinq
adolescents - dont le héros, Frédéric -, provisoirement
rassemblés par leur position commune d’étudiants, seront lancés dans cet
espace, telles des particules dans un champ de forces, et leurs trajectoires
seront déterminées par la relation entre les forces du champ et leur inertie
propre…» (Pierre Bourdieu, Les règles de l’art, 1992, tr. 28). Bản dịch
tiếng Anh: “In thus laying out the two poles of the field of power, a
true milieu in the Newtonian sense, where social forces, attractions
or repulsions, are exercised, and find their phenomenal manifestation in the
form of psychological motivations such as love or ambition, Flaubert institutes
the conditions of a kind of sociological experimentation: five
adolescents - including the hero, Frederic - provisionally
assembled by their situation as students, will be launched into this space,
like particles into a force-field, and their trajectories will be determined by
the relation between the forces of the field and their own inertia. This
inertia is inscribed on the one hand in the dispositions they owe to their
origins and to their trajectories, and which imply a tendency to persevere in a
manner of being, and thus a probable trajectory, and on the other in the
capital they have inherited, and which contributes to defining the
possibilities and the impossibilities which the field assigns them” (Pierre
Bourdieu, The Rules of Art. Genesis and Structure of the Literary
Field, translated by Susan Emanuel, Stanford, California, Stanford University
Press, 1995, tr. 9-10).
[18] Nguyên văn tiếng Anh: “The
future presents itself in fact as a bundle of unequally probable trajectories
situated between an upper limit - for example, for Frederic, minister
and lover of Mme Dambreuse - and a lower limit - for
example, for the same Frederic, clerk to a provincial solicitor, married to
Mlle Roque” (Pierre Bourdieu, The Rules of Art, sách đã dẫn, tr. 10).
[19] Jacques Dubois, L’institution
littéraire (1978), Bruxelles, Labor, 2005, tr. 31 (dẫn lại theo G. Sapiro,
2014, tr. 26).
[20] Itamar Even-Zohar, “Polysystem
Studies”, Poetics Today, vol. 11, no. 1, 1990 (dẫn lại theo G. Sapiro,
2014, tr. 27).
[22] “Thể tài” được định nghĩa là “hình
thức, thể loại của tác phẩm nghệ thuật được xác định bằng
đề tài hoặc bằng những đặc trưng khác về chủ đề, phong cách. Thí
dụ: thể tài ký sự” (Hoàng Phê, 2000, tr. 933).
[23] Về các tác phẩm dịch thuật
trong văn học sử Việt Nam, xem chẳng hạn hai bài viết của Bằng Giang: “Trương
Minh Ký (1855-1900). Người đi tiên phong trong văn học dịch Hán Việt”, và bài “Không
có vùng trắng nửa thế kỷ văn học Pháp ở Việt Nam (1867-1913)” (xem Bằng
Giang, Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930, TP.HCM, Nxb Trẻ, 1992,
tr. 85-87, và tr. 88-93). Xem thêm Vũ Bạch Ngô, “Việc dịch thuật xuất hiện từ
bao giờ trong văn học nước nhà?”, Kiến thức Ngày nay, số 56, ngày
15-3-1991 (dẫn lại theo Bằng Giang, 1992, tr. 85).
27/1/2019
Trần Hữu Quang
Trần Hữu Quang


























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét