Khúc đường từ chợ Thị Nghè sang chợ Bà Chiểu mới có mấy năm
nay mà nó nổi danh xóm Hàng Sanh rộn rực tưng bừng. Quang cảnh đìu hiu ngày trước
đã biến thành quang cảnh náo nhiệt không thua gì Phú Nhuận, Hòa Hưng, Vườn Lài
hay Xóm Chiếu. Hai bên đường nhà phố cất liên tiếp giáp hết không còn chỗ trống
mà chen vô ở được nữa. Tối ngày thiên hạ qua lại dập dìu, lại thêm đủ thứ xe
tranh nhau chạy rần rần không ngớt.
Đến đây ai cũng nhớ cách lối ba mươi năm về trước những người
giàu có với những khách tầm hoa, chiều chiều hay mướn xe cyclo đi hứng gió. Hễ
đi vòng chợ Bà Chiểu mà qua khỏi chợ Thị Nghè, thì từ mũi tàu, là chỗ sở Trường
Tiền dượt thi đặng phát giấy phép lái xe hơi, vòng qua tới Cầu Mới, là ranh
Châu Thành Bà Chiểu, hai bên đường đều là ruộng rẫy sình lầy, quang cảnh vắng vẻ
im lìm, giống như quang cảnh thôn quê đồng bái. Nếu ở Thị Nghè mà ngó thẳng xuồng
cầu kinh Thanh Đa thì thấy mấy đám dừa nước xơ rơ, gió chiều thổi tàu lá xổng
lên rồi oặt xuống như chào khách nhàn du, lại có mấy cây bần rạch đứng chần ngần
theo mé xẻo 2 , dưới gốc lác mọc bao chung quanh như lác trìu mến
không nở bỏ bần, còn bần như tiếc nước ròng nên đứng ngóng trông nước mau lớn lại.
Xóm bây giờ người ta gọi là xóm Hàng Sanh đó thì ngày trước
chỉ có vài ba cái chòi lá nhỏ, lại nằm cách xa nhau, có lẽ chủ cố ý giấu kín đời
sống nghèo khổ của mình nên không chịu ở gần nhau, tránh cho khuất mắt dòm ngó
của thiên hạ.
Cái chòi dựa bên đuờng; gần ngã ba quanh qua Bà Chiểu tuy có
một căn lúm túm, song coi cao ráo sạch sẽ hơn mấy cái ngoài xa kia. Trước chòi
có cái sân nhỏ trồng rau dừa 3 hai bên, trổ bông đủ bốn mùa, bông trắng
chen với bông đỏ, coi có vẻ vui vui một chút. Bên hè có cây đu đủ ngọn lên cao
gần ngang đầu song, cổ có tới vài chục trái, dưới lớn bằng cái chén ăn cơm,
trên nhỏ như trái cau ăn trầu, chủ nhà bữa nào cũng thăm chừng, chồng trông mau
chín mà ăn, vợ tính để dành mà bán.
Chòi nầy là chòi của anh Lê Văn Thái, cất với vợ là Nguyễn Thị
Hòa hơn ba năm rồi, phía trong có lót cái chõng để vợ chồng ngủ, có bếp để nấu
cơm ăn và có một cặp thúng một đôi gióng và một đôi quang gánh, để cho chị Hòa
mỗi ngày đi kiếm mua thơm, mít, ổi, gánh ra chợ bán. Phía ngoài một bên có lót
một bộ ván dầu 4 nhỏ để nằm chơi, còn một bên để bàn lóc nhóc, với
hai cái ghế đẩu để có ai tới thì mời ngồi nói chuyện.
Cái chòi như vậy mà vợ chồng anh Thái hãnh diện, nói chuyện với
ai anh cũng khoe "nhà của tôi". Mà vợ chồng anh khoe cũng phải, chòi
dầu lớn dầu nhỏ, dầu tốt dầu xấu, không phải cướp giựt của ai, cũng đủ cho vợ
chồng ảnh đụt nắng đụt mưa mấy năm rồi, cũng là cái tổ êm ấm cho vợ chồng ảnh hẩm
hút giữa thân yêu hòa thuận.
Anh Thái làm bên sở Ba Son. Vì anh không phải là thợ chuyên
môn về nghề nào hết, nên không lãnh tiền công theo thầy hay thợ đuợc. Anh biết
chữ Việt rành. Anh viết chữ tốt, lại biết nói tiếng Pháp cột quẹt. Người ta mới
giao cho anh phát thẻ cho thợ thuyền, kiểm điểm số công nhân đi làm mỗi buổi đặng
biên rồi giao cho xếp rồi xớ rớ coi dọn dẹp nhà giấy vậy thôi. Công việc của
anh làm thì nhẹ nhàng, khoẻ khoắn, nhưng tại như vậy người ta cho anh lãnh tiền
công có 9 cắc một ngày mà chúa nhựt nghỉ thì không được ăn tiền. Anh cực có một
việc là mỗi buổi anh phải có mặt trước giờ sở mở cửa và mãn giờ anh phải chờ thợ
thuyền ra hết rồi anh sẽ về sau. May anh là người biết lo, lại anh nhờ có chiếc
xe máy cũ cỡi đi làm, bởi vậy không bao giờ anh đi trễ.
Còn chị Hòa là vợ anh thì chị bãi buôi nhậm lẹ, chị giỏi nghề
mua bán, tay bằng miệng miệng bằng tay. Hễ xế chồng đi làm rồi thì chị khóa cửa
quảy thúng đi mua trái cây gánh về để sáng đem ra chợ Thị Nghè ngồi bán, kiếm lời
mỗi bữa 5-7 cắc hoặc 1 đồng phụ với chồng mà sống cho no ấm.
Vợ chồng đồng tâm hiệp ý sống với nhau trót ba năm trong cảnh
đời tuy không phải trưởng giả song luôn no ấm an vui. Thời may chị Hòa có thai,
vợ chồng đều mừng, mừng vì có dấu tích về tình yêu của vợ chồng khắng khít. Tuy
nhiên mà rồi lại phải lo, lo dành cho có sẵn một số tiền để cho vợ ăn đẻ. Chị
Hòa lại lo hễ có con thì chị mắc nuôi con, làm sao đi mua bán mà kiếm tiền
thêm.
Thái lo tiện tặn đến nỗi khuya ăn cơm nguội hoặc mua xôi hay
bắp ăn đi làm, chớ không dám ngồi quán ăn hủ tiếu uống cà phê như trước nữa.
Chiều cũng vậy, hễ làm việc mãn giờ thì tuốt về nhà ăn cơm, chớ không dám ta bà
ăn nhậu với chúng bạn.
Đến chừng chuyển bụng, may có anh Thái ở nhà anh đưa vợ vào
nhà bảo sanh Thị Nghè mà nằm. Chị sanh một đứa con gái mạnh mẽ. Mới được một đứa
con đầu lòng, dầu gái hay trai không cần, vợ chồng đều mừng rỡ, đặt cho con tên
Đào, là tên một trái quí.
Nhờ vợ chồng lo trước, nên chị Hòa đi sanh trong túi có sẵn
40 đồng bạc, khỏi bối rối chi hết, nhà nghèo nếu sanh mạnh giỏi thì nằm ba bốn
bữa rồi thường người ta bồng con về. Tuy Hòa khoẻ khoắn, ăn cơm biết ngon, đủ sữa
cho em bú, Thái muốn vợ nằm lâu cho có người săn sóc lại cô mụ cũng nài ép nằm
cho đủ tám bữa, em rụng rún rồi sẽ về lại càng tốt hơn, bởi vậy Hòa ráng nằm
cho đủ 6 bữa đi đứng cứng cát rồi chị cứ đòi về nhà nằm cho thong thả và lo cơm
nước cho chồng. Thái phải chiều theo ý vợ mà thiệt anh cũng muốn vợ con về nhà
đặng sum hiệp cho vui. Anh mới đóng tiền nhà thương và đền ơn cô mụ rồi kêu xe
kéo rước vợ con về, trong túi còn được 9, 10 đồng bạc lại còn 6 bữa nữa tới kỳ
lãnh tiền nên không lo gì lắm.
Trót một tuần đầu vợ chồng vui vẻ cực điểm. Thái đi làm về hễ
thấy con thức thì giành với vợ đặng bồng mà nựng nịu; còn nếu con ngủ thì đứng
chống tay mà nhìn, thấy vợ còn non ngày anh không cho làm việc chi hết, mỗi bữa
đi làm về anh ghé chợ mua thịt cá hoặc khô mắm đem về rồi phụ kho nấu đặng vợ
chồng ăn với nhau. Mắc mừng vui với đứa con nằm ngoa ngoe, ngủ thì mụ bà dạy cười,
thức thì huơi tay chòi cẳng, vợ chồng say sưa hạnh phúc, quên hết cảnh hẩm hiu,
bần hàn.
Vui được chừng mươi bữa, rồi không hiểu tại sao mà chị Hoà ăn
cơm không biết ngon, lại còn thêm chứng nóng lạnh. Thái mua thuốc hoàn thuốc
tán cho vợ uống mấy bữa không thấy công hiệu chút nào. Anh biểu vợ phải bồng em
ra tiệm thuốc cho thầy coi mạch đặng hốt thuốc thang mà uống. Chị Hòa nói sợ tốn
tiền nên nói đau sơ sịa ít bữa rồi mạnh, cần gì phải uống thuốc.
Đã không có thuốc bổ để tiếp dưỡng sức khoẻ lại thêm nóng lạnh,
miệng đắng nên mỗi bữa ráng lắm mới ăn được một chén cơm mà thôi, tự nhiên chị
Hòa phải ốm, nước da phải mét. Mà đàn bà cho con bú hễ thiếu sức khoẻ thì sữa
phải giảm. Sữa của Hòa lại giảm nhiều. Con nhỏ sanh tuy mới 20 ngày, nhưng
không có đủ sữa cho nó bú nên ban đêm nó thức khóc hoài, làm cho Hòa phải bồng
nó ngồi mà dỗ. Thái thấy vợ bịnh mà nghỉ không được nên mặc dầu không có tiền
nhiều, đến chúa nhựt anh ép vợ bồng con đi với anh ra tiệm thuốc đặng thầy coi
mạch hốt thuốc thang cho vợ uống.
Uống liên tiếp ba bốn thang mà bịnh vẫn còn bịnh. Anh Thái
đem toa ra than phiền với ông thầy thuốc. Ông đổi toa mới và uống luôn ba thang
nữa, bịnh cũng trơ trơ, trưa cũng en en lạnh trùm mền rồi nóng ăn cơm không biết
ngon, không đủ sữa con bú.
Mỗi buổi đi làm về, Thái thấy vợ đau rề rề con khóc nhề nhệ,
anh châu mày nhăn mặt, đi vo gạo nấu cơm, mà bận lòng rối trí muốn điên. Trong
túi còn có mấy đồng bạc, nhưng ăn cơm rồi anh tuốt ra chợ mua một hộp sữa bò, một
cái ve với cái núm vú rồi đem về khuấy sữa đổ vô ve cho con bú. Con nhỏ khát sữa
nên nó chầm bú no bụng rồi nằm êm mà ngủ.
Thái khuấy luôn một chén nữa rồi bưng ra ép vợ uống, anh ta
nói ăn cơm không được thì uống sữa nó bổ cũng như cơm.
Chị Hòa ngồi uống hết một chén sữa nóng rồi chỉ đổ mồ hôi mà
thấy trong người có hơi khỏe nhiều. Thái nắm tay rờ trán vợ, thấy bớt nóng. Anh
biểu nằm xuống mà nghỉ và dặn ở nhà nếu con có khóc thì khuấy sữa cho nó bú còn
vợ có đói thì cũng cứ uống sữa, hết hộp đó thì mua hộp khác.
Chị Hòa thở dài mà nói:
- Cần có tiền mua sữa cho em bú. Bày cho uống với nó nữa, tốn
hao chịu sao nổi.
- Ủa! Tốn thì tốn chớ em đau nên đắng miệng ăn cơm không được.
Hôm nay em ốm nhiều quá, tại ốm nên mới thiếu sữa cho con nhỏ bú. Vậy em phải uống
sữa bò đặng bổ sức lại chớ. Em phải mạnh đặng nuôi con, qua mới yên lòng mà đi
làm. Qua thấy rõ rồi. Bịnh của em không nên để lây lất. Hơn mười bữa rồi cứ uống
thuốc tán thuốc thang, đã tốn bạc chục mà không thấy hiệu quả gì hết. Em phải
đi Đốc Tơ coi mạch rồi tiêm thuốc em mới mạnh được.
- Trời phật ơi! Tiền bạc đâu mà đi Đốc Tơ? Lớp tiền coi mạch,
lớp tiền mua thuốc, tốn bạc trăm chớ phải ít hay sao. Mình nghèo thì mình chịu,
hễ xin coi mạch thì phải đóng tiền, mua thuốc thì phải trả theo giá. Phận mình
không tiền thì có đau thì uống đỡ thuốc Nam thuốc Bắc cũng mạnh được, đòi làm
chi.
- Qua sẽ kiếm tiền.
- Tiền ai bỏ mà kiếm? Xin anh đừng có vay hỏi tiền của người
ta. Em sợ mắc nợ lắm, vay rồi làm sao mà trả? Lại còn phải trả tiền lời nữa mới
khổ. Hổm nay em lo quá. Bây giờ em có con nhỏ, em có đi mua bán gì nữa được mà
phụ giúp với anh đặng sống thong thả ấm no như hồi trước nữa.
- Có con qua vui lắm. Sao em nói như ăn năn vậy?
- Không. Sanh được chút con, em cũng mừng lắm chớ. Ngặt mắc bận
với con, em không chia sớt gánh nặng với anh được nữa. Em lo là lo một mình anh
cực khổ nên em buồn đó thôi.
- Đàn ông hễ có vợ con thì phải lo nuôi vợ con ấm no. Dầu có
cực bên nầy, thì có vui bên kia mà bù trừ, qua có sợ đâu. Em đừng buồn, đừng
lo, ráng tiếp dưỡng cho mau mạnh đặng nuôi con. Qua sẽ lo hết cho. Thế nào qua
cũng phải lo kiếm tiền cho em đi Đốc Tơ mới được.
- Thôi, anh. Em không muốn vay mượn của ai hết.
- Qua không vay tiền đâu mà sợ.
- Không vay thì làm sao có tiền. Anh tính ăn trộm, ăn cắp của
người ta hay sao? Em xin anh đừng có sanh tâm làm quấy như vậy.
- Không mà. Vợ chồng ăn ở với nhau gần ba năm rồi, em chưa biết
tánh ý của qua hay sao nên em nói vậy? Dầu không có tiền ăn cơm thì qua nằm đó
mà chịu chết đói chớ không bao giờ mà qua chịu làm việc gian giảo đâu em.
- Không vay mượn, mà cũng không trộm cắp thì làm sao cho có
tiền?
- Qua sẽ bán chiếc xe máy.
- Ý! Bán rồi xe đâu anh đi làm? Phải để làm chưn mà đi chớ.
- Không có xe thì đi bộ. Đây qua Ba Son có xa xắc gì. Trong sở
ví như mười người thì có một người cỡi xe máy, còn 9 người đi bộ. Họ đi bộ được
thì qua cũng đi được như họ vậy chớ. Bất quá phải đi sớm một chút, rồi mãn giờ
thì về trễ một chút, có hại gì đâu mà lo. Xe qua bán giá mạt lắm cũng bốn năm
chục, đủ tiền cho em đi Đốc Tơ tiêm thuốc và mua sữa để dành cho em nhỏ bú.
Chị Hòa lồm cồm ngồi dậy, chị nhìn đứa con nhỏ nằm ngủ với
nét mặt vô tư vô lự, vô tội vô tình, chị kéo mí mền mà đắp hai chưn con và ứa
nước mắt mà than: "Sanh được một chút con, vui mừng chưa hết, rồi làm phát
đau ốm, làm cho anh phải buồn rầu, lo lắng hết sức hổm nay. Mới may đó rồi lại
rủi liền theo đó. Số mạng gì mà khổ như vậy không biết... Con ra đời cha mẹ vui
mừng. Con phải ăn chơi cho cha mẹ an lòng khoẻ trí mà lo nuôi con, chớ sao con
lại chứng kiến cho cha con một mình phải lo tảo lo tần như vậy hử?".
Chị nói đến đó thì hai hàng nước mắt chảy ròng ròng, chị phải
lấy vạt áo mà lau.
Nghe lời than, anh Thái xúc động, khó chịu nên anh bước ra
sân đứng ngó mông lung mà giải khuây. Người buồn cảnh có vui bao giờ, bởi vậy
anh thấy một người đàn bà gánh một gánh nặng đương xung xăng đi trên lộ qua Bà
Chiểu thì anh càng buồn thêm. Anh ngó mấy đám ruộng cỏ xanh xanh trước mặt, ngó
qua giăng cây dài theo rạch Thị Nghè vô Đất Hộ, rồi anh vụt trở vô buồng lấy áo
mà bận. Cách một lát anh mạnh dạn bước ra, cúi xuống nhẹ nhẹ hun tay em nhỏ rồi
nói với vợ: " Chiều nay chắc qua về trễ như em có khoẻ thì vo gạo nấu cơm
giùm rồi tối qua về qua mua trứng vịt đem về ăn. Như qua có về trễ, em đói bụng,
thì nấu nước sôi khuấy sữa mà uống nghe không ".
Thái nói dứt lời liền lấy nón mà đội và đẩy xe máy ra đi.
Hòa ngó theo chồng, rồi ngó xuống con nằm trước mặt, thì rơi
giọt lụy.
Chiều nghe tiếng chuông rang rảng báo tin mãn giờ làm việc,
thợ thuyền trong sở Ba Son dẹp đồ mặc áo ra cửa đi về.
Thái đội nón và đẩy xe máy xăng sớm đi ra đường. Mặt trời
chen lặn, gió thổi lai rai. Thợ thuyền kéo ra từng tốp, phần đông đi bộ, thì ra
hai bên lề mà đi, còn lại đi xe máy thì chạy dưới lộ. Thái lên xe rồi đạp theo
tốp xe chạy lên phía Đất Hộ. Gần tới tiệm sửa xe máy qua Cầu Bông anh ngừng lại
mà xuống xe. Thấy ngoài cửa có hai người trai ở trần đương săn sóc hai chiếc xe
máy, một người mở bánh ra mà coi bạc đạn, còn một người thì bơm hơi vô bánh chiếc
xe kia.
Thái dắt xe vô hỏi người bơm hơi coi có ông chủ tiệm ở nhà
hay không. Người trai hất hàm vô phía tiệm mà nói có ông chủ ngồi đó, ngồi nói
chuyện với khách. Thái thấy có người khách không muốn vô liền, anh đứng coi người
trai sửa bạc đạn. Người trai đó hỏi xe anh trục trặc về cái gì. Anh nói anh ghé
đặng thăm ông chủ chớ không phải sửa xe, vì xe anh còn tốt, lại anh săn sóc
hàng ngày nên không hư gì hết.
Người trai bơm xe xong rồi mới vô tiệm cho khách hay. Khách
thuộc hạng thầy, mặc âu phục đàng hoàng móc tiền trả cho chủ tiệm rồi bắt tay từ
giã lấy xe mà đi.
Thái đem xe lại dựng bên đó rồi đi vô tiệm. Chủ tiệm chào và
hỏi anh cần dùng vật chi. Thái không đợi mời, anh ngồi cái ghế trước mặt ông chủ
mà hỏi:
- Nghe nói tiệm ông muốn mua xe máy cũ đặng o bế mà bán lại,
phải hôn ông chủ?
- Phải, lóng trước anh em quen ai có việc muốn bán xe thì tôi
mua giùm cho mà để đó, đợi ai có cần dùng thì tôi để lại cho người ta. Lóng nầy
có xe mới qua nhiều, hiệu nào cũng có, lại giá rẻ, ai cũng áp mua xe mới, họ
không thèm xe cũ, bởi vậy xe cũ khó bán quá, nên tôi hết muốn mua.
- Tôi có một người bạn đương cần dùng tiền gấp nên cậy tôi
bán giùm chiếc xe tôi để trước kia. Ông chủ tính mua thì tôi bán cho.
- Cha chả! Trong tiệm đã có 3 cái xe cũ để đó, không ai thèm
nói tới hết. Mua thêm nữa rồi bán cho ai?
- Xe nầy còn tốt lắm mà. Bạn tôi dùng đi làm việc nên săn sóc
hàng ngày, bởi vậy nhẹ và êm cũng như xe mới. Tôi chắc xe nầy dễ bán lắm.
- Dầu xe tốt mấy đi nữa, hễ có xài rồi, nếu họ muốn mua thì họ
cũng trả giá rẻ mạt, mua xe cũ chết vốn, mà bán có lời lóm gì đâu.
- Tôi nói thiệt với ông chủ, bạn tôi đương bối rối việc nhà,
vợ đau nên túng tiền. Muốn xổ số đặng cậy anh em trong sở mua giùm mỗi người một
số, như vậy giúp bạn tôi có tiền chạy thuốc cho vợ. Ngặt bày xổ số lâu quá; bạn
tôi cần dùng tiền gấp nên mới cậy tôi đi bán giùm. Ông chủ mua cũng như làm ơn
giúp cho bạn tôi trong cơn túng rối vậy.
- Anh nói thiết yếu quá, làm tôi động lòng. Vậy để tôi coi, nếu
có thể được thì tôi sẽ giúp cho.
Thái đứng dậy dắt ông chủ tiệm ra ngoài trước coi xe. Ông chủ
là tay thợ, ông xem mỗi chỗ, ông thử đủ cách rồi hỏi:
- Xe có đủ giấy tờ rành rẽ hay không?
- Có giấy tờ hẳn hoi. Ông tính giá cả xong rồi tôi trao cho
ông coi.
- Anh định giá bao nhiêu?
- Bạn tôi dặn bán 50. Nếu có rẻ nào cũng phải trên 40. Chớ đừng
bán dưới giá đó.
- Định giá như vậy thì mắc quá. Xe cũ mà định giá bằng xe mới,
tôi chắc anh đi đến đâu cũng không ai mua nổi.
- Xe nầy hiệu tốt chắc lắm. Hồi mới mua gần 60 chớ phải ít
đâu. Đi năm mười năm nữa cũng không hư.
- Phải. Hiệu xe nầy thì tốt và chắc lắm. Tôi là thợ sửa xe
tôi biết mà. Nhưng xe cũ thì phải tính giá nhẹ người ta mới dám mua. Tưởng giá
rẻ thì tôi ráng mua giùm cho đặng làm ơn cho người túng rối. Nếu mua tới 40 thì
tôi bán lại chắc phải mất vốn phân nữa là ít. Thôi xin anh đem đến tiệm khác mà
bán cho người ta. Tôi muốn làm ơn hết sức mà giá đó thì thiệt tôi mua không nổi.
- Vậy chớ ông chủ muốn mua giá nào?
- Theo tôi mua thì 20 là nhiều. Nếu có vị tình anh em thì tôi
cho thêm hai đồng nữa. Đó là quá giá rồi.
Thái phần thì tiếc chiếc xe của mình bấy lâu nay cỡi đã mến
tay mến chưn, phần thì nghĩ 22 đồng bạc làm sao đủ tiền trả coi mạch và tiền
tiêm thuốc. Anh buồn hiu rồi từ giã ông chủ tiệm đẩy xe mà đi. Ra đường anh nhớ
lại vợ đau nằm ở nhà, nếu không bán xe thì làm sao mà có tiền cho vợ uống thuốc
và cho con có sữa mà bú. Anh đứng dụ dự một chút rồi trở lại nói với chủ tiệm rằng
tới 35 đồng anh mới bán được. Chủ tiệm lắc đầu mà nói 25 đồng cũng không dám
mua chẳng luận là 35 đồng.
Thái dắt xe đi. Trời đã tối rồi. Trong tiệm ngoài đường đèn
điện đều cháy sáng hết.
Thái nghĩ bây giờ nếu trở xuống Sài Gòn kiếm chỗ mà bán xe
thì về khuya quá, sợ vợ ở nhà trông. Anh mới tính về ngã Bà Chiểu ghé tiệm cho
mướn xe hỏi thử coi họ chịu mua hay không. Anh lên xe đạp qua Cầu Bông. Đi vòng
trước chợ Bà Chiểu anh thấy có tiệm cho mướn xe máy anh ngừng lại và nhảy xuống.
Trước tiệm có xe máy cũ sắp hàng hai bên, mỗi bên có bốn năm
chiếc, để sẵn cho khách lựa mà mướn. Một đứa trai trạc chừng 15 tuổi, ngồi giữa
cửa ngó ra đường mà chơi. Trong tiệm một chị đàn bà ngồi ăn trầu, hai bên vách
có tủ kiếng đựng đồ phụ tùng xe máy để bán.
Thái đẩy xe vô biểu đứa trai hỏi chủ tiệm muốn mua xe máy cũ
để cho mướn hay không. Đứa trai nói ông chủ đi chơi rồi, có một mình bà chủ ở
nhà chắc bà không mua đâu. Thái nài nỉ biểu đứa trai cứ vô hỏi thử bà chủ.
Thấy hai đàng nói chuyện dan ca 5 bà chủ bước ra hỏi
Thái:
- Thầy muốn kiếm ai?
- Thưa, tôi muốn kiếm ông chủ hỏi coi ông mua xe cũ hay
không?
- Ông đi chơi ngoài Sài Gòn. Mà xe chi vậy?
- Thưa xe máy.
- Xe máy của tôi đã có tới chín mười chiếc. Mỗi bữa cho mướn
có một hai chiếc. Chúa nhựt với ngày lễ học sinh muốn đi chơi mới cho mướn tới
năm sáu chiếc, bởi vậy có xe dư luôn luôn, mua thêm làm chi nữa.
- Tôi tưởng tiệm cần mua thêm thì tôi bán cho.
- Không. Ổng nói xe nhà đây ai mua ổng bán bớt, chớ có tính
mua thêm đâu. Thầy muốn bán xe thầy đó phải hôn?
- Thưa, phải.
- Thầy trị giá bao nhiêu vậy?
- Tôi bán giùm cho anh em. Người ta dặn bán 40.
- Mắc quá xe của tôi đây, ai mua 20 tôi bán liền. Lóng nầy 6 xe
rẻ lắm thầy à. Thầy định giá cao lắm sợ không ai mua đâu.
Thái biết bà chủ tiệm nói lơ là, bà không tính mua, nói nhiều
nữa vô ích, nên dỡ nón chào bà rồi dắt xe đi. Tới tiệm chập phô, anh ghé mua
hai hột vịt đặng đem về luộc rồi dầm nước mắm ăn cơm. Anh móc túi lấy tiền mà
trả, thì trong mình còn có một đồng bảy cắc. Anh châu mày lấy một cắc trả tiền
cho tiệm. Họ thối 4 xu. Anh bỏ hết xu với bạc vào túi quần rồi lên xe đạp đi
qua đường Hàng Thị mà về.
Thái đã nói với vợ sẽ bán xe lấy tiền cho vợ đi Đốc Tơ tiêm
thuốc. Mà bây giờ bán thì người ta không thèm mua; nếu mình nài nỉ mà bán thì
chỉ có 22 đồng, không đủ chữa bịnh cho vợ. Vậy phải làm sao? Anh buồn quá, đạp
xe di chầm chậm mà tính. Trừ chiếc xe máy ra trong nhà không có vật chi bán cho
có tiền nhiều. Thế nào cũng phải bán chiếc xe máy dầu mắc dầu rẻ mặc kệ.
Xe qua khỏi Cầu Mới ngoài Châu Thành rồi đường không có đèn
điện nữa. Nhưng xe có đèn tuy không sáng lắm, song cũng dư thấy đường mà đi. Lại
nhờ trăng mùng 6 rọi giúp sáng thêm, nên đường vắng vẻ không có nhà, mà anh
Thái cứ đi, anh không lo sợ chi hết. Anh tính sáng mai vô sở anh mượn với Cặp-Rằn 7 Tư
mà xổ số chiếc xe của anh. Anh làm 50 số mỗi số bán một đồng. Anh cậy Cặp rằn
nói với thợ mua số giùm. Anh sẽ kỉnh tiền nước cho Cặp rằn 5 đồng, như chê ít
mà đòi 10 đồng anh cũng phải chịu. Phải làm như vậy mới có 45 hoặc 40 đồng cho
vợ tiêm thuốc. Nếu Cặp Rằn không chịu nói giúp, hoặc nói mà người ta không bằng
lòng mua số cho anh, thì buổi chiều anh sẽ ra Sài Gòn kiếm chỗ bán xe, chừng đó
dầu mắc hay rẻ anh cũng phải bán, miễn là có ít chục đồng cho vợ uống thuốc.
Anh Thái đương đạp xe đi chầm chậm mà suy tính giữa khoảng đường
vắng vẻ lờ mờ, thình lình có cặp đèn pha 8 xe hơi phựt cháy lên rọi
đường sáng lòa. Anh ngạc nhiên không hiểu xe hơi của ai lại đậu tại khúc đường
quanh gần nhà anh đó làm chi, xe đậu lại tắt đèn rồi bây giờ mới mở pha mà chạy
qua Bà Chiểu. Anh nghi có cặp tình nhơn nào đây qua ngã ba ra Thanh Đa vắng vẻ,
đậu xe ngồi tỏ bày tâm sự với nhau, từ hồi mới tối, bây giờ thấy đèn xe máy anh
vô gần tới mới lên máy nổi đèn mà đi. Xe hơi chạy chậm lại êm ru, nhưng cặp đèn
pha chói sáng làm lòa mắt anh Thái. Anh ngừng xe lại nhảy xuống đứng nép lề đợi
xe hơi qua rồi anh sẽ đi.
Chiếc xe hơi chạy tới. Anh Thái dòm vô xe thì thấy một thiếu
nữ mặc áo xanh, tự lái xe mà đi, không có sốp phơ ngồi một bên, mà phía sau
cũng trống trơn, không có ai ngồi hết. Anh lấy làm kỳ. Xe hơi qua rồi, anh lên
xe máy mà đi, thầm nghĩ cô nầy đi hứng gió sao lại đi một mình, mà đêm tăm tối
sao lại dám đậu xe tại khúc quanh vắng vẽ như vậy, anh đi tới gần khúc quanh nhờ
đèn xe với trăng non chói sáng sáng, anh thấy giữa đám cỏ trên lề đường phía
tay trái có vật gì hình như cái rương nhỏ ai để đó. Anh ngừng xe bước xuống, và
xây đèn rọi mà coi. Anh thấy rõ thiệt quả một cái rương nhỏ đương bằng ruột tre
còn mới tinh, nhưng có cái khăn bàn lông xếp mà kê nắp rương chớ không đậy
khít.
Thái càng ngạc nhiên hơn nữa, trong trí cứ nghi quyết cô gái
lái xe hơi hồi nãy chở cái rương mà để đây chớ không phải người nào khác. Anh
lưỡng lự không biết phải đi báo với bót 9 hay là phải làm sao. Anh bối
rối nhưng nghĩ có đi báo thì phải biết cái rương đựng vật gì mà nói chuyện cho
rành. Anh sợ con nít chết nên người ta chở đến chỗ vắng vẽ mà bỏ. Mà rồi anh lại
nghĩ người giàu sang có xe hơi tốt, biết cầm lái mà đi thì người ta chôn, chớ nỡ
lòng nào đem bỏ như vậy. Vì nắp rương không đậy khít, anh tính dở nhầu mà coi.
Anh ngó quanh quất, sau trước đều vắng hoe, không có dáng người.
Anh dắt xe lại gần cái rương, xây đèn rọi ngay nắp, rồi anh làm gan một tay vịn
xe một tay với hất cái nắp rương ra.
Té ra thiệt một đứa nhỏ nằm trong rương, đầu có đội nón, mình
có bao mền. Thái tưởng thây con nít chết nên tái mặt. Chẳng dè đèn xe chói đứa
nhỏ mở mắt và huơi hai tay. Anh mừng quá, hết sợ nữa. Nghĩ vì hễ quanh rồi đi
hơn một trăm thước thì tới nhà, chớ không xa, anh mới tính chở cái rương nầy về
nhà cho vợ anh hay rồi anh sẽ đi ra bót mà cớ, đứa nhỏ sống, chớ không phải chết
nên không cần báo gấp.
Anh Thái đậy nắp rương lại, xây cái đèn cho ngay, kéo cái xe
lại gần, rồi một tay choàng ôm cái rương mà để lên xe máy, một đầu gác lên chỗ
hai tay cầm, một đầu gác trên cái yên. Anh thủng thẳng đi về nhà, một tay vịn
cái rương một tay đẩy xe máy.
Chị Hòa ở nhà nhờ uống chén sữa nóng hồi trưa, đổ mồ hôi nên
buổi chiều nầy khoẻ khoắn chõi hỏi 10 hơn mấy bữa trước. Đến nữa chiều
em nhỏ khát sữa, chị bồng em ngồi cho nó bú. Vì sữa ít nên em bú không no đủ
nên em cằn nhằn. Hòa nhúm lửa nấu một siêu nước sôi rồi lấy sữa khuấy nửa ve mà
cho em bú thêm.
Em Đào bú no rồi thì ngủ êm. Hòa để em nằm đắp mền tử tế. Chị
đi khuấy hai phần chén sữa nữa rồi bưng ra ván ngồi uống và ngó chừng con. Uống
sữa nóng chị đổ mồ hôi nữa, mà nhờ ra mồ hôi chị nghe trong lòng thơi thới. Chị
lấy làm lạ, không hiểu tại sao chị đau mà uống thuốc như uống nước lã, không bổ
ích chút nào, còn uống sữa nóng thì bịnh lại giảm, vậy thì mua sữa mà uống đỡ tốn
hơn là uống thuốc mắc tiền quá.
Người dốt họ tin tưởng việc họ thấy trước mắt, họ không nghĩ
đến việc cao xa. Chị Hòa nầy biết đọc biết viết chữ Việt, mà chị không có học
bao nhiêu, chị học với đời nhiều hơn là chị học với sách, nên chị cũng như phần
đông trong hạng bình dân, chị tin việc thực tế trước mắt, chớ không kể môn khoa
học cao kỳ, chị chê thuốc không hay ho gì, chị không dè thuốc không công hiệu
là tại thầy chớ nào phải tại thuốc, đau một đường mà trị một ngã thì thuốc hay
giống gì được.
Thấy con ngủ mê, chị Hòa lấy lược ngồi gỡ đầu. Chị nhớ lời
Thái dặn hồi đi làm, chị chắc chiều nay Thái bán cái xe nên mới về trễ. Chị
nghĩ bấy lâu nay chồng chị cưng chiếc xe máy như cưng con, hễ đi làm về thì lau
chùi săn sóc. Hôm nay vì chị bịnh mà chồng chị phải bán chiếc xe máy, rồi đây mỗi
buổi đi làm phải đi bộ, nhớ đến tình cảnh ấy chị động lòng nên ứa nước mắt. Chị
thầm vái chiều nay chồng chị bán xe chưa được, để tối chị cản chị nói chị nhờ uống
sữa đã hết bịnh rồi, chẳng cần phải tiêm thuốc làm chi mà bán xe.
Mặt trời lặn rồi, em Đào ngủ êm, chị Hòa khỏe khoắn nên vô bếp
nấu cơm đặng chồng chị về có sẵn mà ăn.
Nồi cơm cạn thì đã chạng vạng tối. Hòa đốt cái ngọn đèn dầu để
trên bàn; chị khép bớt một cánh cửa rồi ra sân trông chồng. Chị cứ ngó chừng
lên phía chợ. Một lát có người ra ngoài lờ 11 . Chị thấy xa xa nên tưởng
chồng chị bán xe rồi nên đi bộ mà về, chị hồi hộp trong lòng, té ra không phải.
Chị thở một hơi dài, thầm nghĩ dầu chị hết bịnh mà chị mắc con nhỏ cũng không
thể đi mua bán giúp với chồng cho được nữa. Từ đây chồng chị phải một mình mà
day trở mà nuôi vợ con, mỗi tháng có hai mươi mấy đồng bạc làm sao no ấm cho được.
Nghĩ tới tình cảnh đó thì chị thêm buồn thêm lo không biết phải làm sao đủ tiền
mà ăn mỗi tháng đặng vợ chồng sống an vui với đứa con thân yêu.
Chị Hòa mắt ngó chừng chồng mà tính tới nghĩ lui, chị không
hay trong nhà em nhỏ ngủ thẳng giấc rồi đã thức dậy hươi tay đạp cẳng nãy giờ.
Chừng nghe em hóe khóc chị lật đật trở vô, bồng em ngồi trên ván mà cho bú.
Trong nhà im lìm, ngọn đèn dầu leo lét, rọi chỗ tỏ chỗ mờ,
ngoài hè vắng hoe. Gió thổi lai rai, xô nhánh đu đủ đập vào vách lá lạt xạt.
Hòa ngồi cho con bú, đương nắm tay nắm chưn con đưa lên mà
săm soi. Thình lình nghe có tiếng động ngoài sân, chị ngước mắt ngó ra chỗ cánh
cửa mở, chị thấy có một bánh xe máy ló vô chỗ đó rồi lại thụt lại dường như đem
dựng một bên đặng mở bét hai cánh cửa rồi sẽ đẩy vô. Chị biết chồng chị về, mà
chiếc xe máy vẫn còn thì trong trí chị mừng mừng.
Té ra anh Thái hất cánh cửa vợ khép hồi nãy mà bước vô, hai
tay lại bưng cái rương nhỏ đem để trên ván gần chỗ vợ ngồi.
Chị Hoà hỏi: " Rương gì ở đâu vậy?"
Thái vừa cười vừa nói: "Rương gì giở lên thì biết".
Anh quày quả trở ra ngoài đẩy xe vô nhà dựng dựa vào vách.
Hòa đưa tay giở nắp rương lên, thấy đứa con nít nằm ngo ngoe
như em Đào của chị vậy, thì chị ngạc nhiên hỏi lớn: "Con của ai ở đâu vậy?
Anh đem về làm chi?"
Thái khoát tay nói: "Đừng có la om sòm để thủng thẳng
qua nói cho mà nghe". Anh vừa nói vừa khép hết hai cánh cửa lại mà móc hai
trứng vịt trong túi quần ra để vào cái tô trên bàn.
Em Đào ngủ rồi. Hòa lót mền lót gối, nhẹ nhàng để em nằm một
bên. Thái bước lại biểu vợ bồng dùm đứa nhỏ trong rương ra coi con trai hay là
con gái, nó mạnh khỏe hay có bịnh.
Thái mở bét nắp rương, Hòa lết lại một bên dở mền nỉ màu hột
gà ra. Đứa nhỏ mở mắt trao tráo, hươi tay thiệt mạnh, không khóc la chi hết.
Thái bưng cái đèn để gần cái rương. Hòa đưa hai tay bồng em nhỏ ra, nó ngó lơ
láo dễ thương lắm.
Hai vợ chồng xúm xem em nhỏ đầu đội cái mũ bằng chỉ len màu hột
gà, hai bên tai có gắn hai cái bông trắng cũng bằng chỉ len. Mình mặc áo lụa trắng
may máy còn mới tinh, cổ áo cửa tay, và trong áo đều có kết ren thiệt đẹp. Hai
chưn có mang đôi vớ trắng cũng bằng chỉ len như cái mũ. Đít có buộc một tấm tã
trắng. Thái biểu Hòa mở tã ra coi thì là con gái, vợ chồng ngó nhau mà cười.
Hòa đương cột tã lại thì Thái thấy cổ em nhỏ có ló ra một khúc dây chuyền vàng.
Anh thò tay móc trong áo ra thì thiệt quả em nhỏ có đeo sợi dây chuyền vàng, chỗ
giáp mối lại có treo hình ông phật cũng bằng vàng nhưng thợ làm dẹp đặng nằm khỏi
cấn.
Hòa nói: "Phải con nhà giàu mới đeo dây chuyền, mặc áo tốt
như vậy. Mà con của ai ở đâu sao anh đem về đây làm chi".
Thái ngó vợ rồi gật đầu mà nói: "Phải rồi. Cô đi xe hơi
rồi bỏ ra đồng chớ ai!"
Hòa ngạc nhiên nữa nên hỏi: "Cô nào đi xe hơi ở
đâu?"
Thái mới to nhỏ thuật sơ cho vợ nghe rằng hồi chiều ra khỏi sở
anh đi lên đất Hộ kiếm người mà bán xe máy. Họ trả có 22 đồng rẻ quá nên anh
không bán, anh vô Bà Chiểu tính bán cho cho tiệm cho thuê xe máy, té ra họ
không thèm mua. Thấy khuya rồi nên anh mua hai trứng vịt đặng về nấu cơm ăn. Đạp
xe đi về tới khúc quanh dưới đây, thình lình có một chiếc xe hơi đậu lối đó từ
bao giờ không biết mà phựt đèn pha lên rồi rút chạy qua Bà Chiểu. Lúc gặp anh
dòm vô xe hơi thì chỉ có một cô cầm tay lái mà chạy, trong xe không có ai nữa hết.
Anh phát nghi nên gần tới khúc quanh anh cố ý dòm hai bên lề. Anh thấy cái
rương nầy.
Anh nhảy xuống, dắt xe lại gần và xây đèn mà rọi. Thấy nắp
rương không đậy khít, anh dở lên mà coi đựng vật gì. Thấy đứa con nít anh tưởng
nó chết anh xanh mặt. Té ra nó ngo ngoe và bị đèn chói nên nó mở con mắt. Ngoài
đồng không có ai hết, anh không nỡ bỏ mà đi, bởi vậy anh mới đem cái rương để
lên xe mà chở về cho vợ coi, tính ăn cơm rồi anh sẽ đem ra bót mà cớ và giao
cho nhà chức trách định đoạt.
Chị Hòa nghe chồng thuật hết câu chuyện, chị lấy làm kỳ, nên
chị nói: "Em nhỏ mạnh mẽ lại dễ thương quá. Giàu có mà được đứa con như vầy,
sao không để mà nuôi lại đem ra giữa đồng trống mà bỏ? Nếu anh không gặp, thì
đêm nay nó khát sữa chắc nó khóc lòi rún; mà rủi có mưa gió thì nó chịu sao nổi.
Hồi nãy bồng ra. Em thấy có một cái gối nhỏ. Anh lấy cho em để nó nằm đặng soạn
đồ trong rương coi có những gì vậy".
Thái thò tay vô rương lấy đưa cho vợ một cái mền vuông nhỏ bằng
nỉ màu trứng gà với một cái gối nhỏ và mềm, ngoài bao có kết ren hai đầu thiệt
đẹp. Hòa trải mền kê gối để em nhỏ nằm xuống rồi vén mền đắp cho em. Em nằm
chơi không khóc cũng như em Đào nằm kế bên đó cứ ngủ êm.
Bây giờ Thái mới lấy ra từng gói đưa cho vợ mở xem. Trước hết
một gói đếm được 9 tấm tả giặt ủi trắng tinh. Một gói chỉ có 2 khăn bàn lông lớn
xếp lại để kế nắp rương cho khỏi bịt hơi, chắc là khăn để khi tắm em thì lau
mình cho nó. Một gói 3 khăn bàn nhỏ bao hai hộp sữa bò. Một gói nữa cũng y như
vậy song bao ở trong một cái ve có gắn núm vú sẵn để khuấy sữa cho em bú, một hộp
có năm núm vú còn mới, một hộp phấn, với một cục xà bông thơm. Một gói có 5 cái
mền nỉ nhỏ giống như cái mền đã trải cho em nằm đó, song ở trong có gói một ve
nước thơm lớn chắc để khi nào tắm xong rồi thì thoa cho em. Một gói nữa có 5
cái áo, 2 cái bằng lụa, 3 cái bằng vải ba tít mỏng, cũng kết ren, mấy áo vải lại
có viền màu đỏ, xanh và tím.
Coi hết mấy gói rồi. Thái nói: "Đồ thứ nào cũng quý giá.
Phải giàu sang lắm, mà cũng phải cưng con lắm mới sắm đủ thứ như vậy. Mà sao đồ
như vầy, con như vầy, lại đem ra ngoài đồng mà bỏ? Kỳ quá! hiểu không nổi. Thôi
để nấu cơm qua ăn cho no rồi qua ra bót trình cho nhà chức trách điều tra rồi sẽ
biết. Em để cái ve với hai hộp sữa ra ngoài đặng con nhỏ có đòi bú thì mình khuấy
sữa cho nó bú đỡ. Còn các món kia thì em gói lại từng gói như hồi nãy rồi để vô
rương, đừng động tới. Bây giờ để lo cho mình ăn cơm đã. Qua có mua 2 hột vịt
kia".
