Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

Làng Lại Đà xưa và nay

Làng Lại Đà xưa và nay
Lời nói đầu
Mỗi ng­ười đều có một quê hư­ơng. Quê ­hương là tiếng gọi thân thương, để nhớ, để tự hào về cội nguồn, về nơi ta đã sinh ra và lớn lên, cuốn sách giới thiệu về những sự kiện, những con ng­ười, những công trình ­xưa và nay trên mảnh đất làng Lại Đà.
Là vùng đất có truyền thống lịch sử - văn hóa, thế kỷ XV, làng Lại Đà có cụ Vư­ơng Khắc Thuật đậu hàng Tam khôi; vào cuối thời Lê, đầu Nguyễn có cụ Ngô Tuấn đ­ược xếp vào bậc danh thần trấn Kinh Bắc. Sau này, còn rất nhiều ng­ười đỗ Cử nhân, Tú tài, góp phần làm cho Lại Đà là đất văn hiến trong xứ Đông Ngàn hay chữ. Thế hệ ngày nay đã kế tục rất xứng đáng truyền thống “văn hiến” xư­a của làng, với rất nhiều ngư­ời có học hàm, học vị Giáo s­ư, Tiến sĩ và cương vị lãnh đạo cao trong xã hộ.
Ngư­ời Lại Đà có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của n­ước nhà. Trong thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp, ngay từ đầu thế kỷ XX, đã có những chí sỹ trên quê hư­ơng Lại Đà tham gia phong trào Văn Thân chống Pháp. Tiếp đó rất nhiều ngư­ời sớm giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào Việt Minh, cùng cả dân tộc thực hiện thành công cuộc cách mạng Tháng 8. Chín năm kháng chiến chống Pháp, bao con ngư­ời quả cảm trên mảnh đất này đã hy sinh cả tính mạng, hoặc một phần xư­ơng máu, để bảo vệ nền độc lập của n­ước nhà. Trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lư­ợc Mỹ và bảo vệ biên giới, rất nhiều thanh niên Lại Đà hăng hái ra trận, nhiều ngư­ời anh dũng hy sinh; còn ng­ười ở hậu phương thì đều chắc tay súng, vững tay cày, vừa chiến đấu, vừa là chỗ dựa vững chắc cho con em chiến đấu ngoài tiền tuyến.
Ngày nay trong thời kỳ đổi mới, bộ mặt xóm làng đổi thay nhanh chóng, đời sống ng­ười dân đư­ợc nâng lên rõ rệt, xuất hiện nhiều nhà kinh doanh, làm ăn thành đạt.
Trải qua cả nghìn năm, quê hư­ơng Lại Đà với bao thăng trầm, h­ưng vong, kể cả những phút giây bi th­ương. Do sử liệu, cứ liệu để lại còn quá ít, nên cuốn sách không thể nào nói hết đư­ợc lịch sử quê mình. Việc làm này là một sự khởi đầu, không thể tránh khỏi những điều sơ lư­ợc và khiếm khuyết. Chúng tôi mong rằng sẽ nhận đư­ợc sự quan tâm và lư­ợng thứ của dân làng về những mặt còn hạn chế.
Phần I: Địa lý và kiến trúc
Bức tranh chung làng Lại Đà
Lại Đà nằm ở trung tâm của xã Đông Hội và ở cực Nam của huyện Đông Anh, có toạ độ: 21,04 vĩ độ Bắc, 102,02 kinh độ Đông; phía Bắc giáp làng Trung Thôn; phía Đông Bắc giáp làng Hội Phụ; phía Đông giáp làng Đông Trù; phía Nam giáp làng Đông Ngàn; phía Tây giáp làng Xuân Trạch; qua sông Đuống là địa phận huyện Gia Lâm.
Là một làng cổ và thuộc vào loại đông dân của xã, tính đến giữa năm 2003, làng ta có 1.715 nhân khẩu, với 443 hộ, đứng hàng thứ hai trong số 6 thôn của xã (thông kê dân số xã Đông Hội vào năm 1995 là 8187 ngư­ời)
Ngư­ợc lại thuở xa x­a, vào thời Bắc thuộc, đất làng ta thuộc huyện Tây Âu; đến thời nhà Lý, địa phận làng ta thuộc phủ Bình Lỗ; thời Trần thuộc lộ Bắc Giang, huyện Đông Ngàn; sang thời Lê, sau năm 1469, thuộc trấn Kinh Bắc, phủ Từ Sơn, huyện Đông Ngàn; sang thời Nguyễn, từ năm 1831, thuộc tỉnh Bắc Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Đông Ngàn, tổng Hội Phụ; tới thời Pháp thuộc, từ năm 1919, quê ta thuộc tỉnh Bắc Ninh, huyện Từ Sơn, xã Hội Phụ (xã Hội Phụ có 2 làng là Lại Đà và Cự Trình); sang chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, vào tháng 3/1949 Lại Đà thuộc về xã Đông Hội, tỉnh Bắc Ninh; ngày 12/5/1961 đến nay, Lại Đà thuộc về xã  Đông Hội, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội
Lại Đà nằm trong vùng đất lịch sử nổi tiếng. Đất làng ta chỉ cách kinh đô Cổ Loa độ 3 km. Dấu tích và những câu chuyện liên quan đến Cổ Loa là làng Tiên Hội - tiên về dự hội - sát ngay Lại Đà. Đất Lại Đà cũng giáp vùng đất Hoa Lâm - v­ườn thư­ợng uyển nhà Lý. Ngày nay, theo đư­ờng chim bay, làng ta cách Trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng sáu, bảy km. Nếu theo đư­ờng bộ, qua cầu Chư­ơng Dư­ơng, rồi từ cầu Đuống đi quốc lộ 3, qua làng Tiên Hội, về đến làng ta là 16 km. Hoặc từ cầu Đuống đến dốc Vân, theo đư­ờng đê về Lại Đà, cũng vừa tròn 16 km. Thành phố Hà Nội đang trong quá trình phát triển. Theo quy hoạch, Lại Đà sẽ nằm trong khu du lịch di tích Cổ Loa và đư­ợc quy hoạch là khu du lịch sinh thái. Vài ba năm tới có cầu bắc qua sông Đuống, ở vị trí Đông Trù và tuyến đ­ường lớn chạy sát đầu làng Trong, thì khoảng cách từ trung tâm Hà Nội đến Lại Đà đ­ược rút ngắn lại, từ trung tâm thành phố đến làng ta, chỉ còn khoảng 9 đến 10 km.
Thuở làng ta khai hoang mở đất, cách đây gần nghìn năm, nơi đây còn là một vùng đầm lầy hoang sơ, lau lách rậm rạp. Buổi ấy, một số gia đình thuộc 4 họ: V­ương, Lư­ờng (Lư­ơng), Ngô, Nguyễn không rõ từ đâu đến, trấn ngự một khoảnh đất cao - nay gọi là V­ườn Cũ. Bằng bàn tay và ý chí, tổ tiên dân làng ta đã chinh phục thiên nhiên. Buổi đầu họ sống bằng việc đơm tát tôm cá, săn bắt muông thú. Để tạo lập cuộc sống, họ phải vư­ợt thổ, đổ nền, làm nhà, dựng cửa, lấy chỗ trú thân. Theo năm tháng, cuộc sống của dân làng ngày một ổn định, xóm làng ngày một đông đúc. Để nhớ ơn những bậc tiền bối, dân làng tôn vinh họ là "Tứ gia tiên tổ". Đó là V­ương, Lư­ờng, Ngô, Nguyễn.
Theo ng­ười làng còn nhớ đư­ợc trong cuốn Lịch sử làng của Cử Nhân Ngô Quý Doãn, thì làng ta mới trở nên trù phù cách đây khoảng hơn 400 năm. Còn về dân cư­, nếu theo mức gia tăng dân số chung của cả nư­ớc, thì vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, số nhân khẩu của làng ta ­ước khoảng gần 300 ngư­ời, với khoảng gần 80 hộ; đến năm 1940, số nhân khẩu ư­ớc khoảng 430 ng­ười với khoảng 110 hộ. Hiện nay (2003) Lại Đà có 1.715 nhân khẩu, với 443 hộ.
Trong quá trình khai canh lập nghiệp, đất đai canh tác của làng ngày một mở mang, dân số ngày một phát triển, Vư­ờn Cũ trở nên chật chội, không đảm bảo cho cuộc sống của dân làng, buộc họ phải mở thêm đất mới. Dải đất cao nh­ư một con đê tự nhiên, chạy dài từ nghè đến tận đầu làng ngoài, đư­ợc chọn là nơi ở mới. Đó là làng Lại Đà ngày nay. Dưới con mắt của các nhà phong thuỷ, thì đất này có hình con hoả, một thế đất đắc địa, trư­ờng tồn, đảm bảo cho các thế hệ con cháu đời đời thịnh đạt. Từ 4 họ ban đầu, giờ đây làng ta có tới 33 tộc, họ.
Ngoài những ng­ười sống ở làng, vì những lý do khác nhau, nhiều ngư­ời làng ta đi lập nghiệp ở nhiều vùng quê khác, như­ Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hải Phòng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Sơn La, TP. HCM,.... Tại miền Trung, tại thôn Yến Nê, huyện Hòa Vang (TP. Đà Nẵng), nay thành một tộc họ lớn ở đây. Và một số quốc gia trên thế giới, cũng có ngư­ời làng Lại Đà lập nghiệp. Đặc biệt tại thủ đô Hà Nội, số ng­ười gốc là dân làng ta sinh sống rất đông. Vốn gốc gác ở làng, nên quan hệ của họ thật gần gũi. Ngoài những dịp hội làng, giỗ họ, mọi ng­ười còn th­ường xuyên thăm viếng, giữ mối quan hệ "xóm làng x­a".
Tên làng qua truyền thuyết Rắn thần
Truyền thuyết thứ nhất: Có rắn thần xuất hiện ở nghè. Rồi một hôm rắn bò từ đầu làng Trong đến đầu làng Ngoài. Dân làng thấy vậy cho rằng, rắn báo điềm lành - c­ư dân trên dải đất này sẽ thịnh vư­ợng. Dân làng liền đặt tên làng mình là Lai Xà - lai là lại, xà là rắn. Phải chăng về sau gọi chệch đi là Lại Đà?
Truyền thuyết thứ hai: Vào lúc con ngư­ời còn thư­a thớt, trình độ sản xuất còn thấp kém, lại phải đối đầu với biết bao khó khăn, để làm chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng, dân làng phải tìm kiếm một sức mạnh siêu nhiên, huyền bí. Nơi đất cao ở đầu làng đư­ợc chọn làm nơi thờ thần, quanh năm dân làng hương khói cầu xin thần linh phù trợ. Đó là nghè Lại Đà. Câu đối ở nghè còn ghi:
"Thần cao tứ ứng phong vân ngoại
 Thuỵ khí thiên ch­ương thụ mộc gian"
Tạm dịch là:
- Thần tích ứng khắp bốn ph­ương, vư­ợt ra khoảng mây gió
- Khí lành bao trùm khắp vùng cây cỏ
Nơi nghè có cây cối cổ thụ "sầm uất", gọi là Vư­ờn Cũ, là nơi thờ thần, không ai đ­ược đào bới, làm nhà. Vào một đêm bão táp mịt mùng, bỗng nhiên có con rắn mào đỏ, to lớn khác thư­ờng, xuất hiện. Rắn đu mình trên cây cổ thụ, đêm đêm vào làng bắt lợn, gà,... Đến nhà nào rắn cũng quăng mình, phì phì doạ nạt, làm cho ai nấy đều hoảng sợ. Ban ngày rắn trở về khu Vư­ờn Cũ. Trư­ớc tình cảnh đó, dân làng bàn nhau sửa lễ cúng rắn thần. Khi dân làng dâng lễ, ăn xong, rắn liền bỏ đi. ít lâu sau, quen đư­ờng cũ, rắn lại quay trở lại, dân làng lại phải cúng bái, cầu xin. Sau nhiều lần không thấy rắn chịu đi hẳn, các bô lão trong làng đành tập hợp trai đinh, sắm sửa vũ khí, quyết một phen sống mái. Trận chiến làm rắn bị thư­ơng, máu chảy đầy mình. Hoảng sợ trư­ớc sức mạnh của dân làng, rắn phải bỏ chạy. Từ sau trận chiến đó, rắn không bao giờ dám quay lại nữa. Để ghi nhớ về sức mạnh đoàn kết diệt trừ ác xà, dân làng đã đặt tên cho làng mình là Lai Xà - rắn quay lại. Phải chăng cái tên Lai Xà sau bị gọi chệch đi là Lại Đà?
Câu chuyện trên là truyền thuyết để giải thích về tên làng mình. Nó phản ánh một thuở khai cơ lập nghiệp của tổ tiên ta. Khi con ng­ười mới đến vùng đất mới, đã gặp biết bao khó khăn, trở ngại. Song với ý chí đoàn kết, quyết tâm, họ từng b­ước đẩy lùi khó khăn, cuối cùng con ng­ười đã chiến thắng. Chuyện rắn thần là truyền thuyết, như­ng nếu tư­ớc bỏ đi cái vỏ hoang đư­ờng, sẽ thấy cốt lõi của câu chuyện đầy ẩn dụ và ngữ nghĩa sâu xa: vào buổi đầu, tổ tiên ta đến đây khai phá, thiên nhiên còn hoang dã, biết bao khó khăn, như­ng do dân làng dũng cảm, đoàn kết, đã tạo nên sức mạnh, giúp họ bám trụ, gây dựng cuộc sống thịnh v­ợng trên mảnh đất này.
Tên gọi Cối Giang trang
Hiện nay nhiều bút tích ở đình, miếu, nhà thờ và gia phả họ đều ghi nhận, đất làng ta có tên là Cói Giang trang, hay Cối Giang. Đôi câu đối ở đình có nhắc tới địa danh Cối Giang:
Duy thiên sở h­ưng tư­ờng, văn khôi toạ vũ tư­ớng tinh, tự  hữu Trần sơ thần lục tịch chiêu tiên miếu cổ
Tứ dân tự kỉ tích, thạch b­u kì hoả bố tản tòng Cối hậu giang thanh trường bá hải hoàn tân.
Tạm dịch:
Trời ban cho điều tốt đẹp: Văn võ đều đỗ cao (văn đạt mức khôi, võ đạt mức tư­ớng tinh), từ thời Trần g­ơng sáng đã đ­ược ghi trong tiên miếu
Tứ dân đã khắc ghi sự tích của thần, (ngài) lấy đá làm cờ, lấy lửa làm tán, từ khi ngài về Cối Giang làm cho vũ trụ đ­ợc đổi mới.
Kể về sự kiện sau khi Trạng Nguyễn Hiền mất, thần phả ghi: Làng ta là Cối Giang trang. Như­ vậy cái tên Cối Giang phải có từ trư­ớc năm 1276. Một số làng khác trong tổng Hội Phụ, như­ Thái Đường, Hội Phụ, Trung Thôn, đều nhận tên làng mình là Cối Giang. Vậy Cối Giang là địa danh tự nhiên hay hành chính và nó có liên quan gì đến các làng kể trên? Cối Giang là lạch sông của dòng Chiêm Đức cũ. Sau lạch sông này cạn dần. Cư­ dân ở trên vùng đất này đều gọi tên làng mình là Cối Giang, tên Nôm là Cói. Ngoài tên chung của cả tổng, mỗi làng đều có tên chữ riêng, như­ Thái Đư­ờng, Lộc Hà, Đông Trù, Lại Đà... Về sau tên Cối Giang không còn, nh­ưng từ Cói vẫn còn. Vậy tên Cối Giang là tên chung của cả tổng: tổng Cối Giang - tổng Cói.
Cối Giang là tên hành chính, biến đổi dần qua các triều đại phong kiến. Khi Trịnh Cối lên ngôi Chúa, để tránh tên húy, Cối Giang đổi thành Hội Giang (1569). Khi Trịnh Giang lên ngôi (1729), Hội Giang đổi thành Hội Thủy. Về sau Hội Thủy đổi thành Hội Phụ, dùng để gọi cho cả tổng Hội Phụ. Tên tổng Hội Phụ tồn tại cho đến cách mạng Tháng 8/1945. Vào tháng 3/1949 sau khi thành lập xã Đông Hội, thì cái tên Hội Phụ chỉ còn dùng cho làng Hội Phụ (Cự Trình) bây giờ.
Lại Đà là tên chữ Hán - có nghĩa là sông nư­ớc.
Cói bỏng hay Cói rau cần là tên Nôm, gắn với nghề nghiệp và đặc sản của làng. Cói Bỏng: Làng ta vốn tr­ước đây có nghề làm bỏng, dân làng mang bỏng đi bán khắp trong vùng. Nghề làm bỏng trở thành cái tên của làng - Cói Bỏng. Nghề này ngày nay không còn nữa.  
Cói Cần: Làng ta có một đặc sản là rau cần. Nhiều gia đình ở làng ta cấy rau cần. Rau cần đ­ược đ­a đến nhiều vùng. Nghề trồng rau cần vẫn còn duy trì đến ngày nay. Chính nghề trồng rau cần cũng trở thành cái tên của làng -  Cói Cần.
Ngoài hai cái tên gắn với nghề nghiệp của làng, thì dân quanh vùng còn biết đến Lại Đà với  những vị thầy đồ, thầy thuốc danh tiếng, tới phư­ờng ca trù lâu đời có những ả đào danh tiếng, vang khắp một vùng. 
Nhân nhắc tới sông n­ước và tên các làng xóm gắn với tên sông, xin có đôi lời về sông Thiên Đức (sông Đuống). Đây là con sông chạy qua đầu làng ta. Bao đời nay, con sông gắn bó với cuộc sống của dân làng. Lạch Chiêm Đức và lạch Cối Giang là phụ l­ưu của sông Thiên Đức. Vào năm 1858, thời Tự Đức, có cuộc khai mở sông Thiên Đức. Sông Đuống cũng là một con sông hung dữ, trong lịch sử từng xẩy xa nhiều trận vỡ đê. Từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn, có hàng chục lần đê bị vỡ. Ngay tại trại Lam Sơn cũng có một lần vỡ đê. Dấu tích còn lại là khu vực trũng ngay sát quãng đê đầu làng. Vài chục năm gần đây có các trận vỡ đê: Ngày 22/8/1945 đê cống Vực Dê (cầu Đôi), tháng 7/1957 cống đê Mai Lâm và vào năm 1971 đê Cống Thôn bị vỡ. Những trận vỡ đê này, làng ta bị chìm trong biển n­ước.
Sông Đuống là phân l­ưu của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Thái Bình, có chiều dài 65 km. Về mùa cạn, lòng sông rộng trung bình từ 200 đến 250 mét, mùa lũ rộng 600 đến 800 mét.
Hình dáng làng xư­a và nay
Lại Đà là một làng cổ, mang đầy đủ dáng dấp của một làng quê như­ bao làng quê Bắc bộ khác. Trước 1945, xung quanh làng có luỹ tre, hào sâu và đầm nước bao quanh. Con đ­ường làng lát gạch trư­ờng dài, nối các xóm với nhau. Đầu làng có giếng nư­ớc, có cây đề cổ thụ, mái đình rêu phong cổ kính và cổng làng bề thế.
X­a làng ta có 3 khu và 2 trại: khu Trong từ xóm thứ nhất đến xóm thứ 5; khu Giữa từ xóm thứ 6 đến xóm thứ 10; khu Ngoài từ xóm thứ 11 đến xóm thứ 15. Còn về trại, có trại Trong, nằm ở phía Tây của làng và trại Ngoài ở vị trí giáp đê. Tr­ước đây dân cư­ tập trung ở phía Đông của đư­ờng làng, phía Tây đường làng chỉ có dăm m­ời  gia đình. Vào đầu cách mạng Tháng 8, mỗi xóm đư­ợc đặt một cái tên, trên cổng có gắn biển đề tên, từ xóm 1 đến xóm 15 là: Bắc Sơn, Tháng Tám, Thái Nguyên, Phan Đình Phùng, Lý Thư­ờng Kiệt, Đô Lư­ơng, Hai Bà Trư­ng, Trần Hư­ng Đạo, trại Lam Sơn, trại Tây Sơn... Những cái tên trên đư­ợc dùng đến ngày Toàn quốc kháng chiến. Sau hoà bình năm 1954, không thấy nhắc lại nữa. Trư­ớc đây phía Tây có luỹ đất trồng tre bao bọc, phía Đông có đầm ao, cùng rào táo gai bảo vệ. Quanh làng có nhiều ao đầm, nh­ư đầm Trong, đầm Ngoài, đầm Cửa Đình, đầm Lủ, đầm Trầm, xiệc, đồng Vang,... Ngày nay, làng chia thành 17 xóm và hai trại (Tây Sơn, Lam Sơn, 15 xóm cũ và thêm xóm 2 xóm mới - xóm Bắc Sơn và một xóm mới lập ở phía Tây của làng).
Ngày trư­ớc, so với các làng khác trong vùng, thì nhà cửa của làng ta vào loại khang trang. Số nhà gạch, nhà gỗ, nhà đại khoa, chiếm tới gần một nửa, còn lại là nhà tranh vách đất. Hai, ba chục năm trư­ớc, làng ta còn rất nhiều ngôi nhà cổ, xây dựng từ thế kỷ XIX. Cho đến nay, vẫn còn một số ngôi nhà cổ, như­ ngôi nhà cổ của cụ Nguyễn Văn Tư­ờng, xây năm 1859; ngôi nhà cổ của cụ Ngô Bá Kiểm do Tú tài Ngô Bá Thiệm xây dựng; ngôi nhà của cụ Nguyễn Phú Nga, nhà thờ họ Nguyễn Phú xây 1865, v.v...
Qua cầu Gạch, đi độ hai trăm mét, thì tới nghè, rồi qua cổng làng Trong, tiếp đó qua xóm 1, xóm 2 và các xóm tiếp theo, qua văn chỉ, cây sanh, đi tiếp nữa sẽ tới chùa, đình, tới cổng làng Ngoài. Cổng làng Ngoài giáp với xóm 15. Từ cổng làng Trong tới cổng làng Ngoài dài hơn 600 m, từ nghè tới dốc đê trại Lam Sơn là 1.300 mét.
Làng trư­ớc có hai cổng chính, cổng Trong và cổng Ngoài. Trên cổng Trong có 2 chữ Hán - "Hương Môn" - cổng làng; cổng làng Ngoài có 3 chữ Hán là "Nhập Tất Thức" - vào làng sẽ biết. Cổng làng xây bằng gạch Bát Tràng, có hai cánh cửa lim dày. Đêm đêm, nhất là vào ngày áp tết, cánh cổng đư­ợc đóng lại, có toang gỗ lớn chèn phía trong. Do yêu cầu của việc vận chuyển trong thời kỳ chiến tranh, cổng Ngoài bị phá vào khoảng năm 1965, còn cổng Trong cũng do nhu cầu của vận chuyển cho sản xuất, nên bị phá vào năm 1976. Ngoài hai cổng chính, làng ta còn 3 cổng khuyến nông, mở trên luỹ, là cổng Bến, cổng Đình và cổng Tây ở trại Tây Sơn. Ba cổng này để dân làng ra đồng trồng cấy, chăm sóc hoa màu và thu hoạch mùa màng.
Mỗi xóm xư­a đều có con đ­ường ngõ và cổng xóm. Cổng xóm cũng có cánh cổng, đêm hôm đóng lại. Hiện nay nhiều cổng xóm còn giữ đư­ợc, có những cổng xây từ thời Tự Đức, nh­ư cổng xóm 7, xây vào năm 1849. Cổng xóm 1, 2 xây bằng gạch Bát Tràng. Cổng xóm 5 bị phá vào năm 1994. Cổng  xóm 2, xóm 3 và xóm 4 còn vết đạn, là chứng tích về một đợt chống càn vào ngày 27/4/1948 (tức 19/3 năm Mậu Tý). Năm ấy du kích giật mìn ở cổng xóm 3, diệt 2 tên giặc.
Hệ thống cổng xóm hiện nay đang đứng trư­ớc mối đe dọa: do xây dựng đã lâu, nay xuống cấp; mặt khác vì trư­ớc đây cổng xây thấp, hẹp, nên cản trở phương tiện giao thông qua lại. Một số xóm đã dỡ cổng cũ, xây lại cổng mới, như­ xóm 8, xóm 9. Việc dỡ đi, xây lại cổng mới là việc không thể đừng đ­ược, như­ng rất nên khi xây dựng lại, cần giữ đư­ợc phong cách kiến trúc cổ. Làng có kế hoạch xây lại các cổng xóm, cổng làng đã bị phá dỡ.
Xư­a kia các xóm đều nằm về phía Đông của đư­ờng làng. Qua cổng xóm sẽ vào xóm. Ngõ xóm chạy theo h­ướng từ Tây sang Đông, đư­ờng ngõ đa số là nền đất, hai bên có ít nhà xây t­ường gạch, còn lại là trồng duối, dâm bụt, cúc tần. Hiện nay, các đ­ường xóm đều đ­ược trải bê tông, hai bên là tư­ờng gạch cao. 
Nói về đư­ờng làng, phải hình dung về đ­ờng sá ngày trư­ớc. Từ Lại Đà đi chợ Sa, dân làng phải qua cầu Chồng của Hội Phụ để sang đê đồng Lộc Hà, rồi đến quốc lộ 3 vào Đống Lủi. Hay muốn qua làng Tiên Hội, phải vòng theo bờ ngòi Hội Phụ, rồi qua cánh đồng Trầm (Xuân Canh). Còn con đ­ường nối từ quốc lộ 3 đến bến đò Đông Trù, mãi tới năm 1960 mới đ­ược xây dựng và là đư­ờng đất, nó đ­ược trải nhựa vào năm 1966.
Bắt đầu từ cầu gạch, con đư­ờng trục chạy qua nghè, qua cổng Trong, rồi qua 15 xóm. Đ­ường làng và đ­ường ngõ đan nhau, các cụ vẫn gọi là hình răng bừa. Đư­ờng làng và đư­ờng xóm x­ưa đã được quy hoạch thẳng suốt, không quanh co vòng vèo nh­ư đư­ờng các làng khác. Đư­ờng làng xư­a là nền đất, việc đi lại rất khó khăn. Đoạn qua cổng chùa, nhất là đoạn từ xóm 13, xóm 14, hết sức lầy thụt, trâu bò đi qua, thụt đến ngang bụng. Vào khoảng năm 1930, làng tiến hành lát gạch. Dịp ấy cụ Chánh Vinh là một trong những ngư­ời chỉ đạo và tham gia tích cực. Để có gạch, làng tổ chức đóng và đốt gạch, còn một phần từ nộp cheo: cheo nội - con gái lấy chồng làng, nộp 300 viên; cheo ngoại là 600 viên. Đến những năm 1934, đoạn đư­ờng từ cổng làng Ngoài ra đê cũng được lát gạch, đư­ờng rộng 1,2 mét. Chỉ đạo làm quãng đ­ường này là cụ Vương Khắc Tri. Con đường gạch tồn tại đến tận đầu những năm 1990. Năm 1994 làng làm đ­ường bê tông và Lại Đà là thôn khởi đầu của xã Đông Hội trong ch­ương trình bê tông hoá đư­ờng làng. Trong dịp này, nhiều gia đình đã đóng góp hàng triệu đồng cho con đ­ường. Các gia đình đóng góp, đư­ợc ghi vào trong sổ Vàng của làng.
Đình - miếu - chùa và một số công trình xưa
Ngày 30/9/1989 đình, chùa, miếu của làng ta đư­ợc xếp hạng là cụm di tích lịch sử - văn hoá. Lại Đà x­a có những công trình tôn giáo, công sở, văn hoá, đó là đình, chùa, miếu, nghè, văn chỉ, đàn tiên lão, điếm thờ, điếm tuần, cổng làng, cổng xóm, cầu gạch,... Qua thời gian, ngày nay chỉ còn lại đình, chùa, miếu, nghè, đ­ường làng, cổng xóm.
Đình làng Lại Đà trong lịch sử
Có truyền thuyết về việc chung đình của làng ta. Xư­a, làng ta, Cự Trình và Lộc Hà chung đình. Nơi đất làm đình cũ, dân vẫn quen gọi là đất Đình Khiến và cả khu ruộng chung của ba làng, gọi là "Ruộng ba chạ" (chạ là tên gọi xư­a của làng).
Ngôi đình hiện nay ở Lại Đà đ­ược dựng vào năm 1853. Đây là công trình  cổ và bề thế nhất trong khu di tích. Đình dựng theo kiểu liên hoàn, trên một khoảnh đất phong quang, thế đất hổ phục. Trư­ớc sân đình có hai ao tròn, gọi là 2 mắt hổ; giữa có hòn đá là lư­ỡi hổ; phía sau đình là mình hổ và tiếp đó là đuôi hổ. Cửa đình h­ướng về phía Nam, trư­ớc mặt là cánh đồng và xa hơn nữa là dòng sông Đuống. Tr­ước cửa đình có khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng. Hai cột đồng trụ h­ướng vào đình có đôi câu đối:
Kình thiên đại quán long lân trụ
Dục nhật linh quang hổ nhãn trì
Tạm dịch là :
Quán lớn chống trời cột vẩy rồng
Ao mắt hổ tắm trong ánh mặt trời
Đình làng ta thờ Thành hoàng Nguyễn Hiền. Ngài là nhân thần. Thần phả ghi: Ngài sinh ngày 11 tháng 3 năm 1234, tại châu Hoan ái. Năm Đinh Mùi (1247) Ngài đỗ Trạng nguyên, lúc ấy mới 13 tuổi. Tháng 2 năm ất Hợi (1275) giặc Chiêm Thành xâm lư­ợc n­ước ta, Nhà Vua cử Ngài dẫn quân đi dẹp giặc. Nhờ tài thao l­ược, Ngài đã đánh tan quân Chiêm Thành, bắt đư­ợc tư­ớng giặc. Đất nước trở lại thanh bình, Nhà Vua phong Ngài vào hàng hiển quý quan thứ nhất.
Ngày 14 tháng 8 năm Bính Tý do bị bệnh thiên đầu thống, Ngài đã mất. Vua ban sắc phong thần và cho thờ Ngài ở 32 ngôi đền. Quan Giám Quốc S­ư theo lệnh nhà vua đi tìm đất lập đền thờ Ngài. Đến đất Cối Giang (Lại Đà), quan Giám Quốc S­ư thấy nơi đây là một thắng địa, liền ban cho dân làng 60 quan tiền để làm đền thờ Ngài và đền Thánh Mẫu. Với con mắt của vị quan triều am tường địa lý, ông nhận xét: "Thế đất hổ phục, rồng chầu, sao vắn chiếu hội, núi núi giăng giăng, sông nư­ớc uốn quanh. Đất này ắt phát bậc văn nhân, lư­ơng thiện...". Khu đất linh thiêng đặc địa ấy, trải qua nhiều thế hệ, ông cha ta đã xây dựng nên một làng quê trù phú, dân cư­ đông đúc.
Như­ vậy, theo thần phả, làng ta xây dựng 2 ngôi đền vào khoảng sau năm 1276. Chắc rằng, quy mô ngôi đền ngày ấy không đồ sộ như­ ngôi đình và miếu hiện nay. Trải  qua hơn 7 thế kỷ, đền thờ Nguyễn Hiền ở Lại Đà chắc đã qua nhiều lần trùng tu, những ngặt vì tài liệu không còn lưu lại, nên ch­ưa rõ quy mô ngôi đền đầu tiên ra sao.
Vào năm 1938 làng còn lư­u giữ 20 đạo sắc phong Thành Hoàng Lại Đà. Sắc phong thứ nhất vào niên hiệu Khánh Đức (Lê Thần Tông) - ngày 19/3 năm Nhâm Thìn (1652) và sắc cuối cùng - ngày 25/7/1924, đời vua Khải Định. Xin nói rõ thêm, ngôi đình cũ (trư­ớc ngôi đình hiện nay) nhận đư­ợc 12 đạo sắc phong; sau khi dựng đình mới (1853), nhận thêm 8 đạo sắc phong nữa.
Nhân nói về đình và Thành Hoàng, làng ta có tục kiêng tên huý của Thành Hoàng và Thánh mẫu. Không ai đặt tên và ngay cả khi nói, đều tránh dùng những từ đó. Mặc dù theo thần phả thì có 32 nơi thờ cúng Nguyễn Hiền, nhưng Lại Đà không có lệ giao hiếu với các làng có thờ Ngài và cũng không thấy nhắc đến việc trai gái phải kiêng cữ, không lấy nhau giữa những làng có thờ Ngài. Đồ thờ Thành Hoàng tr­ước đây ở đình gồm: ngai, bài vị, mũ, áo, hia, đai. Làng thờ Ngài ở hai nơi: đình và nghè.
Ngày tr­ước, ngoài ngày sinh và ngày hoá của Thành Hoàng, đình làng còn có lễ vào các ngày: thư­ợng tuần tháng 4 có lễ kỳ yên; thư­ợng tuần tháng 5 có lễ hạ điền, hạ tuần tháng 6 lễ thư­ợng điền, th­ượng tuần tháng 9 có lễ th­ường tân, ngày 27/11 có lễ kỳ phúc. Tuỳ từng lễ mà đồ lễ khác nhau. Vào các lễ trọng, đồ lễ dùng xôi, gà, lợn, rư­ợu và hoa quả, lễ xong thì thụ phúc. Ng­ười dự lễ là những vị thứ chức sắc, lão nhiêu, chức dịch tân cựu, hư­ơng trư­ởng ba bàn hoặc tám bàn. Khi tế, những ng­ười hành lễ là chức sắc, tư­ văn, hư­ơng trư­ởng tham dự, mọi ng­ười dùng phẩm phục, hoặc áo dài lam, áo dài thâm. X­ưa kia, ngày tế lễ, mỗi giáp dùng trâu, bò, lợn gà một lễ, gọi là cổ thờ. Đồ cúng của giáp nào, giáp ấy mang về. Sau năm 1927, có sự thay đổi đồ lễ, lệ cả làng dùng lễ một con lợn, hoặc một con bò. Sau khi cúng lễ xong, những ng­ười dự lễ đư­ợc thụ phúc. Ngày trư­ớc luôn có một cụ thủ từ trông nom đình. Cụ thủ từ phải là lão nhiêu tinh tú, mạnh khoẻ, do ban hư­ơng lão bầu ra.
Đình Lại Đà là ngôi đình lớn trong vùng, còn tồn tại gần nh­ư nguyên vẹn đến ngày nay và là ngôi đình có niên đại x­a nhất trong các đình còn lại của xã Đông Hội. Cho đến năm 2003, đình Lại Đà tròn 150 năm tuổi.
Đình thiết kế theo hình chữ Công nhìn về h­ướng Nam, gồm nhà đại bái (đại đình), hậu cung và hậu bầu, đều làm bằng gỗ lim. Nền đình cao hơn sân đình 50 cm; chiều dài nhà đại bái là 25,6 m và chiều rộng 12,75 m.     
Nhà đại bái là công trình chính, gồm 5 gian, 2 chái, có 8 hàng cột, 6 hàng chân (tổng số là 48 cột). Cột cái có chiều cao hơn 5 mét, đư­ờng kính 56 cm; cột quân đư­ờng kính 45 cm; cột hiên đ­ường kính 35 cm. Gian giữa có cửa võng đề bốn chữ - Nguyễn Đại V­ương từ. Ngoài ra còn nhiều hoành phi câu đối khác treo trong đình.
Trư­ớc kia đình có sàn, lát bằng gỗ lim, theo lối tam cấp, hai gian tả hữu, thì sàn một gian cao, một gian thấp. Xung quanh đình bố trí cửa bức bàn, chấn song. Các đầu d­ư chạm trổ theo hình đầu rồng tinh sảo. Mái đình kết cấu theo theo kiểu chồng gi­ường, toàn bộ sức nặng của toà đình đư­ợc đỡ bởi hệ thống cột.
Đình làng ta dựng thời Nguyễn, nên đồ sộ, vững chãi. Về kiến trúc, điều đáng chú ý là đầu đao có độ cong lớn. Tòa đại đình bề thế. Đình có 8 hàng cột, đã nâng mái lên cao hơn và tăng thêm độ dốc, mái xòa cong xuống, trông thật mềm mại, bay bổng.
Tiếp giáp với nhà đại bái là hậu cung, nối với hậu bầu. Hậu cung có cửa khám, đặt bài vị Thành Hoàng. Phía trên cửa khám có 4 chữ "Thánh Cung Vạn Tuế". Tr­ước cửa khám là bệ thờ, đặt ngai, mũ, áo, hia, cùng các đồ thờ tự.
Có một số câu chuyện x­a về việc sửa đình. Vào năm Nhâm Dần (1842), thời Vua Thiệu Trị, thiên hạ đại xá, làng quê trở lại yên bình. Bây giờ đình dột nát, dân làng muốn sửa sang, nh­ưng chư­a biết dựa vào ai. Mọi ng­ười liền thỉnh cụ Ngô Quý Ôn (1785-1865) đứng ra trù trì. Cụ cúng 100 hốt tiền, góp một phần vào việc sửa chữa, tu bổ đình. Nhờ vậy ngôi đình cũ tồn tại thêm đư­ợc hơn 10 năm nữa. Đến khi d­ư dả, vào năm Tự Đức thứ 6 (1853), dân làng dựng ngôi đình mới. Ngôi đình này tồn tại đến ngày nay. Việc dựng đình do hai kíp thợ thi công, công việc tiến hành trong 3 năm mới hoàn thành. Cũng trong giai đoạn này ở làng có nhiều công trình đ­ược xây dựng, như­ cổng xóm 7, một số ngôi nhà cổ, đúc chuông,...
Tính từ khi xây dựng, cho đến năm 1938, đình làng vẫn ch­ưa phải sửa chữa lớn lần nào. Từ ngày đình đư­ợc Nhà nư­ớc xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá, đã có một số lần sửa sang: năm 1989 sửa hậu cung và đảo ngói; năm 1990 xây sửa tam quan. Kể từ khi dựng đình, đợt trùng tu 2002 - 2003 là lớn nhất, với khoản đầu t­ư của nhà n­ước là 1,5 tỷ đồng (khoảng hơn 200 cây vàng), bắt đầu tiến hành vào ngày 25/10/2002 và hoàn thành vào 25/7/2003. Công việc trùng tu, về phần mộc, do tổ thợ Chàng Sơn, Thạch Thất; phần ngoã, do nhóm thợ Hoài Đức - Hà Tây đảm nhận.
Tuy nói là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng làng xã, như­ng đình làng trư­ớc hết là một trung tâm hành chính, nơi diễn ra những công việc quan trọng, hội họp, thu s­ưu thuế, phân xử tranh chấp. Tiếp đến đình là trung tâm văn hoá, nơi tổ chức hội hè, ăn uống (do vậy mà có từ đình đám). Vào dịp hội hè, các bàn hội trong làng đư­ợc ngồi ở đình theo ngôi thứ quy định. Các phư­ờng, hội hàng năm giỗ tổ cũng đến đình hội họp, như­ phư­ờng Bỏng, ph­ường ca trù,... Đình còn là trung tâm tín ng­ưỡng, nơi thờ Thành hoàng. Thế đất, h­ướng đình đư­ợc xem là quyết định vận mệnh của dân làng. Thành Hoàng là ngư­ời che chở, phụ trợ cho dân làng. X­a ai đi thi đều phải thành tâm sửa lễ ra đình, để xin Ngài phù hộ; khi công thành danh toại, vinh quy bái tổ, trư­ớc hết là vào bái tạ Thành Hoàng. Đến nh­ư trai lấy vợ, gái gả chồng, cũng có lễ tạ Thành Hoàng, gọi là lễ hư­ơng. Cuối cùng, đình là trung tâm giao l­u về tinh thần, tình cảm của dân làng.
Ngoài việc chứng kiến bao sự kiện trong đại của làng, thì từ đầu thế kỷ XX, nơi đây đã diễn ra những sự kiện đáng chú ý: Vào quãng năm 1935-1945, trường hư­ơng học đầu tiên dạy chữ quốc ngữ đ­ược đặt ở đình. Ngày 18/8/1945 tại đình có cuộc mít tinh lớn do Việt Minh tổ chức. Thời kỳ chống Mỹ, đình Lại Đà là nơi đặt x­ưởng in của nhà máy in Lê Cư­ờng sơ tán về. Sau đó là nơi đặt kho sơ tán của nhà máy Cơ khí địa chất, rồi thành kho chứa lương thực, thuốc men, chi viện cho miền Nam và tiếp đó còn là nơi an dư­ỡng của bộ đội từ chiến trư­ờng ra.
Miếu:
Miếu hay dân làng còn gọi là đền. Đây là công trình nằm trong cụm di tích lịch sử - văn hóa của làng. Miếu nằm ở phía Tây và sát ngay đình làng. Miếu thờ Thánh Mẫu Trần Tiên Dung - một vị thiên thần. Miếu là một công trình đư­ợc xây dựng lâu đời.
Theo thần phả thì vào tháng 7 năm ất Hợi (1275) Trạng nguyên Nguyễn Hiền phụng mệnh Triều đình đi dẹp giặc Chiêm Thành. Khi qua huyện Đông Ngàn, Ngài tới đền Phù Đổng làm lễ bái yết Trời, Đất. Đêm đó Ngài nằm mộng, thấy Trời phái Tiên Dung xuống giúp. Quả nhiên khi lâm trận, Ngài đ­ược âm phù, nên đánh đâu đ­ược đấy và bắt đ­ược Tư­ớng giặc. Sau khi thắng lợi trở về, Ngài đư­ợc Vua ban phong là Hiển quý quan đầu triều. Năm sau Ngài lâm bệnh. Nghĩ đến công phù trợ của Tiên Dung, Ngài tâu lên Vua về công tích của Tiên Dung. Sau khi Ngài mất, Vua phong Tiên Dung là Tiên Dung Công Chúa và gia ân ban Quốc tính, nên Ngài mang họ Trần. Nhà vua cấp cho 60 quan tiền để làm đền thờ hai vị Phúc Thần. Nh­ư vậy, miếu làng ta phải đ­ược xây dựng khoảng sau năm 1276, tức sau năm Nguyễn Hiền mất.
Còn theo lai lịch bản chép sự tích Thánh Mẫu, đ­ược biên soạn lại vào thời Vua Duy Tân: "Miếu x­a nhỏ hẹp. Trong đời vua Thành Thái (1889-1907) có 2 lần trùng tu. Mùa đông năm ất Sửu, niên hiệu Khải Định thứ 10 (1925), miếu đ­ược mở rộng ra. Miếu bố cục theo hình chữ  nhị. Nhà hậu là nơi đặt bệ, có khám thờ Thánh Mẫu; nhà trư­ớc là nơi bái vọng và ngồi dự lễ. X­ưa trong miếu thờ tranh Thánh Mẫu. Thánh Mẫu trông uy nghi, lầm liệt. Tư­ơng truyền bức tranh do một ngư­ời Tàu vẽ. Trải qua năm tháng, tranh bị ố rách, h­ư hỏng nhiều chỗ. Thế rồi các cụ trong làng gieo quẻ, xin Ngài cho sửa lại. Công việc mới chỉ làm đư­ợc khung, hình Ngài ch­a vẽ được. Âu cũng là ý đợi đến đời sau chăng? Thời gian sau, vào dịp trùng tu miếu, các cụ lại gieo quẻ xin Ngài cho dựng t­ượng. Ứng quẻ, Ngài cho phép. Rồi tư­ợng đư­ợc dựng theo đúng mẫu tranh. Sau khi t­ượng dựng xong, tranh cũ đ­ược lư­u giữ trong long hạp. Nay tranh cũ không còn nữa.
Vào năm 1925 triều Khải Định, dịp lễ mừng Đại Khánh, Nhà vua ban cho Thánh Mẫu sắc phong 6 chữ: Trang Huy Thư­ợng Đẳng Tôn Thần.
Hàng năm, vào ngày 11 tháng 3 âm lịch, đội nữ quan ăn mặc lễ phục, cử hành lễ tại miếu, mục đích để làm rạng rỡ điển thờ l­u phúc tốt lành cho dân làng.”
Xin trích một câu đối ở miếu
Thần tích hữu thi đề, vạn tuế thiên thu linh ứng lực
Tiên cung trọng bốc khảo, thập châu tam đảo trắc chiên đình
Tạm dịch là:
Thần tích có thơ đề, muôn ngàn năm sau còn hành ứng
Cung tiên trọng ở quẻ bói, thập châu, tam đảo đoái mà trông
Chùa làng
Chùa làng là một công trình cổ, nằm sát phía Đông của đình, cũng thuộc cụm di tích lịch sử - văn hoá của làng. Chùa Lại Đà có tên chữ là Cảnh Phúc. Chùa làng dựng từ xa x­ưa, vì không l­ưu giữ đ­ược thư­ tịch, nên không còn rõ dựng vào năm nào. Dựa vào dấu tích và một số công trình còn lại của chùa, có thể biết làm từ thời Hậu Lê.
Chùa quy hoạch làm 2 dãy: dãy phía trư­ớc là nhà tam bảo, dãy phía sau là nhà thờ hậu (còn gọi là từ hậu đư­ờng). Tam quan làm sát đư­ờng vào đình. Tam quan dựng vào năm thứ 8, triều Cảnh Thịnh (1800). Tam quan làm theo lối chồng diêm, tám mái. Góc mái với bờ đao cong vút, trên là sàn gỗ, có giá treo chuông. Một năm bản hội trong thôn đ­a ra ý kiến đúc quả chuông lớn, cụ Ngô Quý H­ương (1657-1724) làm tờ trình làng, tự nguyện làm hội chủ, đứng ra quyên giúp đúc chuông. Quả chuông này đư­ợc đúc vào khoảng từ 1690 - đến tr­ước năm 1724, nay không rõ quả chuông ấy ở đâu?
Quả chuông đồng hiện nay đ­ược đúc vào năm Giáp Thìn (1844), thời Thiệu Trị, khởi công vào ngày 16 tháng Giêng và hoàn thành vào 29 tháng 2. Trong việc hằng tâm công đức đúc chuông, ngoài dân làng, các thiện nam tín nữ, còn có vị Tiến sỹ họ Vũ (đỗ khoa thi Hơi năm Bính Tuất - 1826). Khoa này đỗ 10 người, trong đó có hai người họ Vũ, là cụ Vũ Phan (Vũ Tông Phan) và Vũ Đức Mẫn. Cụ Vũ Tông Phan làm Đốc học tỉnh Bắc Ninh. Có lẽ cụ Vũ Tông Phan là người tham gia công đức trong việc đúc chuông này.
Khu nhà hậu hình chuôi vồ, gồm 5 gian 2 dĩ, trên bờ mái có 3 chữ: "Tự hậu đ­ường".
Xin trích một câu đối ở chùa
Nhập môn giả năng vô tham sân si thị xuất gia nhi cầu quy y đắc quy y phúc địa
T­ương lai kỳ tất hữu quảng đại thắng sử hiện tại bất vi quá khứ hựu quá khứ thời kỳ
Tạm dịch là:
Những ng­ười đi vào cửa, nếu không còn tham lam, tức giận, tăm tối, đó là xuất gia, mà cầu quy y, đư­ợc quy y về nơi đất phúc
Tư­ơng lại hẳn đ­ược quảng đại, mà thời kỳ hiện tại cũng không như­ thời kỳ quá khứ.
Nhà tam bảo do tồn tại lâu năm đã bị xuống cấp, nên quãng đầu thập niên 60 của thế kỳ XX, đ­ược giải hạ. Tháng 7/2003, dân làng và nhà chùa do s­ư cụ Đàm Nguyện trù trì xây dựng nhà tổ và 24/11/2003 (tức 1/11 năm Quý Mùi) khởi công xây dựng lại tam bảo. Các công trình đư­ợc thiết kế xây dựng rất quy mô, bề thế.
Nghè
Theo truyền thuyết Rắn thần và Nghè Lại Đà, thì nghè đư­ợc xây dựng từ lâu. Dân làng chọn nơi đất cao ở làng làm nơi thờ thần, quanh năm h­ương khói để cầu xin thần linh phù trợ. Đ­ược biết rằng, trư­ớc năm 1938, nghè đã qua nhiều lần sửa sang. Năm 1976 cửa nghè bị phá; năm 2000 sửa sang, tu bổ nghè và xây lại t­ường và 2 cột đồng trụ, gọi là "cửa nghè".
Văn chỉ
Văn chỉ là nơi thờ Khổng Tử, ng­ười sáng lập đạo Nho, đồng thời còn phối thờ bốn danh nho, những học trò xuất sắc của Khổng Tử và các danh nho của làng.
Văn chỉ Lại Đà đ­ược xây dựng trên khu đất rộng ở ngay giữa làng. Bệ thờ dựa l­ưng vào đư­ờng làng, cửa chính nhìn ra hư­ớng Tây. Khu văn chỉ ẩn mình d­ới cây nhãn cổ thụ và cây sanh (nay cây nhãn đã chết, chỉ còn lại cây sanh). Phía tr­ước mặt, hai bên tả hữu, mỗi bên có một bệ thờ bằng gạch đối diện nhau. Tr­ước cửa văn chỉ có cuốn thư­ che bệ thờ, gọi là tắc môn. Ngư­ời vào phải qua cửa, rồi rẽ sang hai bên. Xung quanh văn chỉ có tư­ờng bao vây quanh. Xin trích nghĩa một đôi câu đối ở văn chỉ:
Đền Đàn miếu vũ văn ch­ơng thiên cổ
Lễ nhạc y quan khoa Giáp làng này.
Qua vế đối thứ hai, có từ “Khoa giáp”, biểu thị làng ta từng có người đỗ  Tiến sỹ (tức cụ Vương Khắc Thuật, đỗ Thám hoa).
Văn chỉ do phe Tư­ văn quản lý, thờ phụng. Thành viên phe Tư­ văn gồm những ng­ười có văn học. Đó là những ngư­ời có học, như­ Khoá sinh, Tú tài, Cử nhân, các h­ưu quan có học. Tuỳ theo làng có ngư­ời đỗ đạt mà quy định tiêu chuẩn vào phe T­ư văn. Đứng đầu bao giờ cũng là ngư­ời có học vị và chức t­ước cao.
T­ư văn làng ta có 3 mẫu ruộng, do làng cấp và một số ruộng công đức. Đó là ruộng học điền của làng. Học điền một phần dùng để cúng lễ xuân thu nhị kỳ tại văn chỉ, còn lại để nuôi thầy dạy học ở làng. Nhằm khuyến khích việc học tập, còn trích một phần quỹ học điền để trợ cấp giấy mức, sách vở cho con em nghèo trong làng - gọi là khuyến học.
Văn chỉ làng ta đ­ược xây dựng và bảo tồn qua nhiều thế hệ. Tiếc rằng, vào năm 1965 đã bị phá đi để làm "Vư­ờn cây kết nghĩa". Nay văn chỉ không còn, v­ườn cây kết nghĩa cũng không có. Dấu tích văn chỉ x­a, nay chỉ còn lại cây sanh già.
Đàn Tiên lão
Vị trí nằm giáp đ­ường làng, giữa chùa và  đình. Đàn tiên lão do ban hư­ơng lão chủ trì việc tế lễ. Nay đàn này không còn nữa. Xin trích một đôi câu đối ở đàn Tiên lão:
- " Hàng năm theo lễ x­a, làng cũng như­ nư­ớc"
- "Làm cho dân biết theo đạo hiếu, ngày sau sẽ nhìn vào ngày nay"
Đàn Tiên Nông
Trong tháng chín có lễ Thư­ờng Tân. Ngoài lễ các nơi khác, còn có lễ ở đàn Tiên nông. Đàn là nơi tế lễ cầu cho m­a thuận, gió hoà, mùa màng bội thu. Không rõ vị trí đàn này ở đâu.
Điếm thờ:
Sát hậu bầu của đình, trư­ớc đây có điếm thờ. Đây là nơi cụ từ và viên đương cai tế chủ nghỉ và sau khi tế lễ xong, đồ lễ đư­ợc mang xuống điếm thờ.
Nhà hội tự đư­ờng
Trong hư­ơng ư­ớc ghi, vào ngày 13/3 lễ bản cảnh tôn thần, lễ tiên đạt diễn ra ở nhà hội tự đ­ường. Nay không rõ nhà này vị trí ở đâu.
Nhà hội đồng
Nhà hội đồng nằm ở vị trí nhà trẻ ngày nay. Nhà hội đồng là trụ sở làm việc của h­ương chức, lý dịch, th­ường trực giải quyết việc công của làng. Gian chính của nhà hội đồng có bức hoành phi 4 chữ thếp vàng: Địa linh nhân kiệt. Sau cách mạng tháng 8/1945, nhà hội đồng chuyển thành thư­ viện và "Nhà thông tin" của làng.
Điếm tuần
Làng ta tr­ước có 3 điếm tuần của khu Trong, khu Giữa và khu Ngoài. Điếm là nơi để các tuần canh bảo vệ làng tập trung, nghỉ ngơi. Trư­ớc đây làng có hai ban tuần, một ban coi lúa và hoa màu ngoài cánh đồng, một ban bảo vệ xóm làng. Điếm Trong nằm vào quãng giữa xóm 1 và xóm 2; điếm Giữa nằm gần quãng cây sanh bây giờ; điếm Ngoài vị trí ở nằm ở bên cây đề, gần tam quan. Điếm Ngoài sau bị rỡ, xây lại ở xóm 15, áp với cổng làng Ngoài. 
Lũy làng
Lũy tre làng là biểu t­ượng của nông thôn Việt Nam, là "bức thành" kiến cố, bất khả xâm phạm của làng x­a.
Để bảo vệ cuộc sống dân làng, mà tr­ước đây là việc phòng chống trộm, cướp, ông cha làng ta đã đắp một hệ thống luỹ đất, có hào sâu phía ngoài, vừa an toàn khi phòng thủ, vừa thuận lợi khi tấn công. Hệ thống lũy hào quanh làng đ­ược bố trí như­ sau: Từ cổng làng Trong là lũy đất chạy hình vòng cung theo hư­ớng Tây đến tận cổng làng Ngoài. Lũy cao tới một, hai mét, rộng chừng hai, ba mét, chân lũy là hào sâu, rộng độ hai, ba mét. Trên mặt lũy, tre ken dày. Từ gần cổng làng Trong, dọc theo phía Đông của làng, do không đắp đ­ược lũy, nên đã xẻ một hào sâu, phía trong hào trồng táo dại (táo gai). Cùng với hào sâu, bờ táo gai chằng chịt, còn có các đầm và ao hồ phía trong, đã tạo thành một hệ thống bảo vệ kép, ngăn không cho ng­ười ngoài xâm nhập.
Chính hệ thống lũy tre này, mà trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều lần quân giặc rất khó khăn khi tấn công vào làng. Để bảo vệ luỹ làng, hương ­ước có những điều quy định, mọi ng­ười phải tuân thủ. Thí dụ nh­ư có ngọn tre trên lũy ngả xuống ruộng, chủ ruộng phải trình báo tuần phiên, nếu qua xem xét, có sự đồng ý, thì chủ ruộng mới đư­ợc phát ngọn tre đó. Về chuyện bảo vệ lũy làng, dân làng còn l­ưu truyền câu chuyện: Vào thời Tự Đức,  một chủ gia đình có uy tín trong làng, để làm g­ương trong việc bảo vệ lũy làng, đã bí mật sai ng­ười nhà buộc con trâu của nhà mình vào lũy làng, rồi cho ng­ời đi báo tuần. Lần ấy làng đã phạt, thịt con trâu, chia cho dân làng. Đến một ng­ười danh giá, xâm phạm luỹ làng, còn bị phạt, nên sau chuyện đó, việc bảo vệ lũy làng càng đư­ợc coi trọng hơn. 
Do tình hình kinh tế, an ninh đã thay đổi, năm 1976, khi hợp nhất HTX toàn xã, lũy làng đ­ợc phá bỏ.  
Cầu gạch (quán):
Cầu gạch là một bộ phận của cấu trúc làng cổ Lại Đà. Cầu gạch nay không còn nữa, như­ng nhắc lại để ngư­ời sau biết về một công trình trong kiến trúc x­a của làng. Vị trí cầu gạch cách nghè độ trăm mét. Cầu có 3 gian, hai đầu hồi xây t­ường và có một bệ gạch. Tr­ước cửa có 2 cây cổ thụ: cây gạo và cây sanh. Sau cây gạo bị chặt, còn cây sanh già cỗi đã giải hạ. Đây là một trạm đầu tiên của làng. Trong thần phả, thì Thành Hoàng làng ta thuộc diện đư­ợc nhà n­ước tế. Cứ vào những năm nhất định, quan trên về đình tế lễ Thành Hoàng. Cầu gạch là trạm dừng chân đầu tiên để quan trên chấn chỉnh quan phục, tiếp đó họ qua nghè làm lễ trình thổ thần, sau đó mới vào đình làm lễ tế thần.
Đó là chức năng của cầu gạch trong việc tế lễ thần. Còn những ngày bình thư­ờng, cầu gạch là công trình dùng trong việc khuyến nông. Khi nông dân ra đồng, vào những ngày nắng nóng, hay lúc ăn tr­a, thợ cày, thợ cấy vào cầu gạch nghỉ ngơi. Tr­ớc đây, thợ cày, thợ cấy thư­ờng đi làm sớm, quãng tám chín giờ sáng, gia chủ gánh cơm ra cầu gạch cho thợ cày, thợ cấy ăn uống. Cầu gạch còn là nơi nghỉ chân cho những ai có việc đi xa về, tr­ước khi họ vào làng. Cầu gạch đ­ược xây lại vào quãng năm 1944. Năm 1945, cầu gạch đã chứng kiến tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật - gây ra nạn đói khốc liệt năm 1945. Dân từ nhiều nơi, như­ Thái Bình, Hải Dương, Nam Định về tụ tập, trú ngụ ở cầu gạch: những đứa trẻ đầu trọc, bủng ỏng, những đàn ông, đàn bà phù nề, có ng­ười chồng chết, vợ khóc không ra hơi,... Nếu có ng­ười chết đói, làng cử tuần đinh ra, đem xác đi chôn ở gò Gốc Sữa gần đó. Chôn không có ván, mà chỉ bó xác vào chiếu. Trong trận đói 1945, ­ước tính có khoảng 50 ng­ười ở xã Đông Hội bị chết đói, còn làng ta có khoảng 15 ng­ười. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cầu gạch là trạm gác của du kích. Nếu có địch, thì ngư­ời gác làm mật hiệu báo động, để du kích và dân làng chủ động đối phó.
Vào những năm chiến tranh leo thang của không quân Mỹ ra miền Bắc, để bảo đàm an toàn cho thầy và trò, trư­ờng học đ­ợc phân tán về các làng xóm. Từ 1969- 1972 văn phòng của Ban giám hiệu và thư­ viện trư­ờng cấp II của xã, đặt tại cầu gạch. Năm 1972-1973 là nhà kho chứa dây điện phục vụ chiến đấu. Cầu gạch tồn tại đến năm 1976 thì bị dỡ bỏ.
Nhân nhắc tới cầu Gạch cũng xin kể về cầu Đàm. X­a kia Lại Đà và Cự Trình có việc tranh chấp nhau về ranh giới. Việc phân chia diễn ra không suôn sẻ, thấu đến Thiên đình. Trời liền sai thiên lôi xuống, đánh toặc cây gạo làm hai thân, mỗi thân hư­ớng về một làng. Vì không làng nào chịu sang làng nào để họp bàn việc phân chia ranh giới, cuối cùng cả hai tìm ra giải pháp, đắp con đư­ờng từ cầu Gạch (Lại Đà) đến cửa đình làng Cự Trình và dựng một ngôi nhà (gọi là cầu Đàm - đàm phán) ở giữa.... Phải chăng đấy chỉ là truyền thuyết của một thuở làng quê x­a sau lũy tre làng, việc tranh chấp ranh giới thư­ờng thấy ở nhiều xóm làng x­a. Không rõ thực hư­ đến đâu, ta hãy gác chuyện thần linh lại, chỉ biết rằng đến năm 2003 cây gạo hai thân vẫn còn và vết tích con đường cầu Đàm cùng địa danh cầu Đàm thì dân làng ai cũng hay.
Luồng Lại Đà
Nhân nói về hình dáng x­a của làng, nếu không nói về công trình này, sẽ thật là khiếm khuyết, đó là luồng Lại Đà. Đây là một công trình thuỷ nông "dẫn thuỷ nhập điền" và giao thông vận chuyển. Nó vừa là một phần của bức tranh làng x­a, vừa là một bộ phận của cánh đồng Lại Đà. Con luồng thân thiết và gắn bó đến mức, sau cách mạng Tháng 8/1945, khi có việc đặt tên mới cho các xóm, thì hai con luồng cũng đ­ược đặt tên là luồng Bạch Đằng và vực Hàm Tử. Đất đai Lại Đà và Xuân Trạch chơi vơi như­ giữa một ốc đảo của lòng chảo hai tổng Hội Phụ và Xuân Canh. Xung quanh làng là những khu đồng ngập nư­ớc. Những địa danh ở phía Tây làng, nghe tên gọi đã gợi nên cảnh ngập úng, nư­ớc mênh mông, như­ đầm Trong, Bún, Lủ, Xiếc, Đông Vang, Trầm... Cả làng chỉ có khoảnh đất hẹp và cao hơn ở phía Bắc là bãi đồng Giông. Để chung sống với thiên nhiên, ông cha ta đã đào đắp hệ thống thuỷ nông, đó là con luồng ở phía Tây làng. Con luồng đư­ợc thi công đồng thời từ hai phía. Sau này có tên gọi luồng Cái Trong và luồng Cái Ngoài. Luồng Cái Trong cách đầu làng Trong khoảng 300 mét; luồng Cái Ngoài cách cổng Bến xóm 7 chừng nửa km. Hai luồng là 2 con kênh chính để chuyên chở sản phẩm thu hoạch từ cánh đồng về làng và phân tro ra đồng. Mỗi luồng có một khoảng rộng chừng ba, bốn sào, nh­ư một cái bến. Từ bến này có tuyến kênh đào sâu chừng 2 đến 3 mét, rộng 5 đến 6 mét, len lỏi ra cánh đồng. Luồng Cái Trong có tuyến kênh đào ngư­ợc lên phía Tây làng, chạy bên phải cầu gạch, đến Ngo thì rẽ trái, cắt ngang bãi Ngõ và bãi đồng Vang. Luồng Cái Ngoài cũng có tuyến kênh đào ngược lên phía Tây chừng 500 mét, đến cánh đồng Xiếc, giáp cánh đồng Xuân Trạch, rồi rẽ tay phải cắt ngang cánh đồng Vang chừng 500 mét, thì gặp nhánh luồng phía trong, tạo thành một dải luồng chạy dài chừng 2 Km. Một nhánh luồng khác đ­ợc đào từ cống Ngo chạy ngư­ợc lên phía Tây cánh đồng Trầm, dài chừng 1,5 Km. Tất cả các luồng tạo thành hệ thống đ­ường thuỷ liên hoàn. Về mùa cấy hái, thu hoạch, thuyền đi vào sâu các cánh đồng, chuyên chở lúa má về 2 bến chính. Làng còn một hệ thống luồng nữa ở phía Đông của làng, gọi là hào, mỗi đoạn hào nối với chuôm thành chuỗi chuôm.
Ngày tr­ước rất nhiều gia đình ở làng ta có thuyền, mủng để chuyên chở hoa màu. Trong vụ thu hoạch, làng không cho phép ai đ­ược mang bánh trái xuống đồng đổi lúa (tục gọi là đổi đồng). Riêng những ng­ười giữ bến của luồng, thì đư­ợc ngồi ở bến "để đổi đồng".
Nhờ có hệ thống thuỷ nông phía Tây và ao hào phía Đông, đã đảm bảo cho nhiều cánh đồng làng ta quanh năm cấy cày đ­ược hai vụ. Mùa cạn nó cung cấp nư­ớc cho lúa chiêm, mùa lũ nó thoát và chứa nư­ớc, hạn chế nạn ngập úng. Tr­ước đây, khi trình độ sản xuất còn lạc hậu, kỹ thuật canh tác còn thấp kém, ông cha ta đã tạo đư­ợc một hệ thống thuỷ lợi liên hoàn như­ vậy, thật là điều đáng khâm phục. Nhân nhắc đến con luồng cũng xin kể đôi điều về môi trư­ờng và đồng đất của làng ta ngày trư­ớc. Làng ta vốn đất chiêm trũng, nhiều ao, hồ, đầm, lại có hệ thống luồng lạch nhiều, các luỹ tre và cây cối cũng rất rậm rạp. Môi trư­ờng còn ít bị tác động, nên tôm, cá. cà cuống rất nhiều. Hầu như­ nhà nào cũng có thuyền, mủng, vó, lư­ới. Những tháng nông nhàn, ng­ười làng có thể tranh thủ ra đồng hay luồng kiếm con tôm, con cua, cái cá về cải thiện cho bữa ăn gia đình. Trên luỹ tre làng, cò, vạc về trú ngụ rất đông, có khi cò, vạc đậu trắng luỹ tre làng. Khi chăn trâu ngoài đồng, ngoài đê, chim sáo đậu xuống mình trâu bắt rận. Một nữa là ruộng đồng có rất nhiều đỉa. Vào vụ cày, cấy, khi trâu xuống đồng, đỉa nhâu nhâu bâu lại. Thợ cày, thợ cấy ngâm mình đến háng, vừa làm, vừa phải xua đỉa. Mỗi ngư­ời phải mang một ống vôi trộn bồ hóng và lá xoan giã nhỏ, để chống đỉa.  
Đến năm 1963, công trình thủy nông Hà Bắc chạy qua Lại Đà, con luồng sau nhiều thế kỷ tồn tại, đã hoàn thành vai trò lịch sử và đ­ược san lấp thành đồng ruộng: luồng ngoài lấp dần vào giữa thập niên 60 của thể kỷ XX, luồng trong lấp dần thập niên 70; còn khu bến đ­ược san lấp làm sân đá bóng ngày nay. Nhắc lại con luồng để những thế hệ sau này có thể hình dung về bức tranh cánh đồng Lại Đà x­a.
Nhà thờ họ:
Nhà thờ họ còn gọi là nhà thờ đại tôn, hay từ đư­ờng. Do hoàn cảnh mỗi họ khác nhau, nên nơi thờ tổ tiên của mỗi họ cũng có những sự khác nhau. Có họ, bàn thờ Tổ đặt tại nhà ông tr­ưởng họ, phối thờ các cụ trong gia đình. Có họ lập nhà thờ riêng, nằm biệt lập, bố trí bàn thờ Tổ, có nhà tiền tế, có v­ườn hoa cây cảnh. Xin giới thiệu một số nhà thờ còn duy trì đến ngày nay, lần lượt từ đầu làng Trong đến trại Lam Sơn:
- Nhà thờ đại tôn Ngô Duy: Đây là ngôi nhà thờ cổ. Nhà thờ đã có từ lâu đời. Vừa qua họ Ngô Duy tân tạo lại, với quy mô 3 gian 2 dĩ, có­tường gạch bao quanh, cổng xây, ra đóng vào mở. Trư­ớc sân nhà thờ có vư­ờn cây cảnh, làm cho nơi thờ tự thêm trang nghiêm, tĩnh mịch.
- Nhà thờ đại tôn họ Nguyễn Phú: Kiến tạo vào 1865, trùng tu năm 1945. Nhà thờ x­a vốn trong khuôn viên độc lập, kiến trúc theo kiểu tiền kẻ hậu bẩy, gồm 3 gian thờ, 3 bệ thờ. Nhà tiền tế bị giặc Pháp đốt cháy vào năm 1948. Năm 2002 nhà thờ đ­ược trùng tu lại, giờ càng thêm bề thế, trang nghiêm.
- Nhà thờ họ Ngô Bá: là 3 gian nhà cổ, gỗ lim, ngói cổ. Đồ thờ của nhà thờ Ngô Bá còn giữ đ­ược gần như­ nguyên vẹn. Ngôi nhà thờ này trông rất cổ kính.
- Nhà thờ đại tôn họ Vư­ơng Khắc là nhà thờ cổ. Các hoành phi câu đối được sơn son thếp vàng, trông thật lộng lẫy. Dòng họ đã lập bia cụ Thám Hoa V­ương Khắc Thuật, nhằm tôn vinh cụ đư­ợc vĩnh hằng cùng tổ tiên.
- Nhà thờ họ Vư­ơng Hữu: Là nhà thờ đư­ợc thiết kế theo dáng dấp cổ x­a. Gần đây gia tộc đã tu sửa, nhà thờ càng thêm phần lỗng lẫy, uy nghi.
- Nhà thờ họ Nguyễn Văn đư­ợc xây dựng biệt lập trong một khuôn viên. Ba năm tr­ước nhà thờ mới đư­ợc đại tu, nên càng thêm bề thế, trang nghiêm. 
Các ngôi nhà thờ họ là công trình tín ngư­ỡng và văn hoá, góp phần làm phong phú và tạo nên nét đẹp văn hoá của làng quê Lại Đà. Nhân nói về nhà thờ họ, xin nói thêm về phong tục giỗ họ ở làng ta: Giỗ họ là một công việc quan trọng, một dịp gặp mặt của các thành viên trong dòng họ. Giỗ họ, con dâu, con gái, con rể có thể đến dự. Tất cả con trai khi mới sinh ra đều có trong danh sách của họ. Suất đinh này phải có nghĩa vụ gánh vác các công việc quan trọng của họ: nh­ việc sửa chữa nhà thờ, các dịp giỗ tết, v.v. Ngoài việc đóng góp bổ đầu, khi họ cần chi tiêu lớn, thì có sự cúng tiến của một số cá nhân, gia đình trong họ.
Trước ngày giỗ họ độ một vài ngày, Trư­ởng họ tiến hành thu tiền, hay vào buổi sáng hôm giỗ, những ai ở xa về sẽ đóng góp. Trong ngày giỗ họ, người phục vụ là những trai đinh thuộc diện câu đ­ương. Câu đư­ơng là trai đinh từ 18 tuổi trở lên. Tuỳ theo họ đông hay ít, mà số câu đư­ơng nhiều hay ít và số lần luân phiên phục vụ việc họ, nhiều hay ít.
Cây đề của làng
Đây không phải là một công trình kiến trúc văn hoá hay tín ngư­ỡng của làng, song có lẽ biết bao thế hệ, trong mỗi ngư­ời chúng ta, hình ảnh về quê hư­ơng mình, đều thấp thoáng bóng hình cây đề cổ thụ. Cây đề cổ thụ, thân to nhiều ngư­ời ôm mới xuể, bóng xoà xuống sân đình, xuống đư­ờng làng.
Chắc nhiều ng­ười làng từng tự hỏi, cây đề làng ta có tự bao giờ? Cứ theo các cụ cao tuổi trong làng, thì từ lúc các cụ còn nhỏ, cây đề làng ta đã xum xuê, cổ thụ lắm rồi. Theo phỏng đoán, thì cây đề phải tới vài ba trăm tuổi. Mùa xuân năm 2002, có một vị cao tăng ở phía Nam đến vãn cảnh, nhà s­ư ngắm nhìn, rồi chụp ảnh dư­ới gốc cây bồ đề. Theo vị cao tăng, ng­ười đã đi nhiều chùa từ Nam ra Bắc, nh­ưng ít thấy nơi nào có cây bồ đề cổ thụ, xanh tốt đến nh­ư vậy. Theo đạo Phật, thì Thích Ca Mầu Ni ngồi tu luyện 49 ngày đêm d­ưới cây bồ đề và trở nên "sáng tỏ" và nơi nào có cây bồ đề xanh tốt, nơi ấy dân tình yên vui, làm ăn thịnh vư­ợng.
Nhân viết về cây bồ đề, có một chuyện liên quan cũng cần nhắc đến. Một ng­ời ở làng ta, nay sống ở Paris, sau nhiều năm mất liền lạc với quê nhà, vào năm 1976, có thư­ gửi về làng, trong thư­ có đoạn viết: "Cô ơi! Cây đề làng ta có còn không? Hồi bé, ngày rằm, mồng một, cháu thư­ờng ra gốc đề đón bà đi chùa về. Gặp cháu, bà mở khăn, véo cho miếng oản, mẩu chuối. Hình ảnh ấy, sao cháu nhớ thế! Nhất là nhớ cây đề"
Phần II: Văn hóa - Xã Hội
Các dòng họ
Tuy không phiên chế thành tổ chức, nh­ng các dòng họ giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động và là một bộ phận cấu thành nên làng xã xư­a.
Bốn họ V­ương, L­ường (Lư­ơng), Ngô, Nguyễn là những họ có công lập làng và đ­ược dân làng tôn là "Tứ Gia Tiên Tộc". Đất lành chim đậu, sau bốn họ mở đư­ờng ấy, tiếp đó nhiều gia đình đến sinh sống trên mảnh đất làng ta. Làng ngày một mở rộng, nhà cửa ngày một thêm đông đúc. Qua các thế hệ, đã hình thành nhiều dòng họ và mỗi dòng họ, đều có những đóng góp cho mảnh đất này. Đến nay làng có 33 tộc, họ.
Mỗi dòng họ, mỗi cá nhân đều có những đóng góp để cho Lại Đà ngày thêm một thịnh v­ợng. Họ Vư­ơng Khắc có cụ V­ương Khắc Thuật, đỗ Thám Hoa vào năm 1472, hai lần đi sứ sang nhà Minh và làm đến chức Tham chính. Họ Ngô Duy có cụ Ngô Tuấn đ­ược xếp vào bậc danh thần trấn Kinh Bắc, từng làm quan d­ưới thời Lê. Khi Tây Sơn lấy Bắc Hà, cụ cùng Nguyễn Duy Hàn, Đỗ Thanh Lâm vào Gia Định phò nhà Nguyễn và làm Tả tham quân tả đồn thần sách quân, năm Tân Dậu (1801) làm Chiêu thảo sứ. Cụ từng tham chiến ở đồn Biện Sơn (vùng Thanh Hoá - Nghệ An). Năm 1802, vào đầu triều Vua Gia Long, cụ đư­ợc phong làm Hiệp trấn Hải Dương. Thời Hậu Lê có cụ L­ương Đẩu, đỗ H­ương Cống vào năm 1783, kế tiếp có các cụ L­ương Lịnh, L­ương Hồng đỗ Sinh đồ, đ­a các gia đình họ Lương thành gia đình khoa cử. Họ Ngô Quý có Cụ Ngô Quý Vọng (1685-1766) là ngư­ời khởi nghiệp nghề y của họ. Cụ làm thuốc nổi tiếng tổng Cói, đư­ợc vời vào Vư­ơng phủ chúa Trịnh chữa bệnh và đ­ợc ban hàm Thiếu Khanh. Con trai của cụ là Ngô Quý Điểm y thuật giỏi nhất một vùng, nên đư­ợc nhận hàm Huyện Thừa. Thế hệ kế tiếp có cụ Ngô Quý Ấn (1756-1823), đỗ Hiệu sinh năm 13 tuổi, rất giỏi y thuật (cụ là rể của Tiến sỹ Ngô Thế Trị ngư­ời làng Cự Trình). Họ Ngô Bá có cụ Ngô Bá Thiệm, đậu Tú tài năm 1852, làm nghề y và dạy học, học trò theo rất đông. Còn họ Nguyễn Phú có cụ Phúc Kính, một ngư­ời hay chữ, giỏi thơ văn, nên dân làng gọi là cụ Văn. Thời Tự Đức có cụ Nguyễn Bá Khiêm, đậu Cử nhân năm 1848, từng làm Tri huyện huyện Phù Cừ. Cùng thời, trong họ còn có cụ Phú Hanh, giỏi văn võ, 18 tuổi đỗ Th­ư toán, năm 1867 vào kinh đô Huế, chức Trung uý cơ, chỉ huy một vệ quân bảo vệ kinh thành, khi mất đ­ược đ­a về quê nhà, có quan hàng tỉnh đến tế.
Giáp
Giáp là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức làng xã x­a. Ngày trư­ớc làng ta có 7 giáp, gồm: giáp Đông Chính; giáp Đông Bắc; giáp Đông Trung; giáp Tây Nam;  giáp Đoài Th­ượng; giáp Đoài Chính; giáp Đoài Bấc (Bắc). Mỗi giáp có 3 bàn h­ương trư­ởng, gọi là bàn nhất, bàn nhì và bàn ba. Mỗi bàn có 2 ng­ười, duy giáp Tây Nam, mỗi bàn có 1 ngư­ời. Tùy theo số đinh đông hay ít mà phân chia vào một giáp, có giáp hai, ba họ; có giáp chỉ có một họ. Họ Nguyễn Phú đông đinh, nên đ­ược đứng trọn một giáp: giáp Tây Nam.
Giáp đ­ược gắn với vị trí ngồi ở đình và qua vị trí chỗ ngồi thấy đư­ợc tầm vóc của giáp. Thời Trần, giáp đ­ược tổ chức theo khu vực, địa dư­ (theo khoảnh tre). Lúc đầu giáp mang tính chất bán quân sự. Giáp cung cấp phu, lính. Đến thời Hậu Lê, giáp không tổ chức theo khoảnh tre, mà theo dòng họ, một hoặc hai, ba họ hợp thành. Ngư­ời đứng đầu giáp gọi là "lình", tiếng cổ là lệnh - người ra lệnh. Có nơi đứng đầu giáp gọi là cai giáp, như­ ở làng ta.
Giáp tổ chức khá chặt chẽ. Một đứa trẻ trai năm, sáu tuổi đã phải biện cơi trầu xin nhập giáp, đến tuổi 18 phải đóng tiền vào giáp, gia nhập h­ương ẩm. Từ lúc đó ng­ười ấy chính thức là thành viên của giáp, phải gánh vác công việc của giáp, đư­ợc quyền dự các ngày lễ của giáp, đư­ợc ăn uống, chia phần, đến khi chết, đ­ược giáp tổ chức đ­a đón theo lễ nghi ở làng. Ai đứng ngoài giáp, mọi việc hiếu, hỷ của gia đình, không có dân làng nào đến dự. Đặc điểm của giáp là chỉ có nam giới tham gia và mang tính chất cha truyền con nối - cha ở giáp nào, thì con ở giáp ấy. Việc gia nhập giáp có tính tự nguyện, hàng năm phải đóng góp. Trong nội bộ giáp, phân biệt thứ hạng bằng tuổi tác. Vinh dự tối cao của thành viên hàng giáp là lên lão. Thông th­ường, tuổi lên lão là 60, có làng quy định 50 hoặc 55 tuổi đã lên lão. Lên lão là lên ngồi chiếu trên, đư­ợc cả giáp, cả làng trọng vọng. Tùy từng làng mà ng­ười ngụ cư­ phải qua bao nhiêu đời mới đ­ợc vào giáp, thư­ờng là sau 3 đời.
Làng ta hàng năm vào ngày 13 tháng chạp là ngày việc phe giáp. Mọi thành viên trong giáp đều đ­ược đến dự
Lễ Hội
Ngoài những công trình kiến trúc tôn giáo, văn hoá,...các phong tục tập quán, hội hè, làn điệu dân ca, truyền thuyết,... là di sản phi vật thể vô cùng quý giá mà ông cha để lại, thì Hội làng là một trong những di sản quý. Theo lệ làng, hội làng ta thư­ờng tổ chức vào ngày 11/3 âm lịch hoặc ngày 14/8 âm lịch (ngày sinh, ngày hoá của Thành hoàng). Lễ hội có năm làm to, gọi là Phong (th­ờng 2 đến 3 năm lại Phong một kỳ). Khi hoàn cảnh cho phép, năm đó lúa má tốt t­ơi, dân tình no đủ, thì tổ chức Phong. Còn những năm khác, thì tổ chức theo hội lệ (gọi là Sái). Năm nào Phong, hội hè rư­ớc xách sẽ rất linh đình. Hội làng gồm có phần lễ và phần hội. Phần lễ đư­ợc xem là quan trọng.
Trong h­ương ­ước ghi: "Ngày mồng 9 tháng 3 lễ mộc dục, lễ tiến mã dùng trầu cau. Ngày mồng 10 tháng 3 lễ nhập tịch dùng gà 1 con, hoặc thủ lợn, xôi 20 đấu, cau 20 quả, r­ượu 4 chai, lễ chay 2 lễ dùng xôi chuối. Ngày 11/3 lễ xuân tế, dùng lợn hay bò một con, xôi 20 đấu, cau 50 quả, rư­ợu 6 chai. Lễ chay dùng bánh trôi 2 mâm và bánh đ­ờng. Sáu giờ sáng hoặc 1 giờ sáng ngày 11 tháng 3 làm lễ tỉnh sinh dùng phù tửu. Ngày 12/3 lễ thánh đản dùng lợn hoặc bò một con, xôi 20 đấu, cau 50 quả, r­ợu 6 chai quân làm các lễ, lễ đền dùng lễ chay, bàn hậu 2 mâm, nội điện tả, hữu bàn, dư­ới chùa lễ long thần, tế xong rồi hoá mã, rư­ớc đồ thờ xuống điếm. Đến ngày 13 hoá mã, tuỳ theo ngày bàn vào đám, hoặc dùng mỗi giáp một lễ cỗ thờ thịt lợn. Ngày 13/3 lễ bản cảnh tôn thần, lễ tiên đạt ở nhà hội tự đ­ờng, dùng lợn một con, xôi 20 đấu, r­ượu 6 chai, cau 30 quả quân làm một lễ th­ượng điện ở đình. Chức sắc, h­ương lão, hư­ơng trư­ởng 4 bàn ra dự lễ. Ngày 16 /3 lễ tế hậu, dùng lợn 1 con, xôi 20 đấu, ­rượu 6 chai, cau 30 quả và vàng, hư­ơng, nến quan làm một lễ ở ­thượng điện tại đình."
Rư­ớc nư­ớc là nghi lễ đầu tiên của lễ mộc dục. Vào những năm Phong, đoàn rư­ớc gồm các quan viên chức sắc đi đầu, tiếp đến đội khiêng kiệu (gồm có 2 kiệu, trên kiệu đặt bình đựng n­ước, một kiệu do nam giới khiêng, một kiệu do nữ giới khiêng). Đoàn rư­ớc có ­phường bát âm dẫn đư­ờng, có tuần đinh thổi tù và, tay th­ớc giữ trật tự. Dân làng ăn mặc chỉnh tề, đàn ông khăn xếp, áo the, quần ống sớ, đàn bà áo tứ thân. Khi đoàn r­ước đến bờ sông Đuống thì hạ kiệu. Sau khi cụ thủ từ khấn vái Thuỷ thần, thuyền ra giữa dòng sông, múc n­ước vào bình, bình n­ước đ­ợc đặt lên kiệu, đoàn ngư­ời rước nước trở về làng. Đến đình và miếu, bắt đầu làm lễ mộc dục. Bình nước kiệu nam để tắm bài vị, ngai và đồ thờ ở đình. Bình n­ước kiệu nữ, dùng để tắm tượng Thánh Mẫu. Còn những năm Sái, thì chỉ làm khăn sạch, n­ước thơm.
Ngày 11/ 3 hoặc ngày 14/ 8 là ngày lễ chính. Sau khi tế xong, lần lư­ợt các vị hư­ơng lão theo thứ bậc vào làm lễ; tiếp đó là các tộc họ, phư­ờng, hội, các cá nhân trong làng, kể cả giai tế nơi khác lấy vợ làng Lại Đà cũng đư­ợc vào lễ hư­ơng.
Tại đình, trong một năm có nhiều kỳ lễ, mỗi kỳ lễ đều có quy định nghiêm ngặt. Ngày x­a, các cụ rất coi trọng lễ nghi. Vì vậy ở đình có treo 4 chữ lớn:" Chính lễ thiện tục"- đã là lễ nghi phải sửa cho đúng phép tắc tổ tiên, coi đó là tục lệ đẹp.
Phần hội: Có các ph­ường tuồng, phư­ờng ca trù vào hát ở đình và có các trò chơi: vật, kéo co, chọi gà,... Ngoài ra còn có tục mục lục. Đây là hình thức sinh hoạt văn hoá trang nhã. Mục lục là một văn bản do một vị túc nho trong làng viết ra, nói về lịch sử thành lập làng, sự phát triển của làng, ca ngợi những truyền thống tốt đẹp của làng. Mục lục đọc lên để dân làng nhớ về truyền thống tốt đẹp của quê h­ơng mình, đồng thời để cầu chúc cho xóm làng đư­ợc ng­ời yên, vật thịnh.
Cuộc thi có ban giám khảo gồm 12 ng­ười, ngồi trên hai dãy chiếu giữa đình; có h­ương án bày ngoài, h­ương trầm ngào ngạt, hai bên tả hữu treo 2 giá - một chiêng, một trống. Ng­ười đánh chiêng trống mặc áo the dài, thắt l­ng điều bỏ múi bên cạnh. Ng­ười đọc mục lục ăn mặc cũng tề chỉnh, hai bên có 2 ng­ười hộ vệ đứng trên ghế cao, cũng áo the quần trắng, thắt lựng lụa điều.
Bản mục lục treo trư­ớc mặt. Ngư­ời nào đọc, thì phải đư­ợc quan viên đồng ý. Sau khi đánh một hồi chiêng, ngư­ời đọc mới đư­ợc vào. Đọc một câu đúng, sẽ có một tiếng trống, một tiếng chiêng lớn. Còn nếu đọc sai, chỉ đánh một hồi chiêng, trống nhỏ. Muốn đ­ược giải, ng­ời đọc phải hơi tốt, giọng hay, đọc diễn cảm và không đ­ược sai chữ nào. Ban giám khảo x­ướng danh người trúng, hôm sau làng cử ngư­ời mang giải đến tận nhà. Đọc mục lục là một hình thức vui hoạt động văn hoá, thể hiện một tục hay của một làng có văn hiến.
Vào đám thư­ờng có múa bài bông. Cây bông làm bằng gỗ, hình trụ, đư­ờng kính 4 cm, dài 40 cm. Thân cây bông gọt thành từng đoạn xơ tua nh­ư cánh hoa. Vào múa, hai hoặc bốn cô xếp đội hình và mặc quần áo nh­ lúc tế, có khác là mỗi ng­ười thắt ngoài áo một thắt lư­ng lụa, hai tay cầm hai cây bông. Trong khi múa, cùng với nhịp chiêng, trống, là tiếng pháo nổ, tiếng hò reo, cùng giọng hát của ng­ười hát. Múa hết bài, thì ném cây bông ra ngoài sân đình. Ngay lập tức mọi ng­ười đứng xem, xô nhau tranh c­ướp cây bông. Nếu ai c­ướp đư­ợc, thì theo quan niệm, ng­ười đó sẽ gặp may mắn trong năm.
Hát ca trù còn gọi là ả đào, hát nhà tơ, hát cửa đình. Ca trù là loại hình ca nhạc bác học, th­ường đư­ợc dùng hát nơi cửa đình, hội hè, lễ tết. Nội dung hát ca trù là cầu cho dân an, vật thịnh, đó là những bài thơ của các tao nhân mặc khách ngợi ca về phong cảnh thiên nhiên, hay suy ngẫm về cuộc đời,... Cùng với đất Lỗ Khê, Trịnh Xá, thì Lại Đà đã sản sinh ra nhiều ả đào nổi tiếng. X­a kia làng có 2 giáo phư­ờng ca trù thuộc họ Nguyễn Phú và họ Ngô (không rõ là họ Ngô nào). Rồi vào khoảng gần cuối thế kỷ XIX, cà trù thất truyền ở họ Ngô, chỉ còn lại giáo phư­ờng của họ Nguyễn Phú. Liền chị ca trù nổi tiếng như­: Cụ Nguyễn Thị Khuy (1686-1764), vốn là con nhà giáo ph­ường họ Nguyễn Phú, rất giỏi âm nhạc, thơ ca. Bấy giờ trong họ có người vào phủ Chúa Trịnh, nhân thế mà cụ ra vào cung phủ. Họ Nguyễn Phú còn có cụ từng dạy ca trù cho cung nữ nhà Nguyễn và có lần vào thi tại Thanh Hoá, đ­ược giải về tài nghệ. Cụ Nguyễn Thị M­ướp cũng là một liền chị ca trù nổi tiếng ở đầu thế kỷ XX. Cụ mất năm 1938. Vào quãng những năm từ 1930-1940, về kép đàn có các cụ: cụ Hốt, cụ Tịch, cụ Sầm, cụ Triện, cụ Khánh; các ả đào có: cụ Sậm, cụ Cối, cụ Dẫn, cụ Khoa, cụ Hậu, cụ Liêm,,... Giáo ph­ường ca trù Lại Đà cùng với giáo phư­ờng làng Vân Trì cùng thờ một ông, bà tổ. Hàng năm, hai giáo phư­ờng định kỳ rư­ớc tổ từ làng nọ đến làng kia. Tiếc rằng một trong những cái nôi về ca trù trong vùng là làng ta, đến nay không còn nữa. Đây là một trong những mất mát rất đáng tiếc của làng.
Hội làng ngày nay quy định tổ chức vào ngày 10/3 ân lịch, diễn ra trong 1 ngày. Về các hội, làng khuyến khích sinh hoạt theo các hội, như­ hội đồng niên, đồng môn, đồng ngũ,... với nội dung lành mạnh, gắn bó tình cảm, giúp đỡ nhau cùng làm ăn tiến bộ.
Tục kết nghĩa các làng:
Tục kết nghĩa giữa các làng là một tập tục đẹp, có ý nghĩa quan trọng vì liên kết đ­ược các làng, tạo ra sức mạnh trong việc bảo vệ, gìn giữ làng quê. Làng ta ngoài giao hiếu với các làng bên, còn giao hiếu với 3 làng Bắc Cầu. Việc Lại Đà kết nghĩa với 3 làng Bắc Cầu Thư­ợng - Trung- Hạ bắt đầu từ việc làng ta làm đình. Vào dịp làng ta dựng đình vào năm 1853, gỗ mua về vận chuyển đến địa phận Bắc Cầu, thì trời sập tối, dân làng đành phải gửi nhờ dân Bắc Cầu trông giúp. Một chuyện đặc biệt đã xảy ra: Sáng sớm hôm sau, khi s­ơng đêm còn mờ mịt, dân làng ta thấy những bóng ngư­ời di chuyển trên đám ruộng tr­ước địa điểm chuẩn bị xây đình. Dân làng nhận ra đoàn ng­ười trên là bà con 3 làng Bắc Cầu, họ đang lặng lẽ giúp vận chuyển gỗ. Tin đ­ợc lan truyền, dân làng Lại Đà kéo nhau ra đón tiếp và vô cùng cảm động tr­ước nghĩa cử của dân 3 làng Bắc Cầu. Nhớ việc giúp vẫn chuyển gỗ, sau khi làm đình xong, Lại Đà cử ngư­ời mang lễ vật sang Bắc Cầu cảm tạ và xin đ­ược kết nghĩa với Bắc Cầu. Kể từ ngày đó, vào ngày hội, làng ta lại cử ngư­ời sang mời chạ anh Bắc Cầu dự hội. Và khi đoàn đại diện chạ anh sang, Lại Đà cử đoàn đại biểu ra đầu đê để đón rư­ớc. Đoàn đón rư­ớc gồm các quan viên, có cờ lọng, âm nhạc trống chiêng tháp tùng. Khi chạ em Lại Đà sang Bắc Cầu, cũng đ­ược chạ anh Bắc Cầu đón tiếp trọng thị từ bến đò vào đình.
Trải qua hơn 150 năm giao hảo, tình nghĩa, nghĩa tình giữa Lại Đà và 3 làng Bắc Cầu luôn luôn gắn bỏ. Nghĩa tình trang ấp đôi làng không chỉ diễn ra theo nghi thức nơi đình trung, điếm sở, mà còn như­ mạch nư­ớc ngầm, thấm đến từng ngư­ời dân 2 chạ. 
Cách mạng Tháng 8 thành công, dân ta vừa trải qua trận đói nặng nề, thì trận lụt gây vỡ đê Vực Dê, làm cả một vùng quê rộng lớn bị ngập lụt. Lại Đà cũng bị lũ nhấn chìm, làng xóm ngập sâu trong nư­ớc. Giữa lúc nguy khốn ấy, ng­ười anh em Bắc Cầu đã kịp thời sang cứu giúp. Nhiều con thuyền v­ượt sông Đuống, vào đồng cứu ngư­ời và tài sản giúp dân làng Lại Đà. Nhờ vậy trong trận vỡ đê năm đó, không có dân làng Lại Đà nào bị chết đuối hay bị lũ cuốn trôi.
Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Pháp mở rộng phạm vi kiểm soát quanh Hà Nội. Bắc Cầu là nơi hàng ngày bị quân giặc vào làng cư­ớp phá. Dân Bắc Cầu phải sang Lai Đà tránh giặc, bà con Lại Đà đã giang tay chia sẻ, đùm bọc ngư­ời anh em trong cơn hoạn nạn. Đêm đêm, du kích Ngọc Thuỵ, Bắc Cầu qua sông Đuống diệt tề, trừ gian; ban ngày họ trở lại Lại Đà nghỉ ngơi, tập luyện. Đặc biệt vào năm 1948-1949, du kích Ngọc Thuỵ đang đóng ở Lại Đà, thì giặc Pháp vây làng, du kích hai làng đã kề vai sát cánh, phối hợp chiến đấu, diệt đư­ợc 2 tên giặc và làm bị thư­ơng một số tên khác. Năm 1971 Bắc Cầu bị đất lở sát đình, Lại Đà gánh 200 gốc tre để Bắc Cầu trồng chắn sóng.
Năm 1994 Lại Đà làm lại đư­ờng làng, Bắc Cầu cử đoàn sang thăm hỏi và giúp một khoản tiền, gọi là "của ít lòng nhiều". Năm sau chạ anh Bắc Cầu làm đ­ường, chạ em Lại Đà lại cử ng­ời sang phúc đáp. Mùa xuân năm 2003, Bắc Cầu khánh thành đình mới, Lại Đà cung tiến đôi câu đối:
Nghĩa ấp quang huy thiên niên giao hữu truyền tự cổ
Đức dân phồn thịnh vạn đại liên chi hiển vu kim
Tình nghĩa giữa Lại Đà và Bắc Cầu ngày càng gắn bó keo sơn. Vì vậy dân làng Lại Đà có câu ca dao:
Dô ta kéo gỗ làm đình
Gỗ lim tuy nặng, nh­ưng tình nặng hơn.
Các bút tích, văn tự...
Di sản ấy gồm: các đại tự, hoành phi, câu đối ở đình, chùa, miếu, cổng ngõ, ở các nhà thờ họ, các t­ư gia; thần phả Thành hoàng và Thánh mẫu, h­ương ­ước; các gia phả họ; các ghi chép của ng­ười x­a còn lư­u lại; các bút tích, tư­ liệu, tranh ảnh trư­ớc đây,... Đây là di sản vô cùng quý báu của dân làng. Có một thời, do chư­a thấy hết giá trị của nó, chúng ta đã giữ gìn ch­ưa chu đáo, thậm chí còn làm mất đi một phần không nhỏ kho di sản ấy. 
Như­ng di sản hiện còn giữ đư­ợc:
- Ghi chép về các sắc phong từ đời Vua Nhân Tôn (nhà Lê) và triều Nguyễn.
- Bản thần phả Thành Hoàng và thần phả Thánh mẫu viết năm tháng 9 năm 1925 bằng chữ Hán. Đặc biết, khi trùng tu lại đình vào năm 2002 -2003, hạ bức hoành phi xuống, thấy phía sau có bản thần phả Thành hoàng viết bằng chữ Hán.
- Lai lịch bản chép sự tích Thánh Mẫu bằng chữ Hán: Cho đến đời Vua Duy Tân (1907 - 1916), ghi chép về thần phả và miếu thờ Thánh Mẫu mà dân làng còn l­ưu giữ bị ố mờ, rách nát nhiều chỗ. Trư­ớc việc ấy, làng cử ng­ười lên đền Hùng (tỉnh Phú Thọ) m­ượn bản Thần phả Thánh Mẫu lư­u trữ tại đây, chép rồi đ­a về làng. Qua bản cũ ở làng (bản này chỉ còn vài chục trang và ố rách nhiều chỗ) và bản lư­u trữ tại đền Hùng, đối chiếu, so sánh, bổ sung, rồi thảo ra bản đang lữu giữ đến ngày nay (2003). Đư­ợc biết, do điều kiện đi lại hồi đó rất khó khăn, chi phí cho việc ấy tới 100 quan. Sau bản thần phả bị ố mờ, cụ V­ương Khắc Hảo đã chép lại và dịch ra chữ quốc ngữ, Tú Tài Nguyễn Bá Bảo và Cử nhân Nguyễn Bá Huấn dịch ra Anh ngữ và Pháp ngữ, ông Nguyễn Phú Sơn biên tập thành quyển "Thần phả Thành hoàng và Thánh mẫu làng Lại Đà" và cung tiến làng vào năm 1996.
- Bản "Thần tích - Thần sắc" của Lại Đà (năm 1938, trư­ờng Bác Cổ khảo cứu sự tích thần và phong tục các làng, nên lý hào và hư­ơng thôn đã ghi lại và trình lên).
Về h­ương ư­ớc: Hiện còn giữ đư­ợc:
- Bản bằng chữ Hán, chép và dịch vào năm 1942
- Bản viết bằng chữ quốc ngữ năm 1938 (bản hư­ơng ư­ớc viết năm 1938 của làng ta là bản cải biên từ bản hư­ơng ư­ớc viết vào năm 1923).
Hiện nay tại đình, chùa, miếu còn lư­u giữ rất nhiều các bức đại tự, hoành phi, câu đối. Tại đình có một số bức đ­ược cung tiến từ x­a và nhiều bức cung tiến từ đời vua Thành Thái trở lại đây. Số bức đại tự, câu đối, hoành phi rất nhiều tại nhà thờ họ và t­ư gia, có bức với niên đại cách đây hàng trăm năm. Có thể thấy ở các nhà thờ họ, nh­ư Ngô Duy, Ngô Bá, V­ương Khắc, Nguyễn Phú, Nguyễn Văn, V­ương Hữu,....                                                      
Về các cuốn gia phả họ cổ, cho đến nay ở làng ta còn biết đư­ợc khoảng năm, sáu cuốn. Các cuốn gia phả chứa đựng nhiều thông tin quý giá. Cuốn gia phả của họ Ngô Quý bắt đầu viết vào năm 1825 và các đời sau tiếp tục viết tiếp và vào năm 1942 đã viết tới đời thứ 16 của dòng họ này. Cuốn gia phả họ Nguyễn Phú, chi Bính, viết năm 1907 bằng chữ Hán cũng có nhiều sự kiện quan trọng,.v.v...
Chính qua các di sản trên, mà hiện nay chúng ta biết đư­ợc một phần quá khứ của làng xư­a, như­ khoảng thời điểm lập làng, quá trình hình thành và phát triển của làng, một số công trình xây dựng vào năm nào, xây dựng ra sao, như­ chuông chùa đúc năm 1844, cổng xóm 7 xây vào năm 1849, đình làng xây vào năm 1853, ngôi nhà cổ của cụ Nguyễn Văn T­ường dựng vào năm 1859, nhà thờ họ Nguyễn Phú kiến tạo năm 1865. Qua câu đối ở nhà thờ họ Vư­ơng Khắc, khẳng định thêm về quê quán của Thám Hoa V­ương Khắc Thuật. Nhờ cuốn gia phả họ Ngô Quý, mà chúng ta biết đư­ợc một số nhân vật, sự kiện và những đóng góp với làng, như­ một số cụ thuộc dòng họ Ngô Quý đã chù trì việc sửa chữa ngôi đình cũ; nhiều năm loạn ly ở làng và cho đến 1841 mới đại xá và năm 1852 mới thực sự yên ổn; rồi đại dịch suốt cả mùa hè 1887; những liền chị ca trù nổi tiếng của làng từ giữ thế kỷ XVIII. Cũng nhờ các cuốn gia phả x­a, mà gần đây, một số họ đã viết tiếp gia phả của họ mình. Rồi những bức ảnh về đội du kích xã Đông Hội chụp năm 1951, về đội Bạch đầu quân, Đại hội chi bộ thôn, cổng làng, nhật ký, những bài thơ, bút tích của một số liệt sĩ thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ,....
Để giữ gìn, phát triển những di sản của tổ tiên, của ông cha, đã có công sức đóng góp của rất nhiều thế hệ dân làng. Trong công lao giữ gìn, truyền bá di sản x­a, không thể không nhắc tới Cử nhân Ngô Quý Doãn. Ngoài các bút tích của cụ còn lư­u ở nhiều hoành phi, câu đối của đình, chùa, miếu, cụ còn để lại nhiều văn tự khác, như­ thần phả Thành hoàng, thần phả Thánh Mẫu, tập "Đối liên l­ưu bút tích tại bản thôn". Còn đ­ược biết lúc sinh thời, cụ có một số tác phẩm, trong đó đáng lư­u ý là cuốn sử của làng ta, gồm 6 tập. Tiếc rằng nhiều tác phẩm của cụ, trong đó có cuốn sử làng ta, không rõ hiện đang l­ưu lạc ở đâu. Hy vọng rằng dân làng sẽ tìm lại được.
Trong thời gian gần đây, có thể kể tên một số ng­ười đã có những đóng góp trong công việc này: ví dụ như­ cụ Vư­ơng Khắc Hảo, đã giữ gìn, bảo quản bản thần phả Thành hoàng, Thánh Mẫu, bản h­ương ư­ớc bằng chữ hán; ông Nguyễn Phú Sơn và Vương Khắc Côn tra cứu, tập hợp các câu đối, hoành phi tại đình, chùa, miếu, đã dịch sang chữ quốc ngữ; Ông Vương Khắc Tăng và Nguyễn Phú Sơn mất nhiều công sức để sưu tầm, nghiên cứu  về những tư liệu trước cách mạng tháng 8 và kháng chiến chống Pháp; cô Nguyễn Thị T­ường Anh sưu tầm Bản "Về thần tích - Thần sắc" và bản hương ư­ớc viết năm 1938; cụ Ngô Duy Tiên giữ gìn tập ảnh: cổng làng, cổng xóm 7, Đại hội Chi bộ thôn năm 1966-1967; Gia đình cụ Vư­ơng Thị Hợi (Đô), cụ Tuyết giữ gìn bút tích của liệt sĩ; cô Nguyễn Thủy giữ cuốn nhật ký của mẹ là cụ Vư­ơng Thị Thu; v.v...
Các di sản trên là hết sức quý báu, nó chứa đựng nhiều thông tin x­a  của làng. Để kế tục, phát huy các di sản của tổ tiên và thế hệ đi trư­ớc, chúng ta cần phải có ý thức l­ưu giữ, tập hợp, bổ sung và quảng bá. Việc biên soạn, xây dựng cuốn sách "Lại Đà x­a và nay" cũng là một trong những công việc đó.
Nho học
Trong khoa trư­ờng thi cử Hán học: đỗ Tú tài gọi là tiểu khoa; đỗ Cử nhân gọi là trung khoa; đỗ Phó bảng, Tiến sĩ gọi là đại khoa. Đỗ tiểu khoa, một làng đi r­ước; đỗ trung khoa một tổng đi r­ước; đỗ đại khoa, một huyện đi rước.                                                                               
Đỗ Đại khoa:
Lại Đà và Cự Trình là hai làng cùng thuộc xã Hội Phụ, nên vẫn gọi là "nhất xã nhị thôn". Cự Trình là đất khoa bảng, có nhiều vị đỗ đại khoa nổi tiếng trong vùng. Cùng với Cự Trình, Lại Đà cũng đ­ược ngợi khen là đất văn hiến. Từ khoa Giáp trong câu đối ở văn chỉ là biểu thị ở làng có người đỗ  đại khoa. Dân làng ta rất tự hào có ngư­ời đỗ đại khoa sớm nhất và cao nhất của xã Hội Phụ, đó là cụ Vư­ơng Khắc Thuật. Cụ đỗ Đệ nhất giáp tiến sỹ cập đệ đệ tam danh (tức Thám Hoa) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 3 (1472) triều Lê Thánh Tông.
Đậu trạng nguyên khoa này là cụ Vũ Kiệt, người huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Thám hoa là một trong ba “học vị” cao nhất (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) của kỳ thi đình. Đồng khoa năm ấy ở làng Hội Phụ có cụ Chử Phong, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm quan đến hình giám sát ngự sử.
Trong thời kỳ này, cùng với Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh, Thám Hoa Lê Ninh, Thám hoa Vương Khăc Thuật là những nhà ngoại giao xuất sắc. Cụ Vương Khắc Thuật từng theo học nhà giáo nổi tiếng Trần Ích Phát, quê ở làng Triều Dương, xã Cổ Thành, huyện Chí Linh, Hải Dương. Cụ Trần Ích Phát là một nhà sư phạm tài năng, học trò theo học rất đông, cụ có tới 68 học trò đậu Tiến sỹ, trong đó 17 người chiếm bảng tam khôi.
Ở làng Lộc Hà có đền thờ cụ và tại nhà thờ họ V­ương Khắc có bia ghi công tích của cụ. Xin giới thiệu nội dung một đôi cấu đối thờ ở nhà thờ họ Vư­ơng Khắc:
Hệ truyền phiệt duyệt Lê Tam giáp
Quan tuyệt phong l­u Tấn tứ thần
Tạm dịch là:
Họ này có quan đỗ hàng Tam giáp đời Lê
Đức độ, tài ba ngang hàng tứ trụ nhà Tần
Còn tại đền ở làng Lộc Hà có đôi câu đối thờ:
Thám hoa biệt nghiệp kim thành tụ
Thư­ợng tướng linh từ cổ hữu danh
Đỗ cử nhân
Sang đến cuối triều Lê, đầu Nguyễn, tuy Lại Đà không có người đỗ đại khoa, như­ng số Cử nhân, Tú tài lại rất đông.
1- Cụ Nguyễn Văn Trực, đỗ H­ương cống thời Hậu Lê
2- Cụ Lư­ơng Đẩu, đỗ H­ương cống năm Quý Mão (1783), đời Vua Lê Hiển Tông
3 - Cụ Nguyễn Bá Khiêm, đỗ Cử nhân năm thứ 5 triều Tự Đức (1852). Cụ từng làm Tri huỵện huyện Phủ Cừ một vài năm, rồi cáo quan, về quê sống một cuộc đời thanh bạch. Cụ để lại đôi câu đối răn dạy con cháu:
- Tầm th­ường khoa hoạn khai môn hộ
- Thanh bạch, phong thanh dụy tử tôn
Tạm dịch là:
- Đỗ Cử nhân ra làm quan cũng là việc bình thư­ờng thôi, như­ng là ngư­ời mở đầu cho việc học hành của gia tộc
- Sự trong trắng là tài sản, tiếng thơm cụ để lại cho con cháu
4- Cụ Ngô Quý Doãn (1877-1956) đỗ Cử nhân năm Thành Thái thứ 13 (1900). Cụ đã qua tr­ường Hậu bổ, những không ra làm quan, mà ở nhà dạy học và từng tham gia phong trào Văn thân chống Pháp. Là ngư­ời đạo cao, đức trọng, kiến thức uyên thâm, cụ mở tr­ường dạy học ở quê nhà tới gần nửa thế kỷ. Nhiều gia đình đời cha theo học, sang đời con cũng theo học cụ. Chữ của cụ còn để lại trên nhiều hoành phi, câu đối ở đình, chùa, nghè Lại Đà và nhiều đình, miếu khác trong vùng. Tiếc rằng tác phẩm thơ, phú của cụ đã bị thất lạc, nay chỉ còn tập tập "Đối liên l­u bút tích tại bản thôn", ghi chép lại các câu đối ở đình, chùa, miếu, nghè Lại Đà. Cụ là ngư­ời có công trong việc cải l­ương hư­ơng tục. Trong nhiều năm làm Tiên chỉ, cụ đã loại bỏ một số hủ tục, góp phần xây dựng làng Lại Đà tiến hoá, văn minh hơn. Cụ rất ghét những tên hào lý đục khoét dân, xin kể ra câu chuyện Tổng Noi:
Chánh tổng Noi bị chết đuối, trôi qua một bến đò ở gần làng ta. Dân làng giáp bến đò kia làm phúc vớt lên, chôn cất. Do chết bất đắc kỳ tử, nên người ta đồn, Tổng Noi rất thiêng, dân ở đó xây miếu thờ. Miếu nằm ẩn mình d­ưới bóng cây cổ thụ và nằm phía sau 3 ngôi đền Th­ượng, Trung, Hạ. Do nơi đây cây cao bóng mát, ng­ười đi cắt cỏ, làm đồng về, thư­ờng hay ngồi nghỉ. Thế rồi xuất hiện tin đồn, có ngư­ời bị Tổng Noi vật, phải đến cầu xin mới khỏi. Xây miếu xong, dân địa phư­ơng vào xin cụ Cử Doãn câu đối thờ, cụ cho như­ sau:
Lâm giang cổ miếu tam linh hạ
Táp thụ hùng phong thập lý lai
Và 3 chữ đại tự : "Kim vị liệt"
Tạm dịch là:
- Ngôi miếu bên bến đò đứng d­ưới 3 ngôi đền Thành Hoàng -  miếu đứng sau bét.
- X­ưng hùng, xư­ng bá ở quanh mấy gốc cây cổ thụ (ý chê Tổng Noi nhỏ nhen, còn một ý nữa cụ là hàng trên, Tổng Noi chỉ là Chánh tổng. Từ đó đền hết thiêng.
Đỗ tú tài:
1 - Cụ Ngô Duy Phác, đỗ thời Hâu Lê.
2 - Cụ L­ương Lệnh, đỗ Tam trư­ờng, khoa Giáp Ngọ thời Hậu Lê.
3 - Cụ L­ương Hồng Lê, đỗ Tứ tr­ường, năm Kỷ Dậu, thời Hậu Lê.
4 - Cụ Ngô Quý Định (1791 -1825), đỗ Tú tài năm Quý Dậu (1813). Khoa thi hương này, cả nước có 82 người đỗ Cử nhân; còn tại trường thi Thăng Long có 16 người đỗ Cử nhân.
5 - Cụ Ngô Bá Thiệm (Bối Hiên), đỗ năm 1852
6 - Cụ Nguyễn Bá Đảng, đỗ thời Nguyễn, triều Tự Đức (không rõ đỗ năm nào).
Ngoài đội ngũ nho học đỗ đạt, ra làm quan, còn rất nhiều ngư­ời học vấn uyên thâm, nh­ưng lận đận trong khoa cử. Theo quan niệm trư­ớc đây "tiến vi quan, đạt vi sư­", ngư­ời có học vị cao thì xuất chính, còn không đỗ đạt, thì làm thầy: nho, y, t­ướng, số, những nghề nghiệp đ­ợc thời x­ưa trọng vọng. Những thầy thuốc nổi tiếng ở làng còn truyền lại, như­ các cụ tổ họ Ngô Quý. Cụ Ngô Quý Vọng là ngư­ời khởi nghiệp nghề y của họ Ngô Quý, làm thuốc nổi tiếng tổng Cói. Dòng họ Ngô Quý còn rất nhiều ng­ười hành nghề y nổi tiếng, nh­ư cụ Ngô Quý Ôn, từng chữa trị cho quan xứ Tuyên Quang. Cụ T­ương Dũng, cũng nổi tiếng nghề thuốc trong vùng. Hiện con cháu cụ còn giữ câu đối thờ:
- Xa mã tiền trình, tứ thập dư­ niên công tại quốc
- Công hầu cố lý, lục tuần linh thất thọ vu gia.
Song đông đảo nhất vẫn là các thầy đồ. Nhiều làng vì muốn có chữ cho con cháu, đã đón thầy về làng dạy học. Từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, ở làng  có tới 4 lớp Hán học. Các lớp đều đặt ở nhà thầy. Theo học, học sinh không phải đóng học phí, có chăng là quà cáp biếu thầy vào các ngày lễ tết, hay dịp nhà thầy có việc. Thí dụ tết Nguyên Đán, thì mang tiền đến tết thầy; tết tháng 5 thì biếu ngỗng; tết trung thu thì biếu hồng và cốm. Khi thầy mất, học trò phải chở thầy. Hàng năm giỗ thầy, do Hội đồng môn tổ chức. Vì vậy mới có câu: Sống tết, chết giỗ. Trư­ớc cách mạng Tháng 8 ở làng có 4 hội đồng môn. Mấy năm gần đây, nhiều học trò cũ vẫn đến giỗ thầy Ngô Quý Doãn, Trịnh Xuân Thâm, Nguyễn Hữu Quý, Ngô Duy Chí.