Hòa vừa gói đồ lại vừa nói: "Cơm em đã nấu sẵn hồi chiều
rồi. Còn luộc hột vịt nữa thì ăn. Anh coi trong rương còn thứ gì nữa hay
không".
Thái nói: "Còn một cái mền tua lót dưới đáy rương cho
con nhỏ nằm, chớ có gì đâu". Anh vừa nói vừa nắm cái mền kéo ra khỏi cái
rương. Tình cờ một bao thơ ở trong cái mền rớt ra trên ván. Hòa vụt nói:
"Ý! Có thơ gì đây!". Chị lấy mà trao liền cho chồng.
Thái buông cái mền, cầm phong thơ lại đưa gần ngọn đèn mà đọc
nho nhỏ: "Ai gặp cái rương nầy, xin xé bao thơ ra mà đọc thì hiểu hết mọi
việc".
Hòa liền nói với chồng:
- Anh gặp cái rương thì anh cứ xé thơ ra coi người ta nói sự
gì.
- Qua muốn đem ra bót rồi qua sẽ xé trước mặt nhà chức trách
cho có người làm chứng.
- Có cần chứng cớ làm gì đâu. Bao thơ biên rành rẽ như vậy.
Anh gặp cái rương thì anh có quyền xé bao thơ mà coi chớ. Em nóng qua, em muốn
biết coi chuyện gì mà kỳ cục như vậy. Anh xé coi đại đi mà. Bao thơ nặng quá,
chắc kể rõ câu chuyện dài lắm.
Anh Thái bổn tánh chơn chất, lại thuở nay anh quen thói thẳng
ngay, âm thầm chở cái rương về nhà, mà trong rương lại có đứa con nít với đồ đạc
tốt quá, tự nhiên anh ái ngại, không biết có tội lỗi gì hay không. Anh cứ cầm
bao thơ, đứng dụ dự. Mặc dầu người ta viết hễ ai gặp cái rương thì xé bao thơ
mà coi. Anh lưỡng lự nửa muốn coi con nhỏ là con của ai, còn nửa lại muốn ra cớ
bót rồi sẽ xé thơ ra mà coi. Ngặt chị vợ thôi thúc quá. Nên nghe theo lời vợ,
kê bao thơ gần đèn rồi thủng thẳng xé một mép, xé rất kỹ lưỡng rồi trút ra trên
ván.
Năm ghim giấy săng đổ chài bài ra với một miếng giấy nhỏ viết
chừng vài chục hàng chữ chớ không nhiều.
Vợ chồng anh Thái choá mắt nhìn nhau ngẩn ngơ, không nói được
một tiếng nào. Mà thiệt ai cũng vậy, gặp hoàn cảnh như vậy không biết nói cái
gì bây giờ.
Chị Hòa gom 5 ghim giấy săng, ngồi đếm từng ghim.
Anh Thái lượm miếng giấy đưa gần đèn mà coi, coi đi, coi lại,
coi hoài.
Chị Hòa đếm hết bạc rồi chị ngó chồng mà nói: "Năm ghim
đủ 5 ngàn... Còn miếng giấy họ viết sao đó? Anh đọc nghe thử coi".
Anh Thái mới kéo vợ lại gần mà đọc nhỏ nhỏ:
"Tôi trân trọng và tha thiết yêu cầu ông hay bà nào hoặc
anh hay chị nào, hễ gặp được cái rương nầy, thì làm phước nuôi giùm đứa con gái
của tôi đây. Nó sanh đến bữa nay đúng 25 ngày. Tôi đặt cho nó tên Lý.
Tôi có để 5 ngàn đồng bạc theo đây đặng có sẵn tiền mà hoạn
dưỡng con tôi.
Nếu sẵn lòng nuôi giùm con tôi, thì tôi cầu xin giấu kín việc
nầy, đừng cho ai hay; ngày sau khôn lớn rồi tùy ý muốn cho nó biết hay không
cũng được. Nếu con tôi vì tình máu thịt nó tìm tới mà nhìn mẹ con thì tốt. Còn
nếu nó oán ghét tôi thì tôi cũng không dám phiền trách ai.
Vì đạo nhà rắc rối tôi phải ép bụng mà lìa con. Nhưng tôi rất
đau khổ chẳng khác nào cắt khúc ruột mà quăng. Vậy tôi viết mấy hàng nầy lòng
tôi thiết tha mong ước ai lãnh nuôi giùm con tôi thì làm phước thay thế cho tôi
mà thương yêu, săn sóc, dạy dỗ nó như con như cháu ruột đặng ngày sau nó khỏi vất
vả hư thân, mà tôi cũng được giảm bớt tội lỗi chút ít.
Tôi gạt nước mắt mà cúi chào ai chịu lãnh nuôi con tôi đây. Dẫu
tôi không được biết song tôi đủ tin chắc cũng thương yêu con tôi như tôi vậy.
Người mẹ xác còn mà hồn đã chết"
Anh Thái đọc dứt rồi, anh liền trao bức thơ cho vợ, vội vã vừa
mở nút áo, vừa đi vào trong. Anh cởi áo máng trên vách. Bưng chong đèn nhỏ ra
mà mồi, rồi trở vô bếp lui cui nhóm lửa nấu nước sôi đặng luộc hột vịt mà ăn
cơm, không nói chi hết.
Chị Hòa cũng lặng thinh, lo đút bức thơ với 5 ghim giấy bạc
vào bao thơ rồi để dưới bắp vế mà đè. Chị liếc mắt ngó ra cửa, dường như sợ có
người ở ngoài dòm thấy công việc trong nhà, mặc dù chồng chị đã khép khít hai
cánh cửa hồi nãy rồi. Thừa dịp hai em nhỏ nằm ngủ êm cả hai, chị để riêng hai hộp
sữa với cái ve một chỗ, rồi sắp hết mấy gói kia vô rương, xếp cái mền tua lớn để
phía dưới, khăn, áo để riêng một đầu, mền nỉ của em để khúc giữa, còn cái gói tả
thì để đầu kia. Chị đậy nắp rương lại cho khít. Chị quên hết bịnh hoạn hổm nay.
Chị bước xuống đất lấy cái bao thơ nhét vào túi áo trong và
bưng cái rương để sát trong vách. Chị mới lượm hai hộp sữa với cái ve đem để
trên bàn chung một chỗ với sữa và ve của em Đào bú hổm nay.
Chị ngó chừng hai đứa nhỏ rồi đi thẳng vô trong, thấy Thái
đương chụm lửa luộc trứng vịt, chị mới lấy cái siêu múc nước để một bên mà dặn
anh hễ hột vịt chín rồi thì anh đặt giùm siêu nước lên bếp đặng có nước sôi mà
khuấy hai ve sữa để hai em nhỏ thức dậy có sẵn sữa cho hai đứa bú liền.
Thái cứ ngồi ngó bếp lửa, không ừ hử, bộ lo lắng lắm.
Hòa lau chén đũa sửa soạn dọn cơm. Chén tương ăn hồi trưa còn
phân nửa chị cũng để vô mâm. Trứng vịt chín, Thái nhắc cái ơ 12 xuống,
bắt siêu nước lên biểu vợ ra coi chừng hai em nhỏ để cho anh lột trứng vịt rồi
anh bưng dọn ra được.
Hòa đi ra trước lấy hai ve sữa cầm vô, đợi nước sôi chị súc
cho sạch rồi dùng hộp sữa mới khui mà khuấy mỗi ve một khúc cho em bú. Chị làm
hai ve sữa xong thì Thái cũng dọn cơm rồi, chồng bưng mâm cơm để góc ván, vợ cầm
hai ve sữa để trên bàn. Thái bưng đèn để gần mâm cơm và nhắc cái ghế đẩu mà ngồi.
Hòa bới một chén cơm cho chồng trước rồi mới bới cho chị. Thái đói bụng nên cơm
đã nguội lại ăn với tương và trứng vịt dầm nước mắm mà anh ăn coi ngon quá. Mấy
bữa trước Hòa đắng miệng ăn cơm không được, mà hôm nay coi bộ chị ăn cũng ngon.
Vợ chồng vừa ăn vừa ngó chừng hai đứa nhỏ. Hòa nóng nảy muốn
biết ý chồng coi việc nầy chồng tính phải làm sao. Thấy chồng cứ lặng thinh
không thèm nói tới, Hòa mới nói: "Hồi mới về anh nói ăn cơm rồi đem cái
rương ra bót mà cớ. Bây giờ có giấy của người ta viết như vậy thì cớ bót sao được".
Thái cứ ngồi ăn không nói chi hết.
Hòa nói tiếp: "Tội nghiệp cho cô nào đó qua! Viết cái
thơ đọc nghe thảm thiết hết sức! Chắc là giàu sang lung lắm nên sanh con sắm đủ
đồ hết, mà sắm thứ nào cũng quí giá, tính hết cũng tới bạc ngàn chớ ít đâu. Vì
gia đạo xào xáo sao đó mới ép buộc cô phải lìa con, cũng như cô phải cắt ruột
mà quăng, bởi vậy cô viết thơ năn nỉ cậy mình làm phước nuôi giùm, lại còn để
theo tới 5 ngàn đồng bạc mà đền ơn trước cho mình nữa. nếu người không giàu
sang tột bực và không thương con đáo để, thì đâu có làm như vậy được. Người ta
cậy bất luận là ai, hễ gặp thì làm phước đem về nuôi giùm. Trời đã xuôi khiến
cho anh gặp rồi anh đem về nhà, vậy thì vợ chồng mình phải lãnh nuôi, chớ từ chối
sao được".
Thái châu mày ngó vợ mà hỏi:
- Em tính để mà nuôi hay sao?
- Trời đã khiến con nhỏ nầy về tay mình thì mình phải nuôi,
chớ giao cho ai bây giờ?
- Em bịnh hoạn mà nuôi cho tới hai đứa nhỏ em nuôi sao nổi.
- Cho bú sữa bò mà cực khổ gì. Một đứa hay là hai đứa cũng vậy.
- Nuôi hai đứa em phải cực bằng hai chớ cũng vậy sao được.
- Em sợ là sợ không có sữa, phải mua sữa bò cho hai đứa bú, tốn
tiền nhiều quá chịu không nổi, chớ em có sợ cực đâu. Mà người ta đã cấp cho
mình một số tiền tới 5 ngàn thì mình khỏi lo về phía đó, cứ lo tắm rửa cho bú dỗ
ngủ, có ấm đầu thì mua thuốc cho uống, làm việc như vầy có cực cho bằng buổi
chiều quảy thúng đi mua trái cây rồi sớm mơi gánh ra chợ ngồi bán hay sao. Em
nói thiệt với anh hổm nay em buồn lo lung lắm, buồn vì mắc con nhỏ không đi mua
bán nữa được kiếm tiền thêm để phụ với anh, còn lo là vì mỗi tháng anh lãnh được
có hai mươi mấy đồng làm sao mà đủ nuôi con thơ vợ yếu. Chưa mấy ngày mà đã thấy
khổ về tiền bạc, đến nỗi anh phải tính bán xe đó thấy chưa. Ví như người ta mướn
nuôi con nhỏ mà họ chịu chừng đôi ba trăm, em cũng lãnh liền. Người ta rộng rãi
giao cho mình tới 5 ngàn thì còn dụ dự gì nữa, đây là cái phước đến cho mình,
mà nuôi con nhỏ mình lại làm phước, làm ơn, làm nghĩa cho người ta nữa.
- Qua tính phải đem đến bót mà trình. Như nhà chức trách nói
mình gặp được thì cứ đem về mà nuôi. Định như vậy thì mình nuôi mới hợp pháp.
Còn như người ta định giao cho nhà mồ-côi nuôi thì thôi.
- Đâu mà được!... Anh tính đem trình hết ráo, trình luôn thơ
từ tiền bạc nữa hay sao?
- Trình thì phải trình đủ hết chớ sao. Nếu mình giấu tiền bạc
để lại mình xài, té ra mình gian tham, mình ăn cắp.
- Thiệt vậy... Nếu mình chận số tiền mà lấy, như rủi ro họ
giao con nhỏ cho người khác nuôi thì té ra mình sang đoạt tiền bạc của con nhỏ,
làm như vậy tội lắm....Ý mà anh quên hay sao? Trong thơ người ta căn dặn rành rẽ,
dặn ai gặp cái rương phải giấu kín mà nuôi giùm, đừng cho ai biết. Nếu mình đem
ra làng ra bót mà trình, chi cho khỏi người ta điều tra, họ tìm kiếm cho ra người
mẹ của em nhỏ họ làm tùm lum, tội nghiệp người nào đó quá. Có lẽ việc bí mật
sao đó, cô nọ sợ xấu hổ cho phận cô, hoặc sợ nguy cho con nhỏ nên trong thơ mới
dặn cặn kẽ phải giấu kín... mà lúc anh gặp cái rương cho tới lúc anh đem về tới
nhà mình đây, có ai ngó thấy hay không.
- Không. Rương bỏ giữa khoảng trống, không có nhà cửa ai hết,
mà qua dở ra coi rồi qua chở về đây qua không gặp người nào hết.
- Ôi!, Nếu vậy thì mình giấu luôn mà nuôi, cần gì phải đi báo
cáo.
- Người ta giao một số tiền lớn mà cậy người nuôi, người ta
buộc phải thương yêu dạy dỗ em nhỏ như con cháu ruột. Qua ái ngại vì qua sợ
mình không thể làm tròn trách nhiệm của người ta phú thác chớ.
Hòa ăn cơm rồi. Nghe chồng nói như vậy chị buông đũa và chỉ
con nhỏ mà nói: "Con nít phê phê ngộ nghĩnh như vầy mà ai nỡ lòng nào mà
ghét nó cho được. Em nuôi nó em cũng thương nó như con Đào của mình vậy. Em yêu
hai đứa đồng nhau, em chăm sóc như nhau, chúng nó lớn em cũng dạy dỗ chung hết
hai đứa làm như vậy có lỗi trách nhiệm gì đâu mà sợ".
Em Đào thức dậy huơi hai tay dụi mắt.
Thái vừa ăn cơm rồi, anh ngó thấy, anh liền bước lại bàn lấy
hai ve sữa còn ấm hiểm đưa cho vợ mà nói: "Thôi để thủng thẳng rồi sẽ tính
lại. Em ngồi đó coi chừng hai đứa nhỏ, nếu nó thức dậy thì đưa sữa cho nó bú. Để
qua múc nước cho em uống".
Thái bưng mâm cơm đi vô trong rồi bưng ra một tô nước cho vợ
uống.
Em Đào khóc óe lên. Hòa cầm ve sữa cho nó bú. Em nhỏ kia cũng
thức dậy chòi đạp nữa và mở mắt trao tráo. Thái lên ván ngồi mà cầm ve sữa thứ
nhì cho nó bú, hai đứa chầm bú mạnh mẽ. Vợ chồng Thái ngó nhau mà cười.
Hòa nói: "Trong thơ nói em nhỏ sanh được 28 ngày rồi. Vậy
thì em mình lớn hơn 3 bữa, nó là chị".
Thái cười mà nói:
- Trong thơ có nói đặt em nầy tên Lý. Em của mình tên Đào,
Đào với Lý là chị em phải quá.
- Ừ! hai tên đều thuộc trái cây hết mà trái cây ngon nên bán
mắc nữa. Em chắc vợ chồng mình phát tài rồi nên trời mới khiến trong nhà có
trái Đào rồi mà trời còn cho thêm trái Lý nữa. Nếu mình nuôi hết hai đứa ai có
hỏi thì mình nói con mình sanh đôi.
- Hai đứa coi gương mặt không giống nhau.
- Con nít sanh chưa đầy tháng, biết sao là giống hay không giống
cho được anh. Cứ nói em sanh một cặp con gái thì ai biết gì đâu mà không tin.
Em Đào bú trước nên no trước rồi ngủ lại, Hòa cất ve sữa bước
vô trong, dọn dẹp mâm cơm hồi nãy, để cho chồng ngồi cho em Lý bú mà coi chừng
luôn hai em.
Chừng Hòa trở ra thì em Lý cũng bú no rồi ngủ nữa.
Thái rảnh rang mà mở cửa cước ra sàn đứng ngó mông mà suy
nghĩ. Bổn tánh ngay thẳng nên hồi gặp cái rương có đứa con nít nằm trong thì
anh tính chở về nhà, ăn cơm rồi sẽ đem ra bót mà cớ. Chừng soạn rương thấy bao
thơ với một số bạc nhiều quá anh bối rối, không biết liệu lẽ nào: phải đem hết
ra bót mà trình, hay là giấu luôn đặng hưởng số bạc đó, chẳng những nó giúp
nghèo lúc nầy khỏi bán xe cho vợ uống thuốc, mà nó giúp vốn cho cợ chồng làm ăn
hết túng rối thiếu hụt nữa. Tại không quen thói tráo trở theo thời như người ta
nên anh lo ngại chưa dám quyết định. Chừng vợ chồng bàn qua cãi lại, anh nhận
thấy lời vợ anh nói thảy đều có lý: người ta cậy nuôi giùm con, người ta dặn phải
giữ kín, đừng cho ai biết, mình đem ra bót làm vỡ lỡ tùm lùm sao phải. Lại người
ta mướn nuôi tới giá 5 ngàn đồng, mình còn sợ cực nỗi gì. Mình bỏ sở ở nhà phụ
với vợ mà nuôi cũng đáng, miễn lúc nó còn nhỏ đây mình thương yêu săn sóc như
con ruột của mình, rồi chừng nó lớn lên mình chăm nom dạy dỗ cả hai đứa như
nhau thì mình giữ tròn lời của người ta phú thác, chớ có lỗi trách nhiệm chỗ
nào đâu mà sợ. Gặp con nít của người ta bỏ giữa đường, người có lòng nhơn ai
cũng phải bồng về mà nuôi, không nỡ làm lơ bỏ cho nó chết. Người ta năn nỉ cậy
nuôi giùm em Lý, lại đền ơn trước với một số bạc quá lớn, chớ phải biểu mình
làm phước xuất tiền mình mà nuôi hay sao nên sợ tốn tiền tốn công mà từ chối.
Thái nghĩ tới đó thì 10 phần đã xiêu lòng muốn nghe theo lời
vợ hết 9 phần rồi. Nhưng vì cũng còn chút ái ngại nên anh trở vô khép cửa gài lại
chặt. Thấy vợ đã lót mền gối sắp hai em nhỏ nằm song song một đầu ván để trống
một đầu chị nằm. Thái bước lại bưng đèn để bên bàn rồi ngồi một bên vợ mà hỏi:
"Bữa nay em còn nóng lại nữa hay không?"
Hòa ngồi dậy mà đáp:
- Hồi nửa chiều, trong mình có hơi en en ớn lạnh. Em khuấy một
chén sữa nóng em uống nó tỏa mồ hôi rồi khoẻ mạnh nên gần tối em mới nấu cơm được
đó. Mà chuyện nầy nghĩ thiệt kỳ; từ hồi anh đem con Lý về tới bây giờ, sao
trong mình em khoẻ khoắn dường như không có bịnh chi hết. Hồi nãy em ăn được
hơn một chén cơm đó, anh không thấy hay sao?
- Thế nào em cũng phải đi Đốc Tơ cậy ổng coi mạch rồi tiêm
thuốc cho dứt nóng lạnh mới được. Nếu em muốn để em Lý mà nuôi thì em phải mạnh
đặng có sức khoẻ mà nuôi hai đứa con nổi chớ. Em cũng phải nói với Đốc Tơ hoặc
tiêm thuốc bổ hoặc cho toa mua thuốc bổ mà uống cho thứ thuốc nào uống cho có sữa
nhiều đặng đủ cho hai đứa bú.
- Sữa mẹ mới bổ, con nít bú mới mau lớn. Sữa bò sao bằng, nếu
sữa em thiếu em cho bú giặm sữa bò vậy thôi.
- Nếu anh chịu để con Lý cho em nuôi chung với con Đào, thì
em sẽ đi Đốc-Tơ. Em xuất chút đỉnh trong số tiền nầy mà uống thuốc cho mạnh đặng
nuôi em có hại gì đâu.
- Người ta nói ngoài Tân Định có ông Đốc-Tơ Ân, ổng trị bịnh
cho nhà nghèo ổng làm phước ăn tiền rẻ lắm, bởi vậy người ta gọi ổng là "Đốc-Tơ
nhà nghèo". Để em ra đó. Em chắc tốn không bao nhiêu đâu.
- Em đưa bức thơ hồi nãy cho qua đọc lại coi.
Hoà móc túi lấy bao thơ ra, rút lấy bức thơ mà đem cho chồng.
Thái cầm lại cái bàn, nhắc ghế ngồi bên bàn để mà đọc lại. Anh ngồi coi mà suy
nghĩ. Anh coi qua coi lại mấy lần rối xếp đưa cho vợ, dặn phải cất cho kỹ đừng
bỏ mất. Hòa đút vào bao thơ lại mà nói chị để chung với số bạc mà giữ trong
mình, làm sao mất được mà lo.
Thái ngồi dựa bên vợ to nhỏ nói: "Qua tin chắc việc nầy
là việc trời sắp đặt mà gây ra chớ không phải vợ chồng mình dụng mưu gian mà tạo
thành được. Em nghĩ lại mà coi mấy năm nay vợ chồng mình lam lụ làm ăn, chồng
lo theo sức chồng, vợ lo theo nghề vợ, mình cứ giữ lòng hiền lành ngay thẳng mà
ở đời, ai có dạ hung dữ gian tham mặc họ. Có lẽ Trời thấy mình nghèo hèn cực khổ
Trời thương nên trời đã cho một đứa con gái rồi, mà nghĩ chưa đủ cho mình vui
nên Trời tạo ra một trường hợp phi thường mà cho mình thêm một đứa con gái nữa,
lại còn giúp cho mình một số bạc to để mình làm vốn mà lập nghiệp, bây giờ qua
thấy vợ chồng mìnnh đối với lòng chiếu cố của Trời Phật, mình có hai phận sự: một
là săn sóc thương yêu dạy dỗ hai đứa con bằng nhau, cho khỏi trái với ý Trời mà
cũng khỏi phụ lời của người ký thác, hai là phải sử dụng một cách đúng đắn số bạc
của người ta giao cho mình đó, phải làm cho sanh lợi để ngày sau con người ta
được chung hưởng, chớ không nên lãng phí xài bậy bạ tiêu hết, chừng sắp nhỏ lớn
lên nó vất vả cực thân. Thuở nay vợ chồng mình không bao giờ có được một tấm giấy
săng. Bây giờ tình cờ mình có tới 50 tấm. Đó là một gia tài lớn của Trời ban
thưởng, mình lo giữ gìn không nên hơ hỏng, Việc sử dụng số tiền nầy để thủng thẳng
em mạnh khỏe rồi vợ chồng mình sẽ bàn tính cho kỹ, không nên làm hốt tốc.Việc gấp
phải lo trước việc hưỡn sẽ lo sau. Bây giờ sắp đặt cách thức nuôi sắp nhỏ cho kỹ
lưỡng và việc lo trị bịnh cho em khoẻ mạnh mà săn sóc hai con. Đó là việc gấp
phải làm liền.
Hiện giờ trong túi qua chỉ còn có một đồng mấy bạc. Vậy phải
xuất trong số tiền đó vài trăm đặng mua mùng chiếu cho sắp nhỏ ngủ và cho em đi
Đốc-Tơ coi mạch tiêm thuốc. Còn lại bao nhiêu em giữ cho kỹ để rồi làm công việc.
Trong nhà cứ giữ mức sống bình thường cho người ta khỏi nghi gì hết."
Hoà nói: "Em hiểu ý anh rồi. Sáng mai em sẽ đem cái
rương vô để trong giường đặng kẻ qua người lại ngoài đường họ không để ý."
Thái nói: "Ừ phải giữ kỹ lưỡng như vậy mới được, phải giữ
mức sống theo mức thường, đừng lên mặt có tiền mà sanh rắc rối, còn hai bữa nữa
tới kỳ phát tiền. Hễ lãnh tiền rồi là qua xin thôi, viện lẽ em sanh tới một cặp,
mà em lại có bịnh nên qua xin nghỉ ít ngày đặng ở nhà lo thuốc men cho em và
săn sóc hai đứa trẻ, chừng nào em mạnh qua sẽ trở vô làm việc lại. Ngày mai qua
sẽ lấy một trăm đem theo đặng mua gấp một cái ấm bằng nhôm để nấu nuớc cho mau
sôi mà khuấy sữa cho em bú, mua một cái thau lớn để tắm cho em và một cái mùng
với một đôi chiếu, mùng để giăng bộ ván nầy cho ba mẹ con ngủ rộng rãi khoảng
khoát và em khỏi bị muỗi cắn, qua trải chiếu mới qua ngủ trong giường được. Phải
mua mấy món đó là vật cần thiết, thế nào chiều mai cũng phải có. Làm vài bữa nữa
qua xin nghỉ qua ở nhà coi em rồi em sẽ đi Đốc-Tơ. Trong lúc em bổ dưỡng sức khỏe,
có qua ở nhà rồi sẽ bàn tính tới cuộc làm ăn".
Hòa nghe chồng tính việc nào chị cũng vừa ý hết thảy. Chị rất
vui vẻ khuyên chồng nằm coi chừng dùm hai đứa nhỏ. Chị vô dọn dẹp cái giường
trong cho chồng ngủ. Luôn dịp chị nấu nước sôi khuấy một chén sữa chị uống rồi
vợ chồng ngồi nói chuyện nữa, tính lần việc làm ăn. Hòa nói ra buôn bán nếu lập
quán nhỏ thì không có lời bao nhiêu, còn mở lớn thì phải có vốn lớn phải mướn
phố mắc, phải tốn sở phí nhiều mà tiệm mới chưa có khách hàng quen thì ế ẩm sợ
lỗ. Thái nói lập tiệm ngoài Sài Gòn phải sang phố hết vốn. Mình có bốn năm ngàn
thì làm ăn trên Bà Chiểu hoặc trên Phú Nhuận có lẽ hay hơn. Anh để ý thấy trên
Phú Nhuận chưa có tiệm bán ván giường gỗ và bàn ghế. Anh có quen với ông thợ mộc
già làm trong sở. Ông đóng tủ với bàn ghế khéo lắm. Anh lại có bà con một đầu
ông cố với một chủ tiệm bán ván cùng đồ gỗ trên chợ Lái Thiêu. Vậy để thủng thẳng
coi có nên lập một cái trại mộc dựa đường ra Cầu Bông rồi rước thợ đóng tủ bàn
và lãnh ván trên Lái Thiêu mà bán.
Vợ chồng bàn tính tới gần nửa đêm mới khuấy sữa cho hai em nhỏ
bú nữa rồi đi ngủ.
Anh Thái tính sao thì anh làm y như vậy. Trưa bữa sau đi làm
về, anh đem về một cái thau, trong thau có một cái ấm nhôm, nửa chục trứng vịt,
một gói mắm với một con khô lóc.
Chị Hòa ở nhà nấu cơm cạn rồi, thấy chồng mua đồ về, chị mới
nướng khô và luộc trứng vịt đặng ăn cơm. Thái hỏi hai em nhỏ có cự nự hay
không. Hòa nói hễ khát sữa thì la ít tiếng; bú no rồi nằm chơi một hồi rồi ngủ,
hai em không làm cực lòng chi hết.
Ăn cơm rồi, Thái pha nước ấm ấm cho vợ tắm em. Thái mở rương
lấy ra hai tấm tã, hai áo vải một cái mền nỉ nhỏ, dặn vợ hễ tắm rồi thì mặc áo
vải, cột tã, quấn mền cho hai đứa như nhau, bởi vì hễ có con sanh đôi thì người
ta thường cho ăn mặc giống nhau. Sẵn có đồ của Lý nhiều thì lấy mà dùng cho Đào
đỡ, sau có mua thứ gì mới thì mua mỗi thứ hai cái. Tháng nầy nực không cần đội
mũ mang vớ cho Lý. Để mua thêm một cái mũ với một đôi vớ giống như vậy, rồi qua
mùa mưa có lạnh sẽ cho hai đứa đội mũ mang vớ như nhau.
Hòa sợ cho bận đồ tốt quá không thích hợp với gia đạo của
mình, Thái dạy nếu ai có khen đồ tốt thì nói trong sở hay sanh tới một cặp, anh
em hùn tiền mua đồ mà cho, chớ mình nghèo mua sao nổi.
Tối Thái mua đem về một đôi chiếu trắng với 2 cái mùng mà nói
anh mua thêm một cái mùng chiếc để giăng trong giường, còn mùng đôi thì để
giăng ngoài ván.
Đến bữa lãnh tiền rồi Thái hân hoan về nói anh đã xin nghỉ
xong; sợ người ta nghi anh nói xin nghỉ ít tuần, chớ không dám nói xin nghỉ
luôn. Anh lại cho vợ hay anh có tỏ ý với ông thợ mộc già trong sở rằng có người
bà con ở Lái Thiêu muốn giúp vốn cho anh lập trại mộc tại Bà Chiểu và sẽ giao
ván với tủ bàn cho anh bán.
Ông thợ già đó, nhà ở gần chùa Quản tám, ông hứa nếu lập trại
mộc trong Bà Chiểu thì ông thôi làm Ba Son mà giúp cho, vì già rồi ông muốn làm
gần nhà đặng mỗi bữa đi cho khỏe. Ông lại nói ông có quen nhiều thợ khéo. Nếu
trại có khách hàng đông phải làm đồ gấp, thì ông kêu thợ giùm cho, ban đầu đóng
đồ bằng cây dầu, cây sao mà bán cho dễ, sau khá rồi sẽ đóng đồ gõ hoặc cẩm lai.
Thái mới ở nhà coi em cho vợ qua Tân Định tiêm thuốc, Đốc-Tơ
Ân tiêm thuốc rét ít bữa và cho toa mua thuốc bổ mà uống đặng phục sức lại.
Trong 6 ngày Hòa dứt chứng nóng lạnh, khỏi đi tiêm thuốc nữa, ăn cơm biết ngon,
đỏ da thắm thịt, lại có sữa. Chị mua thuốc bổ mà uống tiếp hoài. Chị đi chợ, nấu
cơm xách nước, làm công việc trong nhà được như thường.
Thái mừng nên nói: "Ở đời may rủi không chừng. Vừa mừng
được con Đào rồi em lại bịnh làm cho qua bái xá. Đương buồn lo lại được thêm
con Lý nên vui trở lại. Ai mà dè như vậy bao giờ.
Hòa nói: "May hay rủi đều do nơi Trời Phật. Em nhứt định
được may em không dám mừng, mà gặp rủi em không thèm buồn, cứ ăn ở hiền lành
ngay thẳng, phú rủi may do trời Phật liệu định.
Thái khen vợ nói phải. Sắp đặt việc nuôi con yên rồi, anh bắt
đầu lo qua cuộc làm ăn.
Chú thích:
[1] vật đổi sao dời, biển xanh biến thành ruộng dâu: ý nói sự
thay đổi to lớn
[2] hói, chỗ lõm trên bờ sông rạch
[3] loại rau mọc trầm thủy, thân có bọc một lớp trắng rất nhẹ
để giữ cho rau khỏi chìm trong nước
[4] ván bằng gỗ cây dầu
II. NƯỚC XUÔI GIÓ THUẬN
Ai mà quyết nuôi chí lo làm ăn, không ham se sua, không chịu
lãng phí, nếu biết trọng nhơn nghĩa thêm nữa, chịu ơn ai thì đêm ngày đau đáu
lo trả ơn, con người ăn ở được như vậy hễ gặp dịp may, có người giúp đỡ, chắc sẽ
làm giàu. Mà ví dụ không được giàu đi nữa, thì cũng thảnh thơi, chớ không đến nỗi
vất vả đói rách.
Vợ chồng anh Thái với chị Hòa mới cách có 18 tháng trước người ta thấy hẩm hút ở
trong cái chòi lá nhỏ cheo leo bên đường gần chợ Thị Nghè đó, mà bây giờ lại dời
ra ở dựa đường lớn từ Bà Chiểu ra Đất Mộ, gọi là đường Lê Văn Duyệt, ở trong một
cái nhà lá 3 căn, cao ráo, rộng rãi, cửa và vách đều đóng ván chắc chắn, nền có
lót gạch đỏ lòm. Vợ chồng với hai đứa con ở căn giữa, ngoài có bàn ghế để tiếp
khách có ván gõ lớn để nằm nghỉ lưng, còn trong có tủ áo, có bàn cơm, có một
cái giường lớn và một cái giường nhỏ để ngủ.
Căn bên tay mặt thì chứa bàn ghế tủ giường, ván gõ, di-van đủ thứ, trên cửa có
gắn một tấm bản ngang đề chữ: THÁI HÒA
Tiệm bán tủ bàn giường ván
Còn căn nhà phía tay trái là trại mộc, có 3 người thợ lui cui cưa bào đục đẻo
cây ván mà đóng bàn ghế tủ giường, làm lộp cộp tối ngày.
Hai em Đào với Lý biết đi biết nói. Xẩn bẩn trong nhà chơi với nhau, vì con gái
nên êm thắm chớ không chạy giỡn như con trai; lại trìu mến thương yêu nhau nên
không rầy rà xích mích. Tuy vậy mà chị Hòa không chịu rời xa hai con, chị mướn
một người đàn bà đi chợ nấu ăn để chị rảnh mà chăm nom săn sóc 2 đứa nhỏ, sớm
mơi thay áo quần, trưa dắt vô tắm rửa, tối thì giũ mùng trải chiếu dỗ ngủ. Hai
đứa nhỏ bận áo quần một thứ với nhau luôn luôn, ai cũng tưởng là con sanh đôi,
không ai nghi điều chi hết, mặc dầu gương mặt không giống nhau, mà Đào thì vui
vẻ nhậm lẹ, còn Lý thì trầm tĩnh ôn hoà, lại bộ tướng thanh bai yểu điệu hơn.
Đường Lê Văn Duyệt thiên hạ qua lại, lớp đi bộ, lớp đi xe, dập dìu tối ngày
không ngớt. Tiệm Thái Hòa lập chỗ đông đảo như vậy ai cũng ngó thấy. Lại khi
khai trương, anh Thái có đăng quảng cáo trong vài tờ nhựt báo lớn, bởi vậy mới
mở cửa một tháng thì khách hàng đã tới thường rồi. Khắp vùng Bà Chiểu chỉ có một
tiệm bán bàn ghế nầy mà thôi; ai cũng tới đây mà mua đặng chở về cho gần, chớ
đi mua ngoài Sài Gòn hay trên Phú Nhuận tốn tiền chở nặng qúa.
Tối ngày anh Thái mắc ở bên căn bán đồ mà tiếp khách hoặc qua trại mộc đưa kiểu
vở và nói thước tấc cho ông Hai già đặng ông chỉ biểu cho thợ phụ làm. Anh bận
rộn với nghề nghiệp của anh. Có ban đêm nghỉ, anh mới vui chơi được với hai đứa
nhỏ. Anh phú hết việc gia đình cho vợ. Anh căn dặn vợ phải dạy dỗ chúng nó, tập
chúng nó nói chuyện cho có lễ phép, ăn uống cho có độ lượng, đi đứng cho có dạng
nghiêm trang, chơi bời cho có vẽ thanh nhã. Anh nói con sanh đôi tục thường hễ
đứa nào ra trước là lớn, đứa nào ra sau là nhỏ. Quan niệm lớn nhỏ như vậy không
đúng với lẽ trời. Theo ý anh khi còn ở trong bụng mẹ, đứa cấu thành hình trước
nó phải nằm trên nên nó ra sau, còn đứa cấu thành hình sau nó phải nằm ngoài
nên nó mới ra trước. Vậy đứa ra sau là chị, đứa ra trước là em mới phải.
Chị Hòa không chịu phục cái thuyết đó. Chị nói nó cấu tạo hồi nào ở trong bụng
ai mà biết được. Hễ mình thấy mặt đứa nào trước, nghĩa là nó ra chào đời trước,
thì nó lớn hơn đứa sau. Vợ chồng cãi với nhau rồi áp dụng giải pháp dung hòa:
hai đứa nói chuyện với nhau đứa nào cũng phải gọi đứa kia bằng chị, còn xưng
mình là em.
Anh Thái dặn vợ cứ dạy con xưng hô với nhau như vậy. Anh lại khuyên riêng vợ:
"Con Lý đã lớn rồi. Bây giờ áo mền giày mũ với tã của nó không dùng được nữa,
thì giặt ủi rồi gói lại cất trong cái rương của nó mà để dành. Kiếm một cái hộp
đựng bức thơ với sợi dây chuyền của nó mà cất riêng trong tủ; cất cho kỹ, đừng
để lạc mất. Những vật ấy là dấu tích của nó. Mình phải giữ gìn phòng ngày sau
có ai tìm nó mà nhìn con nhìn cháu, nếu mình xem hạp nghĩa, thì mình đem ra mà
đối chiếu.
Chị Hòa làm y theo lời chồng dặn. Chị nghĩ cái rương bằng tre sợ lâu năm mối mọt
ăn rã hết. Chị mới mua dầu vec-ni 1 mà đánh tới hai lớp rồi sắp hết đồ
của Lý vô, lấy bố bao kín phía ngoài và để lên nóc tủ áo mà cất.
Cuộc buôn bán của Thái ngày càng phát đạt, đồ không đóng kịp cho đủ bán: lại
người ta biết danh ông thợ Hai đứng cái 2 , ông cho kiểu mới lạ, đóng
bàn đóng tủ khéo và đẹp, nên người ta áp tới đặt hàng nhiều quá. Anh Thái phải
kêu thêm thợ nữa. mà trại nhỏ, thợ nhiều, chật hẹp, phải chen nhau mà làm, thiệt
là bất tiện. Anh mướn đất đai thêm phía sau nhà, rồi cất riêng một trại ba căn
nữa. Bây giờ số thợ đếm cả chục rần rộ làm tối ngày.
Ông thợ Hai tuy già song còn mạnh khoẻ, ông phải phụ giúp với chủ tiệm mà tiếp
khách. Ông ra mực rồi coi chừng và chỉ bảo cho thợ làm. Ông còn phải thế cho
anh Thái đi kiếm mua cây ván quí giá như nu, gõ, cẩm lai, bởi vì bây giờ khách
hàng đặt đóng đồ bằng loại cây đó thường hơn là cây dầu. Phải đi xa và phải
quen với mấy chủ bán cây, trên Tây Ninh và Thủ Dầu Một mới mua cây quí được.
Anh Thái mắc bận việc giao thiệp với khách hàng, tuy Đào và Lý lớn lần lần, chị
Hòa rảnh rang coi phụ với chồng mà tiếp khách, song Thái cũng không bỏ tiệm mà
đi lâu được. Đi xa kiếm cây ván mà mua, phải vắng mặt đến đôi ba ngày thì anh cậy
ông thợ Hai đi giùm. Còn đi Lái Thiêu lựa ván gõ mua về dồi 3 mà bán
lại hoặc cưa đi mà đóng di-van hay đóng tủ thì anh để cho vợ đi, anh ở nhà vừa
tiếp khách vừa chăm nom hai đứa con được.
Mà đến năm Đào với Lý được 4 tuổi, tiệm Thái Hòa đương phát đạt, thì chị Hòa lại
có thai nữa. Vợ chồng mừng với nhau ước mong sanh được một đứa con trai, đặng
có gái có trai mới mãn nguyện. Nhưng Thái mừng và nói với vợ rằng Đào với Lý là
cái ngòi gây hạnh phúc gia đình cho mình, nhờ hai đứa nó vợ chồng mới hiển đạt,
cuộc làm ăn xân xẫn, mới có 4 năm mà vốn liếng đã nở ra đến hai ba muôn. Vậy dầu
có con thêm cũng không được hất hủi hai chị em, phải chăm nom săn sóc dạy chúng
nó luôn luôn.
Chị Hòa sợ rồi đây chị mắc em nhỏ chị không thể săn sóc hai con lớn cho chu đáo
được. Chị mới tính kiếm mướn một người trọng tuổi ở mà săn sóc Đào với Lý tiếp
với chị. May có cô Thành lối 30 tuổi, có một đứa con 3 tuổi rồi chồng bỏ cô mà
đi mất; cô nghèo khổ lại bơ vơ, con đau không có tiền chạy thuốc nên con phải
chết. Cô buồn rầu, vất vả. Cô kiếm chỗ ở làm công đặng có nơi nương dựa cho no ấm
tấm thân.
Chị Hòa nói chuyện với cô Thành, hay cô đương đau khổ về việc chồng con thì chị
động lòng. Chị thấy Thành sạch sẽ, ăn nói nhỏ nhoi lễ phép chị đem lòng thương.
Chị mới mướn Thành ở giúp việc trong nhà, mà giao gắt là phải tận tâm chăm sóc
Đào với Lý.
Cô Thành ở được ít ngày. Chị Hòa dòm thấy Thành siêng năng, kỹ lưỡng, vén khéo
sạch sẽ, tánh nết được lắm, lại biết khuyên lơn chìu chuộng hai em, thì chị lấy
làm vừa ý.
Cách vài tháng sau chị Hòa sanh được một đứa con trai. Vợ chồng Thái mãn nguyện,
có con gái con trai đủ hết nên vui mừng cực điểm. Vợ chồng bàn tính rồi đặt cho
con cái tên Tòng cũng thuộc loại cây, mà cây không sợ sương tuyết.
Chị Hòa mạnh khoẻ, có sữa nhiều nên chị cho con bú, không cần mướn vú, mà cũng
khỏi cho bú giặm sữa bò.
Mấy năm nay, anh Thái mắc bận việc buôn bán, ít gần con bởi vậy Đào với Lý trìu
mến mẹ hơn cha. Bây giờ mẹ mắc con nhỏ thì có cô Thành thay thế mà săn sóc. Tuy
vậy mà Đào với Lý hễ thấy cha rảnh, ngồi một mình thì chạy qua chơi với cha.
Hai đứa đỏ đẻ nói chuyện làm thêm vui tiệm.
Đã có tiền nhiều, mà lại có con gái con trai đủ, vợ chồng Thái đắc chí vô cùng.
° ° °
Cũng như chiếc thuyền đi nước xuôi gió thuận, vợ chồng Thái với
Hòa đã có chí lại thêm gặp thời, bởi vậy cuộc buôn bán càng ngày càng phát triển
mạnh nên bành trướng ra lớn thiệt mau. Cách có ba năm sau, em Đào và Lý lên 7
tuổi còn bé Tòng mới được 3 tuổi, mà tiệm Thái Hòa đã biến đổi kinh dinh. Ba
căn nhà lá hồi trước bây giờ biến đổi 4 căn nhà ngói nền cao, vách gạch, hai
căn để chủ tiệm ở, còn hai căn kia thì một căn chứa tủ, bàn ghế để bán, và một
căn chứa ván ngựa, di-van, với ghế sa-lông. Đồ đạc phần nhiều đóng với cây gõ
và cẩm lai, có một phần đóng với cây sao, giá-tỵ và thau-lau sơn vec-ni chớ ít
có cây dầu. Mà dầu đóng thứ cây nào cũng đóng theo kiểu tối tân, nên đẹp mắt ai
cũng chịu lắm.
Trại mộc bây giờ cất riêng ở phía sau cất dài 5 căn lợp ngói, vách ván, có nhiều
cửa sổ nên sáng sủa lại mát mẽ. Mười mấy anh thợ mộc làm việc rần rật tối ngày
dưới quyền chỉ biểu của ông thợ Hai, ông đặt bàn ngồi giữa trại mà phân phát
công việc, dặn dò mực thước và vẽ kiểu cho em út coi mà làm.
Tiệm có sắm sẵn một chiếc xe tay với hai anh phu lực lưỡng mạnh mẽ để khiêng
bàn khiêng tủ cho khách xem và ai mua xong thứ gì thì chở đến giao tới nhà.
Lại cũng có sắm một chiếc xe kéo nhà để mỗi ngày đưa rước Đào với Lý đã bắt đầu
vào học tại trường nữ học Bà Chiểu. Cô Thành cũng vẫn tận tâm chăm sóc hai em,
giặt áo quần, phơi mền gối, coi cho em ăn uống no đặng em đi học chừng em về
thì tắm rửa cho em.
Đào với Lý dầu ở nhà hay là đi học cũng vậy, ăn món gì, mặc thứ gì cũng giống hịt
với nhau. Cô Thành ở giúp việc mấy năm, cô biết ý ông bà chủ ngay thẳng, hiền
lành, lại thương phận cô bơ vơ, cô quả, thì cô cảm tình mến nghĩa nên cô lấy dạ
trung thành mà đền đáp, cô chăm nom tất cả mọi việc trong nhà, cô yêu Đào, Lý với
bé Tòng cũng như em cháu ruột, lãnh săn sóc luôn cả ba em. Hễ Đào, Lý đi học
thì cô chơi với bé Tòng để cho Hòa rảnh rang mà tiếp giúp chồng trong cuộc công
thương.
Vợ chồng Thái thấy Thành tận tụy với mình đem lòng tín nhiệm, mến yêu, xem
Thành như người trong thân tộc, không phân biệt giai cấp chủ tớ. Nhiều khi chị
Hòa bận việc chị đưa bạc trăm cho Thành ra Sài gòn mua đồ cần dùng trong nhà.
Mua áo quần hay mua giày cho ba em nhỏ, cũng một tay Thành lo hết.
Đào với Lý tuy ăn mặc như nhau, tuy cha mẹ yêu đồng nhau, tuy ở nhà hay ở trường
ai cũng tưởng là chị em song thai, nhưng mà hình dáng hay tánh nết hai em khác
xa nhau quá.
Đào thì to xương, sung sức nước da ngăm ngăm chớ không trắng lắm, khuôn mặt
sáng sủa, miệng cười có duyên, tánh vui vẻ bặt thiệp, hay nói chuyện hay hoạt động.
Còn Lý thì mỏng mảnh, yểu điệu đằm thắm, nước da trắng, má miếng bần, có vẻ đẹp
hơn Đào, mà tánh nết lại nghiêm trang trầm tĩnh, ít cười, ít nói.
Tuy chị em không giống nhau, song từ khi mới lọt lòng được cha mẹ tưng tiu, cho
bú, cho ăn, tắm rửa, săn sóc, dạy dỗ, tập đi, tập nói chung với nhau, bởi vậy
hai chị em yêu thương nhau như một máu một thịt mà vui chơi với nhau luôn luôn
thuận hòa, không bao giờ gây gổ, xích mích, Vì cha mẹ đã tập từ khi mới học
nói, hai trẻ quen rồi, nên bây giờ hai trẻ nói chuyện với nhau cứ gọi nhau là
chị và xưng mình là em. Mà vợ chồng Thái muốn hai con giữ luôn thói quen ấy mãn
đời, nên kêu con là "chị Đào, chị Lý" làm cho cô Thành, bà nấu ăn
cùng các anh thợ trong trại mộc cũng bắt chước gọi "chị Đào, chị Lý"
thét rồi quen miệng không đổi được.
Từ ngày có thêm bé Tòng, Đào với Lý cũng yêu thương em như nhau, hồi em còn nằm
ngửa thì Đào với Lý thường nằm hai bên mà hun hít em, chừng em biết đi biết nói
thì cứ xẩn bẩn theo em mà chơi chung, ăn thứ gì cũng chia với em, hễ em la khóc
thì áp lại mà dỗ. Bây giờ đi học mà hễ về đến nhà thì kiếm Tòng mà hun trước rồi
mới mừng cha mẹ sau.
Tuy khác hình dáng, khác tánh tình, song Đào với Lý đều có trí thông minh, lại
có chí ham học như nhau, bởi vậy mới 8 tuổi thì đọc và viết đều giỏi hết, rồi đến
12 tuổi cả hai đều thi bằng tiểu học đậu dễ dàng.
Vợ chồng Thái với Hòa đều vui mừng hết sức, mà còn mong ước gì nữa.
Có đêm nằm rảnh rang vợ chồng Thái to nhỏ nhắc việc đã qua, tính việc sắp tới.
Vợ chồng không quên cái lúc còn bần hàn ở trong chòi lá bên Thị Nghè. Chồng đi
làm mỗi tháng có hai mươi đồng bạc; vợ phải buôn gánh bán bưng mà kiếm tiền
thêm mới đủ đấp đổi. Lúc vợ sanh đẻ, không đi buôn bán được nữa, lại đau không
đủ sữa cho con bú. Trong nhà thì hết tiền. Chồng phải tính bán xe máy mà chạy
thuốc cho vợ, mua sữa cho con. Thời may Trời nhểu phước, ban cho thêm một đứa
con, lại còn giúp tới 5 ngàn đồng bạc. Nhờ ân huệ đó vợ tiêm thuốc phục sức,
con có sữa bú no, vợ chồng có vốn ra làm ăn với thiên hạ.
Trời thương giúp vận vợ chồng con cái đều mạnh giỏi, đã có hai con gái còn giúp
thêm con trai, con gái học siêng năng đã thi đậu, con trai đã đi học rồi coi bộ
cũng chuyên cần. Vợ chồng chia nhau, chồng chăm lo mở cuộc công thương, vợ cứ
nuôi dạy trẻ nhỏ. Mới có muời hai năm mà đã gây ra một sự nghiệp đáng vài trăm
ngàn chớ không phải ít. Mà cuộc làm ăn coi thế còn tiến mạnh, người phụ sẵn
lòng tận tụy, số khách hàng mỗi năm cũng tăng lên cao, lại vợ chồng đầm ấm thuận
hòa, các con ăn học tấn phát hạnh phúc đã nhiều rồi, còn ham muốn cao xa làm
chi nữa.
Ngặt Đào với Lý thi đậu bằng tiểu học rồi hổm nay hai đứa cứ đòi đi học nữa,
nài xin khai trường phải cho chúng nó vào trường trung học ngoài Sài Gòn đặng
cho chúng nó tiếp tục học thêm mà lấy cho được bằng tú tài. Hai con quyết chí học
cho cao, mà trong nhà lại sẵn có tiền bạc dư nhiều, có lẽ nào lại bít đường tấn
thủ của con, bắt nó ở nhà đặng ngày sau nó thua sút bạn gái.
Nghĩ tới đây vợ chồng Thái nhớ hồi trước người ta giao Lý với một số bạc lớn,
người ta yêu cầu mình thương yêu, nuôi dưỡng và dạy dỗ giùm Lý đặng ngày sau nó
khỏi vất vả nghèo hèn, người nào đó có việc nhà chi thế mình không hiểu, mà giấu
tánh danh, giấu địa chỉ không cho biết mình là ai. Tuy giao con giao tiền cho
mình có ít hàng chữ tha thiết cậy mình làm ơn làm phước giùm, nên phải giấu mà
nuôi Lý song kỳ thiệt người ấy là người làm ơn làm phước cứu vợ chồng mình. Vì
không biết ai ở đâu nên mình thệ tâm để âm thầm mà yêu Lý như con ruột, nuôi và
dạy Lý cũng như con mình. Bởi mình quyết tâm làm tròn nhiệm vụ y như lời người
phú thác, nên khi cho Đào với Lý đi học được vài năm, nhà trường buộc phải nạp
khai sanh, mà cả hai đứa đều không có, vợ chồng phải đến Tòa Hộ xin lên án thế
vì khai sanh nhìn nhận Đào với Lý là con song thai của vợ chồng mình.
Hôm nay Lý muốn học thêm cho cao, nhà mình nhờ Lý mới có cơm tiền. Nếu mình chận
lại không cho học thêm nữa, thì mình lỗi với lời người ta ký thác, lỗi về nhiệm
vụ dạy dỗ.
Chịu ơn của người phải đền đáp ơn cho vuông tròn dẫu mình nghèo mình cũng phải
ráng cho hết sức, huống chi là giàu rồi.
Thái với Hòa xét tới khoảng đó nên quyết định dầu tốn hao bao nhiêu, dầu cực nhọc
thế nào cũng phải cho Đào với Lý học cho đến cùng, học chừng nào hai cô hết muốn
học nữa rồi sẽ để ở nhà.
Thái dạy vợ rảnh thì ghi tên Đào với Lý đặng chừng khai trường hai con vào học
trường nữ trung học Sài Gòn cho chúng nó học. Mỗi bữa cho xe kéo nhà đưa đi rồi
rước về. Còn Tòng thì để học trong Bà Chiểu cho gần. Chừng nào Tòng có bằng tiểu
học xong rồi em phải ra trường lớn ngoài Sài Gòn mà học bực cao hơn nữa, rồi sẽ
tính mua nhà hoặc phố gần trường đặng ba con ở mà đi học cho tiện.
Thái cũng nhắc vợ phải nhớ thăm chừng đồ đạc của Lý hồi còn nhỏ để hư mất. Hòa
nói thơ với dây chuyền chị cất trong tủ sắt; còn áo mền giày mũ để trong rương
thì lâu lâu chị đem ra mà phơi, nên không hư hao gì hết.
Chị suy nghĩ rồi nói với chồng:
- Đào với Lý còn khờ quá. Mà cho con đi học tới ngoài Sài Gòn, em không yên
lòng. Lại đi xe kéo chậm lắm, sợ buổi trưa về trễ hai đứa nó đói. Rồi buổi chiều
phải đi sớm, thì trưa chúng nó có nghỉ ngơi gì được. Vậy hồi nãy anh tính mua
nhà hay một căn phố gần trường cho hai đứa nó ở đi học tiện hơn. Để cô Thành
ngoài đó lo cơm nước cho chúng nó. Tối vợ chồng mìmh rảnh thay phiên ra đó mà
ngủ. Chúa nhựt nghỉ học cho cô Thành đem chúng nó về trong nầy.
- Nhà hay phố ngoài Sài Gòn họ bán mắc mua làm sao cho nổi. Lại mua nhà mua đất
chết vốn. Có tiền phải dùng đúng việc chi cho sanh lợi mới được chớ.
- Mua nhà mua đất như sau mình không dùng mình cho mướn hoặc ai muốn mình bán
cho họ cũng có lời vậy chớ. Như anh không chịu mua nhà hay phố, thôi thì có ai
bán xe hơi cũ anh mua để đưa rước hai đứa đi học cho lẹ.
- Cha chả! Em tính mua xe hơi, kình rình quá.
- Mua xe hơi cũ và xe nhỏ không tốn bao nhiêu.
- Mua xe cũ máy trục trặc hoài, sửa riết rồi mang nghèo chớ. Lại còn phải mướn
sớp phơ, đổ xăng nhớt, mua vỏ ruột, tốn hao dữ lắm, thà là mua nhà tuy xuất vốn
nhiều hơn, song khỏi tốn hao, lại sau mình bán lại hoặc may có lời. Thôi việc
đó để sau sẽ tính; để cho hai đứa nó đi học, coi nếu có điều chi bất tiện rồi sẽ
hay.
Chủ tiệm Thái Hòa đóng và bán tủ giường bàn ghế ở dựa đường Đất
Hộ vô Bà Chiểu, nhờ tay thợ khéo, lại đóng thứ gì cũng đóng theo kiểu tối tân,
coi đẹp mà giá rẻ, mà nói cho đúng, thiệt cũng nhờ ông bà chủ đều vui vẻ, bặt
thiệp, mềm mỏng biết chiều chuộng mối hàng, bởi vậy mấy năm sau đây tiệm Thái
Hòa nổi danh, rồi bực giàu sang ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Phú Nhuận, Hòa Hưng, ai muốn
dọn nhà cho rực rỡ, theo điệu kim thời, thì cũng tìm vô tiệm nầy lựa đồ mà mua,
hoặc muốn kiểu nào hạp với ý mình thì đặt cho tiệm đóng. Tối ngày khách hàng vô
ra không ngớt. Bà chủ phải giúp với ông chủ mà tiếp khách, bởi vậy cả vợ chồng
đều phải mặc y phục đàng hoàng cho ra mặt chủ nhơn của cuộc công thương lớn, chớ
không phải bận đồ mát xập xệ như hồi trước nữa.
Trót mấy năm thời cuộc lộn xộn, binh đội Nhựt choáng hết mấy trường trung học lớn
ngoài Sài Gòn, rồi kế binh đội Pháp tiến chiếm lại nữa. Vợ chồng Thái không muốn
để sự học hỏi của con phải gián đoạn nên đem cho học đỡ tại trường tư thục
ngoài Tân Định, lúc nào êm thì đi học, bữa nào lộn xộn thì ở nhà.
Đến nửa năm 1946 trường trung học Trương Vĩnh Ký với trường nữ học Gia Long mới
mở dạy lại.
Thái liền xin cho Đào với Lý vào trường Gia Long học lớp ba 4 đặng
năm sau dự thi bằng trung học đệ nhứt cấp. Còn Tòng 13 tuổi có bằng tiểu học rồi
thì xin vào trường Trương Vĩnh Ký học tiếp.
Đã hơn hai năm rồi thấy con đi học mà đi xe kéo thường về trễ và đi sớm mệt nhọc,
nên ông bà chủ tiệm Thái Hòa đã có mua một chiếc xe hơi 4 chỗ ngồi để đưa rước
con cho mau.
Năm nay Đào với Lý lên lớp cao, bài vở nhiều về nhà phải làm bài, học bài, hai
chị em học giỏi thường xuyên được thầy khen, nên ráng sức mà giữ cho được ưu hạng
trong lớp hoài không chịu để cho chị em bạn qua mặt.
Cha mẹ thấy con gắng sức cần học thì vui lòng.
Ông nghĩ con học lớp cao cần có chỗ thanh tịnh an ổn mà học mới tiện, chớ ở tiệm
buôn bán rần rộ quá không thể khỏe trí định thần được. Lại bây giờ cả ba con đều
học ngoài Sài Gòn hết nên cần phải có một cái nhà để ba con ở mà học cho yên và
cho gần trường. Bà chủ để ý về việc đó đã lâu, nghe ông tính mua nhà ngoài Sài
Gòn thì bà đốc thêm vô nữa. May mà lúc ấy người ta rao bán một tòa nhà trệt
theo kiểu biệt thự có đất, có đèn nước, có nhà xe lại đường Testard bây giờ gọi
là đường Trần Quý Cáp, gần ngã tư đường Flandin bây giờ gọi là đường Bà Huyện
Thanh Quan.
Một buổi chiều vắng khách ông bà chủ tiệm Thái Hòa lên xe đi rước con rồi nhơn
dịp ấy về ghé xem cái nhà rao bán đó. Nhà tuy cũ song còn chắc, nếu sửa chút đỉnh
thì ở được. Đất thì rộng, trước có sân lớn, hai bên với phía sau có sẵn cây cao
che tàn mát mẻ. Chung quanh miếng đất lại có xây tường làm rào phân biệt, nên
cuộc ở có vẻ êm ấm, khỏi chung chạ với ai hết.
Xem rồi ông bà chủ với ba con đều ưng ý lắm. Nhưng ông chủ dục dặc, ông chê kiểu
nhà xưa mà định giá tới 150 ngàn thì mắc quá. Thiệt hồi đó mà bán giá như vậy
thì mắc. Bà chủ muốn quá, mà mấy con cũng đốc mua, bà nói được miếng đất lớn dầu
mắc chút đỉnh, sau còn có chỗ cất thêm hoặc muốn bán lại cũng không lỗ mà sợ.
Vì vợ con đều muốn mua, ông chủ phải chiều lòng. Ông tiếp xúc với người bán,
hai đàng thương thuyết hơn một tuần lễ. Chủ nhà dứt giá chót là 125 ngàn không
thể bớt được nữa.
Ông chủ tiệm Thái Hòa nghĩ giá đó thì vừa nên chịu mua. Hai đàng dắt nhau đến
phòng Chưởng khế, giao bằng khoán cậy lập giấy tờ mua bán. Ký tên xong rồi chủ
mua chồng đủ số bạc chủ bán dọn đồ đạc chở đi.
Ông chủ tiệm kêu thợ hồ mướn dậm sửa mấy chỗ hư và sơn phết trong ngoài cho sạch
sẽ. Ông cũng mướn vài công nhơn phát cỏ, xây bồn bông giữa sân, trồng thêm cây
trái theo mấy khoảng đất trống. Còn đồ đạc để dọn trong nhà mới thì ông biên
theo thước tấc, định kiểu vở cho thợ trong trại Thái Hòa đóng toàn đồ mới hết,
lại đóng bằng danh mộc, vì đồ cũ dùng thuở nay cây không tốt mà kiểu cũng lỗi
thời nên ông tính để luôn trong tiệm coi có ai muốn thì bán lại cho người ta
dùng. Nhà của chủ tiệm Thái Hòa thì phải dọn bàn giường ghế theo kiểu tối tân để
quảng cáo mà kiếm khách hàng thêm nữa. Ông cũng mướn thợ chạm khắc một tấm bảng
đồng để gắn trụ cửa rào, đề chữ "Biệt thự Thái Hòa" cho người quen dễ
kiếm nhà.
Từ đó mỗi buổi sớm mơi xe đưa ba trẻ đi học thì bà chủ đi theo. Bà ghé nhà mới
trước đặng thăm chừng công cuộc sửa nhà và dọn vườn. Xe đưa trẻ em vô trường rồi
trở lại, có bữa bà về liền, có bữa bà chờ sắp nhỏ học mãn giờ rồi bà rước luôn
về. Buổi chiều thường ít khách, ông để bà thế coi tiệm cho ông đi. Vợ chồng
thay phiên với nhau ân cần coi cho người ta dọn dẹp sửa soạn gần một tháng mọi
việc mới xong xuôi hết, bàn đóng cũng đủ rồi.
Bà mướn thêm một chị bếp nữa đặng chị nấu ăn cho nhà ngoài Sài Gòn, để cô Thành
quét dọn trong nhà và săn sóc 3 đứa nhỏ. Còn ông đã có cậy một ông giáo viên
hưu trí tên Hiệp, góa vợ, con đã có gia thất hết, phụ giúp công việc trong tiệm
cho ông. Ông giáo coi biên chép sổ sách. Lúc nào chủ tiệm vắng mặt thì ông thay
thế bán đồ và thâu tiền. Đêm nào ông chủ có về Sài Gòn thì ông giáo coi tiệm.
Ông giáo lớn tuổi, giúp việc mấy tháng nay, ông bà chủ tiệm thấy người ôn hòa,
chín chắn, kỹ lưỡng, đàng hoàng đáng tín nhiệm, nên không nghi ngại chi hết
cũng như tín nhiệm ông thợ Hai ở dưới trại cây.
Vợ chồng ông chủ tiệm lại lăng ông Thượng vái lại xin xăm đặng yêu cầu Ông chỉ
ngày lành tháng tốt mà dọn về nhà mới. Xâm cho biết ngày hạp rồi ông bà mới đặt
quay một con heo cho ông cúng đất đai. Cúng xong rồi chở heo quay bánh hỏi đem
về tiệm đãi hết thầy thợ ăn nhậu một bữa.
Ông dạy chở bàn ghế tủ giường đem hết ra, ông đứng sắp đặt chỉ chỗ cho người ta
để. Bà với cô Thành thì tom góp áo quần mùng mền cùng đồ lặt vặt cần dùng hàng
ngày mà chở đi, bà không quên cái rương của cô Lý hồi trước, bà chở riêng một
xe với bà cùng tiền bạc và đồ nữ trang. Chị bếp mới thì chở dĩa chén chảo soong
một mớ ra đó rồi coi thiếu thứ gì sẽ mua thêm, vì phải để lại trong tiệm đủ đồ
cho chị bếp cũ nấu nướng cho ông chủ, ông giáo cùng mấy người gia dịch ăn, có lẽ
chúa nhựt bà chủ với mấy cô cậu vô chơi rồi ở ăn cơm nữa.
Bữa đầu vợ chồng chủ tiệm Thái Hòa phải ở ăn cơm rồi tối phải ngủ nhà mới với
ba con; vợ chồng con cái đều vui mừng phỉ chí. Nhưng bữa sau ông chủ dậy sớm,
ông biểu sốp phơ đưa ông vô tiệm rồi trở về sẽ đưa mấy em đi học.
Bà chủ kêu chị bếp đưa tiền cho chị đi chợ rồi bà thay đồ đợi xe đưa mấy em đi
học rồi trở về bà mới lên xe vô tiệm nữa, dặn cô Thành ở nhà coi nhà. Chừng gần
tan học bà rủ ông về ăn cơm. Ông nói để ông ở trong tiệm ăn cơm với ông giáo và
ông thợ Hai cho vui. Ông biểu bà lo nuôi ba con ăn học, để ông lo cuộc công nghệ.
Từ đó về sau bà về thăm tiệm thường, còn ông thì năm ba bữa ông mới ra thăm vợ
con một lần, mà có ra thường ra ban đêm ở nói chuyện chơi, chừng ngủ thì ông về
ngủ chớ không bỏ tiệm. Cứ mỗi buổi chiều chúa nhựt ông mới về đặng chở vợ con
đi chơi, rồi ở ăn cơm và ngủ ngoài Sài Gòn mà thôi.
Mấy cô cậu hiểu ý cha như vậy thì sớm mơi chúa nhựt nào cũng vô tiệm thăm cha rồi
rước cha về nhà đặng ăn cơm cho vui.
Một bữa đương ngồi ăn cơm với vợ con ông chủ khen cái nhà lầu của ai ở một bên
đây đẹp và lớn quá, lại cất trên một miếng đất rộng bằng hai đất bên nầy. Ông hỏi
biết nhà của ai hay không?
Bà chủ nói: "Ở mấy tuần nay em ra vô thì thấy cửa ngõ bên đó đóng hoài.
Không thấy chủ nhà đi đâu, mà cũng không thấy khách nào tới. Em không hiểu nhà
của ai mà ngày đêm im lìm. Ban ngày mở cửa ban đêm đốt đèn mà không thấy dạng
ai hết".
Cậu Tòng nói: "Có một anh lớn tuổi hơn con, học một trường với con, song học
trên con tới 3 lớp. Ảnh mặc áo có gắn một một miếng nỉ đen trên ngực, chắc ảnh
có tang chế. Ảnh đi học ảnh cỡi chiếc xe máy. Có bữa con thấy ảnh ở trong nhà
đó mở cửa ra đi học. Vì học khác lớp con không quen nên không biết ảnh tên
gì".