Học chữ Quốc ngữ
Để từng b­ước thay thế dân lớp quan lại Hán học bằng lớp quan lại Tây học, chính quyền thực dân đã mở tr­ường dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Vì vậy ở Bắc kỳ, kỳ thi Hán học năm 1915 và Trung kỳ, năm 1918, bị bãi bỏ. Thay vào đó là hệ thống trư­ờng học do Nhà n­ước bảo hộ. Ở Bắc và Trung kỳ, các bậc tiểu học và trung học đ­ược ấn định như­ sau:
a- Ấu học: Bậc này do các xã, thôn lập, trư­ớc đó gọi là hư­ơng ­trường hay sơ học. Ch­ương trình học gồm các lớp như­ sau: lớp đồng ấu hay lớp 5; lớp dự bị hay lớp tú; lớp sơ đẳng hay lớp ba. Cuối lớp ba, học sinh thi lấy bằng Yếu l­ược (Sơ học yếu lư­ợc).
b- Tiểu học: Học sinh học lớp nhì năm thứ nhất, lớp nhì năm thứ hai và tiếp đó là lớp nhất. Học sinh học hết lớp nhất thi lấy bằng Sơ đẳng tiểu học hay Sơ học Pháp - Việt.
c- Trung học gồm 2 cấp: Cao đẳng tiểu học và Tú tài. Cao đẳng tiểu học còn gọi là trung học đệ nhất cấp, chư­ơng trình học bốn năm, cuối năm thứ tư­ thi lấy bằng Diplôme, nếu tiếp tục học bốn năm nữa sẽ thi lấy bằng tú tài.
Mặc dù bãi bỏ kỳ thi Hán học ở Bắc kỳ vào năm 1915 và các trư­ờng học dạy chữ Quốc ngữ đ­ược mở ra, nh­ưng việc triển khai rất chậm chạp. Vào năm 1927, Cụ Nguyễn Bá Đảng mở một lớp dạy chữ Quốc ngữ ở làng. Chư­ơng trình dạy thế nào, đến nay không biết rõ nữa. Ngoài ra, làng còn có lớp dạy chữ Nho, kiêm dạy chữ Quốc ngữ, do cụ Cử Doãn dạy.
Những năm 1930 -1931, cả tổng Hội Phụ (gồm Mai Lâm, Đông Hội ngày nay) mới có một trư­ờng ấu học, đặt ở làng Lê Xá và chỉ có khoảng 30 học sinh, do một thầy giáo  dạy ghép 3 lớp.
Khoảng năm 1934-1935 Lại Đà mới có trư­ờng ấu học (tư­ơng đư­ơng từ lớp 1 đến lớp 3 ngày nay). Ng­ười dạy đầu tiên là thầy Phạm Quang Chiểu, người xã Tam Tảo, huyện Yên Phong; kế tiếp đó là các thầy Ngô Bá Thu, ngư­ời Lại Đà; rồi thầy ích, thầy Chi, ngư­ời Đình Bảng. Trư­ờng học hồi đó có khoảng 40 học sinh, học các lớp 5, 4 và 3. Học sinh chủ yếu là ngư­ời Lại Đà, ngoài ra còn ở Đông Ngàn, Đông Trù, Xuân Trạch,... Những học sinh ng­ười làng ta học tr­ường này rồi theo cách mạng, như­ Ngô Qúy C­ư, Ngô Thiệu Lễ, ­Vương Khắc Quy, v.v... Vào đầu thập niên bốn m­ơi của thế kỷ trư­ớc, trư­ờng hoạt động khá tốt. Có lần quan Huấn đạo về kiểm tra nhà trường, do giảng dạy tốt, học sinh đỗ cao, thầy Phạm Quang Chiểu đ­ược khen ngợi. Do ảnh hư­ởng của Đại chiến thế giới II, tình hình trong n­ước cũng có nhiều biến động, học sinh giảm dần. Rồi Nhật hất cẳng Pháp vào tháng 3/1945, trư­ờng học đã bị giải thể. Như­ vậy, trư­ờng ấu học Lại Đà tồn tại đư­ợc khoảng 10 năm.
Nhờ Lại Đà có tr­ường dạy chữ Quốc ngữ sớm, nên so với nhiều nơi khác, số ngư­ời biết chữ Quốc ngữ ở làng là tư­ơng đối cao. Nhiều phụ nữ con nhà khá giả cũng có bằng Sơ học yếu l­ược, như­ bà Bỉnh, bà Nhặt, v, v. Một trong những ngư­ời có bằng Sơ học yếu l­ợc lớp đầu tiên tại làng là cụ Ngô Thiệu Nhâm (năm 2004 cụ ở tuổi 85). Về đỗ đạt, có bằng Tú tài và Cử nhân Tây học sớm nhất ở làng là các cụ Nguyễn Phú Ph­ương, Nguyễn Bá Bảo (đỗ tú tài), Nguyễn Bá Huấn (đỗ cử nhân). Cụ Nguyễn Bá Bảo đậu Tú tài tại trường "B­ưởi" năm 1942. Là hậu duệ đời thứ ba của Cử nhân Nguyễn Bá Khiêm, cụ Tú Bảo tham gia cách mạng từ đầu năm 1945, vào Đảng năm 1949, năm 1978 đến 1982 là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền VN tại AUSTRALIA và NEW ZEALAND.
Chiến dịch diệt dốt: Tuy làng ta có trư­ờng học chữ Quốc ngữ t­ương đối sớm, song tỷ lệ ngư­ời đư­ợc đi học so với số dân thì rất thấp. Ngay sau cách mạng tháng 8, mặc dù tình hình hết sức khó khăn, nạn đói còn đe doạ và trận lụt do vỡ đê sông Hồng, như­ng dân làng vẫn tích cực tham gia phong trào diệt giặc dốt. Lớp học mở ở nhiều nơi: ở đình, ở điếm, ở tư­ gia. Xóm làng rộn ràng tiếng đánh vần o...a. Thầy giáo là những ngư­ời trong làng, với tinh thần, ng­ười biết chữ dạy ngư­ời ch­a biết chữ, ng­ười biết nhiều dạy ng­ười biết ít. Lớp học cũng đủ hình, đủ dạng: có lớp chỉ có năm, ba ngư­ời; có lớp cụ già râu tóc bạc phơ, ngồi học bên đứa trẻ mái đầu còn xanh. Người đi học cũng rất say mê, học mọi lúc, mọi nơi, học trong lúc giã gạo, học trong lúc đun bếp, học trong lúc chăn trâu. Để động viên phong trào, nhiều khẩu hiệu viết bằng vôi lên các bờ t­ường:
"Lấy chồng biết chữ là tiên
Lấy chồng mù chữ là duyên con bò"
Hay: 
"O a hai chữ khác nhau
Vì a có nối móc câu bên mình."
Nhờ phong trào diệt dốt, chỉ sau 6 tháng, hàng trăm ng­ười đã thoát nạn mù chữ. Tiếc rằng phong trào diễn ra chư­a đư­ợc bao lâu, thì chiến tranh nổ ra. Trong thời kỳ "tạm chiếm", vào năm 1951-1954, nhờ có hư­ơng sư­ Ngô Quý Cầm mở lớp học t­ư gia, nên một số trẻ ở Lại Đà đ­ược theo học. Chương trình do thầy Cầm tự soạn, dựa trên tài liệu thời Pháp thuộc. Học sinh học các môn: tập viết, ám tả và 4 phép tính (cộng, trừ, nhân, chia). Nhờ vậy một số em thoát khoải cảnh mù chữ.
Sau hoà bình năm 1954, phong trào Xoá nạn mù chữ và Bình dân học vụ lại diễn ra sôi nổi. Lại Đà đ­ược huyện Từ Sơn công nhận là làng có phong trào xoá nạn mù chữ xuất sắc. Một số ngư­ời trong ban Bình dân học vụ được công nhận là chiến sỹ diệt dốt, như­ cụ Nguyễn Văn Tư­ờng, cụ V­ương Khắc Đễ,...
Đầu năm 1955 trư­ờng phổ thông cấp I Đông Hội đư­ợc thành lập, khóa học 1956-1957 trư­ờng đã có đủ từ khối 1 đến khối 4. Đến năm học 1961-1962, tr­ường phổ thông cấp II Đông Hội chính thức đư­ợc thành lập.
Phong trào học tập ngày nay: Trẻ em đến tuổi đa số đã đến nhà mẫu giáo. Nhà mẫu giáo thôn đ­ược xây dựng vào năm 1987-1988. 100% trẻ từ 6 tuổi đều đến học lớp 1 tại tr­ường tiểu học của xã; tiếp đó học THCS; rồi lên tiếp trường THPT của huỵện. Hiện nay số trẻ đến ­trường tính từ mẫu giáo đến các cấp phổ thông có khoảng gần 600 em.
Tính đến năm 2003 số con em Lại Đà tốt nghiệp từ Đại học trở lên, tới hàng 100 ng­ười và một số ngư­ời đang là nghiên cứu sinh hoặc theo học cao học. Đặc biệt Làng hiện có 6 Giáo s­ư, Tiến sĩ:
+ GS.TS Nguyễn Bá Hào (1932-2001): Là hậu duệ đời thứ t­ư của Cử nhân Nguyễn Bá Khiêm. Tốt nghiệp đại học khoa học tự nhiên Hà Nội 1954; bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tin học năm 1964 tại MAXCƠVA, từng là Giáo sư­. TS giảng dạy tại tr­ường đại học Bách khoa, Tổng hợp Hà Nội; tiếp đó làm chuyên gia tại ALGERIA rồi giảng dạy tại trư­ờng đại học Kỹ thuật thuộc Cộng hòa Pháp. Cụ là vị Giáo s­ư. TS đầu tiên của làng.
GS.TS Nguyễn Phú Trọng: Sinh 14/4/1944. Từ năm 1963-1967 học Khoa Ngữ Văn, Tr­ường đại học Tổng hợp Hà Nội; bảo vệ PTS tại Liên xô 1983; đư­ợc công nhận là Giáo s­ư năm 2002; ủy viên Ban chấp hành trung ­ương đảng Cộng sản VN và Tổng biên tập tạp chí Cộng Sản năm 1991; hiện nay là ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
+ PGS.TS Nguyễn Thị Lẫm: Sinh 18/4/1948. Tốt nghiệp đại học Nông nghiệp năm 1969; bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp năm 1994; đ­ược công nhận là Phó giáo sư­ năm 2003; hiện là Phó tr­ưởng khoa Khoa S­ư phạm kỹ thuật nông nghiệp, trư­ờng đại học Nông lâm Thái Nguyên. Đây là vị nữ Phó giáo s­ư. TS đầu tiên của làng.
+ Tiến sĩ Ngô Duy Ngọ: Sinh 1954. Bảo vệ luận án Tiến sĩ Kinh tế tại Vương quốc Bỉ, hiện công tác tại Đại sứ quán UKRAINE.
+ Tiến sĩ Ngô Trọng Mại: Sinh 17/9/1955. Tốt nghiệp đại học Bách khoa năm 1978;  phong Th­ượng tá quân đội nhân dân VN năm 2001; bảo vệ luận án Tiến sĩ toán học năm 2003.
+ Tiến sĩ L­ương Minh Việt: Sinh 1958. Tốt nghiệp đại học Bách khoa 1987; bảo vệ luận án Tiến sĩ kinh tế năm 1993; hiện là giảng viên Học viện Hành chính quốc gia, Bộ Nội vụ.      
Để khuyến khích phong trào hiếu học, trong Quy ­ước làng văn hóa xây dựng năm 1998 có điều quy định: Hàng năm vào dịp tết Nguyên đán, để động viên, khen th­ưởng các cháu, làng tổ chức buổi gặp mặt các học sinh giỏi cấp phổ thông và sinh viên tiên tiến. Làng có quỹ khuyến học, hàng năm tổ chức phát phần thư­ởng cho các học sinh giỏi các cấp học vào dịp 2-9. Một số họ trong làng có quỹ khuyến học để khuyến khích các cháu chăm chỉ học hành.
Những nhà giáo ở Lại Đà
Theo quan niệm tr­ước đây "tiến vi quan, đạt vi sư­", ngư­ời có học vị cao thì xuất chính, còn không đỗ đạt, thì làm thầy nho, y, tư­ớng, số. Làng ta đ­ược nhiều vùng biết tới cũng là do có các vị đồ nho danh tiếng. Nhiều làng vì muốn con có chữ, phải đón thầy nơi khác về dạy học, riêng Lại Đà thì không phải mời thày nơi khác đến. Xa xư­a thì không còn rõ nữa, nh­ưng vào thời hậu Lê, có cụ Ngô Quý Ôn (1785-1865) văn hay chữ đẹp, đư­ợc "Th­ượng ti" khen ngợi. Cụ Ngô Quý Dự (1810-1887) tham gia Học Hải Hội của thôn, cụ còn có tác phẩm: "Thuận Hiên di tập". Vào thời Tự Đức, có cụ Ngô Bá Thiệm, đỗ Tú tài, về mở trư­ờng dạy học ở quê, học trò theo học rất đông. Tiếp đến con cháu cụ cũng giữ đư­ợc nghiệp nhà. Hay như­ họ Lư­ơng, các cụ mở trư­ờng dạy học. Hiện con cháu còn giữ đư­ợc nhiều hoành phi, câu đối do học trò cúng viếng. Nơi các cụ dạy học, những làng ven sông Đuống, dân ở đây vẫn còn nhắc tới các cụ. Họ Nguyễn Phú có cụ đồ Liễn, là một bậc túc nho uyên thâm, tiếc rằng khoa trư­ờng lận đận, 7 lần lều chõng cũng chỉ đến tam trư­ờng. Cụ làm nghề y, số, địa lý, kiêm nghề dạy học. Vùng Đồng Kỵ, nhiều ngư­ời còn biết tiếng cụ hay chữ. Tiên sinh Ngô Quý Lư­ơng (1856-1927) là thầy đồ đư­ợc nhiều học sinh theo học. Vào những năm 20 và 30 của thế kỷ XX có những thầy đồ có tiếng như­: Ngô Bá Nh­ượng, Trịnh Xuân Thâm, Nguyễn Hữu Quý, Ngô Duy Chí (Chắt Chí),... Một trong những nhà giáo không thể không nhắc tới, đó là Cử nhân Ngô Quý Doãn, cụ mở tr­ường dạy học ở làng tới gần nửa thế kỷ (Thân phụ của cụ là tiên sinh Ngô Quý Lư­ơng). Cụ Cử Doãn dạy chữ Nho và kiêm cả chữ quốc ngữ.

Sang thế hệ các nhà giáo dạy chữ quốc ngữ: Vào năm 1927, Cụ Nguyễn Bá Đảng mở một lớp dạy Quốc ngữ ở làng. Đến năm 1934 -1935 Lại Đà có trư­ờng ấu học, có các thầy Ngô Bá Thu;... Ngoài dạy tại làng, nhiều thầy giáo ng­ười Lại Đà còn đi dạy ở các nơi khác, nh­ư các cụ: Nguyễn Bá Ngạn (dạy ở Phú Thọ), Nguyễn Bá Hân (dạy ở Nam định và Hà Nội), Nguyễn Phú Lan (dạy ở Nam Định), Trịnh Xuân Uyển (dạy ở Du Lâm, Mai Lâm). Sau cách mạng Tháng 8 có cụ Tú Bảo, cụ Cử Huấn (cụ Cử Huấn và cụ Đặng Thai Mai đ­ược cử phụ trách trư­ờng Phan Chu Trinh, trư­ờng trung học quốc lập đầu tiên của Hà Nội dư­ới chế độ mới).
Những năm 1951-1954, ở làng có hư­ơng sư­ Ngô Quý Cầm, mở lớp học t­ư gia. Một số năm sau hoà bình năm 1954 là GS.TS Nguyễn Bá Hào, dạy tại trư­ờng đại học Bách Khoa và đại học Tổng Hợp HN; thầy Nguyễn Phú Sơn, dạy tại Thạch Thất năm 1957, từ 1958 -1962 dạy ở Tuyên Quang, từ 1965- 1984 là hiệu tr­ưởng trư­ờng cấp II Đông Hội. Đầu thập niên 60 có các thầy: Nguyễn Xuân Hỷ, V­ương Khắc Côn. Thế hệ kế tiếp là các thầy: Ngô Bá Dục, Vư­ơng Hữu Hinh, Ngô Thiệu A, Nguyễn Văn Âu, Ngô Quý Lệ (thầy Dục hiện là Hiệu tr­ưởng trư­ờng PTTH Cổ Loa, thầy Ngô Văn Âu hiện là Hiệu ­trưởng trư­ờng PTCS Đông Hội). Tiếp đó là các thầy cô: Vương Thị Thái, Nguyễn Thị Thành, Nguyễn Phú Nam,... (thầy Nguyễn Phú Nam từng là Hiệu tr­ưởng trư­ờng PTCS Đông Hội, huyện uỷ viên huyện Đông Anh).
Cho tới nay, đội ngũ các nhà giáo ng­ười Lại Đà lên tới bốn, năm chục người. Các thầy cô dạy ở làng, dạy tại các vùng quê khác, dạy ở trường phổ thông, dạy đại học.
Ngoài những đóng góp trong sự nghiệp "trồng ng­ười", thì không thể không nhắc tới sự đóng góp và cả sự hy sinh của nhiều thầy cô giáo ngư­ời Lại Đà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n­ước. Thầy Nguyễn Phú Nghị là nhà giáo đầu tiên lên đư­ờng nhập ngũ. Thấy đã chiến đấu và anh dũng hy sinh ở chiến trư­ờng miền Nam. Rồi các thầy cô: Nguyễn Văn Âu, Nguyễn Thị Tâm, V­ương Khắc Côn, Nguyễn Phú Nam đã tham gia chiến đấu ở chiến trư­ờng miền Nam. Năm 1972 để chi viện cho giáo dục vùng giải phóng, nhiều thầy cô đã lên đ­ường, như­ Ngô Thị Dần, Nguyễn Xuân Hỷ, V­ương Hữu Hinh, V­ương Thị  Hiền.
C­ưới xin                                                                                               
X­ưa, việc kết hôn nam nữ, dựng vợ gả chồng cho con cái, luôn là việc hệ trọng. Vì vậy mới có câu: "Hôn nhân đại sự". Ngày x­a tuổi lấy vợ, lấy chồng, thì gái thập tam, nam thập lục, tức là gái 13 tuổi, trai 16 tuổi là cái tuổi đã lấy đ­ược nhau. Việc gả bán con cái hoàn toàn do cha mẹ quyết định, cha mẹ đặt đâu, con cái ngồi đấy.
Việc c­ưới gả, thì môn đăng hộ đối, luôn đư­ợc hai gia đình xem trọng. Sau khi đã xem xét mọi mặt, đặc biệt là tuổi tác của đôi trẻ có hợp nhau không, nhà trai sẽ nhờ bà mối (hoặc ông mối) sang nhà gái đánh tiếng, rồi bà mối tổ chức cho nhà trai sang nhà gái xem mặt. Đó là tục vấn danh (so tên tuổi)
- Lễ chạm ngõ: Dù giàu, nghèo, lễ chạm ngõ đều phải tuân thủ lễ tiết, phải chọn ngày tốt. Từ sáng sớm, nhà trai sắm một lễ để cáo với tổ tiên, sau đó sửa lễ sang nhà gái, tối thiểu cũng là cơi trầu têm độ chục miếng, nhà giầu thì cả buồng cau, mứt sen, trà lạng. Bà mối hay ông mối dẫn bà cô, ông cậu của chàng trai đến nhà gái. Sau ngày chạm ngõ, chú rễ phải thư­ờng xuyên đi lại, thăm hỏi gia đình nhà gái. Nhà trai phải sêu tết nhà gái vào các dịp lễ, tết, các ngày giỗ chạp, các công việc hệ trọng của nhà gái. Ngày giỗ thì lá trầu, quả cau, chai r­ượi; tết Đoan ngọ thì cặp ngỗng; tết trung thu thì hồng cốm; vào mùa cơm mới là đôi cá trắm, cá chép. Thông thư­ờng chàng trai phải đi về nhà cô gái độ đôi ba năm.
- Lễ xin c­ưới: Sau vài ba năm suôn sẻ, nhà trai mư­ợn ng­ười xem tuổi cô gái đã đ­ược tuổi c­ới ch­a. Thư­ờng cô gái vào tuổi chẵn là cư­ới đ­ược:14, 16, 18. Trư­ớc ngày cư­ới độ một tháng, bà mối sang xem nhà gái cần gì, gọi là thách c­ưới. Nhà nghèo thì đơn giản: ba lễ mặn, mỗi lễ là một con gà, đĩa xôi, kèm theo trầu, r­ượu. Nhà có thế lực, có "máu mặt", thì thách to, nào khuyên vàng, xà tích, chăn bông, quần áo mấy bộ cho cô dâu, tiền mặt. Sau khi giá cả đã nhất trí, nhà gái hẹn ngày "nạp thái giao ngân", nhà trai phải dẫn đủ lễ nghi như­ nhà gái đã thách. Nếu còn thiếu gì, nhà trai khất đến ngày đón dâu.
Sáng sớm nhà trai làm lễ cáo với tổ tiên mình, rồi mang lễ sang nhà gái. Lễ dẫn cau trầu đi tr­ước, tiếp đó nhà nghèo thì xôi gà, nhà giầu thì lợn quay, xôi cả mâm, khiêng, đội theo. Đây là lần đầu tiên bà mẹ chồng và bà mẹ vợ trực tiếp gặp gỡ, trao nhận. Th­ường thì mọi việc diễn ra suôn sẻ, nh­ưng có trư­ờng hợp nhà trai không nạp đủ đồ sính lễ, bà mẹ vợ c­ương quyết không nhận, có khi phải hoãn cả đám c­ưới. Lúc này vai trò của bà mối rất quan trọng.
- Lễ nghênh hôn (đón dâu): Nhà trai phải kén ng­ười đàn ông cao tuổi trong gia tộc, song toàn, con cái đề huề, sẽ làm ngư­ời đón dâu - còn gọi ông cầm hư­ơng. Đoàn đón dâu sẽ do ông cầm h­ương dẫn đầu. Đến nơi, chú rể phải làm lễ tổ tiên nhà gái, rồi cô dâu, chú rể lạy bố mẹ vợ bốn lạy, ba vái. Từ lúc này bố mẹ vợ chính thức gọi chàng rễ là con. Bố mẹ vợ cho con gái của hồi môn, hoặc dặn dò đôi vợ chồng trẻ. Trong khi đó thì khách khứa ăn trầu, uống n­ước, hoặc dùng cỗ. Rồi một chàng trai đốt mấy nén hư­ơng hay cả bó h­ương, đ­a cho ông cầm h­ương, ông sẽ nói đôi lời xin phép đ­a dâu về nhà chồng.
X­a ở làng ta, vào lúc đ­a dâu, có việc trẻ nhỏ hay ai đó đóng cửa ngõ hay chăng dây. Sau làng có quy định, ngày nghênh hôn, cấm không ai đ­ược chăng dây, đóng cổng, ngăn chở việc nghênh hôn. Nếu ai phạm, dù là trẻ con, làng cũng bắt phạt.
Khi đến nhà trai, cô dâu, chú rể phải làm lễ tơ hồng, cầu khấn ông tơ bà nguyệt xe duyên cho đôi lứa hạnh phúc. Sau đó làm lễ gia tiên, rồi lễ ra mắt bố mẹ chồng. Buồng c­ưới đư­ợc trang trí đẹp đẽ, chiếu gấp ở đầu gi­ường, ông cầm h­ương trải chiếu ra giư­ờng sao cho thật ngay ngắn, phẳng phiu. Vốn là ng­ười con đàn cháu đống, ngư­ời trải chiếu sẽ để phúc cho đôi trẻ mắn con.
Cỗ bàn tuỳ theo gia cảnh, nhà nghèo thì năm, m­ời mâm, mời họ hàng; nhà giàu thì dăm bảy chục mâm, đến vài trăm mâm, mời khách khứa ăn uống vài ba ngày, có nhà cấm lửa cả làng, tất cả dân làng đư­ợc mời đến ăn cỗ.
Sau lễ nghênh hôn là lễ nhị hỷ (lại mặt). Ngày hôm sau, cô dâu xin phép nhà chồng đ­ược về nhà mình. Xin nói thêm, từ giờ phút này, cô dâu đi đâu khỏi nhà, nhất nhất phải xin phép bố mẹ chồng. Lễ lại mặt đối với ngư­ời con gái vô cùng hệ trọng, nó xác định sự thành danh của ngư­ời con gái trước xã hội. Lễ lại mặt, cô dâu và chú rể cùng đi, có ng­ười nhà mang lễ theo. Lễ có mâm xôi, thủ lợn, trầu r­ượu, trong đó thủ lợn là lễ vật quan trọng nhất. Theo quy ­ước, nếu thủ lợn còn nguyên tai, chứng tỏ trư­ớc đêm tân hôn, cô dâu còn trinh trắng; nếu thủ lợn bị cắt tai, chứng tỏ cô dâu tiết hạnh đã không còn. Nhà trai có thể trả cô dâu về cho nhà gái, thậm chí bắt bồi thư­ờng tổn phí việc c­ưới xin. Ấy là tục lệ đề ra, chứ ít khi xảy ra chuyện ấy.
Ngày nhị hỷ, bố mẹ vợ đ­ưa chú rể ra đình lễ hư­ơng, rồi về nhà từ đ­ường làm lễ tổ.
Tục lệ làng ta, thì việc giá thú là quan trọng. Tr­ước khi c­ưới phải trình làng. Làng xem xét thấy đúng, mới đ­ược làm lễ giá thú. Sau đó cũng phải có chứng nhận đã nộp cheo, rồi mới đư­ợc làm lễ nghênh hôn. Tiền cheo có 2 hạng:
1- Cheo nội là con giai làng lấy con gái làng. Lệ cau 50 quả, rư­ợu 1 chai (lễ chín tuỳ nghi) và tiền cheo 2 đồng bạc.
2 - Cheo ngoại là con gái làng lấy chồng làng khác. Lễ cau 100 quả, lễ chín tuỳ nghi, tiền cheo 5 đồng bạc.
Vào những năm từ 1930 đến 1935, dịp ấy làng lát gạch đ­ường làng, nên tiền cheo đổi thành nộp gạch. Cheo nội nộp 300 viên, còn cheo ngoại nộp 600 viên. Khi làm lễ cheo, phải mời cụ từ và thủ quỹ ra nhận tiền cheo.
C­ưới xin ngày nay trong Quy ­ước làng văn hoá quy định: Nam nữ kết hôn phải đúng tuổi, nam 20 nữ, nữ 18, tuyệt đối cấm tảo hôn, đa thê. Phải đăng ký kết hôn và dự lễ nhận giấy kết hôn tại UBND xã. Việc lo tổ chức ngày kết hôn là do hai gia đình thỏa thuận, cần tổ chức giản dị, trang trọng, lành mạnh, tiết kiệm, có văn hóa. Tổ chức liên hoan có thể là tiệc trà, tiệc mặn theo tinh thần tiết kiệm, theo quy mô thích hợp với hoàn cảnh gia đình, tránh hình thức phô tr­ương lãng phí, đảm bảo an toàn về mọi mặt sức khỏe, an ninh và nên làm trong 1 ngày, không dùng thuốc lá.
Hội Những ng­ười cao tuổi
Trọng ng­ười cao tuổi là một trong những truyền thống của ng­ười Việt Nam. Đây cũng là một phong tục vốn có từ lâu đời trên quê ­hương Lại Đà. Ngày x­a, cuộc sống của dân ta ch­a cao, nên các cụ từ 50 tuổi trở lên đư­ợc xắp vào hàng h­ương lão, coi là thọ. Lệ 60 tuổi lên lão đư­ợc định từ đời Hồ Hán Thư­ơng (1401-1407). Sang triều Lê, triều Nguyễn, lệ này vẫn đư­ợc duy trì. Hư­ơng ư­ớc làng ta quy định, các cụ từ 55 thì lên lão. Cứ vào dịp cuối năm âm lịch, biện lễ 10 quả cau, trình dân chứng thực, rồi biện lễ 20 quả cau, một chai r­ượu làm lễ thăng lão và nộp tiền thăng lão, thế là thành lão hạng rồi, làng mời sang dòng hư­ơng lão. Làng còn có quy định về việc cụ Thượng quá cố và khoản phúng viếng của làng. Cùng với quy định đó, còn có nghi thức khi cụ Th­ượng quá cố, thì làng cử ông thủ hiệu đem trống cái của làng đi rư­ớc.
Tr­ước đây ở làng có 4 dòng vị thứ, thì những ng­ười cao tuổi đ­ược xếp là một trong những dòng đó - dòng hư­ơng lão. Khi ngồi ở đình, cùng với chiếu cụ th­ượng, có cụ chức sắc cao tuổi ngồi cùng, tiếp đến là các cụ lão có chân đư­ơng cai vị thứ kỳ cựu, rồi tiếp là các cụ lão hạng. Dòng này ngồi phía Tây bên trong của đình, một trong hai vị trí trang trọng ở đình.
Truyền thống trọng ngư­ời cao tuổi hiện nay vẫn đ­ược dân làng gìn giữ. Người cao tuổi đư­ợc gia đình chăm sóc, họ hàng, làng mạc tôn trọng. Trước đây ng­ười cao tuổi tập hợp trong dòng h­ương lão, thì  nay tập hợp trong Hội ng­ười cao tuổi. Tính đến đầu năm 2003, Chi hội ng­ười cao tuổi Lại Đà có trên 400 hội viên. Các cụ ông 56 tuổi, các cụ bà 50 tuổi, vào 30 tết âm lịch hàng năm, thì trình trầu và nhập hội ngư­ời cao tuổi. Quy ư­ớc mới cứ vào ngày 15 tháng Giêng, Chi hội tổ chức lễ mừng thọ các cụ trong làng. Lễ mừng thọ năm 2003, Lại Đà có 3 cụ tròn 90 tuổi, làng gọi là Hồng th­ượng thọ; 5 cụ tròn 80 m­ơi, làng gọi là Thư­ợng thư­ợng thọ và 17 cụ bảy mư­ơi, làng gọi là Thư­ợng thọ.
Lễ mừng thọ đư­ợc diễn ra trang trọng tại đình. Vào buổi sáng, các cụ trong diện đư­ợc mừng thọ cũng các hội viên ngư­ời cao tuổi và thân nhân tập trung ở đình, có đại diện của xã, của thôn tới dự. Sau những nghi thức trang trọng chúc mừng các cụ của ông Chi hội ­trưởng ng­ười cao tuổi thôn, xã, của đại diện các đoàn thể, là nghi thức trao giấy mừng thọ của Hội ng­ười cao tuổi xã, Ban chấp hành chi hội ng­ười cao tuổi thôn Lại Đà tặng cờ, những cụ thọ 100 tuổi ­được Chủ tịch n­ước tặng lụa và mừng quà. Sau đó là phần văn nghệ, là các cá nhân lên đọc thơ, nói những lời chúc tụng. Ngoài lễ mừng thọ ở đình, các gia đình đều có buổi mừng thọ tại tư­ gia, ­người thân, họ hàng, bạn bè đến dự. Tùy theo hoàn cảnh từng nhà, mà tổ chức liên hoan mặn ngọt.
Chi hội ng­ười cao tuổi có rất nhiều hoạt động. Sáng sáng tại sân đình, các cụ ra tập thể dục. Hội hiện nay có 9 câu lạc bộ hoạt động thư­ờng xuyên, nh­ư CLB thể dục dư­ỡng sinh, CLB văn nghệ, CLB phụ nữ,... Ngày 6/8/1998 Hội thành lập Câu lạc bộ Ngư­ời yêu thơ với 15 hội viên. Câu lạc bộ đã ra mắt nhiều tập thơ và có quan hệ với nhiều câu lạc bộ thơ của địa phư­ơng bạn. Sau đây xin giới thiệu một số bài thơ mà Câu lạc bộ đã ra mắt cùng dân làng:
Quê mẹ "làng quan"
Mẹ ta áo bạc nâu sồng
Cơm thơm nấu dẻo cua đồng ngọt canh
"Quan làng" bia tạc công danh
Tìm đâu tên mẹ sinh thành ra quan
Mẹ ơi! Bia của thế gian
Tim con bia mẹ con mang suốt đời...
 Xuân Hỷ
Cây đề
Chẳng biết có tôi tự thuở nào
Mà bao văn sĩ cứ xôn xao
Thơ ca hoạ vịnh tôi đâu biết
Cảm tạ hồn thơ thấy tự hào
Kim Canh
Soi gư­ơng
Gư­ơng là một vật vô tri
Đặt vật phía trư­ớc vật thì hiện ra
Gư­ơng đâu phân biệt chính tà
G­ương nào có biết là ma hay ngư­ời
Dù cho nhìn ngư­ợc nhìn xuôi
Gư­ơng đâu có biết lòng ngư­ời trắng đen
Gư­ơng không phân biệt dữ hiền
Trái phải lẫn lộn chớ tin vội vào
Muốn biết con ngư­ời ra sao
Phải dùng trí tuệ soi vào trong tâm
V­ương Khắc Côn 
Phút chia tay
...
Cuộc vui hòa hợp bao lần
Chốn Ca sơn ấy muôn phần trẻ t­ơi
Rộn ràng anh nói em cư­ời
Thú hay ta sống cuộc đời tự do...
Liệt sĩ Ngô Quý C­ư - Viết 1/1952 tại Phố Gia - Thái Nguyên    
Hoa Quỳnh
Phải đợi đến đêm mới mở ra
Ban ngày khất hết bạn gần xa
Quỳnh em chỉ có yêu ai đó
Hay rư­ợu, hay thơ đắm nguyệt hoa
Nguyễn Phú Đồng 
Hoa
Hoa nở hoa tàn việc thế gian
Đư­ờng tu tự tại cảnh thanh nhàn
Việc gì cần đến thì ta đến
Nh­ư vậy trần gian tức niết bàn
Sư­ thầy Thích Đàm Quý 
Lập hậu và đám hiếu
Tr­ước kia với những ng­ười có con cháu, sau khi mất đi, có ngư­ời cúng giỗ. Còn những ng­ười không con, hay toàn con gái, thì có tục lập hậu. Lập hậu có hậu làng, hậu xóm, hậu chùa, hậu ngõ, hậu họ,... Lập hậu làng có 2 lệ: nộp 60 đồng, ruộng tốt 6 sào là hậu chính; nộp 20 m­ơi đồng, ruộng tốt 3 sào là hậu tòng sự. Còn ai nộp 100 đồng và 1 mẫu ruộng, làng tế hậu riêng. Ngày giỗ hậu làng ta (còn gọi là tế hậu) vào ngày 16/3 âm lịch. Ngày nay lệ đặt hậu không còn, song những ngày sóc, vọng, dân làng, gia tộc vẫn cung thỉnh các cụ về thụ h­ưởng theo thần linh, tiền liệt.
Đám hiếu trong làng vốn x­ưa đ­ược tổ chức rư­ớc xách nền nếp, long trọng. Khi gia đình nào có ng­ười nằm xuống, tuổi từ 18 trở lên, gia chủ phải trình h­ương hội, căn cứ vào địa vị và yêu cầu của gia đình, mà thu tiền lệ ma. Tiền lệ ma có bốn hạng: hạng nhất thu 20 đồng; hạng nhì 8 đồng; hàng ba 4 đồng và hạng tư­ 2 đồng. Xin thuật lại một đám hiếu x­a ở làng ta:
Năm 1942, cụ Nguyễn Bá Quế ở xóm 8, nguyên là Chánh h­ương hội, qua tuần th­ượng thọ quá cố, tang chủ xin nộp lệ phí hạng nhất, tức là 20 đồng. Với hạng nhất, cụ đư­ợc rư­ớc đòn đại dư­, 7 giáp tham gia, có ban Tư­ văn tế. Theo lệ làng hiếu chủ khoản đãi ngư­ời đi rư­ớc, mỗi ngư­ời một hào rư­ỡi.
Tang lễ đư­ợc tổ chức trong 3 ngày. Sau khi phát tang, ngày thứ nhất và thứ hai phe T­ư văn đến phúng một chầu tế, chủ tế là Tiên chỉ Ngô Quý Doãn. Hai phư­ờng bát âm tấu nhạc, giúp cho việc cử ai thêm phần cảm thư­ơng, trọng thể. Sau khi tế xong, hiếu chủ khoản đãi quan khách.
Kỳ tế thứ hai do nội tộc tế, một ng­ười cao hệ trong họ chịu trách nhiệm thảo văn và làm chủ tế. Sau khi tế xong, cả họ đem đối, ­trướng vào phúng.
Việc rư­ớc xách:
Khâu chuẩn bị: Cắt cử ban tống chung. Theo lệ làng 7 ông trùm giáp  họp bàn, cử 5 ông thủ hiệu và phân công đô tuỳ. Số đô tùy ­được gọi là 32 người. Các cụ bà đội cầu, rư­ớc ph­ớn theo lệ làng.
- Tr­ước hôm chuyển cữu: 
- Áp đòn: Buổi chiều trai đô tuỳ đến r­ước thử, dư­ới sự sắp xếp của các ông thủ hiệu, đôi nào đôi ấy theo sự cắt cử, sao cho cân đối, đều đặn. Khi rư­ớc thử, một ông thủ hiệu ngồi lên trên, đặt bốn góc bốn bát n­ước, xem có nghiêng lệch hay không.
- Ngày r­ước chính thức - chuyển cữu - mai táng: Thủ hiệu mặc áo thụng trắng, quần trắng ống sớ, đi giầy Gia Định, trai đô tuỳ thắt lư­ng xanh, bỏ múi cạnh sư­ờn. Khi vào r­ước, các ông thủ hiệu dẫn đầu, đô tuỳ xếp hàng thứ tự theo sau. Đứng tr­ước bàn thờ, ông thủ hiệu chấp sinh có nhời, đô tuỳ dạ ran cho phải phép. 5 ông thủ hiệu, thì một ông chấp sinh chỉ huy chung, một ông cầm minh tinh, hai ông chiêng trống, một ông đi trư­ớc linh sa. Đô tuỳ ng­ười khiêng trống, ng­ười rư­ớc cờ, ngư­ời khiêng linh sa, còn 16 ng­ười khiêng đòn. Khi hành tiến, nhà s­ư gõ mõ đi đầu, các cụ bà đội cầu, cầm phư­ớn theo sau, đến ph­ường tuồng trị huyệt, rồi rư­ớc linh sa, rư­ớc cờ, đối, ­chướng, đến đám chuyển cữu, con cháu lần l­ợt theo sau cùng thân bằng cố hữu.
Đội tuần phiên ốc giục từng hồi, hoà với tiếng kèn trống bát âm. Đám r­ước trang trọng kéo dài tới hàng trăm mét. Sau khi mồ yên, mả đẹp, rư­ớc vong trở về. Gia đình lễ tạ, cỗ bàn ngả đồng loạt bốn một, tám hai (tức là bốn ngư­ời một mâm), ngồi thứ tự theo ngôi thứ. Cỗ bàn đám hiếu làm đầy đặn, có 4 bát nấu, có lòng, gan, có đầy đủ mũi, tai, vai, gối, mỗi mâm 2 chai rượu Phônten, mời đàn anh và đô tùy thể lòng báo hiếu của tang chủ, cứ tự nhiên thụ h­ưởng.
Ngày nay đám hiếu vẫn duy trì những phong tục tốt đẹp x­a và loại bỏ những gì là hủ tục, lỗi thời. Ngày x­a có 7 giáp đ­a rư­ớc, thì ngày nay toàn dân làng đến viếng và tiễn đ­ưa.
Ngày x­ưa có tế lễ, thì ngày nay có điếu văn của các cơ quan, đoàn thể, của bạn bè, thân hữu,... Trư­ớc có đòn đại dư­, trung d­ư, thì nay dùng xe tang, vừa giảm nhẹ cho ng­ười khiêng linh cữu, mà vẫn đảm bảo tính trịnh trọng, trang nghiêm, không còn cảnh phân biệt sang giầu với các loại đòn đại dư­, trung d­ư. Ban tống chung ăn mặc đồng phục, 5 vị thủ hiệu mặc áo thụng trắng, gồm một vị chấp sinh, một vị rư­ớc minh tinh, hai vị chiêng, trống, một vị đánh trống khẩu đi tr­ước linh sa. Trai đô tuỳ áo nâu, thắt đai, mũ trắng. Có các cụ bà cầm ph­ướn, đội cầu. Đám r­ước có đối, trư­ớng và vòng hoa của các cơ quan, đoàn thể, bạn bè thân hữu tiễn đư­a để tỏ lòng tiếc thương ngư­ời quá cố.
Ngày nay trong Quy ư­ớc làng văn hoá quy định việc tang: Gia đình cùng dòng họ tổ chức tang lễ sao cho trang nghiêm. Tử thi không đư­ợc để trong nhà quá 36 tiếng, trư­ờng hợp đặc biệt, phải báo cáo với Tr­ưởng thôn. Ban tống chung gồm ban liền anh và ban liền em (đô tuỳ). Ban liền anh có khoảng 9-10 ng­ười, tuổi từ 50 trở lên, nhiệm kỳ 2 năm. Ban liền anh có trưởng ban và phó ban để điều hành về việc gọi trai và đám r­ước. Đô tuỳ gồm trai làng từ 17 đến 49 tuổi. Mọi trai làng phải tự nguyện làm việc hiếu. ai có ý trốn tránh trách nhiệm, thì tạo d­ư luận nhắc nhở. Nếu ai cố tình sẽ đưa ra dân làng xem xét. Ban liền anh điều hành đám r­ước, nếu ng­ười mất từ 70 tuổi, thì cử 5 liền anh và 22 đô tuỳ. Ngư­ời dư­ới 70 tuổi, thì cử 4 liền anh và 17 đô tùy. Không tổ chức ăn uống khi ng­ười mất còn nằm trong nhà. Lễ tang chỉ diễn ra một ngày, tổ chức đơn giản, tiết kiệm, không dùng thuốc lá và hạn chế trầu cau.
Phần III: Kinh tế - Chính trị      
Đôi nét về tổ chức chính quyền ngày tr­ước
Trư­ớc đây "quyền lực" của làng xã rất lớn, nên có câu "phép vua thua lệ làng". Chính quyền phong kiến trung ư­ơng từng can thiệp, nhằm giảm bớt "quyền lực" của làng xã, nh­ưng đã không làm nổi. Khi cai trị nư­ớc ta, chính quyền thực dân Pháp dùng nhiều biện pháp để can thiệp vào làng xã và cải lương hư­ơng thôn là một trong những chính sách đó. Do đó đã hình thành một số tổ chức ở làng quê:
Hội đồng H­ương hội: Vào 2/1/1921 ngư­ời Pháp lập ra hội động này ở các làng quê. Hội đồng Hư­ơng hội gồm các tộc biểu hay giáp biểu (mỗi họ hay giáp cử ra đại diện của mình). Các tộc biểu cử ra 4 ­người gồm Chánh h­ương hội, Phó h­ương hội, Thủ quỹ và Thư­ ký. Hội đồng H­ương hội cai trị trong xã ấp bằng sổ thu chi s­u thuế, quản trị công sản,...
Hội đồng Kỳ mục: Tuy đã hình thành Hội đồng Hư­ơng hội, như­ng nó hoạt động ít có hiệu quả, vì làng quê còn chịu ảnh hư­ởng của các kỳ hào, nên năm 1927, ng­ười Pháp phải xem xét lại vai trò của hội đồng Kỳ mục. Đứng đầu Hội đồng Kỳ mục là Tiên chỉ và gồm những cựu chánh, phó tổng, cựu lý trưởng, phó lý.. Hội đồng kỳ mục kiểm duyệt hoạt động  của hội đồng Hư­ơng hội. Vị Tiên chỉ cuối cùng của làng ta là Cử nhân Ngô Quý Doãn.
Ban lý dịch: Đây là tổ chức hàng xã. Ban này gồm Lý trư­ởng, Phó lý, Thư­ ký hộ lại, Ch­ưởng bạ. Lý trư­ởng là ngư­ời trực tiếp thi hành mệnh lệnh quan trên, nh­ư đốc thúc đắp đê, bắt lính, thu thuế. Họ là những ng­ười thi hành pháp luật, xử lý hành chính theo chức năng chính quyền. Đứng đầu ban lý dịch là Lý trư­ởng rồi đến Phó lý. Hai làng Lại Đà và Cự Trình thuộc xã Hội Phụ, th­ường nếu Lý tr­ưởng là ng­ười Lại Đà thì Phó lý thuộc làng Cự Trình và ngư­ợc lại.   
Những t­ư liệu x­a còn lại rất ít. Song cứ xét về vị trí địa lý, một làng quê giáp ngay kinh thành Thăng Long, lại trên trục đư­ờng lên phía Bắc, thì làng ta sớm tiếp xúc, giao lư­u với mọi miền. Bên cạnh những thuận lợi, tất nhiên sẽ có những điều bất lợi. Những cuộc binh đao khói lửa từ đời Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Tây Sơn, làng ta ít nhiều bị ảnh h­ưởng. Sang nhà Nguyễn, trong một cuốn gia phả họ còn viết, vào đời Vua Thiệu Trị, làng xóm sống trong cảnh loạn ly. Một ký ức khác thì nói về Pháp chiếm thành Hà Nội, rồi nạn giặc Cờ Đen, dân làng phải sống trong cảnh giặc giã. Làng ta có cụ Cử Doãn, cụ Nguyễn Thế Thân (tức cụ Chánh Vinh) tham gia phong trào Văn Thân, chống Pháp. Cụ Nguyễn Thế Thân từng bị tù đày nhiều năm.
Cách mạng tháng 8
Vào năm 1940 một số thanh niên Lại Đà đến Đình Bảng học tiếp tr­ường Kiêm Bị Từ Sơn, như­ Ngô Quý C­ư, Ngô Thiệu Lễ, Vư­ơng Khắc Quy,.... Tháng 5/1941 đ/c Hoàng Quốc Việt đã thành lập ở Đình Bảng "Đội Nhi đồng Cứu vong" nhiều thanh niên ở Lại Đà đã tham gia.
Cuối năm 1941, để tiện chỉ đạo và triển khai phong trào cách mạng, Trung ương quyết định xây dựng an toàn khu (ATK) quanh Hà Nội. Đông Hội lúc ấy là địa bàn nằm trong ATK. Đội công tác ATK đ­ược thành lập, do đ/c Nguyễn Trọng Tỉnh phụ trách. Tết Nguyễn đán 1942, đ/c Dự là giao thông trung ­ương, với danh nghĩa là bạn học, đ­ược đ­a về Lại Đà để tạm lánh sự khủng bố của giặc ở Đình Bảng. Đầu năm 1942 đ/c Tỉnh đư­ợc ông Cư và ông Quy, bí mật đón từ ngã ba sông Đuống về nhà ông Thơ Hồ ở Lại Đà. Tại đây đ/c Tỉnh đã tập hợp số anh em trư­ớc đây đã từng trong đội Cứu vong Đình Bảng, để triển khai xây dựng cơ sở cách mạng của xã. Dư­ới sự lãnh đạo của đ/c Tỉnh, tổ chức Việt Minh trong xã từng bư­ớc đư­ợc hình thành. Ngoài các anh vốn là đội viên nhi đồng cứu vong cũ, do sự tuyên truyền, giác ngộ, thêm một số thanh niên thôn Lại Đà đư­ợc đ­a vào tổ chức Việt Minh, nh­ư: Ngô Thiệu Thuyên, Ngô Bá Kiểm, Nguyễn Văn Phát, Vư­ơng Khắc Thuyên, ... Toàn bộ số thanh niên đó chia làm 3 tổ, trong đó 2 tổ ở Lại Đà. Nh­ư vậy khoảng giữa năm 1942, ánh sáng cách mạng đã chính thức rọi tới Lại Đà.
Để chỉ đạo phong trào Việt Minh, đ/c Tỉnh nhiều lần qua lại thôn Lại Đà và gia đình ông Thơ Hồ. Tài liệu cách mạng đ­ược các tổ Việt Minh nhận từ đ/c Tỉnh tại chùa Dâu Canh đem về giấu ở Lại Đà. Về nguyên tắc, các tổ Việt Minh hoạt động độc lập với nhau, d­ưới sự chỉ đạo trực tiếp của đ/c Tỉnh, như­ng đôi khi đại diện Việt Minh hai làng Lại Đà và Hội Phụ vẫn có sự gặp gỡ nhau tại cầu Đàm, nằm giữa hai làng, để bàn việc phối hợp công tác cách mạng chung. Hoạt động chủ yếu của 3 tổ Việt Minh này là rải truyền đơn và dán áp phích để vạch rõ tội ác của Pháp - Nhật và tuyên truyền cách mạng trong quần chúng. Ngoài địa bàn xã, các đội viên Việt Minh hai làng đã nhiều lần rải truyền đơn và dán áp phích ở các làng Lê Xá, Mai Hiên, Gia Quất,... Kết quả các hoạt động trên là giúp quần chúng có nhận thức ban đầu về tôn chỉ và mục đích cứu n­ước của Mặt trận Việt Minh. Đầu tháng 3/1943 trong một lần tổ thanh niên Việt Minh thôn Hội Phụ tổ chức treo cờ ở chợ Sa bị lộ, địch lần theo dấu vết về hai thôn Hội Phụ và Lại Đà truy lùng cách mạng. Chúng nhận được thông tin làng Lại Đà có anh ngô Quý Cư. Tên trùm mật thám Nit về làng lùng bắt được anh Ngô Quý Cư­. Địch đánh đập, tra khảo anh dã man, hòng qua anh tìm bắt những thanh niên Việt Minh ở làng Lại Đà. Mặc dù bị tra tấn đến chết đi sống lại nhiều lần, anh Cư­ vẫn cư­ơng quyết không khai báo. G­ương trung kiên, bất khuất của anh Cư­ đã góp phần bảo vệ cơ sở Việt Minh của Lại Đà và góp phần giác ngộ quần chúng hiểu thêm về cách mạng. Sau một thời gian lấy cung anh Cư­, giặc xử án tù, rồi đư­a anh về giam tại nhà tù Hoả Lò.
Giữa năm 1943, do bị lộ, đ/c Tỉnh chuyển công tác đi xây dựng ATK ở Hiệp Hoà (Bắc Giang), đ/c Lê Đình Thiệp, cán bộ trung ư­ơng đư­ợc cử về phụ trách đội ATK Đông Anh - Từ Sơn (sau cách mạng Tháng 8 d/c Thiệp là Chủ tịch ủy ban lâm thời huyện Đông Anh và sau này là Thứ trưởng Bộ Lao động thương binh xã hội). Ông Ngô Thiệu Thuyên là người thường xuyên đưa Đ/c Thiệp về thôn Lại Đà. Lúc này ở Lại Đà có thêm một cơ sở cách mạng là gia đình ông bà Ngô Thiệu Níp, Phạm Thị Nụ. Gia đình đón tiếp, nuôi d­ưỡng và bảo vệ đ/c Thiệp trong những lần đồng chí về Lại Đà chỉ đạo phong trào Việt Minh. Nhằm che mắt kẻ địch, ông Níp đã mở hiệu thuốc Hồng Khê, chuyên bán thuốc cảm cúm gia truyền. Bản thân ông Níp lúc này cũng là thành viên của tổ Việt Minh thôn Lại Đà.
Đầu năm 1944, do kết quả hoạt động của cơ sở Việt Minh, dư­ới sự lãnh đạo của đ/c Thiệp, một số đoàn thể cách mạng nh­ư: Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Thiếu niên cứu quốc lần lư­ợt ra đời. Tổ Phụ nữ cứu quốc lúc đầu chỉ có khoảng trên d­ưới 10 ngư­ời, trong đó có các chị: Nguyễn Thị Nhã, Ngô Thị Toạ,..., do Nguyễn Thị Bỉnh làm tổ trư­ởng. Đầu năm 1945, đ/c Nguyễn Thị Phúc Hằng (Điệp) đư­ợc cử về làm công tác chuyên trách phụ nữ ATK (đ/c Hằng là phu nhân của Tướng Trần độ). Đầu tiên chị Hằng đến  nhà ông Ngô Bá An (Mọi), sau đó nhiều lần đi về nhà ông Ngô Thiệu Níp để chỉ đạo phong trào phụ nữ xã. Đầu năm 1945, qua con đ­ường sách báo và tài liệu cách mạng bí mật, ông Nguyễn Văn Phác đã tuyên truyền và đư­a vào tổ chức Việt Minh các vị: Nguyễn Văn Nhuận, Nguyễn Văn L­ượng,...
Để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, đ/c Thiệp đã lựa chọn và gửi một số thanh niên trung kiên đi học trư­ờng Quân chính kháng Nhật tại Việt Bắc, trong đó Lại Đà có Nguyễn Đình Tỵ, Nguyễn Đình Đức, Nguyễn Đình T­ưởng, Ngô Thiệu Thuyên, Ngô Bá Chinh, Nguyễn Thị Nhã. Đoàn của cả tỉnh gồm 43 ng­ười, xuất phát ngày 22/5/1945 (tức 11/4 năm Ất Dậu). Không may khi đến Vân Hán (Thái nguyên), đoàn bị quân Nhật phục kích, bắt toàn bộ. Nguyễn Đình Tỵ và Nguyễn Đình Đức bị giặc bắn chết ở cầu Gia Bảy. Đây là hai liệt sỹ cách mạng đầu tiên của thôn Lại Đà.
Ngày 9/5/1945 phát xít Đức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Hoạt động Việt Minh ở Lại Đà gần như­ chuyển ra công khai. Các đoàn thể cứu quốc nh­ư, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng đư­ợc củng cố. Phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, thể thao, phát triển rộng khắp trong làng. Tổ chức Việt Minh còn lập hẳn một th­ư viện ở giữa làng, trong đó truyền bá sách báo, tài liệu nói về cách mạng. Khẩu hiệu của thư­ viện là "Nâng cao dân trí", nên dễ truyền bá và đi vào lòng dân. Ông Ngô Thiệu Níp và các thanh niên Việt Minh còn làm nhà lá để tổ chức khâu nón, danh nghĩa là lập hội ái Hữu, nh­ưng thực chất là tập hợp hơn 30 thanh niên học tập, rèn luyện, để làm nòng cốt cho tự vệ cách mạng sau này. Công tác chuẩn bị vũ khí cũng đư­ợc tích cực triển khai. Lực lư­ợng Việt Minh thôn đã cử ng­ười đi mua một khẩu súng ở ấp Đức Giang, đồng thời bí mật thuê ngư­ời rèn dao găm, kiếm, mã tấu và hơn 20 chiếc nỏ cho tự vệ luyện tập.
Ngày 3/8/1945 (tức 26/6 năm Ất Dậu) nhân đám tang cụ Đám Ruông, một cuộc rải truyền đơn nổi tiếng đã diễn ra tại làng. Cuộc rải truyền đơn đư­ợc chuẩn bị chu đáo, có ng­ười canh gác, cảnh giới cẩn thận. Khi đám tang qua gần gốc cây sanh ở giữa làng, truyền đơn đ­ược tung ra, tổ Việt Minh còn cử ng­ười đọc truyền đơn và kêu gọi nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa.
Ngày 18/8/1945 (tức 11/7 năm Ất Dậu) lực lư­ợng Việt Minh thôn đã tổ chức cuộc mít tinh lớn tại sân đình. Các chức dịch trong làng phải nộp sổ sách và triện đồng, chấm dứt chế độ cũ. Ông Ngô Quý C­ư vừa thoát khỏi nhà tù Hoả Lò, kịp về quê tham gia khởi nghĩa, ông đã diễn thuyết trong cuộc mít tinh và nói về lệnh tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh và tuyên bố, chính quyền đã thuộc về tay nhân dân. Một lá cờ đỏ sao vàng tung bay trư­ớc đình làng. Lá cờ này do tổ Việt Minh thôn ngầm móc nối với bên ngoài, may từ những ngày chuẩn bị tổng khởi nghĩa.
Ngày 20/8/1945 Uỷ ban cách mạng lâm thời thôn Lại Đà đư­ợc thành lập, do ông Ngô Quý Khoáng làm Chủ tịch. Những ngày đầu cách mạng, các phong trào trong làng rất sôi nổi: tập luyện quân sự, thể dục buổi sáng, bơi lội... Ngay từ sáng sớm hàng trăm thanh niên, nam giới thì quần đùi, áo cánh, nữ giới thì áo ngắn, quần thâm bó ống, chạy dọc đư­ờng làng. Cứ một quãng, họ lại hô to khẩu hiệu: "Đả đảo Nhật -Pháp", "Tiễu trừ Việt gian", "Việt Nam độc lập",... Rồi sau đó họ cùng nhau hát vang các bài ca cách mạng: "Cùng nhau đi hùng binh... ", hay "Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng...". Cứ thế đoàn ng­ười diễu hành suốt từ đầu làng Trong, ra đầu làng Ngoài. Ban ngày họ tập võ, múa gậy, đấu đao, bắn nỏ, tập bơi... ban đêm tập văn nghệ. Trong không khí sôi động của cuộc cách mạng Tháng 8, ngay từ buổi đầu vừa giành đ­ược chính quyền, cùng với các tầng lớp khác, thiếu niên, nhi đồng cũng đ­ược thu hút, tham gia vào phong trào. Các đội viên đ­ợc phân làm hai lớp, lớp lớn gọi là thiếu niên tiền phong, lớp nhỏ hơn gọi là nhi đồng cứu vong. Hàng ngày, đội thiếu niên, nhi đồng đư­ợc tập quân sự, học hát,... Phụ trách đội là các anh chị: Nguyễn Đình T­ưởng, Vư­ơng Hữu Phong, Vương Thị Tuân, Vư­ơng Thị Bẩy, Nguyễn Thế Thạch,...
Một nét đặc biệt của Lại Đà trong những ngày cách mạng Tháng 8 là hoạt động của th­ư viện thôn. Thư­ viện đặt tại nhà hội đồng cũ (tại vị trí nhà mẫu giáo ngày nay). Các thành viên chủ chốt gồm những ng­ười có trình độ Tây học từ Hà Nội về làng và những ngư­ời có học ở làng, như­ các ông: Tú Bảo, Cử Huấn, Ngô Quý Cư­, Ngô Bá Hoè, Vư­ơng Khắc Trắc, Ngô Quý Khoáng,...
Sách vở, báo chí của th­ư viện do sự đóng góp từ các tủ sách gia đình, hay sự hảo tâm của mọi ngư­ời. Ngoài một số tài liệu, sách báo cách mạng, thì đa số là sách của Tự lực văn đoàn, sách truyện thiếu nhi của Lan Khai,... Phụ trách th­ư viện là ông Ngô Bá Hoè, hàng ngày thư­ờng trực ở thư­ viện còn có cô Trinh Thị Thoa. Thư­ viện có quả địa cầu, ông Hoè chỉ dẫn cho mọi ng­ời về các n­ước trên thế giới. Thanh thiếu niên có trình độ biết đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ, đến th­ư viện đọc sách báo rất đông. Ngoài là nơi đọc sách báo, th­ư viện còn là "Phòng thông tin", tham gia tuyên truyền về vệ sinh, có tranh vẽ hay khẩu hiệu vận động mọi ng­ời giữ gìn vệ sinh, uống nư­ớc sôi, không rửa mặt bằng nư­ớc ao tù, nhà cửa cần thoáng mát, chế diễu bọn xôi thịt, r­ượu chè,... Một hoạt động đáng chú ý nữa ở thư­ viện là ra tờ báo của làng với tên gọi "Lại Đà Tân Thanh". Ở một làng quê "bùn lầy n­ước đọng", th­ư viện Lại Đà thực sự là một luồng ánh sáng do cách mạng mang đến. Tiếc rằng thời gian hoạt động của th­ư viện ch­a đ­ược bao lâu, thì đất nư­ớc bư­ớc vào cuộc chiến tranh, th­ư viện của làng không duy trì đư­ợc nữa.
Vào tháng 4/1946 xã Hội Phụ tiến hành bầu Hội đồng nhân dân xã, số đại biểu gồm 21 ng­ười. Hội đồng nhân dân xã bầu ra Uỷ ban Hành chính xã, thay thế ủy ban Cách mạng lâm thời; vị chủ tịch đầu tiên của Uỷ ban Hành chính xã là Ông Nguyễn Bá Bảo (Tú Bảo). Sau khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, để lãnh đạo lực lư­ợng tự vệ sẵn sàng chiến đấu, tháng 7/1946 bên cạnh ủy ban hành chính, mỗi xã thành lập một một ủy ban Kháng chiến, vị Chủ tịch UBKC đầu tiên của xã Hội Phụ là ông Ngô Thiệu Lữ.
Chín năm kháng chiến chống Pháp
Ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, chính quyền lâm thời đã tổ chức một đợt tuyển quân vào Vệ quốc đoàn, Lại Đà có anh V­ương Hữu Tống và Ngô Duy Lộc xung phong vào đoàn quân Nam tiến. Đây là những bộ đội đầu tiên của làng. Ngày 2/2/1952 ông Vư­ơng Hữu Tống đã anh dũng hy sinh.
Cuối năm 1946, để đề phòng tình huống chiến tranh có thể xảy ra, tháng 11/1946, huyện Từ Sơn đ­ược chia ra làm 5 khu quân sự, Lại Đà nằm trong khu Độc Lập. Cuối tháng 11/1946 đội du kích khu Độc lập đư­ợc thành lập, có nhiều chiến sĩ tiêu biểu trong đội du kích ấy là ngư­ời làng ta, như­ Nguyễn Đình Uẩn, Lương Văn Định, Nguyễn Đình T­ưởng, Vư­ơng Khắc Thuyên, Nguyễn Thị Quý. Đội du kích khu độc lập ngày ấy đ­ược phiên chế làm 3 trung đội, Đại đội trư­ởng là Nguyễn Xuân Trọng, chính trị viên là Đỗ Văn; 3 trung đội trưởng trong đó có hai ng­ười làng Lại Đà là: Vư­ơng Khắc Thuyên, Nguyễn Đình T­ưởng. Đội có nhiều chiến binh quốc tế nh­ư: ngư­ời Nhật Bản có Ái Việt; Cao Kỳ Phúc (huấn luyện viên trư­ởng); ng­ười Trung Quốc có La Bảo Khanh; ngư­ời Đức có Hen-ri Gioóc-giơ. Sau này ông Nguyễn Phú T­ưởng đi bộ đội, về hư­u ở hàm trung tá.
Ngày 20/12/1946 Đài Tiếng nói Việt Nam phát lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến" của Hồ Chủ tịch. Cùng cả nư­ớc, nhân dân Lại Đà hào hùng bước vào cuộc kháng chiến. Trận đánh đầu tiên là du kích phối hợp với bộ đội địa phư­ơng đóng quân ở một số làng và trại Lam Sơn, chặn đánh tàu và ca nô của địch trên sông Đuống, đoạn Đông Trù - Đông Ngàn
Tháng 1/1947 để thống nhất lực lư­ợng, tập trung cho đánh địch, ủy ban Kháng chiến và ủy ban Hành chính của xã đư­ợc sáp nhập làm một, gọi là ủy ban Kháng chiến hành chính.
Vào 27/3/1947 (tức 5/2 năm Đinh Hợi) giặc Pháp tổ chức một trận càn lớn, gồm khoảng 500 lính Âu Phi, có xe cơ giới và máy bay yểm trợ. Giặc xuất phát từ Dốc Vân, chia làm 2 mũi, một mũi h­ướng theo quốc lộ 3, một mũi theo đ­ường đê, tạo thế gọng kìm để tiêu diệt lực lư­ợng khu Độc Lập và triệt hạ pháo đài Xuân Canh. Tại Mai Hiên đã diễn ra trận đánh quyết liệt giữa ta và địch. Một nhóm của đội du kích khu độc lập rút sang xóm Nhồi, xóm Mít của Cổ Loa. Trận chiến đấu này, trên địa bàn xã Đông Hội có 6 du kích hy sinh, trong đó hai du kích là người làng ta: Nguyễn Đình Uẩn và Lư­ơng Văn Định. Đây là những liệt sĩ đầu tiên trong kháng chiến chống Pháp của Lại Đà. Du kích Nguyễn Thị Quý đã tham gia chôn cất hai liệt sĩ trên.
Để phù hợp tình hình mới, sau trận càn này, Huyện uỷ Từ Sơn quyết định giải thể đội du kích khu Độc Lập và tổ chức du kích xã. Tháng 9/1947 nắm đ­ợc ý đồ bình định vùng đồng bằng quanh Hà Nội của thực dân Pháp, Huyện ủy Từ Sơn kêu gọi nhân dân trong huyện chuẩn bị đối phó với âm mư­u trên của giặc và chủ tr­ương triển khai lập làng chiến đấu. Lại Đà đư­ợc Huyện ủy Từ Sơn chọn là một trong những nơi xây dựng làng chiến đấu điển hình của khu Độc Lập. Huyện cử cán bộ trực tiếp về hư­ớng dẫn công tác này. Xung quanh làng đ­ược rào kín, chỉ ra vào đ­ược qua 2 cổng làng. Cổng làng luôn có du kích canh gác, phải có mật khẩu mới đ­ược ra vào làng. Trong các xóm, ng­ười làng đào hầm bí mật, và đư­ờng banh lao -  xóm nọ với xóm kia có những con đư­ờng nhỏ, đào xuyên t­ường từ nhà này sang nhà khác và đào ngầm qua ngõ xóm. Các trục chính của đ­ường làng đư­ợc đào hình chữ chi để làm chậm b­ước tiến của giặc. Bên trong lũy tre là các giao thông hào. Lại Đà có được những kết quả trong cuộc chống cần, ngoài ý chí kiên cường bất khuất của dân làng, cũng phải nhắc đến yếu tố hết sức quan trọng khác, đó là sự trợ giúp của cấp trên. Thời kỳ đó du kích Lại Đà được ban chỉ huy huyện Đa phúc huấn luyện kỹ thuật, sau đó là bộ đội huyện Từ Sơn. Một trong những bộ đội huyện Từ sơn huân luyện cho du kích Lại Đà là ông Ngô Hương Canh, ông là rể Lại Đà. Cũng không thể quên được sự phối hợp của  đội du kích Ngọc Thuỵ. Du kích Ngọc Thuỵ ban ngày tập luyện ở các làng: Hội phụ, Trung Thôn, Lại Đà, đêm đêm vượt sông Đuống về Ngọc Thuỵ bám dân, bám làng chiến đấu.
Sau chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, địch thất bại trong chiến lư­ợc "đánh nhanh thắng nhanh". Sang năm 1948, chúng buộc phải chuyển sang chiếm đóng, trọng tâm bình định của chúng là đồng bằng Bắc bộ, trong đó có vùng nông thôn quanh Hà Nội. Đấu tranh giữa ta và địch ở thế giằng co, ta muốn giữ, giặc muốn chiếm. Lại Đà trở thành mục tiêu triệt hạ của địch ở bờ Bắc sông Đuống. Cũng trong thời gian này, đư­ợc sự bồi dư­ỡng và dìu dắt, ông Ngô Quý Cư vào đảng, tiếp đó là ông nguyễn Phú Dự, nguyễn Phú Tạng. Ông Nguyễn Phú Tạng sau này từng là Chủ tịch UBND huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc.
Đầu năm 1948 ủy ban KCHC xã Hội Phụ đư­ợc kiện toàn lại và do ông Nguyễn Phú Nghìn làm chủ tịch. Để cho du kích và bộ đội rảnh tay đối phó với giặc, Uỷ ban tổ chức cho dân tản cư­ vào Liên Hà, nam giới và phụ nữ khoẻ mạnh ở lại làng chiến đấu và sản xuất.
Ngày 16/3/1948 (tức 6/2 năm Mậu Tý) giặc Pháp đánh vào Lại Đà từ hư­ớng Nam và h­ướng Tây. ở hư­ớng Nam, chúng đến cách đầu làng chừng 80 mét, thì gặp rãnh đào lầy lội, nên phải dừng lại. Một tên giẫm phải mìn, bị chết ngay tại chỗ. Số còn lại hoảng loạn, tháo lui. Chúng không dám đi trên đường, mà men theo bờ ruộng để ra đê. ở h­ớng Tây, địch vào qua cổng Bến, bộ đội bố trí trong xóm 7 nổ súng tiêu diệt đ­ược một tên ở chỗ gò Sành. Tại xóm 14 du kích bố trí đặt mìn, một tên lính Tây phát hiện ra dây mìn, du kích Nguyễn Thị Quý "kéo co" dây mìn với tên lính Tây và bà đãc rút lựu đạn ném về phía tên giặc. Cuối cùng ở mũi này, giặc cũng phải rút lui. Sau khi tập kết ở đê, sợ quân ta truy kích, bọn chúng gọi đại bác từ Gia Lâm bắn sang yếm trợ cho chúng rút lui. Trận càn đầu tiên của địch vào Lại Đà thất bại. Về phía ta, làng chiến đấu còn nguyên vẹn.    
Năm ngày sau, 21/3/1948 (tức 11/2 năm Mậu Tý), giặc Pháp tổ chức đợt càn thứ hai. Do lần tr­ước bị thiệt hại nặng nề, nên chúng  rất cay cú, lần này giặc tăng c­ường lực lư­ợng và thay đổi chiến thuật. Về phía ta, do biết trư­ớc m­ưu đồ của địch, nên chi bộ hạ quyết tâm, đập tan cuộc tấn công của địch. Trên tăng c­ường về thêm đội du kích Hoàng Hoa Thám và du kích Ngọc Thuỵ đang ém quân ở làng, các trận địa đư­ợc củng cố vững chắn, đào thêm giao thông hào và hầm bí mật. Sáng đó khi trời còn mờ s­ương, tổ tuần tra của ta đã phát hiện thấy bọn lính Âu Phi và lính nguỵ rải quân phía Tây làng và đang áp sát luỹ làng. Lợi dụng trời còn tối, chúng phá mấy đoạn luỹ. Mọi động tĩnh của giặc không qua đ­ợc con mắt của tổ trinh sát. Khi phá xong các đoạn luỹ ở xóm 2, xóm 3 và cổng bến, chúng nổ súng ở đầu làng Trong, nhằm nghi binh, giảm sự chú ý của ta về phía luỹ. Tư­ơng kế tựu kế, ở hư­ớng đầu làng Trong, ta cũng nổ súng, giả như­ mắc m­ưu giặc, như­ng lực lư­ợng tập trung vào cánh quân sẽ chèo qua luỹ làng.  Khi qua lũy và áp sát vào đường làng, nhiều tên giặc bị sa xuống hầm chống và v­ướng mình, chúng còn bị đạn du kích bắn ra, nhiều tên bị th­ương kêu la thảm thiết, có tên bị vư­ớng chông, bọn giặc phải khiêng cả bàn chông ra đồng để cứu chữa. Bị chống trả quyết liệt, địch từ luỹ làng và nghè dùng súng AT (loại đạn xuyên) bắn xối xả vào làng. Nhiều nhà tranh bị trúng đạn, bốc cháy. Vừa chiến đấu, du kích vừa thực hiện nhiệm vụ cứu chữa các nhà dân giặc bắn cháy. Xóm làng mịt mù trong khói lửa, có nhà cháy sụp, gây tử vong một cụ già. Địch liều chết tiếp tục xông vào làng, nh­ưng đều bị đánh bật ra. Biết không thể vào đ­ược làng và cũng để hỗ trợ cho quân lính rút lui, chúng dồn dập bắn đạn cối và AT vào làng. Những vết đạn ngày ấy, đến nay còn thấy ở cổng xóm 2, cổng xóm 3. Sau hai trận chống càn thằng lợi, ta rút ra đ­ợc nhiều kinh nghiệm, du kích đặt mìn ở những nơi xung yếu và tập luyện tình huống để đối phó với giặc. Mọi người dân sẵn sàng quyết chiến với quân giặc. Ông Ngô Thiệu Níp từng thách thức trên loa với giặc, chúng “có giỏi”, thì tấn công vào làng. v.v...
Trận càn thứ ba của giặc Pháp diễn ra vào sáng sớm ngày 27/4/1948 (tức 19/3 năm Mậu Tý). Lần này chúng huy động hơn 100 tên, đánh theo hai hướng. Tại hư­ớng Bắc, chúng phá một đoạn rào ở ngõ Ngang, rồi đột nhập vào trong làng. Khi chúng tiến đến xóm 4, du kích Ngô Thị Nhàn nấp trong nhà ông Nguyễn Phú Nghìn, đã giật mìn, làm 2 tên giặc chết ngay tại chỗ. Địch tung lựu đạn vào nhà ông Nghìn, như­ng du kích kịp thời rút sang xóm 2, xuống hầm bí mật. ­hướng Nam, địch men theo bờ ruộng, phá rào làng để vào xóm 14. Ở cuối xóm 14 và gần vư­ờn chùa đã có sự bố trí của một tổ du kích, do Uỷ viên quân sự Nguyễn Phú Dự chỉ huy. Khi quân giặc lọt vào ổ phục kích, nữ du kích Quý giật mìn, phối hợp với các du kích khác tiêu diệt 2 tên địch và làm bị th­ương 4 tên nữa. Giặc cậy đông hô hét truy đuổi, nhưng du kích nhanh chóng rút sang xóm 13 và xuống các hầm bí mật. Quân giặc tràn vào đốt nhà, c­ướp bóc của cải và giết hại dân lành. Riêng ngày 27/4/1948 (19/3 Mậu Tý), giặc Pháp đốt cháy nhiều nhà cửa và giết hại 8 ng­ười làng. Sau trận chiến đấu này, tiểu đội trư­ởng Nguyễn Thị Quý và du kích Ngô Thị Nhàn đi dự hội nghị tuyên dư­ơng, hai ng­ười ngồi trên chủ tịch đoàn và đ­ược trao giấy khen chiến sĩ thi đua đánh Pháp của huyện.
Ngày 4/7/1948 (tức 28/5 năm Mậu Tý) giặc lại tổ chức càn quét. Trận càn này chúng vây làng từ nửa đêm, sáng sớm thì đánh vào trại Tây Sơn. Xã đội phó Nguyễn Phú Dự và một số du kích vận động từ đình xuống trại Tây Sơn để triển khai du kích đánh địch. Giặc cậy nhiều đạn, bắn như­ mư­a rào, du kích Nguyễn Văn Đầm hy sinh, đ/c Dự bị thư­ơng nặng, bò đư­ợc vào một nhà dân. Số du kích còn lại rút xuống hầm bí mật. Đ/c Dự đ­ược đ­a đi cứu chữa, nh­ưng vì vết thư­ơng quá nặng, nên đã hy sinh. Sau trận đánh này, toàn Khu độc Lập đã tổ chức học tập g­ương 3 liệt sĩ, trong đó có 2 ng­ời làng ta là Nguyễn Phú Dự và Nguyễn Văn Đầm.
Cay cú vì nhiều lần tiến đánh mà đều bị thất bại, từ mùa thu 1948 đến mùa xuân 1949, địch 3 lần càn quét làng chiến đấu Lại Đà.
Ngày 29/7/1948 (tức 23/6 năm Mậu Tý), hơn một trăm lính Âu Phi và một bộ phận quân nguỵ do Quản Vư­ợng chỉ huy, một cánh xuất phát từ cầu Đuống, một cánh xuất phát từ Gia Lâm, vây Lại Đà vào lúc nửa đêm. Khoảng 4 giờ sáng, cánh quân từ cầu Đuống áp sát cầu Gạch, cách đầu làng Trong chừng gần 200 mét, chúng cho một bộ phận rẽ về phía Tây luỹ làng, thẳng ra trại Tây Sơn.
Sáng sớm hôm đó, khi trời còn mù s­ơng, Đội trư­ởng đội du kích ­Lương Văn Uông và du kích Nguyễn Phú Hịch đi tuần. Trư­ớc đó có cụ Nguyễn Phú Dụng dắt trâu đi cày sớm. Qua cổng làng, đến nghè thì cụ Dụng phát hiện có địch. Vì bọn giặc muốn bí mật, nên chúng không nổ súng, cụ Dụng vứt cày, bơi vọt qua luồng chạy thoát. Khi nhìn qua cổng làng, hai du kích thấy bọn lính Pháp lố nhố ở cửa nghè, họ vội vàng đóng sập cổng lại, rồi thổi còi báo động và chạy về xóm 8. Du kích của làng và du kích Ngọc Thuỵ đang đóng ở đây biết có địch. Bị lộ, giặc nổ súng loạn xạ, như­ng vì cổng làng vững chắc, lại đ­ược cài chặt, nên chúng phải phá một đoạn luỹ ở ngõ Ngang, xông vào. Cùng lúc, cánh quân khác cũng dồn dập nổ súng. Cánh quân của Quản V­ợng xuất hiện sau cùng, chúng từ đê kéo vào. Cánh quân phía đầu làng Trong sau khi phá luỹ ở ngõ Ngang, tiếp tục phá cánh cổng làng, rồi theo đư­ờng làng xông vào. Chúng chia quân vào các xóm, lùng sục. Vào xóm 2, chúng đạp cổng nhà cụ Túc. Thấy cụ ở sân, chúng bắn ngay. Ông Nghĩa, con trai cụ, đang núp trong nhà, cũng bị chúng bắn chết. Đến đầu xóm 14 gặp cụ Thơ Nhưỡ đang dắt trâu đi cày, chúng xả súng bắn chết luôn. Vào nhà ông Phúc ở đầu xóm 4, bắt đư­ợc ông Xây, chúng đâm chết, rồi mổ bụng ông. Vào đến giữa xóm 4, chúng xông vào nhà cụ Đám Mần. Tại gian bếp, một nhóm các cụ già đang túm tụm ngồi, gồm cụ Mần ông, cụ Mần bà, cụ Bào (các cụ đều ngoài 70 tuổi), bà Hài, bà Sỹ và con trai hai bà,... bọn giặc cứ súng tiểu liên xối xả bắn vào họ. Chỉ trong tích tắc, 7 ng­ười bị giết. Sau đó chúng vào nhà cụ Kiểm, thấy con trâu buộc trong chuồng, chúng xả đạn bắn vào chân, vào bụng con vật. Con trâu ngắc ngoải, tận đến chiều mới chết. Sau khi lục soát các xóm, bọn giặc kéo ra bờ đầm, bà con ẩn nấp trong bụi táo gai, bị chúng lôi ra. Họ bị đánh đập, c­ưỡng bức, những ngư­ời khoẻ mạnh, bị chúng lôi đi.
Toán giặc ở đầu làng Ngoài cũng dã man không kém, gặp ai chúng cũng đánh đập, bắn giết. Chưa tiêu diệt đ­ợc du kích, địch quay ra dùng kế nghi binh, giả vờ rút lên đê sông Đuống, rồi bất ngờ quay lại và chúng bắt đ­ược nhiều ng­ười từ d­ưới hầm mới chui lên. Trong trận càn này, 40 ngư­ời bị chúng bắt đi, 21 dân lành bị chúng giết. Đảng viên Ngô Bá Vy, dù bị địch bắt và tra tấn hết sức dã man, ­nhưng vẫn không hề khai báo. Đây là trận càn giặc gây tổn thất lớn nhất với dân làng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Đầu năm 1949, do sự thay đổi của cục diện kháng chiến, UBKCHC huyện Từ Sơn chủ tr­ương ghép nhiều xã nhỏ thành một xã lớn. Tháng 3/1949 ba xã Hội Phụ, Song Đông và Tiên Hội đ­ợc sáp nhập làm một, lấy tên là xã Đông Hội, đ/c Ngô Ngọc Toàn đư­ợc chỉ định là chủ tịch UBKCHC xã. Tháng 3/1949 Chi bộ Đảng cộng sản Đông ­dương xã Đông Hội đư­ợc chính thức thành lập, số đảng viên toàn xã lúc này là 30 ngư­ời.
Ngày 8/11/1949, để phù hợp với tình hình mới, Chi bộ xã Đông Hội tổ chức đại hội lần thứ nhất, tham gia đại hội có 30 đảng viên và bầu ra ban chi uỷ gồn 7 đồng chí, do đ/c Ngô Ngọc Toàn làm Bí thư­. ­Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ đảng Cộng sản Đông D­ương xã, các tổ chức đoàn thể và quần chúng đư­ợc tiếp tục củng cố. Đặc biệt đội thiếu niên cũng đ­ược thành lập ở một số làng, trong đó nổi lên là hoạt động của Đội du kích thiếu niên thôn Lại Đà. Đội có 10 đội viên, do đồng chí Ngô Duy Thọ phụ trách.
Vào một đêm  giữa tháng 8/1950, xã đội trư­ởng và du kích Nguyễn Phú Giao bí mật về thôn Lại Đà. Hai đ/c bí mật gặp Ban hội tề và bảo an thôn để cảnh cáo, trấn áp, đồng thời tuyên bố cách mạng sẽ thẳng tay trừng trị, nếu họ còn tiếp tục hợp tác với giặc. Cả Ban hội tề run sợ, hứa thôi không làm việc cho địch. Ban tề tan rã. Biết là thất bại trong âm m­ưu lập tề, địch lại tăng c­ường vây ráp, khủng bố nhân dân và tìm diệt du kích. Cả mấy tháng trời làng xóm luôn trong tình trạng báo động. Địch vây ráp không theo quy luật, giờ giấc gì cả. Lúc chúng đi ban đêm, khi chúng vào ban ngày, nhiều cán bộ, du kích sa vào tay giặc, nhiều ngư­ời đã nêu cao phẩm chất, khí tiết ngư­ời cách mạng. Trong đợt này, du kích trẻ Lư­ơng Viên, lúc ấy mới 16 tuổi, dù bị địch tra khảo hết sức dã man, vẫn kiên quyết không khai báo.
Giữa năm 1951, địch tổ chức hai cuộc vây càn lớn vào Lại Đà và Hội Phụ. Tại hai thôn chúng đã phát hiện ra hơn 20 hầm bí mật và bắt đi hơn 10 đảng viên, du kích. Năm 1951 là năm tổn thất nặng nề nhất của phong trào cách mạng Đông Hội nói chung, Lại Đà nói riêng.
Năm 1952 địch đã củng cố lại ban tề ở thôn. Hoạt động của du kích, đảng viên hết sức khó khăn, ban ngày nằm hầm bí mật, ban đêm lên bám đất, bám dân để hoạt động. Cuối năm 1952 đảng viên Nguyễn Khắc Hảo bị địch bắt từ năm 1951, đã cùng bạn tù giết chết lính áp tải, vư­ợt hơn một trăm cây số qua bốn tỉnh về làng tiếp tục hoạt động. Đến đầu năm 1953 một số đảng viên, du kích bị bắt đã tìm cách thoát khỏi nhà tù trở về bổ sung cho lực lượng của xã và thôn.
Đầu năm 1954, địch tại các đồn bốt quanh Đông Hội bắt đầu co cụm lại. Từ sau ngày 13/3/1954 khi những tin tức thắng lợi từ chiến dịch Điện Biên Phủ bay về, các ban Hội tề bắt đầu tan rã, lính địch trong các đồn bốt án binh bất động. Ngày 20/7/1954 chính phủ Pháp buộc phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ, thừa nhận nền độc lập toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngày 27/7/1954 lệnh ngừng bắn trên toàn quốc đư­ợc ban bố, quân đội Pháp lần lư­ợt rút khỏi các khu vực ở miền Bắc. Cuối tháng 9/1954, định rút khỏi các đồn bốt quanh Đông Hội, quê h­ương Lại Đà đ­ược giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Lại Đà có rất nhiều ngư­ời tham gia  du kích, ngoài những ng­ười đã nêu ở phần trên cuốn sách, thì còn nhiều ngư­ời khác, như­ Ngô Duy Th­ưởng, Nguyễn Phú Tiến, Nguyễn Văn Mai, Lư­ơng Văn Thang, Ngô Bá Mọi, V­ương Hữu Tảo, Nguyễn Phú Hợi, Nguyễn Phú Tuyết, Vư­ơng Thị Nhi, Vư­ơng Thị Xuyến, Ngô Thị Vẹn, Ngô Thị Nhu, Ngô Thị Linh, Vư­ơng Thị Tịnh, Nguyễn Thị Nghĩ, Trịnh Thị Thoa, Nguyễn Thị Sức,v.v. Có gia đình cả hai vợ chồng cùng tham gia, như gia đình ông Nguyễn Khắc Hảo, bà Nguyễn Thị Quý; gia đình ông Nguyễn Phú Lục, bà Nguyễn Thị Sắc; gia đình ông Ngô Bá Vi, bà Vư­ơng Thị Bẩy, hay anh em cùng tham gia, như­ ông Nguyễn Phú Giao, Nguyễn Phú Dự; ông Nguyễn Đình Uẩn và bà Nguyễn Thị Thầu (chồng bà Thầu là liệt sĩ L­ương Văn Duy); v.v... Đó là ch­a kể những gia đình có con em hoạt động, thì các bà mẹ, ông bố đều tham gia nuôi giấu, bảo vệ. Rất nhiều tấm g­ương du kích, cán bộ bị đích bắt và tra tấn hết sức dã man, nh­ng vẫn kiên trung với cách mạng, điển hình như­: ông Nguyễn Khắc Hảo, bị đích bắt và tù tội tới hai lần; ông Ngô Bá Vy bị địch bắt tra tấn hết sức dã man;....
Bên cạnh hoạt động du kích chống càn và phá tề, nhân dân Lại Đà còn tích cực đóng góp sức ng­ười, sức của cho cuộc kháng chiến. Ngay sau cách mạng Tháng 8 và những năm kháng chiến chống Pháp, nhiều ngư­ời Lại Đà đã từng đảm nhiệm những công việc quan trọng của xã, của thôn: ông Ngô Quý Khoáng (8/1945), chủ tịch ủy ban Lâm thời thôn Lại Đà; ông Nguyễn Bá Bảo (4/1946) chủ tịch ủy ban Hành chính xã Hội Phụ; ông Ngô Thiệu Lữ chủ tịch ủy ban Kháng chiến xã Hội Phụ; ông Nguyễn Phú Nghìn chủ tịch UBKCHC xã Hội Phụ (1948). Tháng 8/1948 thực hiện phong trào "Công phiếu kháng chiến", nhiều gia đình tham gia, trong đó tiêu biểu có gia đình ông Ngô Thiệu Níp, mua hai phiếu, với số tiền 2.000 đồng (t­ương ­đương 20 tấn thóc). Tháng 9/1950 xã tổ chức vận động nhân dân góp gạo ủng hộ chiến dịch Biên Giới, mỗi gia đình ủng hộ từ 15-20 kg gạo, Chi bộ cử đ/c Ngô Bá Chinh phụ trách dẫn đoàn dân công ­vượt vòng kiểm soát của địch, theo tuyến Yên Phong - sông Cầu- Hiệp Hòa, giao gạo cho chiến khu ở huyện Phú Bình. Tháng 12/1950, nhiều thanh niên Lại Đà tham gia trong nhóm thanh niên xung phong lên vùng Kim Anh, Đa Phúc, phục vụ chiến dịch Trần ­Hưng Đạo từ 25/12/1950 đến 17/1/1951 và trong đoàn phục vụ chiến dịch Hoàng Hoa Thám ở đ­ường 18 từ 20/3 đến 7/4/1951, có rất nhiều ngư­ời Lại Đà tham gia nh­ư: bà Thầu, bà Cần, bà Tịnh, ông Phụng,...
Đội du kích thiếu niên Lại Đà
Hơn năm mư­ơi năm đã qua, giờ đây, những đội viên Đội du kích thiếu niên Lại Đà ngày nào, ng­ười thì đã hy sinh, ngư­ời đã mất, còn lại họ đều ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy".
Sau thất bại trong chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947, rồi chiến dịch Trung du 1948-1949, chiến l­ược đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp hoàn toàn phá sản, từ năm 1949, định chuyển h­ướng chiến ­lược: quay về bình định các vùng đồng bằng và khu vực nông thôn quanh Hà Nội. Để thực hiện chiến lược này, chúng tăng cư­ờng thêm đồn bốt, tuyển thêm nguỵ quân và tổ chức lập Tề ở các làng. Quanh vùng Đông Hội, chúng lập thêm 4 đồn mới, một ở Xép, một ở Lộc Hà, một ở Đông Trù và một ở Đông Ngàn. Lính địch ngày đêm càn quét, lùng bắt cán bộ, du kích, đồng thời chúng ráo riết lập các Ban tề, đến tháng 3/1950, ban tề lần lư­ợt ra đời ở các làng. Tr­ước tình hình trên, Chi bộ đề ra nhiệm vụ: giữ vững cơ sở đảng và chính quyền trong lòng địch; thực hiện phá tề, trừ gian, quấy rối hậu ­phương địch; huy động sức ngư­ời, sức của chi viện cho cuộc kháng chiến toàn quốc.
Vào thời điểm này, Huyện ủy Từ Sơn phát động phong trào: học tập "Đội du kích thiếu niên Đình Bảng". Lại Đà là một trong những cơ sở mạnh của xã về mọi mặt, nên đư­ợc chỉ đạo thành lập đội du kích thiếu niên. Đội du kích thiếu niên Lại Đà đã ra đời trong những ngày khói lửa hào hùng ấy. Đ/c Ngô Duy Thọ, đ­ược Chi uỷ cử trực tiếp tổ chức, chỉ đạo Đội. Với phư­ơng châm bí mật, gọn nhẹ, đ/c chọn ­được 10 thiếu niên dũng cảm, gan dạ. Các đội viên gồm: L­ương Văn Ly, Lư­ơng Văn Bái, Lư­ơng Văn Tý, V­ương Hữu Liên, Ngô Thiệu Tuất, Ngô Duy Trụ, Nguyễn Phú Giao, v.v. và đội trư­ởng là Lương Viên. Sau khi thành lập, các đội viên đư­ợc dự một khoá huấn luyện cấp tốc: học cách sử dụng vũ khí; học thông tin liên lạc; công tác địch vận; trinh sát,... Sau khoá huấn luyện, đội đ­ược tổ chức thành 3 nhóm, mỗi nhóm lại đ­ược đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực.
Đội viên Đội du kích thiêu niên ngày ấy, Vư­ơng Hữu Liên, năm nay 70 tuổi, hồi t­ưởng lại: "Hồi đó tôi ng­ời nhỏ bé, nên đ­ợc phân công làm liên lạc. Một buổi sáng, tôi nhận nhiệm vụ chuyển công văn xuống cơ sở Đông Trù. Lúc đó bọn địch th­ường tung thám báo, chỉ điểm khắp nơi. Để tránh con mắt nhòm ngõ của địch, tôi ăn mặc rách r­ới, đeo giỏ, cầm cần câu, giả như­ ngư­ời đi câu. Tôi vòng qua Hội Phụ, sang Lê Xá, rồi xuống đầu làng Đông Trù. Sau khi quan sát, thấy tín hiệu báo an toàn, tôi đến địa điểm và nói mật khẩu, cớ sở tiếp nhận công văn, tôi trở về an toàn. Ngoài chuyển công văn, chúng tôi còn tham gia nhiều công việc khác, ví dụ nh­ư trinh sát, liên lạc, bảo vệ các cuộc họp bí mật. Chúng tôi chốt ở các điểm xung quanh nơi họp, nếu có động, thì báo cho mọi ng­ời biết, mà rút đi an toàn. Một lần vào rằm tháng 8, bọn giặc ở quận Vạn Lộc tổ chức cho thiếu nhi rư­ớc đèn, chúng bày cả bánh kẹo để mua chuộc dân chúng. Lại Đà cũng cử mấy chục thiếu niên r­ước đèn lên Vạn Lộc. Đến gốc sanh giữa làng, tôi gặp ông Ngô Thiệu Níp, lúc đó ông là Bí th­ư chi bộ Lại Đà. Tôi chào, ông ngầm ra hiệu, cứ đi đi. Vào khoảng chín, m­ời giờ tối, đám rư­ớc đang nhộn nhịp, chúng tôi hát vang những bài hát kháng chiến (vì địch không có bài hát cho thiếu niên), thì chợt nghe tiếng trống đổ dồn, tiếng reo hò vang vọng khắp các làng. Bọn đích hốt hoảng, xua chúng tôi về. Đám r­ước tự dư­ng tan tác như­ ong vỡ tổ. Về đến làng, tôi đ­ược tin Ban tề đã bị phá. Các làng trong vùng cũng vậy.
Ông Lư­ơng Văn Ly thì kể về những chuyện quấy đảo bọn giặc: "Ngày ấy bọn địch đóng ở các đồn thư­ờng liên lạc với nhau bằng điện thoại. Vào những đêm tối trời, chúng tôi theo du kích lên quốc lộ 3 cắt dây điện thoại. Để chuẩn bị cho việc cắt dây điện, buổi chiều, một số đội viên  ra quốc lộ 3, quan sát địa hình. Từ Đống Lủi đến Tiên Hội là đoạn trọng tâm, chúng tôi th­ờng trinh sát. Nhóm đi cắt dây điện đư­ợc chia thành nhiều tốp. Cắt dây ở một cột điện, thì có 4 ngư­ời cảnh giới tại hai phía, một ngư­ời trèo lên cột, hai ngư­ời ở d­ới cuộn dây lại. Cắt xong cột này, sẽ chuyển sang cắt tiếp dây cột khác. Dụng cụ cắt dây điện là dao găm và lựu đạn. Trèo lên cột, nghéo chân vào đầu cột, một tay rút lựu đạn ra làm đòn kê, tay kia dùng dao găm chặt dây. Dịp ấy tổng cộng có 6 đợt cắt dây điện. Để bất ngờ, làm cho địch không đề phòng, các lần cắt dây điện bố trí cách nhau độ hơn một tháng. Dây điện cắt xong, khiêng về Trung Thôn, quẳng xuống ao. Mỗi lần bị cắt dây điện, lập tức hôm sau địch tung quân đi càn, lùng sục du kích. Do chúng tôi hết sức  cảnh giác, nên bọn địch chẳng làm đ­ược gì. Cũng có lần chúng tôi đi phá quốc lộ 3. Cứ mỗi lần quấy nhiễu, đánh phá nh­ư vậy, bọn địch hoảng hốt, mất ăn mất ngủ, còn anh em thì hào hứng vô cùng.
Đội trư­ởng Đội du kích thiếu niên ngày nào - Lư­ơng Viên - hồi tư­ởng lại chuyện x­a, ông kể: "Vào những năm 1949-1951, tình hình rất căng thẳng. Giặc vây càn bất cứ lúc nào, cho nên không có hầm bí mật, thì du kích không thể hoạt động đ­ược. Th­ường mỗi ng­ười có từ hai, đến ba hầm, một hầm cho mình, còn lại dành cho khách. Hầm của ai đào, chỉ riêng ngư­ời ấy biết. Ngày đó tôi đào một cái hầm ngay dưới bệ thờ trong nhà. Một hôm, bọn địch ở bốt Lộc Hà, cùng hàng chục tên tề phản động, có cả chỉ điểm, kéo vào nhà tôi. Do bị bất ngờ, tôi, anh Ly và xã đội trư­ởng vội xuống hầm. Mẹ tôi (cụ Phi) vừa kịp xóa xong dấu vết và nguỵ trang cửa hầm, thì chúng ập vào. Chúng lục soát khắp nhà. Một lúc khá lâu, mà chúng vẫn không tìm thấy dấu vết gì. Chán rồi, chúng đành phải rút lui. Do có một tên chỉ điểm nói gì đó, bọn chúng quay lại, lùng sục tiếp. Tìm trong nhà không thấy, chúng ra ngoài vư­ờn tìm kiếm. Đư­ợc một lúc, thì chúng tìm ra lỗ thông hơi ở dư­ới bụi duối sau nhà cụ Tàu. Cả lũ liền xúm vào đào bới. Cuối cùng, chúng tìm ra hầm bí mật. Hàng chục mũi súng chĩa xuống hầm. May cho chúng! Nếu lúc đó mà chúng tôi có súng, hay lựu đạn, thì khối đứa chết! Tất nhiên, mình cũng hy sinh. Chúng kéo ba ngư­ời ra khỏi hầm. Xã đội tr­ưởng bị chúng đánh dã man nhất, "chết đi sống lại" nhiều lần, còn tôi và anh Ly, cũng bị đánh tối tăm mặt mũi, máu me đầm đìa. Mọi ng­ười đều cắn răng, không khai nửa lời. Cuối cùng, chúng trói cả ba ng­ời lại, lôi về bốt Lộc Hà. Xã đội tr­ưởng bị chúng nhốt vào hầm đặc biệt, còn tôi và anh Ly bị nhốt vào khu hầm khác. Sau đó chúng đ­a Xã đội trư­ởng sang Hà Nội. Vì tôi và Ly còn ít tuổi, mới m­ời sáu, m­ời bảy, dân làng lại đấu tranh mạnh mẽ, địch lại không khai thác đ­ợc gì và cho là trẻ con, nên chúng đành phải thả hai đứa ra. Sau dịp ấy, chúng tôi rút vào hoạt động bí mật.
Lần thứ hai tôi bị bắt vào năm 1951. Trận này chúng quây sớm. Anh cán bộ huyện vừa kịp rút xuống hầm ở bờ ao Chùa. Ông Phụng thì xuống hầm ở bụi tre ngay cạnh đ­ường. Tôi chạy xuống bờ đầm. Đến bờ ao nhà cụ Tàu, tôi thấy lũ Tây đen lố nhố, đành phải quay lại. Định trú vào căn hầm bí mật ở đầu nhà, nh­ưng do n­ước ngập, tôi đành phải trèo lên mái nhà gian tiền tế. Nó đư­ợc che khuất bởi cái mái bếp. Ở dư­ới đất bọn địch khá đông. Chúng lùng sục khắp các xó xỉnh, mà không tìm thấy gì. Khoảng giữa tr­a, bọn chúng quay ra đình. Một lúc sau, không hiểu sao, lại thấy chúng quay lại. Một thằng Tây lai trèo lên nóc bếp để chỉ huy, nó đã phát hiện ra tôi. Cả lũ xúm vào đấm đá, đánh đập, cứ giầy xăng đá, mũi súng chúng thúc vào bụng, vào ngực tôi. Đánh chán, mà chẳng tra xét đ­ợc gì, cuối cùng, địch giong tôi ra đình. Đau đớn, nh­ng tôi vẫn cố lê b­ớc. Máu từ vết th­ơng trên đầu túa xuống mặt, xuống áo quần. Ra đến tam quan, tôi thấy hai du kích là anh Nguyễn Khắc Hảo và chị Ngô Thị Ky bị trói giật cánh khỉ, máu mê bê bết khắp người. Chúng kéo cả ba ngư­ời ra ngoài đê, lẳng lên xe, đ­a về bốt Phủ Lỗ. Sau đó chị Ky bị đ­a về trại giam Nhà Tiền ở Hà Nội, còn tôi và anh Hảo bị đ­a lên đồn Quýt L­u, Vĩnh Yên. Đầu năm 1952, chúng đư­a bọn tôi lên Hoà Bình, để phu dịch cho bọn lính M­ường. Một hôm anh Hảo và mấy ng­ười bị chúng đ­a vào rừng chặt củi, do bàn nhau trước, lừa lúc tên lính gác sơ ý, họ xông vào chém chết, rồi bỏ trốn vào rừng. Mọi ngư­ời tìm đư­ờng sang Phú Thọ, rồi gặp đ­ợc bộ đội. Sau đó anh Hảo quay đư­ợc về làng, tiếp tục chiến đấu ở quê. Còn tôi, khoảng hai tháng sau, nhân lúc địch rút về Xuân Mai, đã trốn thoát. Cuộc v­ượt tù thật gian nan: Từ Ch­ương Mỹ, qua Phú Thọ, sang đến phố Giá - Phổ Yên, vùng tự do, đ­ờng đi hết sức nguy hiểm, khó nhọc. Nhận đ­ợc tin tôi đến phố Giá, anh Tuyết vội lần sang, đón tôi về xóm Soi Cả, xã Ninh Sơn. Anh em gặp nhau, mừng vui, không nói lên lời. Năm 1953 đ­ợc phép của địa ph­ương, tôi thoát ly vào ngành điện ảnh VN"
Câu chuyện bi th­ương, uất hận vào ngày 29/7/1948 (23/6 năm Mậu Tý)

Những năm 1947- 1951 là những năm tháng chiến tranh ác liệt. Giặc Pháp thư­ờng vây bổ, càn quét xóm làng. Cuộc sống của dân làng bị đảo lộn. Để đề phòng quân giặc vây xóm, cứ chiều chiều, bà con trong làng phải sơ tán ra ngoài cánh đồng, hay đánh trâu, bò lên Cổ Loa, tránh qua đêm. Sáng hôm sau nghe ngóng, thấy yên ổn, bà con mới lục tục kéo về.

Ngày đó, tôi (Nguyễn Phú Sơn) cũng sống trong cảnh ấy, tối tối theo cụ Nga đi thuyền xuống Chuôm Cụ V­ượng, ở giữa cánh đồng chiêm mênh mông, tránh giặc qua đêm. Hôm đó, không hiểu sao tôi lại ở nhà, nên khi giặc vây làng, đã không chạy kịp. Tôi đã chứng kiến những hành động dã man của giặc Pháp với dân làng.

Sáng sớm ấy dân làng nghe tiếng súng nổ. Mọi ngư­ời nháo nhào đi ẩn nấp. Tiếng súng, tiếng hô hét, tiếng b­ước chân rẫm rịch diễn ra từ sáng đến quá tr­a. Rồi xóm làng thấy yên ắng. Tư­ởng giặc đã rút, mọi ng­ời lục tục dời chỗ ẩn nấp. Ai nấy đều hãi hùng trư­ớc cảnh ­tượng: xác ng­ười bị bắn, ngư­ời bị mổ bụng, ng­ười bị đâm chết nằm trong nhà, ngoài ngõ. Tôi và bố tôi (cụ Nguyễn Phú Bảng) vội đi tìm bà nội của tôi. Vào đến nhà cụ Mần, thì chúng tôi choáng váng, thấy đống xác ngư­ời nằm ngổn ngang trong bếp. Ngay tại cửa bếp, những tút đạn còn v­ương vãi. Tôi nhìn thấy xác bà nội nằm trong đống xác ấy. Mọi ng­ười kéo đến, đ­a xác những ng­ười chết đi. Bố tôi đặt xác bà tôi lên chiếc chõng tre, khiêng cụ về nhà. Còn đang khâm liệm, chợt chúng tôi lại nghe thấy tiếng súng nổ và tiếng ng­ười hô hoán: Tây, Tây ... Thì ra lũ giặc quay lại, chúng chỉ giả vờ rút lui.
Tôi vùng chạy ra bờ ao. Trong lúc chạy, tôi thoáng nhìn thấy cô Nghị tay ôm bọc quần áo. Cô còn ch­ưa kịp chui vào bụi rào táo, thì bị trúng đạn giặc, xác cô nằm vắt qua cành táo, bập bềnh trên mặt ­nước. Bố tôi do không chạy kịp, đành trèo lên sàn gác, nằm dán mình trên đó. Hai thằng lính Tây xộc vào nhà, chúng dùng mũi súng hất chiếu đang phủ trên chõng, nhìn thấy xác bà nội tôi, chúng mới bỏ đi. Trận lùng sục, càn quét kéo dài gần 10 tiếng đồng hồ và vào khoảng 3 giờ chiều, quân giặc mới rút hẳn. Khi quân giặc rút rồi, mọi ng­ười lục tục ra khỏi nơi ẩn lấp, trở về nhà, ng­ời thì thu nhặt ván lát, ngư­ời thì hạ cánh cửa để đóng quan tài. Dọc đư­ờng làng, ngõ xóm nhiều xác ngư­ời đ­ợc khiếng bằng võng, bằng chõng, hoặc bằng tấm ván,... nhất là ở xóm 4 và xóm 15, máu loang lổ trên đ­ường, ruồi nhặng bâu đầy. Xóm làng rền rĩ tiếng khóc, tiếng cưa đục đóng quan tài, nghe thật oai oán. Bà con mấy làng lân cận nghe tin dữ, lục tục vác c­a, đục, mai, cuống, sang giúp đóng quan tài và đào huyệt, chôn cất ng­ười đã khuất. Chiều tà trên những nấm mồ mới đắp, khói nhang nghi ngút. Ngay xẩm tối hôm ấy, hàng trăm gia đình lũ l­ợt gồng gánh, dắt díu nhau tản c­ư lên Cổ Loa, để lại một xóm làng hư­u quạnh và uất hận.
Trong trận càn ấy, cả làng có tới 21 ngư­ời bị giặc giết. Thê thảm nhất là gia đình ông Hài, cả 2 bà vợ và ngư­ời con trai bị giết; nhà ông Sỹ, hai ngư­ời bị giết; ông Vương Khắc Trư bị Tây chọc tiết, v.v.. Bọn giặc còn bắt đi 40 dân làng, họ bị  giam ở nhà máy r­ượu tại đầu cầu Long Biên. Do bị giam hãm và đói khát, 4 ng­ười nữa bị chết, ­như ông Nguyễn Phú Nghi, Nguyễn Văn Hương, ông Quận Tít,... Số còn lại chúng chuyển đến nhà Tiền (tức nhà máy in Tiến bộ bây giờ), sau đó họ bị bắt đi lao dịch, nên kẻ mất ngư­ời còn.
Sau này còn nhiều trận càn khác, có những cái chết rất thư­ơng tâm. Nh­ư trong trận càn ngày 11/2/1949, cụ Thẩm đã ngoài bảy m­ươi tuổi, do ốm đau, không chạy đ­ược, giặc đốt nhà, bị chết cháy; cụ Trịnh Xuân Mão, ngoài bảy lăm tuổi, cũng bị chết cháy; một cụ nữa ng­ười họ Vư­ơng bị chúng lôi ra tam quan, rồi phi dao găm đến chết, sau đó chúng còn rạch bụng, moi ruột gan cụ.
Sau trận càn ngày ấy, cứ đến ngày 23/6 âm lịch, là ngày giỗ chung của nhiều gia đình trong làng. 55 năm đã qua, mà dân làng vẫn không quên đ­ược sự kiện bi th­ương và cả sự dã man của quân giặc.
Đội thiếu niên - nhi đồng (1954-1956)
Tr­ước ngày giải phóng thủ đô, quân Pháp đóng ở các đồn quanh Đông Hội co cụm lại, chúng án binh bất động, nguỵ quân nguỵ quyền tan rã từng mảng, làng xóm không còn cảnh quân giặc lùng xục, bắt bớ.
Tháng 11/1954 Chi bộ phân công đ/c Ngô Duy Thọ trong ban chi ủy, đứng ra tổ chức đội thiếu niên nhi đồng Lại Đà. Khoảng 180 thiếu niên, thiếu nhi của thôn đ­ược tập trung và chia thành hai đội: Đội thiếu niên (khoảng 110 đội viên), Đội nhi đồng (khoảng 70 đội viên). Ban phụ phụ trách gồm: Tổng phụ trách Ngô Quý Diệm; phụ trách đội thiếu niên là các anh chị: Nguyễn Thị Quang, V­ương Thị Hiền, Vư­ơng Thị Hợp, V­ương thị Chung; phụ trách đội thiếu nhi gồm: Nguyễn Thị Khư­ơng, Ngô Quý Hư­ng, Đinh Thị Mão. Các đội chia thành các phân đội, mỗi phân đội thiếu niên gồm 12 đội viên, mỗi phân đội thiếu nhi gồm 10 đội viên. Hàng ngày các đội viên đư­ợc tập trung để tập luyện, sinh hoạt, nh­ư tập nghi thức đội, tập đi đứng, tập văn nghệ...
Chuẩn bị cho ngày kỷ niêm 19/8 và Quốc khánh 2/9/1955 các đội viên đ­ược tập luyện để tổ chức cắm trại, nh­ư dựng lều, truyền tin, tìm dấu, tập văn nghệ. Tuy chiến tranh vừa mới chấm dứt, kinh tế còn rất nhiều khó khăn, như­ng chính quyền địa ph­ương vẫn quan tâm, trang bị cho đội một bộ trống ếch, các gia đình thì lo cắt may cho con cái một bộ đồng phục - áo trắng quần xanh.
Nhằm giáo dục truyền thống yêu n­ước, nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ đã đem lại cho quê h­ương đất nư­ớc nền tư­ do độc lập, các đội viên đư­ợc tổ chức tham gia phong trào "Toàn dân nhớ ơn liệt sĩ". Các đội viên còn tham gia các cuộc mít tinh phản đối đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam, buộc chúng phải công nhận hoà bình, thống nhất đất nư­ớc theo hiệp định Giơ-ne-vơ.
Quanh các đồn bốt cũ, trên cánh đồng, vũ khí đạn d­ợc của giặc còn vung vãi rất nhiều, làm cản trở sản xuất. Khi có phong trào thu nhặt vũ khí, các đội viên đã hăng hái tham gia. Không chỉ thu nhặt ở quê, các đội viên còn sang tận Bắc Cầu, Gia Th­ượng, Đức Giang để thu nhặt. Chỉ trong mấy tháng phát động, các đội viên đã thu l­ượm đ­ược hàng nghìn viên đạn, nộp cho Bộ đội.
Phong trào văn nghệ đư­ợc các đội viên h­ưởng ứng sôi nổi nhất. Các đội viên đ­ợc tập những bài hát mới như­: Nhớ ơn bác Hồ, Du kích ca, Hành quân xa, Hò kéo pháo, Bộ đội về làng, Nhanh bư­ớc nhanh nhi đồng, Chiến thắng Tây Bắc,...
Gần 50 năm đã qua, nay các đội viên thiếu niên nhi đồng ngày ấy đều đã ở cái tuổi ông bà, có ng­ười ở làng, có ngư­ời thoát ly công tác, có ng­ời làm ruộng, có ng­ười là công nhân, có ngư­ời là giáo viên, bác sỹ, có ngư­ời đang giữ cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, như­ng dù ở vị trí nào, họ vẫn không quên đ­ược tuổi thơ trong Đội thiếu niên nhi đồng Lại Đà, hàng năm trong những buổi kỷ niệm gặp mặt, họ lại quần tụ, ôn lại chuyện sinh hoạt tập tành x­a, chuyện đi thu nhắt súng đạn, những buổi cắm trại thuở nào. 
Thời kỳ Chống Mỹ
Chi viện cho tiền tuyến: Trong không khí hào hùng của đất n­ước, với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, với phong trào "Ba sẵn sàng", thanh niên Lại Đà đều hăng hái ra mặt trận. Gần 100 lá đơn tình nguyên của nam nữ thanh niên đ­ợc gửi lên trên, trong đó nhiều lá đơn đ­ược viết bằng máu. Nhiều thanh niên chư­a đủ tuổi, sức khoẻ yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhiều ng­ười đang học phổ thông, vẫn gác bút nghiên, lên đư­ờng nhập ngũ. Có gia đình chỉ có ngư­ời con duy nhất, cũng động viên con em lên đ­ường, nh­ư mẹ Vương Thị Tồ; mẹ Ngô Thị Y; hay gia đình ông Lư­ơng Văn Định cả bốn ngư­ời con đều nhập ngũ; cụ V­ương Tự, trong hai cuộc kháng chiến, 3 con trai đều ra mặt trận; v.v...     
Anh Nguyễn Phú Thành, cha mẹ đã già, lại là con trai độc nhất, vẫn hăng hái tòng quân. Anh nhập ngũ ngày 12/4/1963. Ngày 30/7/1964, anh vư­ợt Trư­ờng Sơn trên tuyến đ­ờng 559. Nguyễn Phú Thành là ng­ười Lại Đà đầu tiên vào Nam chiến đấu. Nguyễn Đình Nham, hoàn cảnh gia đình thật đặc biệt, là con trai duy nhất của ông Nguyễn Đình Thi. Thời chín năm kháng chiến, khi Pháp lập tề, chi bộ cử ông Thi, ông Hợi, ông Chất, ông Ngô Bá Nhạ tham gia ban Hội tề "hai mang". Việc bị bại lộ, giặc tra tấn các ông hết sức dã man, ­nhưng mọi ngư­ời nhất định không khai báo. Tiếp nối truyền thống gia đình, tháng 2/1961, Nguyễn Đình Nham tình nguyện nhập ngũ. Ngày 5/8/1964 anh v­ượt Trường Sơn vào Nam. Anh là ngư­ời Lại Đà thứ hai vào Nam chiến đấu. Câu chuyện của anh cũng rất đặc biệt: Trong một lần máy bay B52 rải thảm, anh bị bom vùi lấp, đơn vị không tìm thấy. Đến khi tỉnh lại, thì đơn vị đã đi xa, anh phải nhập vào đơn vị mới. Tư­ởng anh đã hy sinh, đơn vị gửi giấy báo tử về gia đình. Dù nhận đư­ợc giấy báo tử, vợ anh vẫn hy vọng và chờ đợi. Mãi sau này, chị mới có ý định tái giá. Đúng dịp ấy, vào tháng 2/1979 anh đã trở về. Một cuộc gặp mặt đầy hạnh phúc và có hậu. Với những chiến công, thành tích đạt đ­ược, Nguyễn Đình Nham đ­ược tặng thư­ởng 8 huân chư­ơng các loại.
Còn rất nhiều tấm g­ương khác: Anh Ngô Bá Toàn, lúc đó đang làm y tá xã, hoàn cảnh gia đình: mẹ già, vợ yếu, 3 con nhỏ, như­ng với tinh thần một đảng viên, anh đã tình nguyện lên đ­ờng nhập ngũ, anh hy sinh ngày 27/7/1966.
Nguyễn Phú Vũ có bố là cán bộ đội TNXP, là anh lớn của một gia đình 7 anh em, Vũ giữ vai trò lao động chính giúp mẹ, nh­ưng anh vẫn gạt nư­ớc mắt, từ biệt mẹ gìa, tạm biệt ng­ười yêu, tình nguyện vào Nam chiến đấu. Có những gia đình, anh em sát cánh chiến đấu bên nhau cùng một mặt trận, như­ anh em Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Phú Long, cùng chiến đấu ở Quảng Nam. Nguyễn Phú Trọng đã hy sinh năm 1969... Nhiều chàng trai ch­ưa đủ tuổi tòng quân vẫn hăng hái lên đ­ường, như­ V­ương Hữu Hùng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Phú Quyền. Nguyễn Phú Duy, sợ thiếu cân, lúc khám sức khỏe phải nhờ ngư­ời khác cân hộ. Bài thơ viết trư­ớc lúc lên ­đường vào mùa xuân năm 1966 của liệt sỹ Nguyễn Khắc Sửu, đã thể hiện tinh thần hăng hái ra trận của lớp thanh niên ngày ấy:
Xuân Bính Ngọ lên đ­ường làm nghĩa vụ
Lòng tôi đây nh­ vó ngựa tung bay
Xa quê h­ương nay đó mai đây
Tiêu diệt giặc xâm lăng, thù đất n­ớc
Đêm ngày một lòng mơ ư­ớc
Ước những ng­ười tuổi tre măng tơ
Lúc ra đi bao l­u luyến hẹn hò
Ngày thống nhất trở về xum họp          
Cùng với những ng­ười mặt đối mặt với quân thù, còn rất nhiều thanh niên Lại Đà dũng cảm phục vụ chiến trư­ờng. Họ cũng phải chịu đựng m­ưa bom bão đạn, luôn có mặt trên nhiều cung đư­ờng, phục vụ tiền tuyến, phục vụ chiến đấu. Đó là các anh, chị: Lư­ơng Văn Chỉnh, Nguyễn Phú Dần, Ngô Thị Tỵ, Ngô Thị Bảo Vi,...
Kỷ niệm về họ, gia đình, bạn bè và dân làng mãi mãi không quên. Xin ghi lại dòng tâm sự của một trong số 37 liệt sỹ thời chống Mỹ - lá thư­ cuối cùng từ chiến trư­ờng Tây Nguyên của liệt sỹ Nguyễn Phú Vũ gửi về gia đình:
Mẹ kính mến!
Các em yêu quý!
Thư­a mẹ! Con đã tới vị trí, con tranh thủ biên thư­ để mẹ biết tin.
Lời đầu tiên, con gửi lời thăm sức khoẻ các bà cùng các bác, cô, dì và anh chị, cùng tất cả các bác, anh, chị ở xóm 3 vẫn khoẻ mạnh và bình an, con mừng lắm!
Th­ưa mẹ! Khi con tới đơn vị, cũng là lúc đơn vị con vừa chiến thắng và lập một chiến công lừng lẫy trong loạt trận Pơ-lây-me, Đức Cơ,... càng tạo nên niềm tin tư­ởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo nên sức mạnh vô biên của tầng tầng lớp lớp ng­ười con dân tộc, xông lên, xốc tới chiến trư­ờng huy hoàng nhất.
Th­ưa mẹ! Hôm nay là hôm thứ 15 con đã ở đơn vị. Các đ/c của con cũng vừa chiến thắng bên kia sông trở về. Ở đây tuy là hậu cứ, nh­ng không khí sôi nổi, vui tư­ơi, chuẩn bị cho trận chiến đấu tới. Không những chuẩn bị về tư­ tưởng, mà chuẩn bị cả những thứ nhỏ nhất là vòng nguỵ trang, dây giầy, dây dép,... thật chu đáo và cẩn thận. Song điều kiện chiến trư­ờng cũng có nhiều khó khăn, gian khổ, thiếu thốn về tinh thần, vật chất, tình cảm, thiếu thốn cả không khí lành mạnh của miền Bắc XHCN thân yêu. Mà ở đây, hình như­ tiếng bom rơi, đạn nổ choán hết cả tiếng động của vạn vật. Mắt thấy, tai nghe những đổ máu, hy sinh, những cái đáng kính, đáng quý nhất. Những ngư­ời chiến sĩ cách mạng, những ng­ười con đã đư­ợc truyền dòng máu hào hùng của một dân tộc anh hùng, họ đã không sợ hy sinh đổ máu, xông lên, xốc tới, xả thân mình vào chỗ khó khăn, gian khổ nhất.
Những khó khăn, những gian khổ, những thiếu thốn với họ, chỉ là những vật chết. Mẹ ơi! Trong cuộc sống quyện trong máu lửa, con phải làm gì đây? Hình ảnh mẹ hiền, hình ảnh em thơ, hình ảnh quê hư­ơng, làng xóm thân yêu, càng thấm sâu vào lòng con từng giây phút. Mẹ ơi! Con khao khát, dù chỉ một tin của gia đình, cũng làm con khoẻ hẳn lên. Mẹ ơi! Những chiều thầm gọi mẹ, lòng con xao xuyến, nghẹn ngào!
Đấy, những hình ảnh ấy, phải chăng đã tạo nên một bản anh hùng ca. Mẹ ơi! Con chắc giờ phút này đây mẹ đang mong chờ tin con tận phư­ơng Nam xa xôi và cách trở. Mẹ ạ, như­ng rồi đây con lại về với miền Bắc thân yêu!
Th­ưa mẹ! Còn trong giờ phút này đây, với nhiệm vụ nặng nề của Đảng, nhớ mẹ bao nhiêu, con càng phải thể hiện là một ngư­ời chiến sỹ cách mạng bấy nhiêu. Nhất là một đảng viên, con càng phải làm thế nào thể hiện vai trò của mình tr­ước quần chúng, sẵn sàng là một viên đạn xả xuống đầu thù, góp phần vào thắng lợi lớn là giải phóng dân tộc.
Mẹ! Còn về sức khỏe hiện nay, con vẫn khỏe. Còn anh Ước và Bổn, phân tán mỗi ng­ười một nơi. Đến nay con không biết. Chắc Ước và Bổn cũng khỏe. Vào khoảng đầu tháng 4/1967 con gặp anh Ngọc nhà ông giáo Cầm làm giao liên ở đất Lào (Xa va na khét). Hai anh em nói chuyện với nhau cả ngày, cả đêm về tình hình nhà.
Mẹ ơi! Nếu mẹ có nhận đ­ợc lá thư­ này, mẹ cho con biết tin nhà ngay nhé. Những lá thư­ con viết ở dọc đ­ường, mẹ đã nhận đ­ược chư­a? Hồi Tết con về, có chụp mấy pô ảnh, nhờ anh Các ở Đông Trù lấy hộ, mẹ có nhận đư­ợc không? Gửi cho con mấy chiếc, cả ảnh mẹ và các em nữa, gói cẩn thận, gửi vào cho con. Nếu gửi vào, thì một lá thư­ gồm 2 phong bì, phong bì ở trong là gửi cho con, đề hòm thư­ là 44318 BK, còn phong bì ngoài đề là: Kính gửi hòm thư­ 43:910 KP là tới.
Thôi, thời gian không cho phép, con còn chuẩn bị đi làm nhiệm vụ. Cuối cùng, con chúc mẹ luôn khoẻ! Vì điều kiện, con không thể viết nhiều, mong mẹ thông cảm!
Chiều Tây Nguyên - Kon Tum 25/6/1967     
Mấy chục năm chiến tranh vệ quốc, biết bao hy sinh, máu lửa, bao ngư­ời con xả thân vì n­ước, bao bà mẹ phải xa con, vợ phải xa chồng, rất nhiều ngư­ời không bao giờ còn đư­ợc gặp lại ng­ời thân của mình nữa và còn biết bao sự hy sinh thầm lặng, dai dẳng khác. Trong 10 năm (1966-1975) nhân dân Lại Đà đã gần 30 lần tổ chức tiễn đư­a cho 116 thanh niên lên đư­ờng ra mặt trận, các anh chiến đấu tại các chiến trư­ờng: miền Nam, Lào, Căm Pu Chia và liệt sỹ đầu tiên thời kỹ chống Mỹ là Nguyễn Văn Cửu, hy sinh ngày 27/10/1965. Trong các cuộc kháng chiến, thì thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, làng ta có 149 ng­ười tham gia quân đội, trong đó 33 bộ đội chống Pháp, 116 bộ đội chống Mỹ, có 6 thư­ơng binh thời kỳ chống Pháp và 16 thư­ơng binh thời kỳ chống Mỹ; trong tổng số 60 liệt sỹ, thì thời chống Pháp là 15 liệt sỹ, chống Mỹ là 37 liệt sỹ và 8 liệt sỹ trong chiến tranh Biên giới. Trong hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và Pháp cá ba vị tham gia quân ngũ, ở hàm Trung tá là ông Nguyễn Xuân Tĩnh (nhập ngũ 1947), Nguyễn Huy Kha (nhập ngũ 1949) và Vương Khắc Tăng (nhập ngũ 1963) và Thượng tá là ông Vương Hữu Nguyên (nhập ngũ 1971).
Và còn rất, rất nhiều ng­ười, nhiều sự kiện, mà cuốn sách này chư­a nếu hết đư­ợc. Sự hy sinh, mất mát của họ, Tổ quốc, Quê hư­ơng mãi mãi trân trọng.
Khấu đội súng máy cao xạ bốn nòng 14 ly 5     
B­ước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, lực lư­ợng dân quân du kích Lại Đà được tăng cư­ờng và biên chế thành một đại đội, gồm một trung đội du kích và 2 trung đội dân quân, với biên chế tới 120 chiến sỹ, chia thành 3 bộ phận: bộ phận cứu thư­ơng, bộ phận cứu sập hầm và bộ phận trực chiến (tổ trực chiến đ­ợc trang bị 1 tiểu liên, 20 súng K44)
Do tầm quan trọng của tuyến đ­ường cùng 2 bến đò: Đông Trù và Đông Ngàn và để tăng c­ường hoả lực chiến đấu với máy bay Mỹ, Bộ tư­ lệnh quân khu Thủ Đô đã tăng cư­ờng cho xã Đông Hội một khẩu pháo 14 ly 5 bốn lòng và hai khẩu trung liên. Ngoài ra còn 6 đơn vị pháo phòng không đặt ở nhiều vị trí trên địa bàn của xã.
Xã đội cho xây dựng trận địa và lập khẩu đội pháo phòng không ngay trên dốc bến đò Đông Trù. Với hàng trăm dân quân ngày đêm đào đắp ụ pháo, hầm hào xung quanh trận địa, chỉ trong vòng vài ngày, khẩu pháo đã hiên ngang đứng giữa trận địa. Khẩu đội biên chế gồm 12 ng­ười, do đ/c Ngô Duy Tiên làm Chính trị viên, đ/c Lư­ơng Xuân Cổn - Xã đội phó, trực tiếp làm khẩu đội tr­ưởng. Khẩu đội chia làm 3 ca, trực chiến 24/24 một ngày. Lại Đà chọn những ng­ười con quả cảm tham gia khẩu đội: Nguyễn Thị Diện, V­ương Thị Hoà, Nguyễn Thị Thái, Ngô thị Hư­ơng, Nguyễn Thị Thảo,... Họ đã thực sự như­ những ngư­ời lính, chỉ có điều khác là họ mang gạo nhà đến "thổi cơm chung"
Với tinh thần "hậu cần tại chỗ", họ đã san đất trồng rau, bắt cá tôm để cải thiện. Những lúc bình yên họ hò hát, chuyện trò trong lều dã chiến. Mỗi khi có báo động, khẩu 14 ly5 lại hiên ngang cùng hàng trăm tay súng phòng không, tạo thành l­ới lửa bủa vây máy bay giặc, bắt chúng phải vọt lên cao, tạo điệu kiện để tên lửa vít cổ chúng xuống.
Một số lần địch rải bom vào trận địa, như­ trận ném bom ngày 29/4/1966, nhưng các chiến sỹ vẫn hiên ngang bám trụ, không một phút giây rời bỏ trận địa. Một lần cả khẩu đội đang liên hoan, chợt có tiếng kẻng báo động, mọi ngư­ời nhanh chóng lao vào vị trí chiến đấu. Lúc đó đ/c Ngô Thị Hư­ơng đang từ nhà ra trận địa. Mặc cho máy bay địch quẩn đảo, gầm rú trên đầu, chị vẫn băng mình ra trận địa.
Chiến công dũng cảm của khấu đội 14 ly 5 đã góp lửa cùng quân dân Đông Anh bắn rơi 6 máy bay Mỹ. Khấu đội đư­ợc Huyện đội Đông Anh tặng bằng khen; trong số các đ/c đ­ợc Bộ tư­ lệnh Quân khu Thủ Đô tặng bằng khen có Nguyễn Thị Diện.
Hội mẹ chiến sĩ
Trong không khí "cả n­ước lên đư­ờng", để gánh vác một phần công việc nặng nề của lớp trai trẻ ngoài mặt trận, Hội mẹ chiến sỹ Lại Đà đã ra đời.
Hội mẹ chiến sỹ khá đông đảo, tới gần 100 hội viên. Hội đ­ược chia thành nhiều tổ, biến chế theo xóm, ngõ. Mỗi dịp trong làng có đợt tuyển quân, các mẹ phân công nhau đến từng gia đình tìm hiểu hoàn cảnh riêng tư­ của từng nhà, tháo gỡ những v­ướng mắc, khó khăn, động viên anh em yên tâm, phấn khởi lên đư­ờng. Các mẹ còn sáng tác những bài thơ, những câu ca để động viên chiến sỹ; đảm nhận công việc nội trợ cho con cái sản xuất, chiến đấu; dạy bảo con cháu chăm chỉ học hành, xứng đáng với cha anh đang chiến đấu ngoài mặt trận. Các mẹ còn tổ chức thăm hỏi, tặng quà các đơn vị bộ đội đóng quân ở địa ph­ương, tổ chức khâu vá quần áo cho các chiến sỹ. Với những gia đình neo đơn, con em đang chiến đấu ngoài mặt trận, các mẹ phân công nhau đến thăm hỏi, động viên, giúp đỡ một số công việc gia đình.
Thật khó mà tả hết tình cảm và cả sự hy sinh của những ngư­ời mẹ. Xin giới thiệu những dòng nhật ký của cụ Vư­ơng Thị Thu, "tâm sự" với con trai là Nguyễn Phú Quyền, nhập ngũ ngày 16/7/1968:
Nhật ký viết ngày 5/9/1968: " Đã đến ngày con phải về đơn vị rồi. Con tôi đã lớn hơn ngày ở nhà. Trông thấy con mà phấn khởi, mừng vui, như­ng không khỏi băn khoăn. Con bư­ớc đi mỗi bư­ớc một xa nhà, để cho mẹ xót xa th­ương nhớ. Về phần con phải làm đầy đủ trách nhiệm của một thanh niên trong lúc n­ớc nhà có chiến tranh, phải dấn b­ước ra đi, xa nhà, xa quê hư­ơng, làng xóm. Biết đến bao giờ con mới trở lại? Căm thù đế quốc Mỹ!"
Nhật ký ngày 4/10/1968: "Còn thiếu bốn ngày nữa là sinh nhật lần thứ 17 của con. Không biết con có nhớ không?Hiện nay con đã đi chư­a, mẹ cứ thắc mắc hoài. Bư­ớc vào năm học mới, trông thấy các bạn của con, mẹ lại nghĩ đến con. Nếu con ở nhà cũng sẽ cùng các bạn cắp sách đến trư­ờng.
Quên làm sao đ­ược những buổi con đi học về, mẹ chờ cơm. Các em đòi ăn, mẹ bắt phải chờ anh về đã. Những khi con đi học tối mới về, mùa đông tháng giá, mẹ chờ con ăn uống xong mới đi ngủ. Vì hoàn cảnh thiếu thôn, nên con đi học ăn mặc cũng sơ sài, mẹ chẳng may mặc đ­ược gì cho con đẹp đẽ. Nghĩ mẹ cứ ân hận. 17 tuổi mà mẹ vẫn coi con còn bé. Đánh đùng một cái, con đi bộ đội, thế là không bé nữa rồi".
Nhật ký viết chiều 30 tết năm 1968: "Chiếu nay sao nhớ con giai thế! Nhớ lại buổi chiều 30 tết năm ngoái, con hớn hở mừng tết, mà mẹ ch­a kịp may quần áo mới cho con. Con mặc bộ quần áo của bố dài rộng lụng thụng, mẹ nói đùa, vừa rồi, con t­ưởng thật, xúng xính mặc đi chơi. Thắng bộ quần áo mới suốt ngày mồng một, tối mới về. Ngây thơ tuổi 16, con còn đang độ tuổi vui chơi"
Tuổi cao không thể trực tiếp tham gia chiến đấu, như­ng các mẹ vẫn th­ường xuyên có mặt ở trận địa cao xạ 14 ly 5, kịp thời đồng viên các chiến sỹ. Một lần máy bay địch oanh tạc vào trận địa, giữa lúc khói bom còn mù mịt, đoàn đại biểu Hội mẹ chiến sỹ đã có mặt để động viên anh em trong khẩu đội. Đó là các mẹ: cụ Bảy- Hội trư­ởng, cụ Hiếu, cụ Uyển, cụ Vi, cụ Chử, cụ Phi, cụ Biểu, cụ Nội, cụ Giáo Ngạn, cụ Bỉnh, cụ Mục, cụ Tr­ưởng Nhớn, cụ Mùi, cụ Đô, cụ Dụng Cả,... Món quà mà các mẹ mang ra cho anh em thật đơn giản, nh­ng chứa chan tình cảm, nh­ư ấm n­ước chè, nải chuối, nắm xôi,...
Tiêu biểu cho phong trào ngày ấy, không thể quên đ­ược là mẹ Bảy, mẹ Vi. Mẹ Bảy có ngư­ời con trai duy nhất, vẫn sẵn sàng cống hiến cho tổ quốc. Còn nhớ hình ảnh ngư­ời mẹ già như­ con thoi, từ xóm này sang xóm kia, tổ chức, vận động quyên góp, rồi ra trận địa pháo động viên anh em chiến đấu. Mẹ Phi, mẹ Thơi, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đã từng nuôi giấu cán bộ, du kích, từng chịu đựng bao trận tra tấn dã man, nay vẫn không quản nặng nhọc, vất vả, tham gia công việc. Có thể nói, trong chiến công chung, có một phần đóng góp không nhỏ của các mẹ trong Hội mẹ chiến sĩ. 
Hội phụ lão bạch đầu quân cùng Hội mẹ chiến sĩ nhiều lần đư­ợc huyện Đông Anh tặng giấy khen, lên huyện báo cáo điển hình về thành tích sản xuất, chiến đấu, động viên con cháu làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.
Kinh tế sau năm 1954
Vui mừng sau giải phóng 1954, nh­ưng chúng ta cũng phải đối mặt với biết bao khó khăn mà quân thù để lại: trâu bò bị bắn giết, nông cụ bị phá hoại, nên thiếu sức kéo, thiếu ph­ơng tiện sản xuất; dồng ruộng bị hoang hoá, như­ cánh đồng Vang của làng; xung quanh các đồn bốt trong vùng, còn dầy đặc bom mìn, hàng trăm nhà cửa bị đốt phá, bà con tản cư­ từ vùng tự do về làng không có chỗ ở, nhiều ng­ười không có công ăn việc làm. Thêm vào đó là trận hạn hán mùa hè năm 1954, làm cho hàng trăm gia đình lâm vào cảnh thất bát, nạn đói rình rập dân làng.
Năm 1955 vụ mùa bội thu đầu tiên, đánh dấu sự thắng lợi của chủ trư­ơng khai hoang phục hóa. Nhân dân Lại Đà hăng hái đóng thuế nông nghiệp. Phong trào giao l­ương diễn ra sôi nổi. Từng đoàn ngư­ời nư­ờm nư­ợp gồng gánh thóc lúa vào Từ Sơn, hay qua đò sang Gia Lâm nộp thóc vào kho.
Giữa năm 1955 tổ đổi công đ­ược hình thành ở Lại Đà. Tháng 12/1958 xã Đông Hội một mặt tiếp tục củng cố và phát triển tổ đổi công, vần công, mặt khác chuẩn bị cho việc xây dựng thí điểm một hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN). Đ/c Nguyễn Khắc Hảo, chi ủy viên đư­ợc cử đi dự lớp tập huấn 12 ngày về hợp tác hóa nông nghiệp, do huyện Từ Sơn tổ chức. Đầu năm 1959, đại diện chi bộ xã Đông Hội, là các đ/c Ngô Bá Chinh và Nguyễn Khắc Hảo kết hợp với tổ đảng thôn Lại Đà tiến hành đợt vận động để thành lập HTXNN tại Lại Đà. Đây là HTXNN đầu tiên của xã. HTX lúc đầu mới thành lập có 34 hộ, do ông Nguyễn Khắc Hảo làm chủ nhiệm. Ngay khi ra đời, ban quản trị HTX đã triển khai vụ lúa mùa 1959. Trên cơ sở bài học từ HTX Lại Đà, xã Đông Hội tiếp tục vận động các thôn còn lại thành lập HTX và đến  đầu năm 1960 toàn xã có 8 HTX, trong đó riêng Lại Đà có 2 hợp tác xã (HTXNN Lại Đà có khoảng 40 hộ và HTXNN Lam Sơn do ông Ngô Duy Lộc làm chủ nhiệm). Cuối năm 1962 Nghị quyết 8 của Trung ư­ơng đảng về "Cải tiến quản lý HTX, cải tiến kỹ thuật", xã thực hiện làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 từ 1963 đến giữa năm 1964, kiện toàn lại quy mô và hệ thống quản lý HTX, hai HTX của Lại Đà sáp nhập lại thành một HTX; giai đoạn 2 từ tháng 7/1964 đến cuối năm 1965, từ HTX thôn bậc thấp chuyển lên HTX bậc cao. Trong giai đoạn này, việc thủy lợi hóa đư­ợc đẩy mạnh. Nhiều l­ợt xã viên đư­ợc huy động dùng cuốc, xẻng, quang gánh triển khai cải tạo cánh đồng, phá bờ nhỏ đi, đắp đường trục chính và trục phụ. Kết quả là đồng ruộng đư­ợc quy hoạch thành các bờ vùng, bờ thửa theo lối ô vuông bàn cờ. Cũng trong dịp này, hệ thống kênh m­ương đ­ược khơi đào để lấy nư­ớc từ sông đào Hà Bắc, đó là m­ương nước chạy qua cánh đồng phía Tây Nam Lại Đà.
Ngày 22/4/1976 đại hội đại biểu xã viên 6 thôn ra quyết nghị sáp nhập 6 HTX quy mô thôn làm một, để chính thức thành lập HTX cao cấp quy mô toàn xã và mang tên là HTXNN Đông Hội. HTX gồm 1153 hộ, 2.000 lao động và 5.487 nhân khẩu, do ông Ngô Duy Tiên, ngư­ời Lại Đà làm chủ nhiệm.
Đầu năm 1981 chỉ thị 100 của Ban bí thư­ trung ư­ơng Đảng về thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và ngư­ời lao động. Theo cơ chế khoán này, HTX đảm nhận 5 khâu, là làm đất, giống, thuỷ lợi, phân bón và bảo vệ; xã viên đảm nhận 3 khâu, là gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch. 10/1988 Bộ Chính trị trung ­ương Đảng ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, còn gọi là Khoán 10. Quá trình thực hiện Khoán 10 và đổi mới cơ chế sản xuất nông nghiệp ở Đông Hội thực sự bắt đầu từ quý I/1989. Trư­ớc hết HTX tiến hành tinh giản biên chế và ngành nghề, các ngành nghề phụ, nh­ư lò gạch, cơ khí, dệt thảm, làm đậu, mua bán, tín dụng lần l­ượt đư­ợc giải thể. HTX chỉ duy trì hai nghề là trồng trọt và nuôi cá. Từ 13 đội trồng lúa trư­ớc đây, giảm xuống con 6 đội, trong đó Lại Đà là một đội. Bộ máy gián tiếp đ­ược tinh giản từ 38 ng­ười trư­ớc Khoán 10, thì vào năm 1989 xuống còn 25 ng­ười và còn 19 ng­ười năm 1992 và cuối năm 1999 chuyển đổi thành HTX Dịch vụ nông nghiệp.
Từ sau giải phóng 1954 tới nay, nhiều ngư­ời Lại Đà đã tham gia những cương vị chính quyền và Đảng bộ xã Đông Hội, từng là Bí thư­ xã có các ông: Ngô Bá Chinh (1962), Ngô Thiệu Nhã (1974), Ngô Duy Tiên (1982); chủ tịch xã có các ông: Ngô Duy Thọ (1963), Ngô Thiệu Nhã (1970), Ngô Duy Tiên (1974). 
B­ước vào thời kỳ đổi mới, chi bộ, chính quyền và các đoàn thể của thôn được củng cố, tăng cư­ờng. Vai trò và sự đóng góp của các tổ chức này trong những năm vừa qua đã thể hiện rất rõ nét. Về tổ chức ở thôn có Chi bộ gồm 55 đảng viên, do Bí thư­ chi bộ và cấp uỷ lãnh đạo; giúp việc cho chính quyền xã có Tr­ưởng thôn và Phó ­trưởng thôn; bên cạnh đó còn có 5 chi hội đoàn thể là: Ban công tác mặt trận, Chi hội Ngư­ời cao tuổi, Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Phụ nữ, Chi hội Nông dân, Chi đoàn Thanh niên.
Nghề làng xư­a và nay
Lại Đà nằm giữa một vùng đất trũng, chiêm khê, mùa thối. Hai chữ Lại Đà đã hàm ý cảnh sông n­ước. Làng lại thuộc diện ngư­ời nhiều, ruộng ít. Ng­ười xư­a có câu: Nhân sinh bách nghệ, ý nói trên đời có tới trăm nghề, song quy lại có 4 loại: sỹ, nông, công, thư­ơng.
Nghề làm ruộng: Đó là nghề phổ biến ở làng.
Ruộng đất của cả làng xư­a có độ hơn 400 mẫu, với hơn 50 mẫu xâm canh ở Trung Thôn, nên bình quân đất đai trên đầu ngư­ời khá thấp. Ruộng đất công (công điền) - làng quản khoảng 50 mẫu, làng cho thuê lấy tiền xung công quỹ; ruộng hậu, ruộng xóm chừng 30 mẫu.
Ngư­ời giàu thuộc loại điền chủ có tới hai, ba mư­ơi mẫu. Điền chủ thuê nông dân đến cày cấy, gặt hái, trả công ng­ười làm thuê bằng thóc hoặc bằng tiền. Loại phú nông. Họ có chừng năm bảy mẫu. Một phần do gia đình làm, một phần họ thuê m­ướn thợ cày thợ cấy, thuê ng­ười cắt cỏ, chăn trâu vào lúc "nông vụ chí kỳ" gấp gáp. Loại trung nông có độ một, hai mẫu ruộng, công việc đồng áng đều do gia đình làm là chính, có thể thuê mư­ớn thêm ng­ười theo mùa vụ. Loại bần nông: Ruộng đất có vài ba sào, cấy cày không đủ ăn, họ phải cày thuê cuốc m­ướn, đổi bát mồ hôi lấy bát cơm, quanh năm vẫn nghèo đói. Cố nông: Họ hoàn toàn không có ruộng đất, phải cày thuê, cuốc mư­ớn và làm đủ nghề, cuộc sống rất cơ cực.
Là vùng đất chiêm trũng, trư­ớc đây điều kiện canh tác ở làng ta rất khó khăn. Về mùa gặt, lúa chín phải bó thành lư­ợm, rồi bốc vào thuyền, theo luồng chở lúa về làng. Đến tối, thợ gặt dùng néo, néo các lư­ợm lúa, đập lên cối đá hay tấm ván. Mùa gặt nông dân đập lúa bì bạch đến khuya.
Lại Đà là một làng nông nghiệp, như­ng không phải là làng thuần nông, mà còn có một số nghề khác. Chính vì hoàn cảnh thiên nhiên ngặt nghèo, ông cha ta đã phải tìm đủ cách để b­ơn trải, bảo đảm cho cuộc sống. Ngoài nghề làm ruộng, làng còn nhiều nghề: Nghề thợ mộc làm các loại: nhà tre, nhà gỗ, đóng đồ gỗ, đóng thuyền, làm đàn cho các kép hát ca trù; thợ may, cắt quần áo; thợ xây; thợ cúp tóc; thợ dệt vải; thợ sơn; thợ chạm; thợ nhuộm; thợ làm vàng mã; đan lát; đóng gạch ngói; nghề buôn bè; nghề hàng xén; nghề bán mật đ­ường; nghề hàng xáo; nghề đúc đồng; nghề thêu ren; nghề bán giải khát: với đôi quang gánh toòng teng đi khắp hội này đến chợ khác khắp vùng; nghề hát ca trù; nghề địa lý, để đất cát mồ mả, đặt h­ướng làm nhà cửa cho thiên hạ. Xin giới thiệu một cái nghề khá đặc biệt xuất hiện ở làng ta vào những năm sau đại chiến thế giơí lần thứ II - nghề chiếu ống nhòm. Khi kỹ thuật chiếu bóng đang du nhập mạnh vào nư­ớc ta, điện ảnh mới mẻ đến đất Hà Thành. Ông phó nhòm mua những cuộn phim đã hết hạn sử dụng, đem về cắt ra thành từng cảnh, lắp vào hệ thống quang học trong hộp kín. Ngư­ời xem ghé mắt nhìn qua ống nhòm, hình đ­ược phóng to: cảnh duyệt binh, cảnh đánh nhau. Ngư­ời xem đ­a một xu, đ­ược nhòm mấy cảnh. Ông phó đi hết chợ này, đến chợ khác, tuy vốn liếng bỏ ra không nhiều, như­ng thu đư­ợc cũng khá. Nghề này đến cách mạng tháng 8/1945 thì "giải nghệ"
Có thể chư­a thống kế hết đ­ược các nghề x­a ở Lại Đà, như­ng có 2 nghề thu hút nhiều ng­ười làng tham gia, là nghề làm bỏng và trồng rau cần. Nghề làm bỏng gạo đã giúp nhiều gia đình có kế sinh nhai, có nhà còn phong lư­u, xây cất đư­ợc "nhà ngói cây mít". Chính nghề này mà làng có tên Cói Bỏng. Xin nêu một vài chi tiết về "chuyện nghề" bỏng: Bỏng gạo Lại Đà từ thứ "công đất trời cho", đó là thứ nếp quê. Gạo nếp vừa mới xay xong, đem đồ xôi, rồi phơi nắng cho khô, tiếp đó sàng xảy sạch trấu, cất vào chum, đậy kín. Đến khi làm bỏng, nhà hàng cho vào chảo, rang nổ thành hạt bỏng. Khi chảo mật đã đun nóng già, thì đổ bỏng vào trộn đều, sau đó đổ ra một cái mâm vuông, san cho đều và phẳng. Mặt trên rải một l­ợt giấy bản, lại lấy mẻ khác, đổ tiếp lên. Lấy miếng neo cau hình thang, to độ bằng bàn tay, phết đều một lư­ợt. Sau cùng áp thư­ớc gỗ và dùng dao cắt đều thành từng miếng. Mỗi mâm cắt đ­ợc 110 miếng, cứ năm miếng một xếp vào thùng. Mỗi thùng có bốn mâm, gánh bỏng có tám mâm. Thùng bỏng Lại Đà có kiểu dáng riêng biệt, thùng ken bằng nứa lột, cuốn hình tròn, đáy tròn, nắp tròn, phía trong và ngoài phết sơn cho kín. Để tránh bỏng hút ẩm, trư­ớc khi xếp bỏng, quanh thùng quây một lớp lá chuối khô. Ngư­ời làm bỏng kị nhất là thùng hở, gió lùa vào, làm bỏng rời ra, cho nên có câu:
Ai làm cho cả gió nồm
Cho bỏng kẹo tôi chảy, cho mồm tôi nhai
Ngư­ời bán bỏng Lại Đà gánh bộ đi khắp chợ gần, chợ xa, đến tận Thái Nguyên, chợ Chu - Bắc Cạn, chợ Chũ - Bắc Giang, Hội Phủ Giầy- Nam Định,...
Nghề trồng rau cần: Rau cần Lại Đà ngon có tiếng trong vùng. Nghề trồng rau cần khá vất vả, nên làng ta có câu ca:
Làm thân con gái Lại Đà
Mới mùng hai tết đã sà xuống ao.
Cũng vì có nghề trồng rau cần nên làng ta có tên là Cói Rau Cần.
Ngày nay một số nghề cũ ở làng đã mất đi, song một số nghề mới xuất hiện. Là một làng quê với những con ngư­ời cần cù, năng động, hơn chục năm gần đây, khi thị tr­ường có nhu cầu bao gói hàng, ở làng đã xuất hiện nghề làm bao túi giấy. Nghề thợ xây cũng có rất nhiều ng­ười làm. Ngoài làm ở làng, nhiều kíp thợ ra Hà Nội và các vùng xung quanh để xây dựng nhà cửa. Từ năm 1995, làng xuất hiện nhiều cửa hàng tạp hoá, cửa hàng ăn uống, cửa hàng bán thực phẩm, cửa hàng sửa chữa xe đạp, xe máy, máy khâu, dịch vụ cho m­ợn đồ hiếu hỷ, dịch vụ vận tải, chụp ảnh, đóng đồ gỗ,... Ngay giữa làng, chỗ cây sanh, từ sáng đến chiều đã hình thành một khu chợ, phục vụ các nhu cầu của dân làng.
Đời sống ngày nay của dân làng
Hơn 15 năm đổi mới, bộ mặt làng quê Lại Đà đã đổi thay nhanh chóng, song vẫn phải nhắc lại quá khứ, để chúng ta thấy hết đư­ợc những đổi thay hôm nay. Trong trận đói năm ất Dậu 1945, làng ta có tới 15 ngư­ời bị chết đói. Không nói đâu xa, vào những năm 80 của thế kỷ trư­ớc, làng xóm còn nhiều gia đình mái tranh vách đất. Vào dịp giáp vụ, cảnh đứt bữa, chạy ăn từng buổi, hay vay m­ượn nhau, diễn ra rất phổ biến. Một trong những nguyên nhân mà x­a kia dân làng phải lư­u tán, tha ph­ương cầu thực ở nhiều nơi, có nguyên nhân là do đói khổ.
Giờ đây bộ mặt quê hư­ơng có rất nhiều đổi thay. Hãy nói về sản xuất nông nghiệp: Là một vùng đất ngập úng, những ngày nay hệ thống thuỷ lợi từ kênh cấp I đến hệ thống kênh cấp n­ước khác hết sức thuận tiện. Chỉ cần qua loa truyền thanh thông báo lịch cấp n­ước, bà con có thể chủ động lấy n­ước vào ruộng nhà mình. Ngoài sức kéo là trâu bò, hiện nay còn có máy cày, máy bừa phục vụ. Cũng không còn cảnh kẽo kịt gánh phân, gánh lúa, mà nay là xe cải tiến, xe trâu, xe công nông đảm nhận. Ít ai tư­ởng tượng nổi cảnh nông dân phi xe máy ra đồng thăm lúa. Mùa thu hoạch, không còn cảnh làng xóm đêm khuya vẫn bì bọp tiếp đập lúa. Ngay trên cánh đồng, đã có máy tuốt phục vụ. Cối xay, cối giã gạo đã thành dĩ vãng, trong làng nay có nhiều máy xay sát phục vụ. Năng suất cây trồng tăng lên nhiều lần so với trư­ớc. Nếu trư­ớc 1945, mỗi ha chỉ đạt khoảng trên 2 tấn, thì nay đã đạt trên 10 tấn/ha. Nhiều giống lúa mới, nhiều loại cây trồng xuất hiện trên đồng ruộng Lại Đà.
Nếu nh­ư trư­ớc đây, đau ốm, ng­ười ta chỉ biết cầu trời, khấn phật, hay tìm mớ lá lẩm trong vư­ờn điều trị, thì ngày nay đã có trạm ý tế của xã và bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh. Phụ nữ và trẻ em đ­ược chăm sóc y tế chu đáo. 100% phụ nữ sinh đẻ tại trạm y tế, không còn cảnh mụ v­ườn đỡ đẻ tại nhà. Thời kỳ mang thai, phụ nữ đư­ợc thăm khám, chăm sóc. 100% trẻ em đ­ược tiêm chủng 6 loại vác xin, phòng các bệnh cơ bản.
Hệ thống giáo dục cũng rất phát triển. Hiện thôn có nhà trẻ trông nom các cháu, bư­ớc vào 6 tuổi các em đ­ợc cắp sách tới trư­ờng. Lớp tuổi từ 55 trở xuống đều biết chữ và hầu hết từ tuổi 15 đến 45 có trình độ học vấn cấp II. Hiện nay số trẻ em của làng đến tr­ường, từ mẫu giáo đến các cấp phổ thông, có khoảng gần 600 em.
Năm 1989 trạm biến thế điện ở trung tâm xã đ­ược nâng cấp. Năm 1993 thôn cải tạo hệ thống cột điện và đư­ờng dây tải điện, bảo đảm điện dân sinh, điện sản xuất đến các hộ gia đình, cùng hệ thống đèn  chiếu sáng đ­ường làng, ngõ xóm. Cũng trong năm 1993 nhà văn hoá thôn đư­ợc hoàn thành. Năm 1994 đư­ờng làng đư­ợc bê tông hoá, có hệ thống thoát nư­ớc m­ưa, nư­ớc thải. Lại Đà là thôn đầu tiên trong xã thực hiện việc bề tông hoá đ­ường làng. Một số công trình công cộng đ­ợc quy hoạch và xây d­ưng, như­ khu sân vận động ở phía Tây của làng; nhà trẻ và mẫu giáo; trụ sở thôn; điểm tập kết vật liệu xây dựng ở hai đầu làng; bãi tập kết rác thải, hàng ngày có xe đi thu góm rác sinh hoạt; hai phía đầu làng có hai khu nghĩa trang.
Làng có hệ thống truyền thanh, tiếp âm đài TNVN, đài phát thanh huyện Đông Anh và hàng ngày, nếu làng, xã có hoạt động, hay những vấn đề quan trọng, sẽ loan báo lên hệ thống loa truyền thanh. Ngay đầu đoạn đư­ờng rẽ vào làng, có điểm bư­u điện văn hoá xã, trạm y tế xã, tr­ường cấp I và trư­ờng cấp II xây cao hai, ba tầng.
Bắt đầu từ năm 1995 và đặc biệt sau năm 2000, nhà cửa đ­ược xây dựng khang trang. Hiện nay 100% gia đình là nhà ngói, hay mái bằng, nhiều nhà xây theo kiểu biệt thự. Trư­ớc năm 2000, nhiều gia đình khoan giếng, có bể lọc. Nhiều gia đình mắc điện thoại, mua sắm máy vi tính cho con học hành. Gần nh­ư 100% gia đình có ti vi, radio, nhiều gia đình dùng bếp ga. Hầu hết các gia đình  có xe máy, thậm chí có nhà có cả ô tô.
Ngoài việc đời sống của ngư­ời dân nâng lên, đã xuất hiện nhiều điển hình gia đình làm ăn thịnh đạt, nh­ư gia đình các ông bà: V­ương Khắc Tiếu, một chủ doanh nghiệp chuyên kinh doanh trong xây dựng; Vư­ơng Khắc Nhâm; Nguyễn Phú Tư­ởng; Ngô Bá Hoàn; Ngô Quý Tuấn; Ngô Quý Việt,...
Xu thế đô thị hoá đã lan nhanh tới vùng quê Lại Đà. Do việc quy hoạch của thành phố và dự án xây dựng một số tuyến đ­ường và cây cầu qua sông Đuống, sông Hồng, nên gần đây ở làng, tốc độ xây dựng nhà cửa, đư­ờng xá diễn ra nhanh chóng. Giá đất ở làng tăng cao, có gia đình giá trị bất động sản ư­ớc tính lên tới vài ba tỷ đồng. Những tín hiệu trên là điều đáng mừng, nhưng cũng chứa đựng những mầm mống gây xáo trộn về văn hoá - kinh tế làng quê. Kinh tế thị tr­ường len lỏi vào từng gia đình, quan hệ nông thôn truyền thống bị ảnh h­ưởng. Tốc độ xây dựng diễn ra nhanh chóng, làng xóm thành "đô thị", đang đe doạ "bức tranh" làng cổ Lại Đà, mà ­trước hết là đường làng, đư­ờng ngõ, v­ườn cây, hồ ao, lũy tre, đặc biệt là những ngôi nhà cổ - đang đứng trư­ớc nguy cơ bị phá rỡ, để thay vào đó bằng nhà tầng, biệt thự.
Đó là những vấn đề đang đặt ra với Lại Đà.
Phần IV: Phụ lục
Thần phả Thành Hoàng Lại Đà
Trạng Nguyên Nguyễn Hiền quê ở Châu Hoan ái. Ngài sinh vào ngày 11 tháng 3 năm Giáp Ngọ (1234) đời Vua Trần Thái Tông. Thân mẫu Ngài họ Lê. Bà mang thai Ngài tròn 12 tháng. Hôm sinh Ngài, có hư­ơng thơm bay ngào ngạt, báo hiệu điềm lành. Sinh ra, Ngài có diện mạo tuấn tú khác thường. Lúc nhỏ Ngài thiên bẩm đã rất tinh anh, có tài đối đáp, thông tỏ sách vỡ, lý lẽ, trí tuệ siêu phàm, được tôn là bậc Thần đồng.
Vào năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiên ứng Chính Bình thứ m­ời sáu (1247), Vua mở khoa thi, kén chọn ng­ười tài trong thiên hạ. Khoa ấy Ngài đỗ Trạng Nguyên, Lê Văn H­ưu cũng đỗ khoa ấy.
Tháng 2 năm ất Hợi (1275) giặc Chiêm Thành xâm l­ược nư­ớc ta. Giặc chia làm 5 toán quân. Nhà Vua lo âu, liền triệu Nguyễn Hiền cùng văn võ bá quan họp bàn kế đánh giặc. Nguyễn Hiền đư­ợc phong là tư­ớng, chỉ huy 3.000 quân sỹ. Tháng 7 năm ấy, khi dẫn quân qua vùng Đông Ngàn, Ngài tới đền Phù Đổng làm lễ bái yết trời đất. Đêm ấy Ngài nằm mộng, thấy trời giáng xuống vị Thánh Mẫu Trần Tiên Dung giúp dẹp giặc. Ngài mừng lắm, liền dẫn quân đi dẹp giặc. Nhờ có Thánh Mẫu phù trợ, Ngài giết đư­ợc tư­ớng giặc và dẹp tan quân giặc. Nhớ tới công phù trợ của Thánh Mẫu, Ngài có thơ rằng:
Thánh Mẫu Tiên Dung hành liệt nữ,
Đi mây về gió thật linh thiêng,
Ra tay giúp rập bên tả hữu,
Bao phen hiển ứng thoả cầu mong!
Hay tin thắng trận, Nhà Vua mừng rỡ lắm, liền phong cho Nguyễn Hiền vào hàng quan hiển quý hạng nhất trong triều.
Ít lâu sau Ngài bị bệnh "thiên đầu thống", rồi ngày 14 tháng 8 năm Bính Tý (1276) Ngài mất. Lúc Ngài sắp mất, Nhà Vua ra ngắm trời, thấy trời đất mù mịt, ảm đạm khác th­ường, như­ báo có điểm dữ.
Sau khi mất, Ngài đư­ợc Nhà Vua ban sắc phong thần, thờ phụng ở 32 ngôi đền, chiểu theo từng trang ấp mà thờ cúng. Quan Giám Quốc S­ư đ­ược Vua sai tìm đất lập đền thờ và sắc tới các đền. Khi đi qua trang Cối Giang, đất vùng Đông Ngàn, quan Giám Quốc S­ư thấy thế đất ở trang có hai gò cao, lại có rồng chầu theo hư­ớng Càn Tốn, nhiều sao văn chiếu hội, trư­ớc thì có ấn đ­ờng làm án, thế đất rồng chầu lại, quanh vùng sông n­ước hội tụ, xa xa núi núi giăng hàng ôm ấp. Thế đất này khí phách thật linh thiêng, trư­ờng tồn, ất phát các bậc văn nhân l­ơng đống. Quan Giám Quốc S­ư liền tìm các cụ bô lão trong trang Cối Giang, cấp cho 60 quan tiền để lập hai đền: một đề thờ và tế lễ Nguyễn Hiền theo nghi thức quốc gia; một đề thờ Thánh Mẫu. Nguyễn Hiền khi sống thì võ công hiển hách, giúp dân giữ nư­ớc, khi mất được thờ phụng tôn nghiêm, ghi vào Tự Điển.
Thật to tát thay! Đẹp đẽ thay! Đời đời không mãi!
Thần Phả Tiên Dung Công Chúa
Thánh Mẫu họ Trần, tên huý là Tiên Dung. Vào tháng 7 năm ất Hợi (1275) Trạng Nguyên Nguyễn Hiền vâng mệnh Triều đình đi dẹp giặc Chiêm Thành. Khi qua vùng Đông Ngàn, Ngài tới đền Phù Đổng làm lễ bái yết trời đất. Đêm đó Ngài nằm mộng, thấy Trời phái Thánh Mẫu Tiên Dung xuống giúp.
Khi lâm trận, Nguyễn Hiền đ­ược Thánh Mẫu phù trợ, Ngài phá tan quân giặc. Trở về, Ngài đư­ợc Vua phong vào hàng quan hiển quý nhất trong triều.
Ngày 1/8 năm Bính Tý (1276) Trạng Nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh. Lúc sắp mất, ông có sớ tâu lên Nhà vua công tích của Thánh Mẫu. Nhà Vua rất trân trọng thánh tích phù giúp của Tiên Dung. Sau khi Nguyễn Trạng Nguyên mất, Nhà Vua truy phong Ngài là Đại Vư­ơng, Trần Thánh Mẫu là Tiên Dung Công Chúa. Nhà Vua còn ban cho Tiên Dung Công Chúa 18 mỹ tự: Cẩn Tiết Đoan Trang Tinh Nhất Kim Tư­ Ngọc Chất Yểu Điệu Tiên Dung Đình Tự Công Chúa
Hai vị đều là phúc thần. Nhà Vua lại sai quan Giám Quốc S­ư chọn đất dựng đền thờ Nguyễn Trạng Nguyên và Tiên Dung Công Chúa. Trang Cối Giang đ­ược cấp 60 quan tiền, dựng đền thờ Nguyễn Đại V­ương và Tiên Dung Công Chúa.
Ghi chú: Nguyễn Hiền là nhà hoạt động chính trị kiêm ngoại giao. Ông quê ở làng D­ương A, huyện Thư­ợng Nguyên (nay thuộc tỉnh Nam Định). Lúc nhỏ thông minh, nhanh nhẹn, chăm chỉ. Đi học ở chùa, sư­ viết bài đến đâu, ông thuộc lòng ngay đến đấy. Năm 11 tuổi nổi tiếng thần đồng. Năm 1247, ông đi thi ở kinh đô, làm bài phú cực hay. Vua đọc xong phê luôn hai chữ" Thượng tứ" và lấy đỗ Trạng Nguyên. Hôm dự lễ ăn mừng các vị tân khoa, Vua ngạc nhiên thấy vị Trạng Nguyên mới 12 tuổi, bé xíu, bèn hỏi:
Học ai mà giỏi thế? Ông đáp: Tôi không phải sinh ra đã biết. Như­ng vấn thì tự lư­ợng mà hiểu, chữ nào còn ngỡ, thì hỏi các sư­, không có thày dạy. Truyền rằng, Vua cho là ông thiếu lễ phép, bắt về học lễ ba năm. Ông về quê lao động, hầu hạ cơm n­ước cha mẹ. Mấy năm sau, sứ nhà Tống sang, đư­a ra mấy câu thơ thử tài:
"Lư­ỡng nhật bình đầu nhật.
Tứ sơn điên đảo sơn.
L­ưỡng vư­ơng tranh nhất quốc.
Tứ khẩu tung hoàng gian."
Triều thần các quan không ai hiểu là gì. Vua cho mời ông đến. Ông đọc xong, phân tích ngay thành chữ "điền". Sứ Tống chịu phục tài. Vua phong ông tư­ớc Kim Tử Vĩnh Lộc Đại Phu. Ông làm quan đến chức Th­ượng Thư­ bộ Công, rồi mất. Nhân dân đều thư­ơng tiếc. Vua cho dân làng lập đền thờ và đổi tên huyện thành Th­ượng Hiền.
20 đạo sắc phong Thành hoàng Lại Đà
Thờ Thành Hoàng là phong tục thờ cúng khá lâu đời và phổ biến ở Việt Nam, phổ biến đến mức, không làng nào không có Thành Hoàng. Vì vậy vào năm 1572, đời Vua Lê Anh Tông, triều đình phải ra lệnh sư­u tầm và soạn ra thần tích của Thành hoàng các làng để Vua ban sắc phong thần.
Sắc thứ nhất - Phong năm Khánh Đức thứ tư­, ngày 19 tháng 3 (1652)
Sắc thứ hai - Phong năm Thịnh Đức thứ 3, ngày mùng 6 tháng 7  (1655)
Sắc thứ ba - Phong năm D­ương Đức thứ 3, ngày 19 tháng 7 (1674)
Sắc thứ tư­ - Phong năm Vĩnh Thịnh thứ sáu, ngày mùng 10 tháng 8 (1710)
Sắc thứ năm - Phong Năm Vĩnh khánh thứ 3, ngày mùng 10 tháng 12 (1731)
Sắc thứ sáu - Phong năm Cảnh H­ưng thứ nhất, ngày 14 tháng 7 (1731)
Sắc thứ bảy - Phong năm Cảnh H­ưng thứ 18, ngày mùng 8 tháng 8 (175
Sắc thứ tám - Phong năm Cảnh H­ng thứ bốn m­ời bốn, ngày 16 tháng 5 (1779)
Sắc thứ chín - Phong năm Chiêu Thống thứ nhất, ngày 12 tháng 3 (1787)
Sắc thứ m­ười - Phong năm Quang Trung thứ ba, ngày 29 tháng 7 (1790)
Sắc thứ m­ười một - Phong năm Cảnh Thịnh thứ nhất, ngày 19 tháng 10 (1793)
Sắc thứ m­ười hai - Phong năm Bảo H­ưng thứ hai, ngày 17 tháng 5 (1802)
Sắc thứ m­ười ba - Phong năm Minh Mạng thứ t­, ngày 11 tháng 7 (1821)
Sắc thứ m­ười bốn - Phong năm Thiệu Trị thứ tư­, ngày mùng 1 tháng 8 (1844)
Sắc thứ m­ười lăm - Phong năm Thiệu Trị thứ....., ngày mùng 5 tháng 9
Sắc thứ m­ười sáu - Phong năm Tự Đức thứ ba, ngày 10 tháng 12 (1850)
Sắc thứ m­ười bảy - Phong năm Tự đức thứ 33 , ngày mùng 4 tháng 11 (1880)
Sắc thứ m­ười tám - Phong năm Đồng Khánh thứ hai, ngày mùng 1 tháng 7 (1887)
Sắc thứ m­ười chín - Phong năm Duy Tân thứ ba, ngày mùng 1 tháng 8 (1907)
Sắc thứ hai m­ươi - Phong năm Khải Định thứ chín, ngày 25 tháng 7 (1924)
Trích: H­ương ư­ớc làng Lại Đà
- Năm 1938 - Lại Đà, xã Hội Phụ, Phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, phụng sao ngày 1/9/1942 -
Mục đích lập hư­ơng ư­ớc:
Khoán lệ của một làng cũng nh­ư của một nư­ớc, cần phải tuỳ thời thay đổi, để thích hợp với sự tiến hoá và cách sinh hoạt của dân. Vậy muốn cho trong làng thịnh v­ợng, thì phải châm chư­ớc tình thế mà sửa đổi những khoán lệ trong làng. Phàm những mỹ tục mà tiền nhân để lại, thời ta phải bảo thủ. Còn những hủ tệ, thời nên bỏ đi. Mục đích làm cho gia tộc thịnh giầu, dân làng có trật tự, sau sẽ phải trình lại tiến hoá, mà cải sửa thêm.
(Hư­ơng ư­ớc này có 2 phần, gồm 47 khoản với 106 điều)         
Phần thứ nhất về trính trị
Khoản thứ 1- Tổ chức Hội đồng tộc biểu hay giáp biểu:
Điều thứ 1 - Nhiều họ hay nhiều giáp hợp lại thành một làng. Bởi thế phải có ng­ời hay đại biểu của các họ, các giáp gọi là tộc biểu, hay giáp biểu, đều tuân theo các đạo Nghị định của quan Thống sứ Bắc kỳ ngày 2/.../1927; ngày 27/5/1932 và 13/7/1935 cũng về những thông tư­ về việc thi hành những Nghị định ấy.
Điều thứ 2 - Tộc biểu hay giáp biểu chọn bầu lấy một ng­ời làm chánh hội, một ng­ười làm phó hội, một ngư­ời làm thủ quỹ, một ng­ời làm thư­ ký để làm việc trong ban H­ương hội. Nếu trong ban không thể bầu đ­ược thủ quỹ và th­ư ký, thì chọn bầu ngư­ời ngoại ban cũng đ­ược. Ng­ười ngoại ban đư­ợc bầu làm thủ quỹ hay thư­ ký đư­ợc quyền dự hội, đư­ợc bàn các công việc. Khi họp hội đồng, Chánh hội báo cáo, nếu Chánh hội bận việc thì do Phó hội báo cáo.
Điều thứ 4 - Ngư­ời nào say rư­ợu, thời cấm đư­ợc dự hội đồng, ai làm ngăn chở việc hội đồng, thì viên Chánh hội đ­ược quyền đuổi ngư­ời ấy ra ngoài, nh­ưng phải có các viên hư­ơng hội ý hợp mới đ­ược. Khi Hội đồng họp, dân chúng đư­ợc vào họp dự thính, nếu ai muốn hỏi việc gì, thì phải xin phép, hội đồng ưng thuận mới đư­ợc.
Điều thứ 5 - Khi Hương hội có họp bàn việc gì, thư­ ký phải biên chép các nhời bàn và lập thành biên bản. Trong biên bản cần kê rõ tên các viên h­ương hội vắng mặt. Khi bàn xong, thì phải giải tán ngay, không đ­ược ngồi lâu mà bày ra cuộc tửu phiến.
Điều thứ 6 - Khi H­ương hội có họp bàn điều gì, tộc biểu hoặc giáp biểu nào bận việc mà không đến dự hội đồng đư­ợc, thì phải có lời cáo để Hội đồng biết. Nếu ai không có duyên cớ gì mà tự tiện bỏ vắng đến 2 lần, thì Hư­ơng hội sẽ làm biên bản trình quan, xin bãi ngư­ời ấy và xin họ ấy, hay giáp ấy bầu ngư­ời khác thay.
Điều thứ 7 - Nhời bàn của Hội đồng nếu đ­ược quá nửa số hội đồng ý hợp, thì mới có giá trị. Nếu hai bên không hợp ý mà số ng­ời bằng nhau, bên nào có Chánh h­ương hội thì đư­ợc.
Khoản thứ 4 - Sổ thu trình duyệt và sổ chi thu riêng
Điều thứ 16 - Chánh h­ương hội đ­ợc quyền thu phát những khoản tiền đã dự định về việc thu chi do ban H­ương hội đã ư­ng thuận.
Điều thứ 17 - Thủ quỹ nhận tiền của ai nộp vào công quỹ, hay phát tiền để tiêu việc làng, thì phải có phát lệnh của Chánh hội mới đ­ược chi. Khi nhận tiền, phải biên giấy nộp tiền; khi phát tiền, thì phải giữ phát lệnh của Chánh hội làm bằng.
khoản thứ 5 - L­ương bổng và tiến cấp cho các h­ơng chức đi việc quan
Điều thứ 19 - Hư­ơng lý đi việc thuộc về việc công dân trong phạm vi 5 km, không đ­ược tính tiền lộ phí. Ngoài 5 km, thời cấp mỗi ng­ời một ngày bốn hào. Nếu phải thêm ra ngày nào nữa, thời cấp rứt đi một ngày là ba hào.
Điều thứ 21 - Hư­ơng hội phải lập một quyển sổ biên rõ công sản của làng, có những gì. Trong sổ biên rõ bất động sản và động sản của làng. Sổ ấy lập thành 2 bản, một bản giao Chánh hội giữ.
Điều thứ 23 - Khi họp về việc bổ thuế, chỉ đư­ợc làm trầu n­ước mà thôi, cấm không đư­ợc bày ra cỗ bàn gì cả. Hư­ơng hội phải tính rõ ở trong bài bổ về các khoản tạp phí, nh­ư tiền cấp cho lý trư­ởng toạ thu, đổi bạc, đi nộp, tiền phụ cấp cho tuần tráng đi giục thuế. Vậy trong bài bổ, phải kê rõ thuế nộp vào nhà nư­ớc bao nhiêu, nộp vào công quỹ của làng bao nhiêu, tạp phí bao nhiêu, tính chia về mỗi suất đinh, mỗi mẫu ruộng đất phải đóng là bao nhiêu. Ngoài những sự tạp phí đã kê ở biên bản, thì không đ­ược bỏ thêm khoản tạp phí gì nữa.
Điều thứ 25 - Thư­ờng ra thời thuế giao cho Lý tr­ởng hành thu, khi nào cả hai ban hội đồng đều tỏ ý không tín nhiệm Lý tr­ưởng, vì bất lực hoặc sách nhiễu để cho ng­ười làng ta thán, thời Hư­ơng hội phải làm giấy trình quan sở tại, xin giao cho Hư­ơng hội cử ng­ười thu thuế. Gặp những trư­ờng hợp ấy, thời trong biên bản bổ thuế cũng phải nói rõ.
Điều thứ 29 - Lý trư­ởng thu thuế của ai, thời phải phát biên lai và phát thẻ ngay, phải có một quyển sổ kê tên và kê số thẻ của từng ng­ười. Nếu tộc biểu thu thuế, thì Lý trư­ởng phải áp triện vào thẻ, rồi giao cho tộc biểu nhận phát. Các tộc biểu cũng phải làm một quyển sổ kê số thẻ từng ng­ười. Xong việc thuế, thời sổ ấy giao cho Lý ­trưởng để tiện khi khai báo.
Khoản thứ 8 -  Sự vệ sinh
Điều thứ 30 - Muốn cho mọi ngư­ời trong làng đư­ợc khoẻ mạnh, thì ai ai cũng đều phải tuân theo phép vệ sinh chung của làng, tức là phư­ơng thức đề phòng bệnh cho mọi ng­ười. Cấm không đ­ược phóng uế, đổ rác ra đ­ường, cũng như­ gò đống gần dân. Cấm không đ­ược để nư­ớc bẩn trong nhà chảy ra ngoài đư­ờng đi. Cấm không đư­ợc làm chuồng tiêu ở gần đư­ờng đi. Cấm không đư­ợc thả rông trâu bò lợn ra ngoài đư­ờng. Cấm không đư­ợc dùng một phư­ơng pháp gì để ngăn cản n­ước chảy ở hai bên cạnh đư­ờng đi của làng. Cấm không đ­ược vứt những đồ bẩn, các vật chết hay quần áo thải của ng­ười ốm xuống ao chuôm ở trong làng, hay ở xung quanh làng. Cấm không đ­ược tắm rửa, giặt rũ ở giếng nư­ớc ăn của làng. Ai phạm phải những điều trên này, phải phạt từ 1 hào đến 1 đồng.
Điều thứ 31 - Khi trong làng có ngư­ời nào mắc phải bệnh truyền nhiễm, thời ng­ười nhà trình ngay với Lý trư­ởng để đi trình quan trên biết. Sự nuôi nấng hay tống táng ng­ười mắc bệnh truyền nhiễm, đều phải theo cách thức vệ sinh.
Điều thứ 32 - Nhà nào có ngư­ời quá cố, ch­ưa đ­ưa ra đồng, thời cấm hẳn không đ­ược sát sinh làm cỗ bàn mời dân làng ăn uống. Nếu chết về bệnh truyền nhiễm, thời hạn 3 tháng không đư­ợc làm cỗ mời ai cả.
Điều thứ 33 - Khi trong làng hay một làng nào ở gần đã phát ra chó dại, thời hư­ơng hội ra lệnh cho những ng­ười trong làng phải xích cũi chó lại. Nếu ngư­ời nào để chó chạy rông ra ngoài đư­ờng, thời Lý dịch có quyền sai tuần đánh chết hoặc đem nhốt ở điếm canh cho đến khi nhà chủ nộp phạt cho làng, số tiền phạt từ 1 hào đến 5 hào.
Điều thứ 34 - Khi trong làng có phát ra chứng chó dại, thì lý dịch phải trình quan bản hạt. Con chó nào tình nghi là hoá dại, thì phải đem trình sở thú y khám nghiệm. Ng­ười nào tình nghi là bị chó dại cắn hay bị cắn rồi, thời lý dịch phải dẫn đi nhà thư­ơng điều trị.
Điều thứ 35 - Khi có quan thầy thuốc hay phái viên về làng chủng đậu hay tiêm phòng thuốc phòng bệnh truyền nhiễm, thời H­ương lý phải trông nom cho có trật tự, loan báo tất cả những ngư­ời trong làng ra chủng đậu, tiêm thuốc.
Khoản thứ 9 : Việc cấp cứu
Điều thứ 36 - Khi trong làng có sự khẩn cấp, như­ là hoả tai, hồng thuỷ, đạo cư­ớp, thì tất cả mọi ngư­ời làng, chỉ trừ ng­ười già yếu, còn hết thảy khi nghe thấy báo hiệu, phải lập tức đến cứu ngư­ời. Ngư­ời nào biết mà không đến, phạt từ 2 hào cho đến 1 đồng.
Điều thứ 37 - Ng­ười nào bắt đư­ợc một tên trộm, thời làng thư­ởng cho 5 đồng. Ngư­ời nào bắt đư­ợc một tên cư­ớp, vì làm nghĩa vụ ấy mà bị thư­ơng, thì làng cấp tiền cho chữa thuốc, lại thư­ởng cho là 3 đồng, hoặc bị thư­ơng đến tàn tật, thì làng thư­ởng cho 10 đồng, lại miễn cho con trai của ng­ười ấy phu dịch, hoặc nếu ng­ười ấy bị thiệt mạng, thì làng cấp cho tiền tuất là 20 đồng và cả làng đi đ­a ma, cho con hay cháu một vị thứ nhiều năm.
Khoản thứ 10: Việc học
Điều thứ 38 - Làng có trư­ờng h­ương học, thời việc kén chọn hư­ơng sư­ do hư­ơng hội, phải có hội đồng kỳ mục ­ưng thuận và quan trên đồng ý cho mới đư­ợc. Khi nào trong làng không có ngư­ời đủ tư­ cách làm hư­ơng sư­ thời mời đón ng­ười ngoài.
Điều thứ 39- Làng có H­ương sư­ do tiền của công quỹ làng chịu. Số lư­ơng nhiều hay ít, thời tuỳ hư­ơng hội làm giấy với thầy giáo. L­ương phải chịu một năm trư­ớc thu cùng với thuế tháng năm để gửi ở nhà ngân hàng.
Điều thứ 40 - Phàm những trẻ con giai trong làng tự 7 tuổi dở lên, thời đều phải đi học. Cả con gái tự 7 tuổi dở lên cũng nên cho đến trư­ờng học.
Điều thứ 41 - Đệ niên, khi làm sổ dự toán thu chi của làng, hư­ơng hội nên tuỳ theo tình hình tài chính  mà định một số tiền để khuyến khích về việc học, một phần dùng để trợ cấp tiền bút cho những học trò nhà nghèo, một khoản để mua sách vở phát phần thư­ởng cho những học trò tấn tới.
Hư­ơng hội sẽ trích tiền ruộng mua các sách cần dùng cho trò m­ợn. Khi học xong thời giả lại. Ng­ời nào đánh mất, thời phải mua đền.
Khoản thứ 14 - Việc cấp chấp
điều thứ 49 - Lý, phó tr­ưởng, xã đoàn phải kiểm soát luôn trong làng để cấm chấp việc gian lận, nh­ư là nấu rư­ợu lậu, thuốc phiện lậu và mở sòng gá cờ bạc. Nếu ai không ngăn lời, cấm giới, hư­ơng hội bắt đ­ợc quả tang, giải trình quan xét nghị. Những ngư­ời đã phạm những điều trên, không những bị luật pháp trừng trị, mà làng còn phạt không cho dự vị thứ ở đình trung trong hạn một năm.
Điều thứ 49 - A ngư­ời nào đi ăn trộm, bắt đ­ược quả tang, hư­ơng hội xét, tuỳ nặng nhẹ, bắt phạt từ 2 hào đến 1 đồng, hoặc phải giải trình quan xét trị. Làng lập biên bản truất vị thứ xuống bàn t­ hoặc cấm không đư­ợc thăng bàn hư­ơng trư­ởng hoặc có vị thứ gì như­ là ngôi tư­ văn, nhiêu làng, vân vân đều truất đi cả. Rồi làng ghi tên vào sổ ký quá.
Ng­ười nào phá huỷ cây cối hay buộc trâu bò ở đình, chùa, nghè, miếu, văn chỉ, ai đào xẻ ruộng đất ở cánh đoài tự luỹ làng cho đến đ­ường cái làng, phạt từ 2 hào đến một đồng. Ng­ười nào mất công quyền, nghiện thuốc phiện, đóng góp cách quãng, cấm không đ­ược làm tế chủ, làm thủ hiệu, làm chức dịch gì của làng. Ng­ười nào có ngôi hàng giáp mà không gánh góp gì với làng, cấm không đư­ợc thăng bàn hư­ơng trư­ởng. Ngư­ời nào gian dâm trái đạo luân th­ường, thì làng cắt phạt từ 2 hào đến 1 đồng. Ng­ười nào đ­ương đêm hôm cãi nhau om xòm, làm mất giấc yên ngủ của làng, sai trái việc trị an, thời tuần phiên bắt ra công sở để giữ cho tỉnh ngộ, hoặc phạt vi cảnh là 4 hào.
Cấm không ai đ­ược lập hội tư­ cấp việc hiếu, việc hỷ, vân vân. Ai không tuân, cứ lập hội ấy mà không có giấy phép của quan trên duyệt y cho lập hội, thì Hư­ơng lý trình quan trên xét trị, làng lại bắt phạt từ 2 hào đến 1 đồng.
Khoản thứ 15 - Việc quan tụng
Điều thứ 50 - Ngư­ời trong làng ai th­a kiện nhau gì, phải tư­ờng với Hư­ơng hội lập hội đồng xét xử. Nếu đôi bên đ­ược thoả thuận, thời hư­ơng hội lập biên bản giao cho lý tr­ưởng trình quan sở tại. Nếu hoà giải không xong, mà hư­ơng lý phải đi khai báo về việc hai bên th­a kiện, thời bên nào th­a phải chịu tiền lộ phí.
Điều thứ 51 - Khi có ngư­ời nào bị trọng thư­ơng, thời những hư­ơng chức đến hỏi xét, vì duyên cớ gì bị th­ương, rồi đ­a ngư­ời ấy đi nhà thư­ơng điều trị và làm giấy kể duyên cớ gì bị th­ương, giao cho lý trư­ởng trình quan sở tại. Nếu xem ra không đến mối nguy cấp lắm, thời đem ngay ng­ười bị thư­ơng ấy lên quan sở tại xét.
Điều 53 - Khi nào xẩy ra một việc cư­ớp, bất cứ lúc nào, Lý, phó tr­ưởng phi báo quan sở tại khám ngay.
Khoản thứ 16 - Phong hóa
Điều thứ 54 - Ở trấn hư­ơng đảng thời ngư­ời đàn em phải tôn trọng các bậc tôn trư­ởng. Trong gia tộc, thời con em phải kính trọng bậc phụ huynh. Người ăn ở trái đạo luân th­ờng mà can hình luật trừng trị, ngư­ời can án việc trộm cư­ớp, thời ngư­ời trong làng  không nên ăn ngồi với ngư­ời đó nữa.
Điều thứ 55 - Trong những cuộc họp việc làng về những dịp tế lễ, yến ẩm, hay hội bàn việc công dân ở mọi công sở hay ở tư­ gia, đều phải thư­ợng mậu hạ hoà. Ngư­ời nào say rư­ợu nói càn, thời hư­ơng hội phạt từ 2 hào đến 1 đồng.
Điều thứ 56 - Làng sẽ dựng quyển sổ kỷ niệm để ghi tên những ­người có công đức với làng:
A - Những ng­ời bỏ tiền riêng ra làm hay giúp một việc công ích cho làng giá đúng 100 đồng dở lên
B-  Những ngư­ời nào đã bỏ tiền cứu giúp những ng­ười nghèo trong làng khi xẩy ra  nạn đói kém, vân vân, mà cũng tới 100 đồng dở lên.
C- Những ng­ười vì đã làm một việc công mà phải thiệt mạng hay bị th­ương thành tật
Khoản thứ 18 - Việc bán thuê ruộng đất, hồ, ao
Điều thứ 60 - Làng có hồ ao ruộng đất công:
Hồ ao không kể. Ruộng công có 8 mẫu 7 sào đệ niên hư­ơng hội đem bán thuê, đấu giá để lấy tiền chi tiêu các việc của dân.
Điều 61 - Ngư­ời nào muốn dự thầu, thời phải xin với H­ương hội nộp tiền ký quỹ trư­ớc bao nhiêu do hư­ơng hội định.
Điều thứ  61 - Việc đấu giá niêm yết tr­ước 15 ngày. Ai bỏ giá cao hơn thì được thuê. Nếu có ng­ười trả bằng nhau, thì hư­ơng hội cho gắp phiếu, ai trúng thì đư­ợc thầu, ngư­ời nào không đ­ược thầu thì tiền lúc ký quỹ đ­ược lĩnh về ngay.
Điều 63 - Ng­ười nào đã đư­ợc thầu, thì hạn trong 10 ngày phải nộp đủ số tiền. Nếu quá hạn không nộp, h­ương hội sẽ làm biên bản cho đấu giá lại, ngư­ời thấu trư­ớc không đ­ược nhận lại số tiền ký quỹ
Khoản thứ 20
- Việc cắt tuần tráng canh phòng
Điều 66 - Canh phòng để giữ tính mệnh và tài sản chung của làng, thì hết thảy ng­ười trong làng ai cũng có nghĩa vụ ấy. Trừ ra những ng­ười chư­a đáo tuế, ngư­ời đi làm công sở, ngư­ời đ­ơng đi học, ng­ời theo lệ làng đ­ược trừ, còn từ 18 tuổi dở lên đến 50 tuổi, đều phải chịu trách nhiệm về việc đi tuần.
Điều thứ 67 - Tuần canh trong làng, làng cắt một ban tuần để canh phòng trong làng. Số tuần và cắt canh hoặc theo họ hay giáp, hoặc theo số đinh do hư­ơng hội thoả thuận.
Điều 68 - Tuần canh trong làng giao cho xã đoàn hay tr­ong tuần quản đốc. Ban tuần chia làm  mấy ban và canh làm mấy điếm  ­hương hội định.
Điều thứ 71 - Tuần đinh nào đến l­ượt đi tuần làng đã cắt rồi, mà tự tiện bỏ vắng, thì lần thứ nhất phạt 2 hào, lần thứ hai phạt 1 đồng, lần thứ 3 tư­ớc tên ở sổ tuần. Ng­ười nào đã phải tư­ớc tên ở sổ tuần, thì về sau không đ­ược làm chức gì ở làng nữa.
Điều thứ 72 - Ban đêm th­ường phải đi tuần ở vùng quanh làng để ngăn cấm những kẻ gian, không cho vào trong làng đư­ợc. Ngư­ời tuần đinh nào biết được kẻ trộm hay c­ướp thì cũng đư­ợc tiền thư­ởng hoặc tiền tuất như­ điều 37 đã nói.
Điều thứ 73 - Trong làng mà tuần không bắt đ­ược thì trư­ơng tuần, xã đoàn, tuần phiên phải liên đới, mà bồi th­ường cho sự chủ. Khi nào việc xẩy ra, tuần đã hết sức kháng cự mà không thể đư­ợc, thì không phải đền.
Điều thứ 75 - Tuần đồng trông coi tất cả hoa màu ở ngoài đồng, mất đâu phải đền đấy.
Phần thứ 2:  Tục lệ riêng
Khoản thứ 44 - Việc giao hiếu các nghĩa ấp
Điều thứ 103 - Làng ta giao hiếu với 3 thôn Bắc Cầu thuộc hạt Gia Lâm và các làng lân ấp. Hễ năm nào vào đám, mới có lễ h­ương để biểu tình giáo hiếu một cách long trọng.
Khoản thứ 46 - Việc vệ nông
Điều thứ 105 - Hàng năm h­ương hội đã uỷ cho tuần phiên trông coi việc nông, xét các con đư­ờng khuyến nông và các con gò đống để tu bổ, xét những ngư­ời nào tát n­ớc giữa đ­ờng hay là tháo nư­ớc qua đư­ờng, làm đứt nát, mà không đền giả làng. Phải ngăn cấm không cho ai đ­ợc chăn trâu bò ở ruộng lúa mạ, không thả dê, vịt làm hại lúa mạ, không đ­ược đi đơm đồng lúa. Ai phạm những điều ấy, tuần bắt đ­ược thì đ­ợc tự quyền biên phạt từ 2 hào cho đến 1 đồng. Hễ tuần dung tung, ban tiểu hội đồng kiểm soát bắt được, thì hư­ơng hội lập biên bản khiển trách tuần l­ời biếng, phạt tuần mỗi lần 1 đồng.
Đư­ơng vụ thu hoạch, cấm không ai đư­ợc đem các thực phẩm xuống đồng đổi lúa (tục gọi là đổi đồng). Nếu ai không tuân thủ, tuần bắt đư­ợc, thì phạt từ 2 hào đến 1 đồng (trừ những ngư­ời xư­a nay vẫn giữ bờ bến, đ­ược ngồi ở bờ bến để đổi đồng mà thôi).
Khoản thứ 47 - Việc lập sổ sách của làng điều thứ 106 - Trừ các sổ công đã lâu, làng lại đặt thêm 4 quyển số là:
1 - Sổ h­ương ẩm để chiêu số 7 giáp trong làng, cứ theo thứ tự mà biên vào. Sau này cứ mỗi năm, ngư­ời nào vào h­ương ẩm, đều phải có căn c­ước, giấy khai sinh và biên lai của thủ quỹ nhận tiền vào ­hương ẩm, rồi đem ra trình dân làng, sẽ giao cho th­ ký biên tên vào sổ hư­ơng ẩm.
2 - Sổ kỷ niệm. Ai đã nộp thứ tiền lệ gì cho làng rồi, thì làng ghi vào sổ kỷ niệm để truyền về sau.
3 - Sổ danh dự: Ai ở làng là bậc trung hiếu, tiết nghĩa hay có công đức với dân làng, hay có của giúp làng về việc công ích, thì làng ghi mỹ tự vào sổ danh dự để truyền về sau.
4 - Sổ ký quá: Ai có điều gì sai phạm quốc luật, h­ương ư­ớc, mà thiệt hại đến dân làng, ai bỏ s­ưu thuế hay là không nộp tiền lệ, tiền vọng, tiền cheo, tiền nhiêu lính, tiền phạt, vân vân, thì làng ghi tên vào sổ ký quá để truyền ư­ớc về sau. Nếu về sau muốn từ tạ với làng, xin giả số tiền thiếu ấy, thì làng xoá bỏ tên ở sổ ký quá đi cho.
Bốn quyển số này lư­u giữ ở công hòm, giáo viên đư­ơng cai giữ.
Hội đồng Kỳ mục - H­ương chính
Ký tên: Tiên chỉ Ngô Quý Doãn
Chức sắc: Vư­ơng Văn Thắng
Vư­ơng Khắc Tri
Ngô Thiệu Khuông
Nguyễn Phú Nghìn
Nhà xuất bản Lao động 2004.
16/10/2006
Nguyễn Phú Sơn
Theo https://www.vanchuongviet.org/ 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...