Cô Thành đứng coi ăn, cô tiếp nói: "Bên nhà lầu đó có bồi có bếp đủ hết. Bồi
bếp cũng hay mở cửa rào đi chợ hoặc đi mua đồ. Em thấy trong ga ra có để một
chiếc xe hơi nhưng hổm nay em chưa thấy xe đi đâu. Mới vài bữa trước đây mấy cô
đi học, bà đi vô tiệm, em ở nhà ra ngoài cửa đứng chơi. Tình cờ bên nhà lầu đó
có một chị đàn bà chắc là chị bếp nấu ăn, hoặc ở dọn phòng - chỉ mở cửa ngõ đi
ra. Chừng đi ngang qua cửa nhà của mình chỉ đứng lại mà hỏi ai mua nhà dọn về
đây. Em nói ông bà chủ tiệm Thái Hòa trong Bà Chiểu. Rồi em cũng hỏi lại cho biết
coi nhà lầu đó là nhà của ai. Chỉ nói nhà của quan lớn hồi trước mà không nói
tên. Chỉ nói quan lớn mất gần một năm rồi, bây giờ bà lớn ở với cậu con trai
còn đi học. Chỉ nói có mấy lời rồi chỉ đi. Em không hiểu ông lớn bà lớn nào đó.
Mà thiệt hồi sớm mơi nầy tình cờ em thấy trên lầu có một bà bận áo đen đứng dựa
cửa sổ mà ngó xuống vườn. Chắc bà lớn đó. Để thủng thẳng có dịp em sẽ hỏi coi
bà lớn nào đó".
Bà chủ nói: "Ừ, nếu có gặp chị đó nữa thì hỏi thử coi. Hỏi cho biết đặng
tôi qua thăm mà làm quen. Ở khít một bên nhau mà không quen coi cũng kỳ lại
mình là nhà công thương phải rộng giao thiệp đặng kiếm mối hàng".
Ông chủ nói: "Phải gặp người ta ở ngoài đường hay là chỗ nào đó em làm
quen trước rồi sẽ qua thăm sau, chớ chưa biết mặt, chưa biết tên mà em đến thăm
ngang, ví như người ta không chịu tiếp, thì hổ thẹn cho em quá, thăm như vậy
sao được. Em phải dè dặt. Mấy bà lớn không phải dễ đâu".
Bà chủ nói: "Vậy chớ sao. Em dọ coi nếu người vui vẻ tử tế, ưa tiếp khách,
thì em mới thăm, còn nếu người kiêu hãnh thì em tới làm chi, họ giàu sang mặc họ".
III. TRƯỚC LẠ SAU QUEN
Còn có một tuần nữa thì tới ngày thi trung học đệ nhứt cấp. Học
sinh nam nữ ở trường nào cũng ráng sức học ôn cho nhuần đặng tranh đua giựt giải
với chúng bạn.
Chương trình giáo huấn bày mở mấy hội từng cấp từng bực như vậy nghĩ không phải
là việc vô ích. Phải thi đặng gạn bỏ bớt mấy trò biếng nhác mượn chước đi học đặng
phá tiền của cha mẹ. Mà nhứt là phải thi đặng thúc dục thiếu niên nam nữ ráng sức
chuyên cần và khi thi đậu rồi thì đắc chí hân hoan, lên cấp trên tiếp tục mà học
tiếp.
Cô Đào học giỏi hơn hết trong lớp. Trót một năm nay thầy thi mỗi môn học trong
lớp duy có toán thì cô đứng hạng nhì mà thôi, chớ còn mấy môn khác thì cô giựt
giải nhứt hết thảy.
Cô Lý vì tánh chậm chạp nên cô học thua cô Đào. Tuy vậy mà cô giỏi toán hơn và
trong lớp cô cũng đứng hạng ba hạng tư, chớ không phải dở tệ. Mấy cô giáo sư
trong trường ai cũng kể chắc kỳ thi nầy hai chị em Đào với Lý đậu dễ như chơi.
Mặc dầu sức học không thua ai, mấy tuần nay Đào với Lý đêm nào cũng thức học đến
11 hoặc 12 giờ rồi tới 5 giờ khuya kêu nhau thức dậy học nữa. Hai cô mắc học
nên không vô tiệm. Mà chúa nhựt cũng ở nhà học với nhau chớ không chịu đi chơi.
Vợ chồng Thái với Hòa thấy con lo lắng quá hai ông bà cũng không yên lòng. Ông
có về thăm thì ông chơi một lát rồi ông đi, sợ ở lâu làm rộn con mất giờ học
không được. Còn bà lãnh phần chăm nom dưỡng nuôi dạy dỗ con, nhứt là bà nhớ cái
nhiệm vụ người ta ký thác, người ta yêu cầu nuôi Lý, phải thương yêu dạy dỗ đặng
ngày sau lớn khôn Lý khỏi bần hàn vất vả, bởi vậy bà càng lo nhiều hơn ông nữa.
Mà lo làm sao cho được. Bà cũng như ông, bà biết chữ Việt, đọc được, viết được
vậy thôi, chớ có học gì đâu mà giúp cho hai con. Bà bối rối không biết làm sao:
bà sợ con thi rớt quá, nên bà cùng thế phải chạy vô lăng Ông Thượng trong bà
Chiểu khấn vái cầu xin ông giúp hai trẻ thi cho đậu, bà sẽ cúng heo quay mà trả
lễ.
Còn có hai bữa nữa thì tới thi, lúc mẹ với ba con ngồi ăn cơm tối, cậu Tòng nói
với mẹ: "Con quen với anh ở nhà lầu một bên đây rồi má à. Ảnh tên Khánh. Kỳ
thi trung học đệ nhứt cấp nầy ảnh cũng thi như chị Hai chị Ba".
Bà Hòa cười và hỏi Tòng:
- Con làm sao quen được?
- Buổi chiều nay đến giờ chơi con đương đứng chơi trước lớp của con. Anh đó đi
ngang qua với 2 người bạn cũng lớn như ảnh. Ảnh thấy con ảnh đứng lại hỏi con
phải ba má mua cái nhà ở đường Testard dựa bên nhà ảnh, rồi dọn về ở mấy tháng
nay đó hay không. Con nói phải. Ảnh nói ảnh thấy con mỗi bữa đi học với hai chị
đi chung xe hơi với hai cô gái, phải hai cô đó là chị của con hay không. Con
nói phải. Ảnh nói hai chị con học trường nào. Con nói học trường nữ trung học. Ảnh
hỏi kỳ thi đệ nhứt cấp nầy hai chị con có dự thi hay không. Con nói kỳ thi nầy.
Anh nói nếu vậy thì thi chung với ảnh. Tại vậy nên con mới biết ảnh thi kỳ nầy.
Cô Đào nghe nói người đó sẽ thi chung với cô thì cô lo nên cô hỏi:
- Anh đó học giỏi hay không em?
- Ảnh học trên lớp ba, em biết đâu được.
- Anh đó bao lớn?
- Tuổi cỡ hai chị vậy.
- Ảnh có xưng tên ảnh với em hay sao mà em biết ảnh tên Khánh.
- Không. Ảnh cứ đứng nói chuyện với em. Hai bạn ảnh kêu tên ảnh mà rủ đi qua
phía bên kia chơi nên em mới biết tên Khánh. Mà ảnh có hỏi em tên gì, hỏi luôn
tên hai chị nữa.
- Em có nói hay không?
- Có chớ. Mình có tội gì mà sợ nên giấu tên, Ảnh cũng hỏi ba má làm việc gì ở
đâu. Em nói có tiệm bán bàn ghế hiệu Thái Hòa ở dựa đường cầu Bông vô Bà Chiểu.
Ảnh nói chúa nhựt ảnh hay đi chơi vòng Bà Chiểu, Phú Nhuận, Tân Định ảnh có ngó
thấy tiệm của mình. Ảnh lại nói thi rồi kế bãi trường. Nếu ảnh thi đậu rồi ảnh
khỏe trí ảnh sẽ rủ em đi chơi với ảnh. Nhà ảnh có xe hơi. Nhưng má ảnh có tang
nên không đi chơi, còn ảnh đi học ảnh đi xe gắn máy cho gọn, bởi vậy không có
mướn sốp phơ. Hễ thi đậu rồi ảnh sẽ xin má ảnh mướn sốp phơ cho ảnh đi chơi.
Nói chuyện tới đó thì mãn giờ chơi nên phải rã ra sắp hàng vô lớp học lại.
Bà Hòa hỏi Tòng:
- Cậu Khánh đó nói chuyện với con bộ cậu vui vẻ không con?
- Thưa vui. Ảnh học trên con mà coi bộ ảnh không làm phách với con như một hai
anh khác.
- Con còn nhỏ mà họ làm phách nỗi gì.
- Ý, má đừng nói. Đi học có một hai anh lớn thấy mình nhỏ họ ăn hiếp thất kinh.
- Biết mấy đứa như vậy đừng thèm lại gần nó.
- Con chơi với mấy bạn trong lớp con. Mà bạn nào hiền lành tử tế con mới chơi.
Con tránh hết mấy bạn hỗn hoặc liến xáo.
Đào với Lý ăn cơm rồi rút vô phòng riêng mà học, để mẹ nói chuyện với Tòng. Mà
Tòng ra vô chơi với mẹ chút đỉnh rồi cũng mắc đi làm bài, bỏ mẹ nằm một mình
trên di-van mà tưởng nhớ việc hai đứa con gái sắp đi thi, lại thi chung với học
sinh nhiều trường, nhứt là học sinh trai nhiều quá, không biết con mình là gái
chúng nó có theo kịp người ta hay không.
Chiều chúa nhựt ông chủ tiệm về ăn cơm với vợ con, có ý xem coi Đào với Lý có sắp
đặt sẵn sàng, đặng sáng thứ hai đi thi hay không. Ông thấy hai con đều bình tỉnh
vui vẻ như thường, bộ hăng hái trông thi phứt cho rồi, không sợ chi hết thì ông
vững bụng.
Nghe Đào với Lý nói từ sớm mơi tới giờ cứ chơi cho khỏe trí, không cần học nữa,
ăn cơm rồi ông mới biểu sốp phơ đem xe ra đặng ông với vợ con ông đi chơi một
vòng cho mát, rồi về ngủ sớm cho hai trẻ khỏe khoắn, sáng mai vào trường thi
trí bình tĩnh làm bài cho trúng và cho hay.
Ban đầu ông dạy chạy qua Khánh Hội xuống cầu Tân Thuận, vòng theo Lăng Tô trở về
cột cờ Thủ Ngữ, rồi do mé sông mà vô vườn thú băng qua cầu Thị Nghè. Ông dạy chạy
chậm chậm đặng hứng gió. Chừng xe tới cái chòi của vợ chồng ông ở hẩm hút ngày
trước thì ông xúc động nên một tay vỗ vai bà và một tay chỉ cho bà thấy. Bà gặc
đầu và cười. Chừng tới ngã ba quẹo ra Bà Chiểu, ông cũng chỉ chỗ ông gặp cái
rương chớ không nói một tiếng. Nhưng bà hiểu nên bà cũng cười. Trên xe có một
mình Tòng vô sự nên hay nói chuyện, chớ Đào với Lý bị bận trí về việc thi cử, bởi
vậy hai nàng ừ hữ với em vậy thôi.
Chừng xe ra tới Bà Chiểu, ông bà chủ biểu chạy lại tiệm rồi ngừng cho ông xuống.
Ông dặn bà sáng mai biểu Tòng kêu xe kéo mà đi học, để xe hơi cho Đào với Lý đi
thi. Ông lại dặn anh sốp phơ chiều rước Đào với Lý về nhà rồi thì đem xe vô rước
ông ra ăn cơm tối đặng ông hỏi thăm coi hai trẻ làm bài như thế nào. Ông dặn dò
đủ hết, ông chúc cho Đào với Lý gặp may mắn luôn luôn rồi biểu thôi về nghỉ sớm
đặng sáng dậy cho khỏe mà đi thi.
Trí cứ lo việc hai con thi, đêm đó bà chủ thao thức hoài ngủ không thẳng giấc.
Mới bốn giờ rưởi mà bà đã thức dậy. Muốn để êm cho con ngủ, bà mở cửa nhẹ nhẹ
xuống kêu chị bếp với cô Thành. Bà đưa tiền cho chị bếp và dặn chị chừng 5 giờ
đi xe kéo xuống chợ Bến Thành mua bánh mì thịt về dọn cho trẻ ăn lót lòng sớm.
Bà biểu cô Thành chừng mua đồ ăn về thì cô nấu nước sôi cho sẵn đặng làm cà phê
sữa cho trẻ uống.
Đồng hồ gõ 5 giờ, Lý nghe nên cô lắc kêu chị dậy sửa soạn cho sẵn đặng đi tới
trường thi sớm cho khỏi lụp chụp.
Hai cô dậy rửa mặt bới đầu, bà chủ vô phòng biểu mở tủ lấy quần áo mới may đó bận
đi thi coi mới được. Cô Đào cười lớn mà nói: "Đi thi bận đồ tốt chưng diện
làm chi má. Rủi có rớt họ cười chết. Để hai con bận áo thường mà sạch sẽ cũng
như đi học vậy thôi". Cô Lý cũng đồng ý với chị, rồi hai chị em soạn hai
quần hàng trắng với hai cái áo tím than đã có bận đi học nhiều lần rồi. Bà chủ
nói cô Đào nước da không được trắng, bận áo tím coi tối hù. Đào nói đi thi lo
làm bài cho trúng, chớ lo chi gương mặt tối hay sáng. Tuy nói vậy, song hai cô
đổi mà mặc áo hàng đen cho ra dáng nhu mì khỏi sợ ai khen chê gì hết. Hai cô
đeo đồng hồ tay với bông tai xoàn nhỏ cũng như đi học mấy năm nay đó, chớ không
đeo nữ trang nào nữa.
Bà chủ nghe chị bếp đi chợ về, bà qua phòng bên kia kêu Tòng thức dậy đặng ăn
lót lòng với hai chị rồi bà cũng sửa soạn thay đồ đặng đưa hai con đi.
Trời vừa mới sáng, Đào với Lý sửa soạn xong rồi mới cầm viết với giấy trắng và
giấy chặm đi ra. Bà chủ đứng nhắm nhía hai con. Tuy Đào nước da không được trắng
nhưng tươi cười hãnh hãnh, còn Lý nước da trắng trẻo lại yểu điệu, hai trẻ
không giống nhau, song mặc y phục như nhau có lẽ người ta biết là chị em; lại mỗi
trẻ có một vẻ đẹp riêng nên người ta khó đoán ai hơn ai kém đựơc.
Bà kêu sốp phơ biểu sửa soạn xe cho sẵn, phát tiền chợ cho chị bếp, đưa tiền
cho Tòng bỏ túi đặng lát nữa kêu xe mà đi học rồi bà ngồi lại ăn uống với hai
con.
Vì đúng 7 giờ rưỡi thì bắt đầu thi, nên quá 6 giờ rưỡi Đào với Lý thôi thúc mẹ
đi trước cho khỏi trễ. Cậu Tòng với cô Thành đưa ra xe vui vẻ chúc Đào với Lý
làm bài trúng rồi xe rút chạy.
Đến trước trường thi thì thấy cử tử 1 nam nữ đã tề tựu được vài trăm
rồi, đương lóng nhóng chờ giờ mở cửa mà vô. Bà chủ với hai cô xuống xe, Đào với
Lý thấy có mấy bạn gái học một lớp đã tới nên lại chào mừng và nói chuyện.
Cử tử tiếp tục tới hoài càng phút càng thêm đông.
Đúng 7 giờ người ta mở cửa cho cử tử vô sân. Đào với Lý dặn anh sốp phơ trước
11 giờ thì đem xe hơi lại chực rước; hai cô khuyên mẹ về nghỉ rồi theo chúng bạn
mà vô trường.
Bà chủ thấy có hơn mười người đưa con đi thi, họ còn đứng lóng nhóng ngoài đường.
Bà không chịu về liền, đứng chong mắt ngó chừng vô sân mà kiếm hai đứa con
mình. Đến gần 7 giờ rưỡi cử tử vô phòng thi, ngoài sân trống trơn bà mới chịu
lên xe. Nhưng bà nghĩ về nhà nằm một mình buồn lo khó chịu, bà mới biểu sốp phơ
đi luôn vô tiệm đặng có nhiều người nói chuyện cho khuây lảng.
Gần 10 giờ rưỡi, bà chủ sửa soạn đi rước con. Ông chủ đã dặn xe chiều sẽ vô rước
ông nhưng thấy trưa rồi nên hết khách, lại cũng muốn biết gấp coi thi bữa đầu
hai con làm bài khá hay không, bởi vậy ông dặn ông Giáo coi tiệm và đừng chờ
ông về ăn cơm, rồi ông lên xe đi với vợ.
Xe đậu trước trường thi, chờ đến 11 giờ rưởi cử tử mới ra. Vợ chồng ông chủ xuống
xe rước con, thấy hai trẻ ra cửa mà mặt mày hớn hở tươi cười thì có ý mừng. Chừng
nghe hai con đều nói làm bài luận pháp văn được lắm, thì hai ông bà vui vẻ hối
con lên xe về nghỉ cho khỏe đặng buổi chiều mà thi nữa.
Bữa cơm trưa vui vẻ vô cùng. Đào với Lý bớt lo, nên nói chuyện om sòm, Lý thường
dè dặt lắm, mà bữa nay cô cũng hay nói như Đào. Tòng lại chen vô mà hỏi thăm
cách thi và bài thi làm cho trong nhà có vẻ náo nhiệt. Cha mẹ ngồi nghe mấy con
nói tía lia với nhau thì đắc ý nên chúm chím cười hoài.
Ăn cơm rồi ông chủ nói để cho con nghỉ, ông biểu sốp phơ đưa giùm ông về Bà Chiểu
rồi chiều sẽ trở vô rước ông nữa.
Buổi chiều bà chủ cũng đưa Đào với Lý xuống trường thi, nhưng trong bụng bớt lo
nên con vô sân rồi trở về nhà nằm nghỉ đợi gần 5 giờ bà mới đi rước. Chừng hai
con ra cửa nghe hai con khoe làm bài được hết, bà thêm mừng nên biểu sốp phơ đi
luôn vô tiệm cho ông hay. Ông vui mừng theo xe về nhà ăn cơm, chơi với vợ con rồi
đêm đó ở ngủ tới sáng mới vô tiệm.
Mấy bữa sau bà chủ cũng ân cần đưa rước hai con luôn luôn. Thi đến trưa thứ tư
mới xong hết các bài viết. Bây giờ ban Giám khảo lo chấm bài thi. Ai cũng nói
chiều thứ 5 chấm bài xong rồi mới biết ai đậu ai rớt.
Đào với Lý làm bài được hết, chắc ý không thể rớt được nên lo đọc bài vở cũ lại
chuẩn bị cho nhuần đặng thi hạch miệng. Ông chủ muốn để cho con yên ổn mà học,
nên ông không về nữa.
Đào với Lý cứ ở trong phòng khép cửa mà học, tuy làm bài được hết song hai cô
nóng nảy, muốn biết mau coi đậu rớt thể nào. Chiều thứ 5, mới 3 giờ, mà hai cô
thay đồ tính xuống trường thi coi đã dán bảng xướng danh hay chưa. Có mấy chục
cử tử cũng đi thăm chừng như vậy, nhưng không thấy bảng lại nghe ban Giám khảo
còn đương sửa bài, ai nấy đều thất vọng trở về hết.
Gần 6 giờ Đào với Lý đi nữa. Chuyến nầy Tòng với bà chủ đi theo. Nhưng cũng
chưa thấy gì hết.
Ông chủ cũng không yên lòng nên tối bữa đó ông kêu xe kéo về nhà hỏi thăm. Nghe
nói chưa xướng danh, ông ở chơi một lát rồi ông trở vô tiệm.
Sáng thứ 6, bà chủ đi với hai con nữa. Tới trường thấy cử tử lao nhao rất đông.
Mấy mẹ con xuống xe mà coi. Chị em bạn của Đào và Lý lại mà nói mới có một ông
Giám khảo ra cửa cho hay lối 8 giờ sẽ có dán giấy biên tên mấy trò đậu bài viết,
rồi bắt đầu kêu vô hạch miệng liền.
Đào với Lý cười, trong thâm tâm thì chắc đậu, muốn hạch miệng phứt cho rồi,
nhưng ngoài miệng lại nói với chị em: "Dán giấy riết đặng coi như không có
tên thì đi chơi. Để lâu mình ngóng trông hoài mệt trí quá".
Hổm nay bà chủ nghe hai con nói làm bài được nhưng bà không hiểu được thế nào,
làm được mà hay và trúng hay không. Bây giờ gần dán tên, mà con lại nói xuôi xị,
làm cho bà hồi hộp lo ngại.
Cách chẳng bao lâu có hai người tay cầm một xấp giấy ở trong đi ra cửa trường.
Mấy cậu cử tử trai la lớn: "Dán giấy! Dán tên đậu bài viết" rồi kéo
nhau đi lại cửa chực mà xem. Mấy cô gái cũng lại, nhưng đứng vòng ngoài không
muốn chen lộn với bạn trai.
Người ta mới dán một tờ đầu. Một cậu trai đứng trước đọc lớn tiếng, đọc từng
tên họ cho các cô cậu đứng sau xa nghe.
Đào và Lý đứng với mẹ một khúm gần chỗ xe đậu song nghe rõ. Người ta đọc được
to ba tên tới tên Lê Thị Lý. Đào day qua lại nói với mẹ: "Chị Lý đậu!".
Bà chủ mừng, cười và bước tới vịn vai Lý. Nghe đọc hai tên nữa rồi tới tên Lê
Thị Đào. Lý mừng liền nói:" Chị Đào cũng đậu vậy. Hai chị em mình đậu hết.
Khỏe rồi. Đợi họ kêu mình vô hạch miệng luôn sớm mơi nầy cho xong đặng chiều
mình nghỉ".
Người ta dán luôn ba tờ giấy một dọc. Cậu trai cứ đứng đọc tiếp. Cậu đọc hết tờ
đầu rồi, hoặc cậu mệt, hoặc có tên họ cậu rồi, cậu hết muốn đọc nữa nên cậu mượn
cậu khác đứng một bên đó đọc thế, cậu thối lui ra sau.
Có một ông ra la lớn: "Trò nào có tên trong ba tờ giấy đó thì vô liền đặng
hạch miệng. Mấy ông giám khảo ngồi chờ ở trỏng. Vô mau đừng để mất thì giờ. Nhiều
cô cậu rùn rùn vô cửa. Chỗ dán giấy bây giờ thưa thớt còn mươi người đứng dòm.
Đào với Lý bước lại xem thiệt có tên họ đủ hai chị em, mới khuyên mẹ về để hai
chị em vô thi tới 11 giờ sẽ cho xe lại chờ rước.
Bà chủ mừng quá nghĩ đứng đây hoài vô ích nên lên xe biểu chạy vô tiệm cho ông
hay hai con đã đậu bài viết rồi bây giờ còn hạch miệng.
Ông giáo hay tin thì ông nói hai cô chắc nắm bằng trung học đệ nhứt cấp trong
tay rồi, bởi vì đậu bài viết rồi qua hạch miệng ít rớt trong một trăm trò rớt hạch
miệng chừng năm ba trò.
Ông chủ nghe ông giáo nói thì ông hết lo, bởi vậy gần 11 giờ bà chủ đi rước hai
con ông không đi theo; ông chỉ dặn chiều cho xe vô rước ông về nhà ăn cơm.
Bà chủ đậu xe trước cửa trường chờ gần 12 giờ Đào với Lý mới ra. Hai chị em đều
hớn hở cho mẹ hay đã thi các môn đủ hết rồi và môn nào cũng trả lời được chớ
không có bí. Vậy chắc đậu rồi, nhưng số cử tử đông quá nên không biết chiều thứ
bảy thì đủ hết hay chưa sợ phải chờ đến thứ hai mới dán tên đậu hoàn toàn được.
Mấy mẹ con lên xe mà về. Xe vừa quanh vô sân thì cậu Tòng ở trong nhà chạy ra mừng
hỏi: "Chị hai chị ba đậu bài viết hết sung sướng quá! Em mừng cho hai chị.
Giỏi dữ a!".
Cô Đào tánh may mắn lại vui vẻ nên vừa mở cửa xe bước ra vừa hỏi lại em:
- Sao em biết hai chị đậu bài viết?
- Anh Khánh nói.
- Anh Khánh nào?
- Anh Khánh ở một bên đây. Hồi nãy em về tới cửa gặp ảnh dưới trường thi về, ảnh
nói ảnh đi coi bảng dán ngoài cửa có tên họ ảnh rồi. Nhưng người ta giành vô hạch
miệng đông quá nên ảnh về, để 2 giờ rồi ảnh sẽ trở xuống thi hạch miệng, không
gấp gì. Ảnh lại nói ảnh có thấy tên hai chị đậu nữa.
- Thì phải đậu chớ sao rớt được. Hai chị cũng vô hạch miệng đủ các môn xong rồi
hết, nói cho em biết. Em ghê chưa?
- Ghê... Giỏi thiệt.
Bà chủ nói: "Con biết khen giỏi thì con phải ráng học như hai chị con vậy
nghe hôn".
Tòng vừa nắm tay hai chị vô nhà vừa nói: "Chừng con lớn bằng hai chị, con
còn học giỏi hơn nữa".
Cô Lý cười và nói: "Em đừng có nói như vậy. Làm cho được rồi sẽ nói chớ
nói rồi làm không được, hai chị cười biết hôn? Phải dè dặt phải cẩn thận tốt
hơn nói hoác xước".
Tòng cười.
Cô Thành đã dọn cơm sẵn mà chờ từ hồi 12 giờ trưa. Mấy mẹ con về trễ đói bụng
nên bà chủ biểu ba con ráp vô ăn rồi sẽ thay đồ, ăn kẻo đồ nguội hết.
Đào với Lý thi xong hết, lại chắc đậu hết, nên trong mình nhẹ nhàng, theo chọc
em Tòng chơi cho vui, ba chị em nói chuyện không dứt.
Bà chủ ngồi ăn cơm nghe ba con nói chuyện bà đắc ý hết sức. Bà nói: "Hai
con đi thi, hôm trước má lo quá, má có vô Lăng má vái Ông, vậy má phải đặt quay
một con heo đem vô lăng cúng trả lễ cho rồi".
Cô Lý nói: "Khoan đã má! Đợi người ta dán giấy cho hai con biết chánh thức
đậu luôn về hạch miệng nữa rồi sẽ cúng không muộn gì. Có trễ lắm thì thứ hai sẽ
xướng danh. Vậy đễ tuần tới rồi sẽ hay".
Cô Đào cũng tiếp nói với cô Lý mà xin để thi xong hết, biết chắc kết quả đàng
hoàng rồi sẽ cúng đặng ăn uống chung vui với nhau một bữa.
Buổi chiều đó Đào với Lý không cần xuống trường thi nên để xe
đưa Tòng đi học. Gần 4 giờ hai cô rủ mẹ thay đồ đặng đi rước em rồi đi luôn vô
Bà Chiểu cho cha hay. Chừng rước Tòng lên xe rồi, Tòng lại biểu anh sốp phơ đi
vòng xuống trường thi thăm chừng coi họ thi gần rồi hay chưa rồi sẽ đi Bà Chiểu.
Xe xuống tới vừa gần ngừng thì thấy có một cô ở trong đi ra, mặt buồn hiu. Cô
nói cô còn một môn nữa, nhưng cô mới bị ông Giám khảo hỏi sử địa ổng gắt quá
nên cô buồn cô về để sáng mai sẽ thi tiếp. Hỏi trưa mai xong hết hay chưa thì
cô nói còn đông quá sợ chiều mai cũng chưa rồi.
Bà chủ biểu sốp phơ chạy vô Bà Chiểu. Đào với Lý thuật việc hạch miệng cho cha
nghe, tỏ ý tin chắc đậu rồi ông biểu mẹ con về ăn cơm, ông khỏi về thất công.
Bữa sau thứ 7, hai cô đợi gần 11 giờ mới lên xe xuống trường thi thấy cử tử còn
lóng ngóng đông quá đứng chờ hạch miệng, hai cô biết chưa rồi nên đi vô trường
Trương Vĩnh Ký rước em. Chiều gần 5 giờ đi rước em trước rồi trở ra trường thi
cũng thấy còn cả chục cử tử chưa vô hạch miệng được. Ngoài cửa cũng có mấy chục
người chờ dán bố cáo kết quả cuộc thi mà xem, có một thầy làm việc giấy trong
trường ra về.
Thầy thấy cử tử với người thân quyến đứng chòm nhom ngoài cửa, thầy hiểu người
ta chờ coi tên mấy người đậu, thầy mới nói: "Bà con với mấy em về nghỉ, chờ
làm chi thất công, bài viết chấm chưa rồi, mà hạch miệng lại còn cả chục trò nữa.
Nếu bữa nay ban Giám khảo ráng làm việc tới 7, 8 giờ cho hết thì cũng còn cộng
điểm coi trò nào đúng số mà đậu. Bởi vậy thế nào trưa thứ hai mới dán tên được.
Đào với Lý thất vọng bèn đi Bà Chiểu rước cha về chơi, không thèm kể đến cuộc
thi cử nữa, chừng nào rồi cũng được, phận mình đã xong, không cần phải lo.
Qua sáng thứ hai bà chủ muốn yên lòng nên nhắc hai con đi thăm chừng coi người
ta đã xướng danh hay chưa. Hai cô đã chán, nên dụ dự nói buổi chiều sẽ đi, để
xe cho Tòng đi học. Đến 11 giờ xe đi rước Tòng. Bà chủ biểu Đào với Lý thay đồ
đặng đi xuống trường thi luôn thể. Hai cô cũng dụ dự chưa chịu đi. Bà phải bận
áo và biểu xe đi rước Tòng về rồi bà đi với Tòng.
Hai cô sợ mẹ giận nên phải sửa soạn. Chừng xe trở về hai cô ra đi với mẹ. Tòng
cũng nóng nghe kết quả cuộc thi nên cậu đi theo.
Té ra xuống tới cửa trường thi thì hay người ta đã dán tên hồi 9 giờ rưỡi. Cử tử
xem rồi kẻ vui người buồn đã tản đi về gần hết, chỉ còn mười mấy trò còn đứng
trước mấy tờ giấy mà dòm. Tòng lật đật mở cửa xe đi riết vô đó mà xem. Bà chủ với
Đào, Lý cũng đi theo sau liền.
Một cậu trai đương đứng coi, cậu day lại ngó thấy Tòng đi vô thì cậu kêu mà
nói: "Em Tòng, qua đậu rồi. Hai chị em cũng đậu nữa".
Bà chủ với hai cô nghe báo tin như vậy thì mừng khấp khởi nên bươn bả đi riết
vô, chắc cậu trai đó là Khánh nên quen với Tòng. Thiệt quả Khánh đương kéo Tòng
vô đứng trước tờ giấy thứ nhứt và đưa tray chỉ mà nói: "Lê Thị Lý đây, còn
Lê Thị Đào đây. Qua đứng bên tờ thứ nhì. Đây, Võ Văn Khánh đây".
Tòng thấy rõ ràng, cậu mừng quá, day lại kiếm mẹ với hai chị. Té ra ba người đều
đứng sau lưng, đương ngó mấy chỗ Khánh chỉ. Tòng bèn kéo Khánh day lại mà giới
thiệu anh bạn của mình cho mẹ với hai chị biết.
Khánh cúi đầu chào bà chủ và hai cô. Hai cô cũng lễ phép đáp lễ, còn bà chủ cười
mà nói:
- Cậu ở khít một bên, hổm nay nghe Tòng nói cậu cũng học một trường với nó nên
nó quen, mà tôi chưa có dịp gặp cậu. May tình cờ gặp cậu đây, hay cậu cũng đậu
cũng như hai đứa nhỏ của tôi. Vậy tôi cũng mừng cho cậu. Ở xóm mình kỳ thi nầy
có tới 3 người đậu, thiệt cũng đáng mừng. Ở gần gũi nhau, hễ biết nhau thì cũng
như bà con. Tòng có nói ở trong trường cậu thấy nó nhỏ cậu thương nó như em út.
Cậu có buồn thì qua nhà chơi với Tòng, xem nó như em đừng ngại chi hết.
- Cháu cám ơn bác. Ở trong trường cháu thấy em Tòng nhỏ mà dễ thương nên giờ
chơi cháu hay nói chuyện với em, quen nhau là tại vậy. Nhưng lúc sau nầy mắc lo
học đặng thi nên cháu không dám đi chơi. Cháu có nói với em Tòng nếu kỳ thi nầy
cháu thi đậu thì chừng bãi trường cháu sẽ rủ em đi chơi với cháu.
- Ừ, ở gần anh em chơi với nhau cho vui. Trưa rồi thôi cậu về ăn cơm và cho ở
nhà hay đặng mừng cho cậu, sẵn có xe đây, cậu lên xe cho mau.
- Cám ơn bác. Cháu có xe máy.
Khánh liền cúi đầu từ giã bà chủ với hai cô, nắm tay Tòng mà cười rồi đi lại
chiếc xe gắn máy dựng ở vách tường, bà chủ theo ba con lên xe hơi mà còn day lại
ngó Khánh mà nói thêm: "Khánh đằm thắm và dễ thương, hèn chi Tòng ưa cũng
phải", bà biểu sốp phơ chạy luôn vô chợ Bà Chiểu báo tin cho ông hay rồi
trở về ăn cơm. Ông chủ với ông giáo ăn cơm vừa rồi, nghe Đào với Lý đậu chắc chắn
thì mừng cho hai cô.
Bà chủ để cho con vui với cha chúng nó một chút rồi bà nói đã quá 12 giờ rồi
nên thúc con về ăn cơm kẻo đói bụng.
Xe về tới nhà bà chủ kêu cô Thành mà cho hay Đào với Lý đã thi đậu có đăng tên
trên bảng rõ ràng rồi. Cô Thành với chị bếp lên mừng hai cô rồi lo dọn cơm.
Trong lúc ngồi ăn bà nói chiều nay bà đi đặt quay heo đặng sáng mốt cúng. Ông
cho rồi, không nên để trễ. Bà lại nhắc đến cậu Khánh, bà khen cậu ôn hòa chỉnh
tề, bà nói Tòng làm quen với người như vậy là tốt lắm, đi học có anh có em chẳng
sợ ai ăn hiếp.
Cô Đào nói: "Trường con tới lớp ba là cùng chưa có lớp trên nữa. Vậy chừng
khai trường tới đây mấy chị em con thi đậu trung học đệ nhứt cấp đều phải qua
trường Trương Vĩnh Ký học lớp nhì chung với học sinh trai, chắc hai con sẽ học
chung với anh Khánh".
Bà chủ nói: "Vậy thì càng hay. Con gái đi học chung với con trai; có anh
trai bảo bọc, người ta mới kiêng nể". Tòng hỏi: "Má định mốt má cúng
Ông rồi về mà làm tiệc ăn mừng hai chị con thi đậu phải không?"
Bà chủ cười mà nói:
- Sớm mơi mắc 2 cúng, rồi má đem lại tiệm chặt lấy một đùi sau với một
miếng thịt đem về đãi mấy con chớ sao. Má cũng mời ba con về ăn chơi với mình
cho vui, để ông Giáo ở trong ổng đãi mấy anh thợ.
- Ăn trưa con muốn mời anh Khánh qua ăn với con. Được hay không má?
- Được lắm chớ. Sợ cậu mới quen, chưa qua nhà mình lần nào, cậu ái ngại nên cậu
không chịu qua.
- Để con mời.
- Ừ, con có muốn mời thì mời thử coi.
Bữa thứ ba, học sinh các trường có dự thi bằng trung học đệ nhứt cấp, dầu trai
dầu gái dầu đậu dầu rớt đều phải đi học lại cho tới ngày bãi trường, chớ không
phải thi đậu rồi thì được phép ở nhà luôn.
Trưa cậu Tòng đi học về cậu nói với mẹ rằng cậu có gặp Khánh đi học lại, cậu mời
Khánh bữa sau sang nhà ăn cơm chơi với cậu. Khánh dụ dự, cậu nài nỉ quá nên
Khánh hứa về xin phép với mẹ rồi tối sẽ trả lời.
Chiều Tòng về nói Khánh đã xin phép mẹ được rồi và hứa trưa bữa sau đi học về rửa
mặt rồi qua ăm cơm với mình. Vì còn sớm, chưa ăn cơm, Tòng ra cửa đứng chơi,
Tòng thấy Khánh cưỡi xe gắn máy về. Vừa tới cửa ngõ Khánh ngừng và ngoắc Tòng,
Tòng men men đi lại. Khánh rủ Tòng vô nhà chơi, kêu anh lái xe lấy nước cam nước
đá đãi Tòng. Anh em nói chuyện cho đến tối đốt đèn Tòng mới về ăn cơm. Hai chị
hỏi Tòng nãy giờ đi đâu. Tòng nói anh Khánh mời qua nhà uống nước cam với ảnh.
Bà chủ hỏi có thấy má của Khánh hay không. Tòng nói bà ở đâu trong phòng hay
trên lầu nên không thấy.
Sáng bữa sau bà chủ dậy sớm sai chị bếp đi chợ mua rau, bánh hỏi, bánh mì cho
nhiều. Bà lại dặn chị mua thịt, cá, gà về nấu ít món thêm đặng đãi khách, ăn
bánh hỏi thịt quay rồi ăn cơm với cà ri và đồ mặn.
Chừng xe đưa ba con đi học trở về, bà biểu chị bếp chia bánh hỏi với rau ra làm
hai, bà đem một phần ra xe mà đi xuống chợ mua trái cây, mua bông huệ, mua
nhang đèn và mua hai hộp bánh tây rồi lại chợ cũ chở con heo đã đặt cho tiệm
quay đem vô Lăng mà cúng trả lễ cho Ông 3 . Cúng rồi bà trở ra tiệm
kêu chị bếp biểu ra phụ với anh sốp phơ bưng hết đồ vô, bà biểu chị chặt con
heo để cho bà đem về một cái đùi sau với một khổ 4 thịt cho ngon đặng
đãi sắp nhỏ. Bà soạn đem về một hộp bánh tây với một mớ trái cây.
Còn bao nhiêu bà giao cho chị bếp cất rồi đúng bữa cơm trưa dọn mà đãi thợ và
người trong tiệm ăn uống mừng cho hai em mới thi đậu.
Bà chủ mời ông về nhà ăn cơm với sắp nhỏ cho vui. Bà cũng mời luôn ông giáo nữa.
Ông giáo nói ông đi nữa thì không có ai coi tiệm. Ông khuyên ông chủ về ăn chơi
với mấy đứa cháu một bữa, để ông ở lại coi tiệm, thay mặt mà đãi thợ cho.
Hai ông bà mới bưng thịt với bánh trái ra xe rồi từ giã ông giáo mà đi. Về tới
nhà mới 10 giờ.
Bà chủ tiệm biểu cô Thành giao thịt cho chị bếp, đi mua nước cam đá cho sẵn rồi
sẽ đặt lên bàn. Bà lấy dĩa sắp bánh trái để tráng miệng. Bà thấy ông ra vô vui
vẻ bà nói cho ông hay Tòng quen với con trai của bà ở nhà lầu một bên đây. Cậu
đó tên Khánh học một trường với Tòng, học lớp trên, nên kỳ thi nầy đậu cũng như
Đào với Lý. Cậu có rủ Tòng qua nhà chơi, rồi Tòng có mời cậu bữa nay qua ăn cơm
với nó.
Ông nói ở gần lại học chung một trường, làm quen đặng đi học có bạn thì tốt, chớ
có sao mà sợ. Bà nói hôm qua đi coi đăng tên, Tòng gặp cậu Khánh, Tòng có trình
diện cậu cho bà với hai chị biết. Bà coi Khánh lễ phép dễ thương. Mà Đào với Lý
lại có nói chừng khai trường hai đứa phải qua trường Trương Vĩnh Ký mà học tiếp,
chắc sẽ học chung lớp với Khánh. Ông nói nếu vậy thì cả ba đứa con mình học
chung một trường, đưa rước tiện hơn.
Qua 10 giờ rưỡi bà nhắc sốp phơ đi rước ba đứa nhỏ. Vợ chồng bà mới ngồi tại
phòng tiếp khách bàn luận việc nhà với nhau mà chờ con.
Ông nói với bà:
- Hôm nọ má nó với sắp nhỏ đưa tôi về Bà Chiểu mà đi ngã Thị Nghè, lúc đi ngang
qua chỗ mình ở hồi trước tôi cảm hết sức. Rồi tới khúc quẹo tôi nhớ việc tôi được
cái rương tôi chở về nhà, tôi ngó con Lý thì tôi tức cười quá. Thiệt năm đó tôi
đi bán chiếc xe máy lấy tiền cho má nó uống thuốc, không ai thèm mua hết, tôi
đi về dọc đường mà rầu rĩ như người sống mà không có hồn. Tôi tưởng vợ chồng
mình đã cùn mạng rồi, má nó không tiền uống thuốc tự nhiên phải chết, con Đào
không có sữa bú cũng phải chết nữa. Vợ con chết hết, tôi còn sống làm chi. May
tình cờ gặp cái rương tôi chở về nên ngày nay vợ chồng mình mới được như vậy.
Không nên nói cho con Lý biết, nhưng thiệt nó là vị cứu tinh của mình.
- Hồi đó anh tính đem lại giao cho bót. Em cản để mà nuôi, coi phải hay không?
Nếu để cho anh đem ra bót, tự nhiên người ta giao cho nhà mồ côi, thì ngày nay
nó đâu được ăn học có bằng cấp, mà chắc vợ chồng mình cũng không khá được.
- Khá mới khỉ! Giao con Lý thì phải giao số tiền. Nếu mình chận số tiền bạc té
ra mình ăn cướp tiền bạc của con nít mới đẻ hay sao. Thà đói thì nằm co mà chịu
chết, chớ qua đâu nỡ làm thói gian như vậy được. Mà không có tiền thì má nó làm
sao mà mạnh mà nuôi con Đào, còn tôi đâu có vốn mà buôn bán rồi lập nghiệp như
vậy.
- Người giao nó với tiền bạc cho mình, người ta cậy mình thương yêu nó, hoạn dưỡng
nó dạy dỗ nó cũng như con ruột mình. Anh sợ em làm không kham. Em hứa em làm được.
Anh coi có phải em làm xong hết hay không?
- Xong chớ sao không xong. Thương Lý nên mới ra trước Tòa nhận nó là con mình
sanh. Nuôi nó cho ăn cho mặc giống như Đào. Dạy nó và cho nó học thi đậu bằng cấp
rõ ràng. Ba điều người ta ký thác mình đã làm vuông tròn hết cả ba. Vậy thì
thôi, chớ biết làm sao nữa. Đồ của con Lý hồi nhỏ má nó giữ còn đủ hết hay
không?
- Còn đủ hết. Nhưng em giữ để làm vật kỷ niệm mà chơi vậy thôi, chớ ai nhìn nó
làm con chắc em không cho đâu. Nó là con của mình có án Tòa chứng khai sanh hẳn
hòi, họ kêu nài gì được.
- Tôi có mong cho ai nhìn nó làm chi, ba đứa con thuở nay chúng nó cũng trìu mến
nhau nữa. Rứt bớt một đứa chắc hai đứa kia buồn, mà vợ chồng mình cũng không
vui gì. Tôi muốn giữ kỹ vật đó là vì tôi nghĩ bức thơ của cô nào viết mà gởi
con đó tôi tội nghiệp cho thân phận của cô, bị việc nhà ép buộc sao đó nên cô
phải chịu đau khổ cắt ruột gan mà bỏ.
Hai ông bà nói chuyện tới đó thì xe đi rước ba con về đương quanh vô sân. Vợ chồng
phải dứt chuyện, bước ra cửa đứng mừng con, ngó từng đứa ôm sách xuống xe, đứa
nào cũng hớn hở vui cười, thấy trước mắt có con gái có con trai đủ hết mà đứa
nào cũng thảo thuận ham học để lập thân, rồi nhớ sau lưng vợ chồng đã gây dựng
được một sự nghiệp dầu không rực rỡ vinh quang hơn ai song cũng đủ cung cấp cho
đời sống của ba con ấm no sung sướng.
Ba trẻ vô cũng mừng cha mẹ rồi cất sách rửa mặt nói nói cười cười gây trong nhà
một bầu không khí tưng bừng vui vẻ.
Vì nghe có Khánh qua ăn cơm, Đào với Lý rửa mặt nhưng không thay đồ, bận luôn y
phục đi học đó ra phụ với cô Thành mà đặt bàn, chỉ sắp đồ ăn nào để chỗ nào cho
mỗi người đều gắp được. hai cô tính một bên cha ngồi trên, Khánh ngồi giữa, và
Tòng ngồi chót. Còn bên nầy thì mẹ ngồi trên. Lý ngồi giữa, và Đào ngồi chót.
Nãy giờ Tòng cứ ra cửa ngó chừng Khánh, trông Khánh qua đặng ra tiếp mà dắt vô
nhà cho khỏi bợ ngợ. Cách chẳng bao lâu, Tòng thấy Khánh vô cửa ngõ thì vội vã
bước ra sân mà rước bạn. Ông chủ bà chủ ngồi trong phòng khách ngó ra, thấy hai
trẻ thủng thẳng đi vô, Khánh mặc một đồ tây bằng bố xám chớ không phải đồ mắc
tiền, song may khéo, ủi sát, cổ thắt rê gát đen, tại nút áo trên có gắn một miếng
nỉ tang, chưn mang giày đen, đầu chải nhuốt, vóc cao lớn, bộ chẩm hẩm.
Tòng mới nói cho Khánh hay có cha về ăn cơm, nên bước vô thấy ông bà chủ ngồi tại
phòng khách thì Khánh liền chấp tay cúi đầu chào ông bà, gọi bằng bác, rồi chào
luôn Đào với Lý đương đứng gần bàn ăn ở phía trong, sắc mặt cậu tự nhiên như
người quen biết đã lâu rồi, không sụt sè nhút nhát chút nào hết.
Ông chủ ngồi ghế ca-na-pê 5 phía trong với bà, ông vui vẻ nói:
"Tòng nói cậu cũng thi đậu kỳ nầy. Vậy vợ chồng tôi cũng mừng cho cậu. Anh
em ở khít một bên nhau, lại học chung nhau một trường, qua lại chơi với nhau
cho vui. Mời cậu ngồi, ngồi cái ghế gần tôi đây, đừng ái ngại chi hết. Ban đầu
lạ sau sẽ quen, ở một xóm cũng như bà con một nhà, có chi đâu mà ái ngại".
Khánh nói: "Cháu đáng con cháu. Cháu xin hai bác xem cháu cũng như em
Tòng, đừng kêu bằng cậu".
Ông chủ gặc đầu cười và nói: "Được vậy thì càng tốt".
Bà chủ tiếp nói: "Vậy thì cháu ngồi. Tòng đem nước cam cho anh giải khát rồi
ăn cơm con".
Khánh ngồi, Tòng lấy ra 1 cái ly có nước đá. Đào với Lý cầm hai ve nước cam mà
khui rồi Đào rót vào hai ly của cha mẹ Lý rót cho Khánh với Tòng.
Bà chủ mời Khánh uống rồi hỏi:
- Cháu để tang cho ai vậy?
- Thưa, cháu để tang cho ba cháu mới mất hơn một năm nay.
- Cháu được mấy anh em?
- Thưa thuở nay má cháu sanh có mình cháu, bởi vậy cháu không có anh chị em nào
hết.
- Bác về ở đây mấy tháng nay, bác không thấy bà thân cháu ra vô. Bác muốn qua
thăm đặng làm quen tới lui nói chuyện chơi cho vui, ngặt chưa thấy mặt nên bác
ái ngại không dám qua.
- Thưa, má cháu có bịnh đau tim lại hay chóng mặt. Hễ thấy xe chạy rần rộ, hoặc
người đi đông đảo, thì má cháu chóng mặt và mệt muốn xỉu. Bởi vậy từ khi cháu
năm sáu tuổi cho tới bây giờ má cháu lục đục ở trong nhà, không dám ra khỏi cửa.
- Bịnh như vậy Đốc Tơ trị không được hay sao?
- Má cháu nói hồi mới phát bịnh má cháu có đi Đốc Tơ tiêm thuốc cả năm, mà bịnh
trơ trơ không giảm chút nào hết, má cháu phiền nên không thèm tiêm thuốc Tây
hay uống thuốc nam nữa, cứ ở nhà lo bồi bổ sức khỏe vậy thôi.
- Bà năm nay được bao nhiêu tuổi vậy cháu?
- Thưa, mới bốn mươi tuổi
- Còn trẻ quá há!
Nghe đồng hồ gõ 12 giờ, bà chủ đứng dậy ngó bàn ăn thấy đồ ăn đã dọn xong rồi,
bà mời ông chủ với cậu Khánh đi ăn cơm, vừa ăn vừa nói chuyyện cũng được.
Cô Đào đứng mời cha ngồi trên và mời cậu Khánh ngồi kế bên rồi biểu Tòng ngồi
tiếp theo nữa, cô nói ngồi như vậy nói chuyện cho dễ. Còn bên kia bà chủ tự
nhiên bà ngồi đối diện với ông, rồi hai chị em mới ngồi theo thứ tự đã tính trước,
thành ra Lý ngồi đối diện với Khánh.
Khánh mới làm quen với chủ nhà lại ngồi ăn cơm trước mặt hai cô gái đẹp, đồng
chạng với cậu mà cũng mới thi đậu như cậu nhưng cậu bình tĩnh như thường. Tòng
nói chuyện với cậu thì cậu vui vẻ mà nói lại. Cô Đào hay nói, cô hỏi thăm cách
học trong trường Trương Vĩnh Ký, hỏi kỷ luật của nhà trường, hỏi mấy ông thầy
khó hay dễ.
Cậu Khánh nghiêm chỉnh, hỏi đâu thì cậu đáp đó, cậu cứ ngó ngay mà đáp không bợ
ngợ, không sụt sè, lời nhã nhặn, bộ tự nhiên, chẳng khác nào cậu nói chuyện với
bạn trai vậy. Mà Đào cũng như Lý thấy cử chỉ của Khánh đàng hoàng thì hai cô
không ái ngại chi hết. Nghĩ trong vài tháng nữa đây mình sẽ qua học chung với cậu
nên muốn nói chuyện mà làm quen trước đặng chừng qua trường mới, có người cũ
dìu dắt trong buổi đầu, bởi vậy hai cô cứ hỏi thăm, kêu Khánh bằng anh, nhứt là
cô Đào nói nhiều hơn hết, lại theo nài ép Khánh ăn cho no, đổi mấy dĩa đồ ăn mà
để gần cho Khánh dễ gắp.
Khánh nói chuyện cũng gọi Đào với Lý bằng chị hết, làm cho ông bà chủ thấy rõ Khánh
thật tình, không có ý xằng xịu với con mình, như nhiều cậu trai khác, hễ gặp
gái thì kiếm thế gieo tình hoặc chọc ghẹo. Hai ông bà vui lòng lắm, nhứt là bà
chủ khen Tòng biết chọn người đúng đắng mà kết bạn, bà cũng mừng rồi đây Đào với
Lý qua học chung với nam sinh, hai nàng sẽ có người đáng tin cậy chăm nom dìu dắt.
Ăn cơm rồi cậu Khánh xin phép về liền đặng xem bài vở lại mà đi học buổi chiều.
Lúc từ giã bà chủ dặn Khánh có rảnh thì qua chơi với Tòng đừng ái ngại chi hết.
Chừng Khánh về rồi thì ông bà chủ khen Khánh là con nhà giàu mà không phách lối
không vúc vắc, ăn nói lễ phép dễ thương cử chỉ đàng hoàng vui vẻ. Hai ông bà
khuyên Tòng phải bắc chước Khánh mà tập tánh nết như vậy, chừng lớn mới được
người ta khen ngợi kính phục.
Sáng chúa nhựt bà chủ biểu Tòng bận đồ đặng đi vô tiệm chơi. Tòng xin lỗi với mẹ
và nói: "Hôm qua anh Khánh rủ con sáng nay lối 8 giờ qua nhà ảnh chơi đặng
ảnh đưa sách của ảnh cho con xem. Con đã có hứa lỡ với ảnh rồi. Vậy xin má đi với
hai chị, để con ở nhà con qua chơi với anh Khánh. Ảnh có qua nhà mình mà ăn cơm
rồi. Nếu con không qua nhà ảnh té ra con khinh rẻ ảnh".
Bà chủ nói đã có hứa thì ở nhà đặng qua chơi với Khánh rồi bà lên xe đi Bà Chiểu
với Lý và Đào.
Đến 11 giờ ba mẹ con về, mà Tòng cũng chưa về. Bà chủ kêu hỏi cô Thành Tòng đi
hồi nào, Thành nói bà chủ đi một chút thì Tòng đi. Bà không yên lòng, không hiểu
con đi đâu xa hay không, chớ ở nhà chơi thứ gì mà lâu dữ vậy.
Cách một lát Tòng lơn tơn về. Cô Đào đứng ngoài cửa mà nói: "Mới quen với
người ta thì thăm chơi một chút rồi về, ở chà lết làm chi từ sớm mơi tới giờ.
Má về má không thấy em, nãy giờ má không yên, má trông quá".
Tòng cười ngỏn ngỏen đi vô thấy mẹ ngồi thì nói: "Má trông con hả má? Anh
Khánh cứ cầm con ở lại chơi hoài, không muốn cho con về; ảnh nói chúa nhựt thì
nghỉ, gấp về học hay sao mà đòi về. Ảnh dọn bánh đủ thứ mà đãi con, ba-tê,
săng-úych, bánh ngọt, nước cam, xá xị, ảnh ép con ăn uống với ảnh muốn nứt bụng.
Ăn uống no rồi ảnh mở tủ cho con xem sách của ảnh học. Chị Hai, chị Ba, trời ôi!
Anh Khánh có mua sách đủ thứ, sách tốt lắm! Anh nói hồi trước ba ảnh mua bên
Tây để dành cho ảnh học, thấy sách ham quá! Má nầy, ảnh biểu con ráng học cho
giỏi chừng con lên lớp trên con có cần dùng sách gì thì ảnh cho mượn mà học. Hễ
một lát thì ảnh ép ăn một miếng bánh, ăn chêm thêm hoài, nên bây gờ con còn no
cành, chắc lát nữa ăn cơm không nổi... Ừ, chị Hai, anh Khánh có dắt em xuống ga
ra 6 coi xe của ảnh nữa. Trời ơi! Xe tốt mà lớn hơn xe mình. Ảnh nói
có ghế xếp nên đi bảy tám người không chật. Từ khi ba ảnh mất rồi thì xe không
đi đâu hết. Má ảnh biết cầm tay lái nhưng có bịnh nên không đi, bởi vậy xe nằm
ga ra hoài, Mỗi bữa anh bồi chùi lau. Mỗi tuần má ảnh chỉ cho anh bồi vô dầu vô
mỡ rồi má ảnh mở cho máy chạy một lát đặng máy nóng vậy thôi. Ảnh tính bãi trường
thì ảnh xin má ảnh mướn một anh sốp phơ đặng đem xe đi rà máy lại cho đàng
hoàng rồi ảnh chở em đi chơi với ảnh".
Bà chủ hỏi: "Con có thấy má của cậu Khánh hay không?".
Tòng nói:
- Thưa thấy. Con qua ngồi nói chuyện với anh Khánh một chút rồi bà ra. Bà mới
kêu anh bồi biểu bưng bánh ra cho anh Khánh ăn với con đó.
- Bà oai lắm phải hôn con?
- Oai là sao?
- Oai là nghiêm trang làm bộ cho người ta phải sợ, phải kính phục, bởi vậy người
trong nhà mới gọi là "bà lớn".
- Thưa, không có đâu. Mặt bà không được vui. Bà nói chuyện chẩm rãi lắm. Song
tiếng bà nói ngọt sớt. Bà lại đẹp người lắm má à.
- Đẹp là sao?
- Con có biết sao đâu mà nói. Con thấy bà ngộ lắm vậy.
- Bà già rụng răng hay chưa?
- Ý. Già ở đâu! Còn trẻ lắm mà, Bộ bà như chị ba con vậy song bà lớn tuổi hơn.
- Bà có nói chuyện với con hay không?
- Thưa có. Bà nói nhiều. Bà hỏi ba má, bà hỏi hai chị con. Chắc anh Khánh có
nói với bà nên bà biết ba má có trại đóng bàn ghế mà bán trong Bà Chiểu. Ba mua
nhà đây là mua cho má với ba đứa con đi học cho gần. Bà có ý muốn qua thăm má
mà làm quen, đặng ở gần tới lui nói chuyện với nhau cho vui. Ngặt bà không được
khỏe, bà chưa kịp qua thì con lại mời anh Khánh ăn cơm. Anh Khánh về nói ba má
hiền lành tử tế, còn hai chị con vui vẻ lại học giỏi. Bà nghe như vậy bà có ý mừng,
được nhà tử tế ở một bên. Bà cứ căn dặn con hễ có rảnh thì qua bển chơi với anh
Khánh đừng ái ngại chi hết. Bà lại nói để lúc nào bà khỏe bà sẽ qua nhà mình mà
thăm đặng cho biết má với hai chị con.
- Bà nói điệu đó thì cũng dễ chịu, chớ không phải người ỷ giàu sang mà kiêu
hãnh.
- Thưa không có đâu. Bà tử tế, bà thương con lắm má à.
Khánh với Tòng đã tạo ra sẵn một đầu cầu rồi, hai bà mẹ bà
nào cũng có ý muốn thăm nhau, thế thì hai gia đình liên lạc nhau chẳng có chi
khó nữa.
Qua tuần sau, đến chiều thứ sáu, Tòng đi học về với hai chị, mới bước vô nhà
Tòng thấy mẹ, Tòng liền nói Khánh có cho hay một chút nữa Khánh sẽ qua nhà
chơi.
Bà chủ hay như vậy bà dặn cô Thành chậm chậm chờ tối rồi sẽ dọn cơm, Đào với Lý
mở tủ coi có nước cam hay không để lát nữa đãi khách.
Chẳng bao lâu thiệt quả Khánh qua. Cậu vẫn còn mặc áo sơ mi với quần ống dài là
đồ bận đi học. Tòng ra tiếp Khách mời vào phòng khách. Bà chủ với hai cô chào,
bà mời Khánh ngồi cái ghế đầu ngoài, còn bà ngồi cái ghế phía bên kia mà đầu
trong. Tòng ngồi một bên khách, đối diện với mẹ.
Đào với Lý bưng ra hai ly nước đá, Lý để trước mặt Khánh với Tòng, chờ Đào mở
nút ve mà rót nước cam rồi hai cô ngồi cái ghế ca-na-pê ngang phía trong, quen
với Khánh rồi nên không cần trốn tránh.
Bà chủ mời Khánh giải khát với Tòng, rồi theo phép xã giao bà hỏi thăm sức khỏe
của bà lớn bên nhà.
Khánh mới nói: "Thưa bác, má cháu yếu trái tim rồi hay mệt, hay chóng mặt,
nên không dám đi đâu, chớ không có bịnh chi lắm. Hổm nay má cháu muốn qua bên nầy
thăm chơi cho biết bác với hai chị. Má cháu dợm hoài mà không dám đi. Má cháu
biểu cháu qua xin lỗi với bác và luôn dịp chuyển lời của má cháu mời bác với
hai chị và em Tòng bữa chúa nhựt tới đây qua nhà chơi rồi ở ăn cơm trưa với
cháu. Vì phận góa bụa trong nhà không có đàn ông, nên má cháu không dám mời bác
trai, sợ không có người hầu chuyện. Má cháu dặn mời chừng chín mười giờ qua đặng
có thì giờ nói chuyện lâu lâu chơi. Cháu xin bác với hai chị vui lòng mà nhậm lời
qua chơi cho má cháu một chút kẻo bấy lâu nay có bịnh, đi đâu không được, bộ má
cháu buồn quá".
Bà chủ muốn nhậm lời qua ăn cơm đặng làm quen với bà lớn đó. Nhưng bà không biết
đi như vậy có thất thể diện hay không. Bà muốn bàn việc nầy với ông rồi bữa sau
sẽ trả lời. Bà đương dụ dự tìm cách mà đình đãi, thì cô Đào quen cách tọc mạch
và mau mắn, cô biết nhà lầu của Khánh, biết bà lớn là mẹ của Khánh và nhứt là
muốn xem tủ sách của Khánh coi thể nào mà hổm nay Tòng trầm trồ hoài, bởi vậy
không đợi mẹ trả lời chấp thuận lời mời, cô vụt nói với Khánh: „Hổm nay Tòng cứ
khen sách của anh tốt lại có đủ hết. Mấy em qua ăn cơm chơi, anh có thể cho em
xem tủ sách của anh hay không?".
Khánh nói: "Được, được. Tôi sẵn lòng. Hai chị muốn xem quyển nào thì lấy về
mà đọc, đọc hết rồi đổi lấy quyển khác. Má tôi nói hồi trước sách bán rẻ mà ba
tôi mua tới mấy ngàn đồng bạc, bởi vậy sách nhiều lắm".
Tòng cũng hăm hở nói hai chị qua đó thấy sách hai chị cũng phải mê, sách học sắp
riêng hai ngăn, còn sách cao kỳ riêng hai ngăn khác, học cho hết hai tủ sách đó
thông thái lắm. Bà chủ nghe nói như vậy cũng như chúng nó đã nhậm lời mời rồi
bà không thể đình đãi được, bởi vậy bà cậy Khánh về trao lời với bà lớn rằng mẹ
con bà cám ơn và hứa sớm mơi chúa nhựt sẽ qua đặng cho biết bà lớn.
Khánh mừng nên uống cạn ly nước cam rồi từ tạ mà về đặng cho mẹ hay.
Ăn cơm tối rồi bà chủ với mấy đứa con vô tiệm cho ông hay chuyện mời ăn cơm.
Ông chủ nói mình mời thì Khánh đã qua ăn cơm với mình trước rồi. Bây giờ mẹ con
Khánh mời ăn cơm để trả lễ. Vậy mấy mẹ con nên đi đặng quen với hàng xóm, có thất
thể diện chỗ nào đâu mà ngại.
Bà chủ yên lòng nên sáng chúa nhựt bà nói với mấy con rằng mình đến nhà giàu có
sang trọng mà ăn tiệc, lại mới đến lần đầu thì phải ăn mặc cho đàng hoàng. Đào
với Lý phải bận đồ mới và đeo nữ trang coi mới đựơc.
Đào với Lý là nữ học sinh chưa biết ham lòe loẹt mà cũng không chịu sửa dáng, bởi
vậy hai cô rửa mặt rửa tay sạch sẽ, tóc bới vén khéo vậy thôi, không dồi phấn
son. Quần áo mặc toàn đồ mới, quần sa-tanh trắng, áo hàng màu tím dợt, mang
săng-đanh trắng giống nhau, mà một tay đeo một cái đồng hồ một tay đeo một chiếc
vàng chạm cũng giống nhau nữa.
Bà chủ muốn cho người ta thấy rõ bà là một người mẹ chơn chất hiền lành, lo làm
ăn mà nuôi con mà thôi, nên bà mặc quần áo đen, đi giày nhung đen, một tay đeo
chiếc cẩm thạch, còn tai đeo bông xoàn hột trọng. Tòng bận đồ theo hạng học
sinh niên thiếu, quần vằn, áo cụt tay, giày da đen.
Vì người ta mời chín mười giờ, nên bà chủ chần chờ gần 10 giờ rồi mới biểu con
đi, mặc dầu Tòng cứ theo thúc hối từ hồi 9 giờ rưỡi.
Tòng qua lại đã quen rồi nên xăng xái đi trước, để cho mẹ với hai chị thủng thẳng
theo sau.
Vô tới sân bà chủ thấy mấy đám bông còi cọc xác xơ không ai tưới nước nhổ cỏ,
còn những cây xoài, mít, đu đủ, vú sữa, trồng dài theo tường rào, nhờ mùa mưa
nên nhánh lá sum xuê, nhưng không tay người săn sóc, nên nhánh giao bì bịt, gốc
thì cỏ mọc tràn lan, xem như vườn hoang u tệ.
Nhà lầu không lớn, nhưng cất kiểu thiệt đẹp, bữa nay các cửa mở hết nên thấy
trong nhà đồ đạc hực hỡ, liếc mắt qua biết là nhà giàu sang.
Ba mẹ con bà chủ vô gần tới thềm thì thấy cậu Khánh y phục đàng hoàng, mặc một
bộ đồ ga bạt đinh 7 trắng, mang giày đen, cậu đứng chực trên mà tiếp
chào khách, có Tòng đứng sau lưng. Cậu mời khách vào.
Bà chủ đi trước, Đào với Lý theo sau. Bà chủ vừa bước vô cửa thì một thiếu phụ
tướng mạo thanh tao, dung nhan kiều diễm, ở bên phía tay mặt đi lại chấp tay
cúi đầu và nói: "Tôi chào bà với hai cô ".
Ba mẹ con bà chủ chấp tay cúi đầu đáp lễ, nhưng không biết có phải bà lớn hay
không nên ngạc nhiên ngơ ngẩn.
Khánh xông tới giới thiệu: "Thưa bác, má cháu mừng bác đó". Cậu xây lại
nói với mẹ: "Thưa má bác đây là má của em Tòng. Còn hai chị đây, chị nầy
là chị Đào, chị nầy là chị Lý". Nói câu sau cậu vừa nói vừa đưa tay chỉ từng
cô.
Bà chủ nhà nghe con tiến dẫn rành như vậy thì bà lộ vẽ ngạc nhiên, bà nhìn hai
cô trân trân, rồi bà cũng đưa tay chỉ mà lặp lại: "Té ra cô nầy tên cô
Đào, còn cô nầy tên cô Lý". Bà nhìn cô Lý từ trên đầu xuống tới dưới chưn
rồi bà cười mà nói: "Thôi tôi mời bà với hai cô đi thẳng lại đây ngồi nói
chuyện chơi".
Bà chủ nhà đi trở lại phía tay mặt, là chỗ tiếp khách đàn bà, có lót một bộ ván
gõ hai tấm, bề dày trên 2 tấc tây, chung quanh thành đều cẩn ốc xa cừ, 4 chưn
tiện thiệt khéo. Trước bộ ván có để một cái ghế nghi đóng theo kiểu xưa, mà
cũng bằng gỗ cẩn ốc, lau chùi láng bóng, trên ghế có để ô ăn trầu bằng bạc, với
bộ đồ trà, bình chén đều là đồ xưa. Dựa vách tường, ngang cửa sổ, có đặt một
cái bàn với 4 cái ghế, mỗi bên hai cái, bàn ghế đóng cây cẩm lai kiểu vở xưa
cũng hay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét