Thứ Năm, 2 tháng 10, 2025

Hành trình chữ nghĩa tập 2 Sự thật không thể bị chôn vùi 2

Hành trình chữ nghĩa tập 2
Sự thật không thể bị chôn vùi 2

Chương 7
Nhà văn Nguyên Ngọc:
những suy nghĩ và hành động trong cao trào văn nghệ phản kháng
Nhật-Tiến
Nhà văn Nguyên Ngọc (tên thật là Nguyễn văn Báu), sinh năm 1932 tại Quảng Nam. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội năm 1950. Tốt nghiệp trường Lục quân Khu 5, tham gia chiến trường một thời gian rồi trở thành phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân, khu 5. Tác phẩm đầu tay “Đất nước đứng lên “ xuất bản năm 1956 viết về cuộc chiến đấu của một thanh niên thuộc bộ lạc Bahnar tên là Núp và dân làng Kông Hoa, được trao giải nhất về tiểu thuyết thuộc giải Văn Học 1954-1955 của Hội Văn Nghệ Việt Nam (miền Bắc). Sau đó in tiếp những tác phẩm như: Mạch Nước Ngầm, Rẻo Cao, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng. Năm 1962, là chủ tịch Chi Hội Văn Nghệ Giải Phóng miền Nam Trung Bộ và phụ trách tờ báo Văn Nghệ Quân Giải Phóng Khu 5, sáng tác với những bút hiệu khác như Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim.
Sau 1975, ông ra Hà nội, công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, rồi phụ trách Ban Thường Vụ Hội Nhà Văn V.N trong cương vị Bí thư Đảng Đoàn. Nhìn lại quá trình sáng tác của Nguyên Ngọc từ 1956 đến l975, Nguyễn văn Long trong Tự Điển Văn Học V.N. đã nêu nhận định:
“Sự quan tâm hàng đầu đến những vấn đề có ý nghĩa trọng đại lịch sử của dân tộc và cách mạng cùng với niềm say mê những tính cách anh hùng khiến cho tác phẩm của Nguyên Ngọc mang tính chất hùng tráng lại đậm nét trữ tình và chất lý tưởng.”
Sau năm 1975, trong sự tan rã của chế độ VNCH miền Nam, và trước những vấn đề nẩy sinh trong cuộc thống nhất đất nước do sự hòa nhập ồ ạt của dân chúng hai miền Nam Bắc sau hơn một phần tư thế kỷ cách biệt vì chia cắt, người cầm bút nói chung đã phải đối diện với những thực tế ngày càng gay gắt. Vấn đề khả năng quản lý và lãnh đạo của các cán bộ miền Bắc trong sinh hoạt xã hội miền Nam. Vấn đề cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản Tư doanh. Vấn đề tù nhân Cải tạo với sự dính líu liên hệ gia đình của nhân dân cả hai miền. Vấn đề thất bại thảm thương của chiến dịch vận động đi Kinh tế mới (lý thuyết thì rất hay ho nhưng thực tế là cả một sự đầy đọa quần chúng trong tinh thần vô trách nhiệm). Vấn đề thuyền nhân ồ ạt ra đi. Vấn đề hủ hóa của những con người đã từng đóng góp tích cực cho cách mạng. Và đời sống xã hội ngày càng đi xuống về cả mặt vật chất lần tinh thần. Đó là những lý do mà sau 1975, giới cầm bút đã không đưa ra được những tác phẩm có giá trị tiêu biểu, tương xứng với “thành quả vĩ đại” mà chế độ miền Bắc đã đạt được sau cuộc chiến thắng mùa xuân 1975.
Rõ ràng đã có một sự trăn trở trong tâm thức người cầm bút khi họ nhìn ra xã hội chung quanh, với đầy rẫy những gai nhọn của đời sống thực tế hằng ngày. Và đó hẳn cũng là lý do mà Đảng Đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam đã phải tổ chức hội nghị một số đảng viên trong Hội để bàn về “Sáng tác văn học” vào tháng 6-1979 để bước đầu trao đổi ý kiến trước khi đem ra thảo luận rộng rãi trước toàn thể hội viên.
Nhân danh Bí thư Đảng đoàn, nhà văn Nguyên Ngọc đã đọc một bản “Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội Nghị Đảng Viên bàn về sáng tác văn học”.
Nếu trước đây, lao mình vào cuộc chiến với “Sự quan tâm hàng đầu” những vấn đề “có ý nghĩa lịch sử dân tộc và cách mạng” và với niềm “say mê những tính cách anh hùng”, Nguyên Ngọc đã viết như một sự đóng góp hăng hái cho cuộc chiến đấu mà ông nghĩ là thần thánh, viết như một tuyên dương cho những cá nhân xả thân vì lý tưởng anh hùng cách mạng, thì nay trong bản Đề dẫn kể trên, nhà văn đã có dịp thẩm định lại quá trình sinh hoạt văn học của giới cầm bút với cái nhìn thâm trầm hơn, sâu xa hơn và thoát ly được cái tình cảm bồng bột, say mê vì lý tưởng hơn. Ông nhận định rằng:
“Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội ngũ lớn đó thì còn quá sơ lược, giản đơn. Mặt yêu nước nổi bật lên và đây là chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên nhưng mặt đấu tranh xã hội thì không rõ bằng. Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh nhưng còn tính sần sùi, phức tạp của đời sống thì yếu hơn. “
Tính sần sùi, phức tạp của đời sống ấy là gì, nếu không là tính cách trở lại với con người đích thực cùng với những nỗi khốn cùng mà con người phải chịu đựng trong chiến tranh.
Thân phận con người như thế, trong một thời gian dài bị khỏa lấp đi vì những nhu cầu của chiến tranh, nhưng khi hòa bình trở lại, nó đã trở thành mối day dứt của những người cầm bút có lương tri khi một mặt phải trực diện với những thân phận đó hiện diện đầy rẫy trong xã hội trước mắt, và một mặt khác viết lách vẫn phải nằm trong sự chi phối của tính Đảng, tính cách mạng, để chỉ có thể in ấn được những gì có tính cách “phải đạo”.
Đó là lý do mà Nguyên Ngọc đã phải nêu lên trong bản đề dẫn:
“Chính trong thời điểm này, các lực lượng văn học của ta trước nay đã hình thành được một thế bám sâu khá đẹp trên các địa bàn, ở các mũi nhọn của cuộc sống nay hầu hết đều bị bật ra khỏi các vị trí của mình. Mất liên hệ với đời sống chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng “, và rằng: “Phải chăng lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết văn cứ viết mà không thật tin ở chính điều mình viết ra. “Người là muối mà chính người lại không mặn thì biết lấy gì để muốí người. “ Văn học nói theo một cách nào đấy là lòng tin. Không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn. “ (Bản đề dẫn, tháng 6-1979)
Bước sang lãnh vực lý luận, phê bình văn học, một hình thức công an văn hóa nhằm ngăn chặn và triệt tiêu ảnh hưởng của những tác phẩm đi ra ngoài lề lối văn chương “phải đạo”, cũng trong bản đề dẫn nói trên, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định:
“Có lẽ điều đáng lo hơn cả trong tình hình công tác lý luận, phê bình văn học thô thiển kéo dài, là ở chỗ nó đã tạo nên có thể nói là những định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn học, xói mòn năng lực thẩm mỹ của người đọc, mặt khác thấm cả vào chính người cầm bút, xói mòn ý chí sáng tạo, dũng khí sáng tạo nghệ thuật và ý thức trách nhiệm xã hội đứng đắn của nhà văn, tạo nên sự cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ và ở chính họ. “
Trên cương vi một bí thư Đảng đoàn, và với sự mẫn cảm về tình trạng sinh hoạt văn học tồi tệ của một người cầm bút có lương tri, vào thời điểm đó (tháng 6-1979), Nguyên Ngọc tuy mong muốn đi tìm một lối thoát cho sự sáng tạo của người cầm bút, nhưng vì ông vẫn còn tin tưởng ở đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nên phương hướng giải quyết vấn đề của ông vẫn không ngoài sự trông cậy vào sự chỉ đạo của giai cấp lãnh đạo. Ông nhận định:
“Một nguyên nhân khác nữa đã hạn chế những thành tựu của văn học ta vừa qua là ở sự chỉ đạo cụ thể đốí với sáng tác. Nói chung vừa qua, trong chỉ đạo sáng tác chúng ta còn dừng lại ở chỉ đạo đề tài, chưa đi sâu vào chỉ đạo chủ đề hoặc có thì cũng còn khá chung chung. Chỉ đạo đề tài là rất quan trọng. Buông lỏng chỉ đạo đề tài sẽ để dẫn đến phủ nhận chức năng xã hội của văn học. Đánh đồng tất cả đề tài tức là phủ nhận sự cần thiết văn học phải luôn luôn hướng vào những mũi nhọn nhất của đời sống và như vậy cũng không thể nhận ra tính đúng đắn sâu sắc của những chủ đề lớn, những nội dung lớn của đời sống. Nhất là khi trong hiện thực diễn ra những biến động sâu, mạnh, phức tạp, thì việc chỉ đạo chủ đề càng có ý nghĩa quyết định “ (Đề dẫn, tháng 6,1979)
Đúng là lề lối suy nghĩ của Bí thư Đảng đoàn của một hội nhà văn trong sinh hoạt của một xã hội đã gần một phần tư thế kỷ luôn luôn chịu đựng sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền, phủ nhận khả năng suy nghĩ và cảm hứng tự do sáng tạo của người cầm bút.
Tuy nhiên ngần ấy năm trời trôi qua, từ 1979 đến 1987, hẳn thời gian đã đủ chín mùi để nhà văn Nguyên Ngọc ngày càng cảm thấy khả năng của giới lãnh đạo văn nghệ không phải là vô hạn, và nhất là sự rung cảm nghệ thuật của họ lại càng không phải là sự rung cảm nghệ thuật của người cầm bút chân chính.
Do đó, con người văn nghệ của Nguyên Ngọc hẳn đã đấu tranh kịch liệt với con người Bí Thư Đảng Đoàn, và kết quả là nhà văn Nguyên Ngọc đã nhẩy vô nhập cuộc với phong trào văn nghệ phản kháng tuy trễ tràng hơn một năm sau so với những báo khác, nhưng lại là sự đóng góp tích cực nhất, tiêu biểu nhất, dọn đường để cho nhiều nhà văn phản kháng có cơ hội đưa ra ánh sáng những tác phẩm của mình.
Nhận công tác Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Nhà Văn V.N. từ tháng 6, 1987, nhà văn Nguyên Ngọc phải lèo lái tờ báo ngay đúng thời điểm phong trào văn nghệ đổi mới đang lên cao với những đồng nghiệp nhập cuộc sớm sủa khác như tờ Tiền Phong, Lao Động, Phụ Nữ, Tuần Tin Tức ở miền Bắc, hay những tờ Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Sông Hương, Lang Bian,.., ở miền Nam. Tuy trễ hơn các đồng nghiệp khác hơn một năm sau, nhưng với sự lèo lái của người Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc, tờ Văn Nghệ đã mau chóng trở thành ngọn cờ đầu đăng tải những truyện ngắn, những bài ký có nội dung phản kháng sâu xa và mạnh mẽ, gây được sự hưởng ứng hết sức sâu rộng và có tiếng vang rộng rãi cả trong nước lẫn ngoài nước. Sau đây là phần nhận định của nhà văn Mai văn Tạo trong việc đánh giá sự đóng góp của tờ Văn Nghệ trong phong trào văn chương đổi mới:
“Tờ Văn Nghệ xông thẳng vào những vấn đề vô cùng bức xúc của con người và xã hội, phanh phui, phê phán và lên án những hành vi xấu xa tội lỗi xúc phạm đến đời sống và con người. Khoảng cách giữa đời sống và thơ văn trên trang báo dần dần thu ngắn lại. Những bất công xã hội, bọn cường hào mới, kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét của công ức hiếp nhân dân được nhìều ngòi bút có lòng còn dũng khí vạch mặt và tố giác gắt gao, nghiêm khắc. Cái đêm hôm ấy đêm gì, Vua lốp, Tiếng hú con tàu, Tướng về hưu, Công lý chẳng quên ai… tưởng chừng không bao giờ được ra mắt người đời, thì nhiều tháng qua đã phơi bầy trên những trang Văn Nghệ. Chưa bao giờ báo Văn Nghệ hội tụ được đông đảo người sáng tác trên khắp mọi miền đất nước như thời gian qua. Và chính vì thế, độc giả từ Bắc chí Nam đã đón nhận Văn Nghệ như người bạn trung thực, đồng cảm cảnh ngộ oan khuất của mình. Chưa bao giờ Văn nghệ được coi là tờ báo của mọi người như những tháng gần đây.
(Các nhà văn nói về vụ “báo Văn Nghệ” – Đất Việt, Canada, tháng 2-1989)
Tuy không đưa ra những tác phẩm trực tiếp đóng góp vào phong trào văn nghệ đổi mới, nhưng ở cương vị Tổng Biên tập của tờ Văn Nghệ, nhà văn Nguyên Ngọc quả đã có công rất lớn trong nhiệm vụ làm đòn bẩy cho những tác phẩm đổi mới có cơ hội bùng lên. Chính vì sự đóng góp lớn lao này mà Nguyên Ngọc bị cất chức một cách mờ ám vào ngày 2-12-1988. Phóng -viên của tờ Tuổi Trẻ ở Hà Nội ngày 4-12-88 đã có dịp gặp nhà văn và nêu câu hỏi:
– Lúc này anh đã thôi là Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ?
Trả lời:
– Chính tôi cũng không xác định được lúc này tôi là gì. Về công việc, tôi không còn là Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ nữa. Cách đây 40 giờ, trong buổi họp đột xuất của toà soạn báo Văn Nghệ do ban Thư Ký Hội Nhà Văn triệu tập, đồng chí Chính Hữu, Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam đã đọc quyết định cho tôi “thôi giữ chức” Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ để nhận công tác khác, và cho biết quyết định ấy có hiệu lực ngay sau khi đọc, tức là khoảng 18 giờ ngày thứ sáu 2 tháng 12-1988. Kể từ sáng hôm qua, mồng 3 tháng 12, đồng chí Hoàng Minh Châu, phó Tổng Biên Tập thứ nhất được chỉ định điều hành tờ báo. Nhưng cho tới lúc này, 40 giờ sau khi nghe đọc quyết định, tôi vẫn chưa có trong tay cái văn bản pháp lý mà tôi có trách nhiệm thi hành.
Có lẽ chẳng bao giờ Nguyên Ngọc có được cái văn bản pháp lý ấy. Bởi vì chiều 15 tháng 4 – 1989, trong dịp đến Huế hai ngày, nhà văn Nguyên Ngọc đã được Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên, ngoài sự tham dự của các hội viên còn có các cán bộ giảng dạy đại học, và sinh viên, các thầy cô giáo dạy văn và học sinh, các sĩ quan hưu trí của Câu lạc Bộ Phú Xuân, các phóng viên đài và báo tiếp đón trọng thể và nồng nhiệt. Trong cuộc gặp gỡ này, nhà văn Nguyên Ngọc đã thổ lộ:
– Tôi chấp hành quyết định của Ban Thư Ký để các anh ấy khỏi nghi tôi muốn bám lấy cái ghế này. Nhưng các anh ấy còn nợ tôi một cái quyết định hợp thức của Ban Tuyên Huấn Trung Ương và Bộ Thông Tin và lý do tại sao đình chỉ công tác Tổng Biên Tập của tôi. Từ đó đến nay, họ vẫn im lặng.
Cũng trong dịp này, nhân có người đề cập đến sự phân hoá trong toà soạn báo Văn Nghệ về thái độ và sự ra đi của nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyên Ngọc đã bùi ngùi kết luận:
– Đọc Pasternak tôi thấy bi kịch Zhivago vẫn là của một người đứng ngoài, đứng trên cả nước Nga mà đau. Còn bi kịch của tôi: một người trong cuộc, đảng viên, cầm súng, nhiệt thành xây dựng chủ nghĩa Xã Hội mấy mươi năm. Thế mà tại sao Tình yêu của chính mình lại bị giày đạp đến như vậy?
Câu hỏi tự đặt ra như vậy, có lẽ không phải vì chính Nguyên Ngọc không tìm thấy câu trả lời mà ông đã nêu ra như một sự thú nhận. Phải chăng người Đảng viên, người cầm súng, người nhiệt thành với chủ nghĩa xã hội mấy mươi năm, nay trước thực trạng bi thảm của quê hương, đất nước, bỗng vụt nhận ra rằng Đảng ấy, chủ nghĩa ấy, đã chẳng phải là những giải pháp lý tưởng đem lại cho con người nguồn hạnh phúc và đời sống ấm no đúng như sự mơ ước của nhiều người.
Nhìn ra được sự thực đó, sau bao nhiêu năm đóng góp với lòng nhiệt tình và đầy hào khí, quả là một bi kịch không chỉ của riêng nhà văn Nguyên Ngọc mà hẳn còn là của nhiều đảng viên và các tầng lớp cán bộ khác.
Phải chăng, chính điều này đã tạo nên một loại tâm thức mới trong hàng ngũ trí thức và văn nghệ sĩ ở quê nhà vốn đã quá chán chường, mệt mỏi với những sự giả trá, khuôn phép một chiều thường vẫn là cái khung ngục tù giam hãm tư tưởng tự do và cảm hứng sáng tạo của người cầm bút. Dựa vào biện pháp cởi mở của nhà nước như một cơ hội cánh cửa ngục tù vừa mới hé ra, văn nghệ sĩ ở trong nước đã mau chóng tìm được lối thoát cho con đường sáng tác hiện đang bế tắc của mình: tự giải phóng ra khỏi khuôn phép văn chương tô hồng hay văn chương phải đạo, trực diện với đời sống của quần chúng để lôi ra ánh sáng cái thực tế thảm thương đã từng bị chính giới cầm bút che đậy, giấu giếm bằng cách tô son vẽ phấn bưng bít từ hàng chục năm qua, và hơn tất cả, đó là sự tìm lại được cái giá trị đích thực, cái nhân cách đích thực, cái dũng cảm đích thực mà văn nghệ sĩ đã từng bị tước đoạt hay vì hèn nhát mà tự mình tước đoạt trong sinh hoạt sáng tác nhiều năm trước đây.
Giới cầm bút trong cao trào văn nghệ phản kháng ở quê nhà, chỉ trong thời gian vỏn vẹn không đầy 3 năm (1987 đến 1989) đã mau chóng lấy lại được lòng tin cậy của người đọc, và thậm chí đã trở thành ngọn đuốc sáng rỡ soi rọi tới được những hoàn cảnh tối tăm, cơ cực của quần chúng, đã trở thành cái phao của quần chúng trong khi họ đang chết đuối giữa sức ép của dòng đời đầy rẫy bất công, thối nát và áp bức.
Hầu hết những tác phẩm quan trọng trong cao trào văn nghệ phản kháng đều đã xuất hiện trên tờ Văn Nghệ do nhà văn Nguyên Ngọc chủ trương. Chỉ riêng một sự kiện Hội Nhà Báo Việt Nam ra quyết định khen thưởng ba phóng sự đăng trên báo Văn nghệ (Gồm: Lời khai của bị can của Trần Huy Quang, Tiếng Hú của con tầu của Nguyễn thị Vân Anh, Anh hùng khi đã sa cơ của Hoàng Minh Tường) đã đủ chứng minh sự đóng góp lớn lao của tờ Văn Nghệ trong cao trào này. Và thật là điều dễ hiểu khi người ta thấy mọi giới, bao gồm cả nhà văn, nhà báo và độc giả quần chúng đều tỏ ra vô cùng phẫn nộ khi được tin tờ Văn Nghệ gặp khó khăn (tháng 9-1988, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam ra nghị quyết lên án tờ Văn Nghệ là có những lệch lạc nghiêm trọng, và tháng 12-1988, Ban Thư ký của Hội này cách chức Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc và thuyên chuyển công tác).
Ngay từ giữa tháng 9-1988, gần một trăm nhà sáng tác trẻ đã hội họp ở Hà Nội để phản đối nghị quyết lên án tờ Văn Nghệ. Sau đó là 12 nhà văn ở thành phố Hồ Chí Minh, các nhà văn, nhà báo ở Lâm Đồng, Phú Khánh, Nghĩa Bình, tờ Sông Hương ở Huế, và đặc biệt là Hội Nghị hội Nhà Báo Việt Nam lần thứ 5 tại Hà Nội họp từ 28-11, đến 1-12-1988, tất cả đều có ý hướng dứt khoát ủng hộ tờ Văn Nghệ đồng thời phản đối việc làm của Ban Chấp hành Hội Nhà văn. Đặc biệt, nhà văn Bùi Minh Quốc, trưởng phân Hội Văn nghệ Lâm Đồng đã vận động lấy được hơn 100 chữ ký của các nhà văn ủng hộ Nguyên Ngọc. Sau đây là một vài ý kiến phát biểu trong vụ Nguyên Ngọc bị cách chức:
– Nhà văn Mai Văn Tạo: Biết tin báo Văn Nghệ “lâm nạn”, Tổng Biên tập bị “hành”, công chúng miền Nam, độc giả thành phố Hồ Chí Minh, tỏ vẻ bất bình, lo ngại như thể bạn mình gặp cảnh khốn nguy. Nhiều người gặp tôi, họ lo lắng hỏi “Văn Nghệ thế nào rồi? Sao kỳ vậy?”. Những người ấy không chỉ là cán bộ, công nhân viên, người có học vấn cao, mà cả những ông thợ cắt tóc, các bác đạp xích lô… từng yêu mến tờ báo. Tuần báo Văn nghệ từ cuối năm 87 đến nay không còn là tờ báo riêng của giới phong lưu và những nhà học giả. Nó còn là món ăn bổ ích và thú vị cho các loại độc giả phía Nam này. Lẽ nào Ban thư ký Hội Nhà văn không thấy ra điều đó?
– Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Qua việc này, tôi thấy so với các ngành nghề khác thì anh nhà văn, nhà báo nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung, đối với những người đang thực sự làm việc thì bị cách chức quá dễ dàng. Từ đó mà nghĩ đến thân phận của giới này, nói rõ hơn là đối với những người thực sự làm việc của giới văn nghệ sĩ.
– Nhà thơ Diệp Minh Tuyền: Tổng Biên Tập đổi mới này mất đi, sẽ có Tổng biên tập đổi mới khác xuất hiện hoặc thay thế.
Dư luận phản đối ồn ào và mạnh mẽ như vậy, nhưng việc cách chức Tổng biên tập của Nguyên Ngọc vẫn được thi hành. Sự kiện này đã cho ta thấy 2 điều:
– Một là: Giới lãnh đạo đã thực sự run sợ trước cao trào đổi mới, trong đó ngày càng lôi cuốn được nhiều cây bút có giá trị với những tác phẩm có giá trị, được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng độc giả.
– Hai là: Biện pháp cứng dắn áp dụng với Nguyên Ngọc đã mở ra một cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe trong giới cầm bút: phe bảo thủ, tiếp tục chấp nhận đường lối lãnh đạo văn nghệ do Đảng đề ra và phe đổi mới, đòi hỏi người cầm bút phải có tự do sáng tạo.
Tại Đại Hội Nhà Văn Việt Nam họp từ 23 đến 31-10-1988 tại Hà Nội, cuộc đấu tranh giữa hai phe đã diễn ra rất gay gắt và độc giả có cơ hội được biết đến qua các bài tường thuật của báo chí, đài phát thanh. Bản tin tức tổng hợp từ tin tức các báo, đài, và tự thuật của các nhà văn Thu Bồn, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Vũ ngày 9-12-89 tại Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ đã viết: “Suốt thời gian đại hội, đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng nhà văn: bảo thủ và tiến bộ, và sự phản đối mạnh mẽ có hiệu quả của lực lượng nhà văn tiến bộ đối với mọi sự áp đặt phản dân chủ, thậm chí cả sự chụp mũ.”
Nhìn chung kết quả của Đại Hội, phe bảo thủ đã thất bại nhiều điều:
1/ Lập sẵn một danh sách Ban Chấp Hành gồm 30 người định vận động thông qua nhưng bị bác bỏ.
2/ Dự định không để Đại Hội bầu chức Tổng Thư Ký mà để cho Ban chấp hành tự bầu ra. Kết quả, đại hội cũng bác bỏ và chức vụ này cũng do Đại Hội bầu trực tiếp.
3/ Ba nhân vật bị phe bảo thủ dưới sự chỉ đạo ở trên mong muốn loại ra (Nguyễn Quang Sáng, Xuân Cang, Nguyên Ngọc) nhưng đã đắc cử với số phiếu cao nhất.
4/ Ba nhân vật được phe bảo thủ ủng hộ và sự chỉ đạo ở trên cố ý đưa vào ban chấp hành đều bị rớt đài (Anh Đức, Trần Bạch Đằng, Bằng Việt).
Trong khi đó, phe tiến bộ ngoài việc ngăn chặn những mưu đồ đen tối trong đại hội, còn nêu lên được những tiếng nói dõng dạc, thể hiện quyết tâm đi tới của những người cầm bút can đảm:
1/ Một nữ thi sĩ trẻ ở Huế yêu cầu Đại Hội làm sáng tỏ vụ nhà văn Bùi Minh Quốc, trưởng phân hội Văn Nghệ Lâm Đồng bị khai trừ khỏi đảng vì “tội” đã vận động lấy hơn 100 chữ ký của các nhà văn để ủng hộ Nguyên Ngọc.
2/ Một nhà văn trẻ yêu cầu Trần Trọng Tân, trưởng Ban Văn Hoá – Tư Tưởng Trung ương Đảng phải kiểm thảo vì đã để xẩy ra những vụ đàn áp như ở trên cùng các vụ khác nữa nhưng làm ngơ.
3/ Các nhà văn Thu Bồn, Bửu Tiến, Bùi Minh Quốc, và nhất là Dương Thu Hương đã đọc những bài tham luận nẩy lửa, được đại hội đánh giá là “sâu sắc nhiệt huyết và cảm động”
4/ Tạp chí Sông Hương (Huế) bị kết 8 tội và bị đóng cửa, qua Đại Hội, đã kể như không có tội nào và đang làm thủ tục tái xuất bản.
51 Nhà văn Nguyên Ngọc bị cách chức, nay trở thành một trong ba nhà văn tiến bộ được đắc cử cao phiếu nhất và ở vào vị trí trực tiếp lãnh đạo của Hội Nhà Văn Việt Nam.
Tuy nhiên, Bản Tin Tức dù lạc quan đến đâu, cũng vẫn phải kết luận:
“Lực lượng nhà văn đổi mới, tiến bộ đã thắng lợi bước đầu. Cuộc đấu tranh cho đổi mới còn đang tiếp tục tiến lên trên con đường đầy chông gai “
Con đường chông gai ấy, dĩ nhiên có nhiều trở lực xuất phát từ giới lãnh đạo bảo thủ, trì trệ, chỉ nhìn thấy quyền lực mà không thấy sự khát vọng lớn lao của tuyệt đại đa số quần chúng, nhưng trở lực trước hết phải kể đến chính cá nhân của mỗi con người trong giới cầm bút. Họ phải biết cảm thông sâu sắc với quần chúng, phải biết đứng về phía quần chúng để tự lột xác chính mình. Trong thời gian gần đây, đời sống quanh ta đã có biết bao nhiêu là đổi thay mãnh liệt. Người cầm bút phải tự bước ra khỏi cái ốc đảo của mỗi người để hoà nhập vào đời sống đang chuyển mình. Bởi chỉ ở vị trí mới đó, người cầm bút mới có thể hoàn thành được chức năng của mình. Phải chăng, cũng chính vì chia xẻ với nhận thức này, mà trong “ Cuộc trò chuyện cuối năm với Quốc Dũng và Bế Kiến Quốc” được đăng tải trên tờ Văn Nghệ (Tổng biên tập hiện thời là Hữu Thỉnh) số Tết Canh Ngọ ra ngày 13-1-1990, nhà văn Nguyên Ngọc đã thổ lộ:
“Những năm gần đây, tôi thấy viết càng khó hơn. Lần này thì có lẽ không phải chỉ vì “tính trời”; tôi thấy cần tìm cho mình một tiếng nói khác, một ngôn ngữ nghệ thuật khác. Quanh tôi, và trong tôi đã có biết bao thay đổi không nhỏ, không giản đơn. Phải viết khác. Mà đối với người cầm bút đã có nghề đôi chút, thì có lẽ không có gì khó hơn là viết được khác đi. Đó là “thay máu” như anh Nguyễn Minh Châu từng nói.”
Quả là quanh con người và trong con người của mỗi nhà văn đã có biết bao nhiêu thay đổi không nhỏ, không đơn giản. Khát vọng về một đời sống tốt đẹp hơn, về một sinh hoạt xã hội có đầy đủ tự do dân chủ đã như một cao trào không thể ngăn cản được của con người đang chuẩn bị bước vào một thế kỷ mới. Nhà văn Việt Nam, hay giới cầm bút nói chung, dù ở bất cứ nơi nào trên mọi phần đất thế giới không thể không nhìn thấy khuynh hướng đó và không thể không “thay máu” để chia xẻ nhịp tim đập chan hoà niềm tin mới về một vận hội mới của tương lai dân tộc. Niềm tin đó, không chỉ là mối ấp ủ riêng tư của Nguyên Ngọc hay những nhà văn, nhà thơ trong phong trào văn chương đổi mới ở quê nhà, mà hẳn còn là những ước mơ của toàn thể người Việt Nam vẫn từng thiết tha đến tiền đồ của dân tộc.
Santa Ana, tháng 4 năm 1990.
NHẬT TIẾN
(TRĂM HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG, trang 118-126, nxb LÊ TRẦN, California- 1990)
Chương 8
lời tác giả
(Mồ hôi của đá trang 9-12)
Tôi khởi thảo tập truyện dài Mồ Hôi Của Đá này tại trại tỵ nạn Songkhla miền Nam Thái Lan từ tháng 6-1980. Viết được một phần thì tôi rời trại đi định cư tại Hoa Kỳ (tháng 9-1980). Do nhu cầu ổn định cuộc sống, ngoài hai tập truyện ngắn đã viết và xuất bản, tôi không còn đủ thì giờ để hoàn tất một tác phẩm dài, mặc dù đề tài của tập truyện là một ám ảnh thường xuyên trong ý nghĩ của tôi.
Tuy nhiên sự chậm trễ này lại là một điều tốt cho tác giả. Bởi nhờ thế, tôi đã có dịp suy nghĩ thêm về thực trạng quê hương, về những nguyên nhân và hoàn cảnh làm thay đổi lịch sử và nhất là thời gian đã cho tôi nhìn thấy một cách rõ nét hơn về những biến chuyển tâm thức của mỗi loại nhân vật tiêu biểu mà tôi có ý định đưa ra trong tác phẩm, đồng thời cũng giúp tôi gạn lọc được bớt những phần chủ quan, thiên kiến của mình khi nhìn lại những sự kiện, những hoàn cảnh, những tâm tình, những dị biệt..vv…mà từ đó câu chuyện được xây dựng nên.
Đã đành rằng, cứ xét cho đến cùng thì không có điều gì được gọi là hoàn toàn khách quan cả, vì tùy theo mỗi vị trí, hoàn cảnh, trình độ của mỗi người mà sự việc được mô tả với nhiều điểm dị biệt. Nhưng trên một bình diện tương đối nào đó, tôi hiểu rằng sự khách quan bao hàm ý nghĩa không thiên lệch, không khăng khăng chỉ có một cách nhìn duy nhất mà mang một phần nào tính chất của sự cảm thông, đặt mình vào vị trí người khác để suy xét hoàn cảnh của ngườI, không chỉ lấy cái ta đã có hoặc đang có để làm thước đo mọi giá trị.
Dựa trên những suy nghĩ này, tôi muốn nhìn lại một vài hoàn cảnh, một vài tâm tư, một vài nhận thức trong số muôn vàn những hoàn cảnh, tâm tư, nhận thức kể từ sau ngày Sài Gòn sụp đổ vào tháng 4-1975.
Tác phẩm này, không có tham vọng dựng lại cả một thời kỳ đổi thay của lịch sử vừa qua, và có lẽ chẳng một tác phẩm của một nhà văn nào đó đủ rộng lớn để nói lên mọi khía cạnh của một xã hội vừa đi vào khúc quanh cực kỳ khốc liệt, ở đó đã bao gồm biết bao nhiêu điều trái nghịch, có phấn khởi, có ê chề, có những nỗi đớn đau vì chia ly, có những sự ngỡ ngàng vì đoàn tụ, có những niềm hy vọng nhen nhúm, có những nỗi thất vọng não nề…v..v..
Tập truyện này chỉ mong đề cập đến một phần rất nhỏ của đời sống trong cái bối cảnh cực kỳ hỗn độn đó mà thôi. Nhưng tác phẩm tuy là nhỏ, người viết lại muốn gửi gấm ở đây những tâm tình, những gợi ý, những vấn đề vốn có mà chưa mấy ai đặt ra …để hy vọng chia xẻ với bạn đọc về những lời giải đáp cho nhiều sự kiện trong vô vàn sự kiện đã từng xẩy ra trên quê hương.
Chẳng hạn, trong xã hội miền Bắc, sau hơn 30 năm xây dựng Chủ Nghiã Xã Hội, dưới những phương tiện tuyên truyền dồi dào và những biện pháp bạo lực triệt để, con người đích thực với tất cả những nét hiền hòa, giản dị vốn có từ ngàn xưa, nay đã còn lại gì?
Chẳng hạn, trong số những người đã từng tham gia cuộc chiến, đứng ở bên kia, đặc biệt là những người ở trong hàng ngũ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, có phải cho đến nay vẫn là những con người tận tụy phục vụ cho chủ nghĩa Cộng Sản, hay là trong số đó đã có những người đổi thay về nhận thức khi họ nhìn lại cả chặng đường gian khổ vừa đi qua, chỉ thấy một tâm trạng não nề do ở sự mình đã quá xa rời con đường “dân tộc” hoạch định từ lúc khởi đầu?
Thật là một việc hết sức dễ dàng khi ta chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quát (đôi khi lười biếng suy nghĩ hoặc đã bị sự chủ quan, thiên kiến ngự trị) vào cả một tập thể phức tạp rồi đi đến một kết luận chung chung cho cả tập thể ấy. Điều này hầu như đã từng xẩy ra và có thể đang còn là một thói quen phổ biến.
Tôi muốn được nêu lên một câu hỏi rằng, trong cuộc chiến tranh chống lại bạo quyền Cộng Sản, một cung cách phân loại bạn-thù chung chung và giản dị như thế có lý do để tồn tại mãi hay không, trong khi chúng ta vẫn nhìn nhận rằng vấn đề của quê hương bây giờ là vấn đề của dân tộc, của chung tất cả những người cùng chia xẻ với nhau một ước mơ là xây dựng lại trên quê hương một xã hội tự do, công bằng, hạnh phúc, không phân biệt những ai đến từ đâu, miền Nam hay miền Bắc, đã từng phục vụ ở bên này hay bên kia.
Một tập hợp như thế, không thể mang danh nghĩa của sự Chiêu Hồi, một từ ngữ đã từng bị những chính phủ tham nhũng, thối nát, không đại diện cho tuyệt đại đa số quần chúng làm cho hư hỏng đi từ trước 1975.
Thành quả của công tác Chiêu Hồi trước đây, nếu có, thì chỉ là loại bớt ra khỏi hàng ngũ bên kia một số người đang tham gia cuộc chiến, nhưng không biến đổi họ thành những người có cùng chung với chúng ta một chính nghĩa sáng tỏ. Chính nghĩa của chúng ta không thể sáng tỏ được khi mà miền Nam còn đầy rẫy những bất công, những thối nát, những con buôn chính trị, những kẻ làm giầu trên mồ hôi nước mắt của quần chúng và trên xương máu của chiến sĩ. Công tác Chiêu Hồi, theo tôi, đã cáo chung theo những thể chế chính trị đã từng được dựng lên và đã sụp đổ sau ngày 30-4-1975.
Bây giờ lịch sử đã qua một trang khác!
Hoài vọng khôi phục lại một miền Nam gọi là Miền Nam Tự Do như trước đây là một hoài vọng không chính đáng, vì hoài vọng khôi phục ấy phải được đặt trên một kích thước rộng lớn hơn, mang đích thực tầm vóc lớn lao của dân tộc hơn, và do đó cần phải có yếu tố tập hợp thích nghi hơn, ngõ hầu hàng ngũ của chính nghĩa tự do có thể quy tụ được nhiều người, thuộc nhiều phía mà họ vốn cũng đã từng là nạn nhân của Cộng sản, của độc tài, của bạo lực, của tham nhũng bóc lột, của những ý đồ đen tối chính trị và những tham vọng cá nhân.
Những con người ấy đã tới thời điểm nhận thức được chỗ đứng của mình, hiểu rõ ước muốn của mình, nhìn ra được con đường phải đi của mình trong một vận hội mới, nhằm phục hồi và xây dựng lại quê hương đang điêu tàn, đen tối và đầy rẫy nhục nhằn như hiện nay.
Tôi nghĩ rằng Văn Hóa nói chung, Văn Học Nghệ Thuật nói riêng, có khả năng góp phần vào công cuộc tạo dựng những điều kiện quy tụ tốt đẹp kể trên trong công cuộc hình thành một sức mạnh tổng hợp cả trong lẫn ngoài nước để hoàn thành sứ mạng giải phóng quê hương.
Văn Học Nghệ Thuật do đó sẽ có thêm một hướng đi mới bên cạnh hướng đi đã có, đã góp phần tích cực vào công cuộc tiếp nối truyền thống của văn hóa dân tộc ở hải ngoại.
Chấp nhận một chiều hướng sáng tạo như thế, trong khung cảnh còn đầy rẫy những ngộ nhận như hiện nay, là chấp nhận một sự thử thách.
Sự may mắn của người cầm bút lưu vong là ở chỗ họ đang sinh sống ở một xã hội cho họ những điều kiện để có thể tiến hành những thử thách đó, trái ngược hẳn với anh chị em cầm bút ở quê nhà hiện nay, muốn viết lên những tâm tư nguyện vọng của mình mà không viết được. Tác phẩm của họ, nếu có, sẽ chỉ mãi mãi là những tác phẩm lén lút và chỉ được phổ biến trong vòng hết sức hạn hẹp.
Tôi nghĩ rằng, chỉ riêng một sự kiện đó cũng đáng để cho tôi mạnh dạn hoàn tất tác phẩm nhỏ bé này.
Dĩ nhiên, sự phê phán và đánh giá vẫn là quyền tự do của bạn đọc.
Beaverton, Oregon ngày 26-3-1988
NHẬT TIẾN
Chương 9
Trích một Chương trong
Mồ Hôi Của Đá:
Sau khóa học, Quận đoàn cử thêm một cán bộ Công đoàn về trực tiếp tham gia công tác tổ chức ở cơ sở nhà in Hồng Phát. Người ấy là ông Năm Tỏa. Ông này là người ở Khu về. Bệnh hoạn. ốm yếu. Bản tính xuề xòa dễ mến. Tuy nhiên, ông ta không phải là loại công nhân chất phác thuần túy. Cứ theo cung cách nói năng và thái độ cư xử của ông, Nguyệt đoán chừng ông ta phải xuất thân từ thành phần có Tây học. Hôm họp tất cả công nhân trong nhà in lại để nghe ông ta phát động công tác tổ chức Công đoàn, ông ấy nói:
– Thế này nhé! Ngày trước thì giai cấp bóc lột không bao giờ quan tâm đến đời sống công nhân và tạo dựng những điều kiện để làm thăng tiến đời sống công nhân. Anh chị em ta nếu ai có ốm đau, bệnh tật thì chủ nhân xí nghiệp cũng chẳng thèm biết tới. Mà hễ cứ nghỉ ngày nào thì trừ lương ngày đó. Đó là tại sao? Là tại vì họ chỉ nghĩ đến lợi nhuận. Mục tiêu của họ là càng thu về nhiều lợi nhuận bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Bây giờ thì khác. Cách mạng thành công đem lại cơ hội cho chúng ta làm chủ chính mình. Nhưng làm chủ ở đây không phải là ta đã là ông chủ rồi thì ta khỏi phải lao động gì hết mà vẫn được ăn trên ngồi chốc. Nói như thế thì có khác gì ta xóa cái chế độ bóc lột cũ để lại xây dựng một chế độ bóc lột mới. Cái ý nghĩa “làm chủ” mà chúng ta nói ở đây là chúng ta có quyền hoạch định mọi công tác, mọi tổ chức để làm thăng tiến đời sống của tập thể nhân dân lao động, điều mà trước đây, dưới chế độ cũ chúng ta không bao giờ được làm.
Ngừng một chút, ông tiếp:
– Muốn tiến hành có kết quả tốt đẹp mục tiêu đó, chúng ta phải có tổ chức, có kỷ luật. Mọi hành vi, mọi hoạt động, mọi sáng kiến đều phải được thông qua Tổ chức. Bởi không có Tổ chức thì mạnh ai nấy làm, có khi trống đánh xuôi, kèn thổi ngược dễ đi đến chỗ hỗn loạn. Tổ chức ấy là Công đoàn. Công đoàn là tổ chức của các công nhân trong xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp có một Công đoàn Cơ sở, đặt dưới quyền lãnh đạo của Công đoàn Quận. Trên Quận là Tỉnh hay Thành phố. Trên nữa là Trung Ương. Nhiệm vụ của Công đoàn Cơ sở là phát huy quyền làm chủ tập thể của các công nhân, là tổ chức học tập để nhằm nâng cao trình độ của công nhân, là đấu tranh để khắc phục những tập quán tàn dư còn lại của nền sản xuất nhỏ. Mà những tàn dư ấy là gì? Là sự chây lười, là khinh lao động, là thích sống ăn bám, coi thường kỷ luật, nói dối, làm dối. Nói chung là ta đào luyện công nhân để trở thành những người biết lao động một cách có kỷ luật, có kỹ thuật, có óc sáng tạo để đạt được năng suất cao nhất…
Như hầu hết các buổi học tập diễn ra ở mọi nơi sau ngày 30 tháng 4 năm 75, người nói cứ nói, người nghe cứ giả bộ nghe dù đầu óc vẩn vơ nhiều chuyện phải lo nghĩ, và nhất là ít có ai dám nêu thắc mắc ngoại trừ khi đến lượt phải phát biểu thì nói chung chung, xuôi theo lời của thuyết trình viên. Công việc tiến hành tổ chức Công Đoàn Cơ sở diễn ra nhẹ nhàng, xuôi chẩy như đã được dự tính.
Ý của Nguyệt là muốn đưa Toàn ra nắm chức vụ Thư Ký Công Đoàn. Nguyệt biết Toàn dư khả năng làm công tác đó. Nhưng hôm trước, lúc nàng vừa ngỏ ý ấy thì đã bị Toàn hỏi sẵng giọng:
– Tại sao lại là tôi nhỉ!
Mặt Toàn như đanh lại, ánh mắt của chàng long lên. Điều này nói lên sự đổ vỡ giữa chàng và Nguyệt đã tới chỗ khó có thể hàn gắn.
Có điều lạ là Nguyệt không hề cảm thấy đau xót về sự đổ vỡ này. Tình yêu gắn bó giữa nàng và Toàn như cất cánh bay đi từ lúc nào, Nguyệt không nhận ra. Có thể vì nàng quá bận rộn. Có thể vì nàng đã chọn lựa một niềm say mê mới: chạy theo những quyền lực mà trước đây chưa từng bao giờ nàng có được Nhưng chắc chắn sự xấc xược của Toàn đã đem lại cho nàng một va chạm nặng nề đến lòng tự ái. Điều này khiến mặt nàng trở nên lạnh tanh. Rõ ra là hai kẻ thù nghịch đang đối diện nhau chứ không còn là một đôi uyên ương gắn bó thiết tha chỉ trước đây mới có vài tháng. Giọng Nguyệt như rít lên giữa hai hàm răng nghiến chặt:
– Anh không bằng lòng thì thôi, nhưng đừng có cái thái độ phủi vào mặt kẻ đã có nhã ý với mình như thế.
Toàn cười khẩy:
– Cám ơn cái nhã ý ấy của cô. Nhưng cô nên nhớ, tôi không phải là một kẻ phản bội.
Dằn mạnh xong hai chữ “phản bội”, Toàn lập tức quay người đi, không để cho Nguyệt kịp có phản ứng gì. Một việc như thế thật quá sức chịu đựng của chàng. Câu nói ấy bật ra như một cái lò so mà không hề có sự tính toán. Đã bao lâu nay, Toàn đâu có xía vô công việc đoàn thể của Nguyệt. Chàng chỉ thấy lòng lạnh tanh mỗi khi nhìn thấy Nguyệt hối hối hả hả mỗi khi đi đâu về. Rõ ra là một người tận tụy với công việc. Nhưng chắc chắn công việc ấy chẳng liên hệ gì tới mình. Toàn nghĩ như thế và chỉ thế thôi, chứ không tỏ thái độ hằn học gì với nàng. Cho đến khi nàng rủ Toàn tham gia công tác.
Sau lúc bỏ đi, Toàn thấy đầu óc của mình nóng ran lên, ngực bị dồn ép đến độ như bị ngộp thở. Cổ họng của chàng se đắng lại. Nhưng chàng không hối tiếc việc mình vừa làm. Chàng có đầy đủ lý do để tự bằng lòng với mình về thái độ ấy. Tuy nhiên, cơn buồn bã mênh mang cứ úp chụp lên đầu làm chàng ngơ ngẩn như một kẻ mất hồn. Toàn đã đạp xe đi lang thang hết phố này qua phố khác mà không để ý đến những hoạt động huyên náo ở chung quanh.
Thành phố này không còn gì để chàng lưu luyến, gắn bó. Khung cảnh êm đềm, ấm cúng khi trước nay đã thay thế bằng một vẻ tuy vẫn nhộn nhịp đấy nhưng là sự nhộn nhịp ẩn chứa những nét bàng hoàng, lo âu, ngỡ ngàng. Tuy mọi cảnh vật xung quanh vẫn tràn đầy sinh hoạt đấy nhưng đã bắt đầu lộ rõ sự tan hoang, sa sút, nghèo nàn.
Đạp xe lang thang từ lúc trời chưa tắt nắng cho đến lúc phố xá đã lên đèn, Toàn mới khám phá ra rằng mình đang lên cơn sốt nặng. Cổ họng chàng khô khan. Trán nóng hôi hổi. Hai bàn tay cầm tay lái mà thấy run lẩy bẩy. Toàn hối hả đạp xe quay về nhà, quên cả chào mẹ và leo lên gác nằm thiếp đi trong cơn đầy mộng mị.
Ngày hôm sau, Toàn không đến sở làm. Ngày hôm sau nữa cũng vậy. Ở nhà in Hồng Phát. mọi người nhao lên về sự vắng mặt bất thường của chàng. Người lo lắng nhất là ông Hồng Phát. Ông ta cứ như con kiến bò quanh chảo nóng. Lâu lâu ông lại dẫy nẩy lên, than thở với một vài công nhân cũ quen thuộc:
– Ông ấy nghỉ thế này là “chít ngộ giồi”. Đến hạn kỳ phải giao sách học Toán cho kịp ngày khai giảng niên học mới mà không xong thì các ông cách mạng nó giết ngộ. Nó đem ngộ trôi sông.
Tình hình khẩn trương này được báo cáo lên ông Năm Tỏa. Ông ta có vẻ không bằng lòng khi được biết rằng chỉ có một mình Toàn là người duy nhất có khả năng xếp chữ được những trang sách với những ký hiệu Toán chằng chịt. Ông ta trách Nguyệt:
– Sao cô lại ỷ lại về một “khâu” như thế vào tay có mỗi một người. Trong công tác tổ chức, đấy là một khuyết điểm quan trọng không thể chấp nhận được.
Nguyệt ấp úng:
– Cháu cũng đã có kế hoạch đào luyện thêm nhân sự vào tổ xếp chữ môn Toán. Chỉ hiềm vì số công nhân có trình độ một chút hãy còn hiếm hoi quá. Để phân biệt con số 2 với lũy thừa bậc 2 trong bản thảo viết ngoáy, không phải công nhân nào cũng có thể làm được. Ấy là chưa kể những ký hiệu trong các bài toán Đạo hàm, Nguyên hàm, Tích phân….
Ông Năm Tỏa có vẻ cảm thông ngay với Nguyệt nên không cằn nhằn gì thêm nữa mà chỉ lấy giấy bút ra hí hoáy ghi chép rồi nói:
– Tôi sẽ đặt vấn đề này lên Quận để giúp cô giải quyết mau chóng tình trạng thiếu sót đó. Trong khi chờ đợi, cô cũng nên tiếp xúc tìm hiểu xem cá nhân anh Toàn có điều gì lấn cấn không khắc phục được.
Lần đầu tiên Nguyệt nói dối ông ta và may cho nàng, lời nói dối ấy lại trùng với sự thực:
– Anh ấy chỉ đau ốm thôi chứ chắc không có gì lấn cấn cả.
Ông Năm “à” lên một tiếng thỏa mãn và nói tiếp:
– Nếu chỉ ốm đau thôi thì tốt! Để tôi thử đi tiếp xúc và tìm hiểu coi sao.
Thế là ông ta xách xe đạp tìm đường đến địa chỉ của Toàn.
Hôm ấy Toàn đã ốm khỏi và đang loay hoay tra dầu mỡ vào ổ bi của chiếc xe đạp dựng ở ngay trước sân. Rõ ràng là Toàn đã có thái độ chọn lựa: Chàng không thể nào quay lại nơi chốn mà ở đó tình yêu của chàng đã bị bầm giập não nề. Thành ra khi thấy bóng dáng của ông Năm hiện ra ở khung cửa gỗ ngoài hàng rào, Toàn không lấy thế làm bối rối. Chàng thản nhiên đứng dậy, vừa chùi tay vào mảnh giẻ rách đầy dầu mỡ, vừa tiến ra mở cổng:
– Chào ông Năm. Tôi không ngờ lại được ông tới thăm.
Giọng ông Năm sốt sắng:
– Đáng lẽ ra tôi phải tới thăm anh lâu lắm rồi ấy chớ. Mà điều công việc bề bộn quá. Sao? Hôm nay anh thấy khỏe khoắn lại chưa?
– Cám ơn ông, tôi đã bình phục hoàn toàn. Cảm sốt lăng nhăng, có gì đâu mà ông phải bận tâm.
Đến giây phút ấy thì ông Năm Tỏa nhận ngay ra được sự vắng mặt của Toàn là đã phải có điều gì bất thường. Ông muốn kéo dài thời gian suy nghĩ của mình trước khi trực diện với cái bất thường đó. Nên ông chỉ mỉm cười nói lảng qua chuyện khác:
– Anh ở đây yên tĩnh quá nhỉ. Mùa hè mà có giàn hoa giấy này chắc mát!
Toàn lẳng lặng bước vô nhà, kéo ghế mời ông ta ngồi rồi xin phép đi sửa soạn nước uống. Trong khi Toàn vắng mặt, ông Năm Tỏa được tự do nhìn khắp quang cảnh chung quanh. Cái bàn kính dài có sáu chiếc ghế nơi ông đang ngồi kê ở sát vách tường phía bên phải. Sau lưng ông là khuôn cửa sổ nhìn ra sân trước, chỗ Toàn vừa lúi húi sửa xe. Trước mặt ông là một tấm vách ngăn đôi phòng khách bên ngoài với gian bên trong. Dựa lưng vào tấm vách này là một cái kệ sách trong để lưa thưa vài cuốn tự điển và một số sách mà ông không nhìn rõ nhan đề ở sau gáy. Phía trên kệ sách là hai bức tranh sơn dầu cũ kỹ, một vẽ tĩnh vật với vài quả cam, quả táo xếp hỗn độn bên cạnh một bình hoa và một bức vẽ cảnh phố nghèo, nhà cửa lụp sụp với hậu cảnh là những dẫy building rực rỡ ánh đèn ở phía xa. Ông Năm giả bộ tiến về phía kệ sách để ngắm nghía một cách kỹ lưỡng bức tranh, nhưng mắt ông cũng đã không bỏ qua những cuốn sách trong kệ mà vừa mới đây ông chưa nhìn thấy rõ gáy sách.
Đó là một vài cuốn tiểu thuyết mới xuất bản gần đây, như cuốn Thép đã tôi thế đấy của Boris Polevoi, cuốn Vùng Trời của Hữu Mai, cuốn Con đường đau khổ của Alexei Tolstoi xếp bên cạnh cuốn sách giáo khoa về Hình Học, về Đại Số Học. Có cả một cuốn Truyện Kim Vân Kiều do một nhà xuất bản của Sài Gòn cũ ấn hành nữa.
Lúc Toàn bưng nuớc ra mời, ông Năm Tỏa chỉ tay vào bức tranh sơn dầu và nói:
– Ngày trước địch nó cũng để cho tự do treo những loại tranh này sao?
Toàn ngạc nhiên:
– Thưa ông, có gì đâu?
– Bức tranh vẽ nhà cửa lụp sụp tồi tàn ngay ở giữa những khu phố có nhiều cao ốc đèn đóm sang trọng. Nội dung đã tố cáo một xã hội đầy bất công, chênh lệch.
Toàn bật lên cười:
– Hồi trước, chúng tôi chỉ nhìn một họa phẩm theo khía cạnh nghệ thuật, không nhìn theo quan điểm chính trị.
Ông Năm cũng mỉm cười, nhưng đầy vẻ chế giễu:
– Nghệ thuật nào mà không có nội dung chính trị! Tách nghệ thuật ra khỏi chính trị là quan điểm ngây thơ, ấu trĩ.
– Có những tác phẩm nghệ thuật vượt qua được mọi không gian và thời gian. Giá trị của nó không bị lệ thuộc vào bất cứ một khuynh hướng chính trị nào.
– Thí dụ?
– Như truyện Kiều của ta chẳng hạn.
– Ô! Truyện Kiều có một nội dung hiện thực phê phán rất là cao. Nó tố cáo cả một xã hội phong kiến thối nát, đầy rẫy những bất công, tham nhũng của giai cấp thống trị.
– Theo ý tôi, đó chỉ là dấu vết đương nhiên của xã hội ở vào thời kỳ mà tác phẩm ấy đã được ra đời. Nhưng chân giá trị của truyện Kiều không phải ở chỗ đó. Phải xét nó trên lãnh vực văn chương.
– Văn chương chỉ là một bộ phận sinh hoạt của xã hội. Và không có một loại văn chương nào mà lại không mang dấu vết của những khuynh hướng chính trị trong xã hội đó. Một là nó phục vụ cho giai cấp thống trị, hai là nó làm đòn bẩy cho giai cấp bị trị thống khổ biết vùng lên. Đó là quan điểm đấu tranh giai cấp không thể nào phủ nhận được.
Toàn chỉ lên bức tranh tĩnh vật ở gần chỗ ông Năm ngồi và hỏi:
– Vậy thì theo ông, bức tranh tĩnh vật này phục vụ cho giai cấp bị trị hay thống trị?
Ông Năm xoay hẳn người lại, nhìn ngắm những quả táo đỏ ửng trong bức vẽ rồi mỉm cười:
– Ở vào thời kỳ mà những bất công, áp bức còn tồn tại trong xã hội thì bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào làm cho người ta quên đi hiện tại đau khổ mà họ đang phải chịu đựng thì đều thuộc về loại tác phẩm phục vụ cho giai cấp thống trị.
– Nếu cứ xét theo quan điểm đó của ông thì những sách vở của miền Bắc mà tôi được đọc sau này, tôi thấy chỉ toàn tô hồng cho đời sống. Trong khi đó hẳn ông cũng đã rõ là dân chúng vẫn thiếu thốn, khổ cực. Như vậy những sách đó đã chỉ phục vụ cho giai cấp thống trị mà thôi sao?
Ông Năm Tỏa vừa nhìn thẳng vào mắt Toàn vừa chợt thốt lên:
– Ôi chà! Mình bỗng nhiên đụng tới một vấn đề đáng gọi là “căng” đây! Nó căng không phải chỉ giữa anh và tôi, giữa người đã từng tham gia cách mạng và người ở vùng mới giải phóng mà còn căng ngay cả ở trong giới cầm bút ngoài miền Bắc. Cái đám Nhân văn Giai Phẩm đó!Tuy nhiên tôi thử cố trình bày để mong có thể giúp anh soi sáng thêm được gì không nhé.
Ngưng một lát, ông Năm Tỏa nói tiếp:
– Có hai điều phải nêu rõ trong câu thắc mắc của anh. Một là đích thị những tác phẩm văn học ở miền Bắc đang phục vụ cho giai cấp thống trị hiểu như giai cấp đang nắm chính quyền. Hai là sử dụng từ ngữ giai cấp thống trị vốn mang ý nghĩa xấu xa, cho chế độ miền Bắc là không đúng. Bởi vì đó là chế độ phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động là thành phần chiếm tuyệt đại đa số trong quần chúng.
– Nếu con đường của nghệ sĩ đã bị vạch rõ ra như thế thì người nghệ sĩ đâu còn chút tự do gì để sáng tạo nữa?
Ông Năm lại mỉm cười:
– Cái này lại là một vấn đề khác nữa phải nhìn cho rõ. Anh vừa sử dụng hai chữ tự do. Ừ thì tự do. Tự do là quý, chả thế mà bác Hồ đã nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Nhưng bản chất hai chữ tự do là gì? Chúng tôi quan niệm rằng tự do không phải là ai muốn nghĩ gì thì nghĩ, làm gì thì làm. Đó chỉ là cái tự do vô tổ chức. Cần phải hiểu rằng tự do phải nằm trong ý niệm biết rõ sự tất yếu trong quá trình đi lên của lịch sử loài người. Sau tư bản chủ nghĩa, tất yếu là phải đi tới Cộng sản chủ nghĩa mà bước trung gian là xã hội chủ nghĩa. Người nghệ sĩ nhận thức được điều tất yếu đó thì tha hồ tự do sáng tạo để góp phần thúc đẩy cho cái tất yếu đó mau chóng được thực hiện.
Thấy Toàn có vẻ dửng dưng trước sự cung ứng bài học cốt tủy mà mình vừa đưa ra, ông Năm ngưng lại mấy giây rồi tiếp:
– Tôi hiểu rằng đây là bước nhận thức rất cam go, không phải dễ gì ngày một ngày hai mà anh tiếp thu được. Anh cứ việc thắc mắc. Cứ việc trăn trở. Sự thắc mắc, trăn trở là những bước tất yếu ai cũng phải trải qua. Không qua giai đoạn đó mà chấp nhận bừa bãi thì chỉ là những kẻ giả dối bề ngoài, những bọn cơ hội chủ nghĩa. Nhưng cũng có một cách tốt nhất giúp anh mau chóng tiếp thu tư tưởng mới, đó là quá trình chuyển hóa trong lao động. Lao động thật tốt sẽ giúp anh dần dà nhận thức ra được cái chân lý đó.
Ông Năm nói một hơi không nghỉ. Toàn có cảm giác như mình vừa đụng phải một cái nút bấm trong con người của ông. Cái nút làm vận chuyển một cuốn băng đã được thu sẵn, bất cứ lúc nào cũng có thể phát ra, đầy đủ, trọn vẹn những ý tưởng mà không ai có cách gì xoay chuyển được…
(Mồ Hôi của Đá, trang 37-43)
Chương 10
thời điểm sáng tác : 1983
Vào thời điểm thập niên 1980’s của thế kỷ trước, các nhà văn hải ngoại dù có muốn đề cập tới một vài khía cạnh tốt của một nhân vật CS thì cũng phải dè dặt, né tránh vì sợ bị ngộ nhận, chụp mũ là thiên cộng. Nhân vật ‘thủ trướng trong truyện ngắn dưới đây là một thí dụ.
– Nhân vật thủ trưởng trong truyện ngắn “Người Tù Cuối Năm” của anh có liên hệ gì với lối lập luận trên của anh không?
(Câu hỏi của Hoa Thịnh Đốn Việt Báo- trang 99)
NGƯỜI TÙ CUỐI NĂM
Truyện ngắn của NHẬT TIẾN
Khi lão thủ trưởng về tới đơn vị thì trời đã xế chiều. Hôm nay Ba Mươi Tết, các cơ quan đều nghỉ việc nên truớc cổng trụ sở không còn diễn ra cái khung cảnh ồn ào, hỗn độn của đám dân chúng chờ đợi để xin giấy tờ. Việc canh phòng cũng lơi là hẳn đi. Trên chiếc chòi đóng bằng gỗ thùng sữa tùm hụp như chiếc chuồng chim, lão thấy một nhân viên của mình đang ngồi hút thuốc trong tư thế chiếc ghế ngồi bị đưa ngả cả về đằng sau để cho lưng anh ta dựa được hoàn toàn lên vách gỗ. Điều này làm anh ta không nhìn thấy vị thủ trưởng của mình vừa đạp xe tới. Mãi tới lúc lão ta xuống xe và đã dắt chiếc xe đeo lỉnh kỉnh đủ thứ túi, giỏ, gói đồ cồng kềnh đi qua cánh cổng làm bằng sườn gỗ và những sợi kẽm gai thì anh chàng gác trên chòi canh mới bật dậy, giọng nói hốt hoảng hẳn lên:
– Thưa thủ trưởng…. thủ trưởng đã về...
Lão ngước mắt nhìn lên. Ánh mắt đầy nghiêm khắc, nhưng miệng lão vẫn nở một nụ cười làm ra vẻ hiền lành, dễ thương tương phản hẳn với tia nhìn lạnh buốt như lưỡi dao mới mài sắc. Lão nói với thủ hạ một câu, với một giọng chọn lựa đủ để anh ta không đoán ra được là lão đã xuề xòa bỏ qua hay vẫn còn để tâm tới sự canh phòng lơi là của mình:
– Mọi sự tốt cả đấy nhỉ?
Anh công an vội vã xoắn xuýt:
– Thưa thủ trưởng mọi sự tốt cả. Trừ có mỗi một vụ ngày hôm qua...
Anh ta chưa kịp nói hết câu lão đã đi ngang qua mặt, chẳng ra vẻ ngạc nhiên hay chú ý gì tới lời báo cáo bất thường này. Hình như lão ta không cho anh cái dịp để xuề xòa cái tội đã canh gác trong tư thế “Ngồi trên ghế mà dựa cả lưng vào vách gỗ để nhìn trời!”.
Lão lầm lũi dắt cái xe đi qua một khoảng sân cỏ nhỏ. Mặt tiền của trụ sở cơ quan đóng im ỉm nhưng ở phía trong vọng ra những tiếng cười nói ồn ào. Lão đi vòng ra phía sau và qua khung cửa sổ, lão nghe thấy tiếng reo hò lẫn những tiếng chửi thề tục tĩu.
Lão dựng chiếc xe ở đầu hè, cố tạo ra tiếng động rổn rảng bởi chiếc bàn đạp cọ sát trên sàn xi măng để gây sự chú ý của mọi người. Lão không muốn khi mình sắp bước vào văn phòng mà mọi người trong đó không ai hay biết gì cả, nhất là trong cái hoàn cảnh tất cả đều đang bệ rạc chúi đầu vào canh bạc.
Sự đánh tiếng của lão có ngay kết quả, vì hình như trong đám nhân viên đang sát phạt, vẫn có kẻ thỉnh thoảng liếc ra sân dòm chừng. Tiếng động do lão gây ra lập tức làm cho tiếng ồn ào bỗng nhiên im bặt. Lão bước tới những bước thật chậm về phía cửa phòng. Lão cảm thấy hài lòng về sự im lặng tuyệt đối ở chung quanh mình. Điều đó có nghĩa là lão vẫn nắm trọn vẹn quyền uy ở đây, loại quyền uy luôn luôn gắn theo một mục tiêu là tạo ra cái cảm giác khiếp sợ bao trùm trên tất cả mọi người.
Rồi lão bước chân vào phòng. Kẻ đứng ngay phía ngoài là một nhân viên trẻ. Anh ta mới được đổi về đây không đầy hai tháng. Trong mọi trường hợp, anh ta luôn luôn chứng tỏ là một kẻ cuồng tín nhưng lại rất non tay nghề ở chỗ dễ hốt hoảng, dễ bối rối. Cho nên mới vừa chỉ chạm vào ánh mắt sắc lẻm của lão, là Vinh, tên anh ta, đã vội vàng nói bằng một giọng ấp úng:
– Thưa Thủ trưởng.... hôm nay cuối năm.....
Rồi mặt đỏ rần lên, anh ta không thể tìm thêm được lời nào để tiếp nối câu nói của mình. Ngay lúc đó, ở góc phòng có giọng nói quen thuộc của Hào cất lên:
– Thủ trưởng đã về. Anh em đang vui tất niên. Nếu không mệt xin mời thủ trưởng nhập cuộc với anh em.
Lão đưa mắt về phía cuối phòng. Lão thấy Hào đang cởi trần và trên tay còn cầm mấy quân bài. Trong đám thủ hạ, Hào là kẻ vững chãi nhất. Gã có một đức tin mãnh liệt. Điều này nhiều lúc biến gã thành một kẻ cứng đầu, nhưng đồng thời cũng là một nhân viên ưu tú, góp phần đắc lực trong mọi công tác điều hành ở đây. Tuy nhiên về một phương diện nào đó, đối với thủ trưởng, gã là một tên đáng ngại. Tận tụy và hay rình mò. Đó là đặc điểm của những kẻ đứng chung trong cùng một ngành, làm chung một cơ quan, chia sẻ chung một mối quan tâm hay một công tác được giao phó.
Thái độ ngang nhiên của Hào đáng để cho lão ngừng lại một giây. Lão nhìn thẳng về phía Hào. Lão cố tạo cho mình một vẻ ngạo nghễ, ở ánh mắt, ở nụ cười chỉ nhếch ra không tới một nửa vành môi, bờ vai của lão cũng vuông thẳng lại. Rồi lão cất tiếng khoan thai, pha một chút bỡn cợt nhưng nhiều phần là quyền uy:
– Nhập cuộc với các đồng chí thì sẵn sàng rồi. Nhưng đừng vì ham vui mà mất cảnh giác đấy nhé.
Trong sinh hoạt thân thiết, ngoài nhiệm vụ hằng ngày, khi dùng tới tiếng “đồng chí” với nhau thì đó là lúc bắt đầu có vấn đề. Ai cũng thấy vậy. Và lão đã sử dụng tiếng xưng hô đó để bầy tỏ sự bất như ý của mình. Rồi không chờ cho Hào có dịp nói thêm một câu nào khác, lão lầm lũi quay lưng trở ra. Mấy nhân viên đang đứng gần đó vội vã lùi giật lại mặc dù lối đi còn rộng rãi. Lão trở về bàn giấy của mình trong một căn phòng ở cuối dẫy hành lang.
Khi lão kéo ghế ngồi xuống trước đống hồ sơ ngổn ngang trên mặt bàn thì Hào cũng đã vội vã theo vào. Bây giờ gã đã mặc thêm chiếc áo sơ mi tươm tất. Sự bỏ cuộc chơi đang ồn ào của gã để tới trình diện mình ngay khiến lão thấy cơn bực tức dịu lại. Lão nhoẻn ngay một nụ cười hoàn toàn dễ dãi rồi nói với gã bằng một giọng cởi mở, thân thiết:
– Sao chú Hào? Tết nhất rồi, nhớ nhà không?
Hào vui vẻ:
– Em mới nhận được thư của bà cụ hồi chiều. Cụ nhận được gói quà em gửi về rồi. Thôi, thà để tiền mua thêm cái bồi dưỡng cho nhà còn hơn là dẫn thân về, có đồng nào chạy vào tiền xe đi đường hết.
Lão mỉm cười:
– Hà..hà…Chớ không phải vì cô Tâm bên quán hàng trước cổng cơ quan mà chú chịu bỏ mấy ngày phép để ăn Tết ở đây hả?
Mặt Hào đỏ bừng lên. Gã tỏ ra luống cuống thấy rõ. Hiển nhiên là cấp chỉ huy của gã đã nhìn thấu đến tận tim đen của mình. Điều này làm lão thủ trưởng càng thêm hài lòng vì lão đã nắm trúng nhược điểm của gã nhân viên dưới quyền. Chỉ một sự vướng mắc này thôi thì lão cũng đã có dư điều kiện để vo tròn bóp méo con người của Hào như một món đồ chơi trong tay rồi.
Lão đổi giọng nghiêm chỉnh:
– Chú trẻ, chưa vợ thì có quyền tìm hiểu. Nhưng chớ có nhẹ dạ để mất cảnh giác đấy nhé.
Rồi lão chuyển ngay qua đề tài khác:
– Bây giờ chú báo cáo cho tôi cái vụ xẩy ra hôm qua coi.
Hào giật nẩy người lên. Gã thực sự thán phục cấp chỉ huy của mình về cái tài ma xó này. Lão ta về đây chưa đầy mười phút đồng hồ, lại chưa tiếp xúc với ai, chính gã là người đầu tiên đến chào lão trở về, thế mà lão đã “nắm được tình hình” thì thần sầu quỷ khốc thật! Gã cứ ngẩn mặt ra mất đến mấy giây rồi mới sực tỉnh và nói vội vã:
– Trình thủ trưởng, vụ này không xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của mình. Việc phát giác chiếc tầu trốn ra nước ngoài là ở khu vực của bên các đồng chí Vĩnh Hậu. Lúc bị phát giác, bọn phản động chạy phân tán khắp mọi chỗ. Đồng Văn có, Minh Thuận có. Thuận Hiệp cũng có. Riêng khu vực của mình thì chúng em chỉ bắt được một tên mà chúng em đánh giá là chủ chốt. Bản báo cáo đầy đủ nội vụ em đã thảo và đệ trình trong hồ sơ trên bàn của thủ trưởng.
– Chú thông báo vụ này đi những đâu rồi?
– Chưa! Em chờ lệnh thủ trưởng!
Mặt lão thoáng một vẻ hài lòng. Dĩ nhiên trước sau gì thì hồ sơ cũng được chuyển đi, nhưng lão không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ một yếu tố sơ xuất nào có thể tránh trước để có thể được rộng rãi hơn trong cung cách giải quyết vấn đề. Yếu tố chủ động bao giờ cũng là điều kiện tuyệt hảo trong mọi công tác.
Lão vẫy tay cho Hào lui ra rồi tiến lại bàn mở tập hồ sơ ra coi. Hào đã báo cáo khá đầy đủ, từ bản tự khai của người tù cho đến lý lịch của đương sự, bản phúc trình nội vụ của Hào cùng biên bản về những tang vật tịch thu được. Mải nghiền ngẫm đến hơn nửa giờ sau lão mới đặt tập hồ sơ xuống bàn.
Những chi tiết ghi trong tập hồ sơ quả thực đã lôi cuốn lão một cách mãnh liệt đến nỗi lão quên bẵng cả mọi cảnh vật chung quanh lúc này thì nắng bên ngoài đã xuống thấp ở lùm cây phía bên ngoài cửa sổ và xa xa thỉnh thoảng vẫn có tiếng pháo đì đẹt vọng lại mang hương vị phảng phất cái rộn ràng của một ngày giáp Tết.
Trong khoảnh khắc, lão đã quên đi tất cả hiện tại để đắm hồn mình vào dĩ vãng xa xăm với những nhân danh, địa danh ghi trong hồ sơ mà hàng mấy chục năm qua, lão không có dịp được nghe nhắc lại. Những tên người, tên đất năm xưa xen lẫn với mớ kỷ niệm hỗn độn, mơ hồ tưởng như đã xóa nhòa trong dĩ vãng nhưng nay đã vụt trỗi dậy như hiện lên qua những hàng chữ trong tập hồ sơ để lôi kéo lão trở về những ngày xa xưa của thời kỳ đầu cách mạng. Lão vội vã đứng bật dậy và toan tìm xuống phòng tạm giam tù nhân. Nhưng bản tính trầm tĩnh đã khiến lão tự kiềm chế được ngay hành động vội vã của mình. Cả một đời lăn lộn trong đấu tranh nhiều khi vào sinh ra tử, nếu lão có leo lên được tới chức vụ bây giờ thì phần lớn cũng là nhờ ở cái sự biết tự kiềm chế đó.
Vì thế, lão chỉ tiến ra phía cửa sổ và móc túi lấy bao thuốc lá châm một điếu để cho cái đầu tự do lan man suy nghĩ. Bên ngoài, trời đang bảng lảng nắng chiều trên những ngôi gò thấp có những bụi cây um tùm xào xạc tiếng lá xen lẫn tiếng chim. Cho đến cái giây phút đó lão mới chợt ngạc nhiên nhận ra rằng ở đây sao giống với khung cảnh thôn cũ ngày xưa của lão đến thế, mà suốt thời gian qua do bận rộn nên lão không hề nhận ra.
Bây giờ thì lão phó mặc cho dòng tâm tưởng của mình trôi về dĩ vãng với hình ảnh của con sông hiền từ chẩy qua xóm làng, có những cánh đồng xanh bát ngát với những mái tranh lô nhô sau những bụi tre già, những thân cau thẳng tắp nhô lên bầu trời mầu xanh lơ và những đụn rơm cao ngất ngưởng mọc lên sau những vụ mùa. Chính ở đó đã xẩy ra cái bi kịch đầu đời của lão và cũng chính từ nơi đó, lão đã bỏ làng ra đi mang theo trong lòng tất cả mối hận thù của một con người bị đàn áp dưới bạo lực. Rồi hơn ba mươi năm trôi qua, trong khoảnh khắc, cái khởi sự và cái hiện thời bỗng nhiên trùng hợp nhau, ở đây, tại cái đồn công an hẻo lánh này qua tập hồ sơ báo cáo về một tên tù, một nhân vật mà lão không bao giờ quên, từ dáng dấp của hắn cho đến ánh mắt cuối cùng mà hắn đã nhìn lão trước khi mỗi người nổi trôi theo một ngả khác nhau trên đường đời.
Cái lý tưởng mà lão đã mang đi từ ngày đầu đã mờ nhạt chẳng còn gì sau những năm dài chứng kiến những cuộc đấu tố ở miền Bắc. Lão biết rõ sự thay đổi ấy trong tâm tư của mình từ lâu, nhưng cuộc sống vẫn lôi lão đi như một khúc gỗ trôi theo dòng. Nhưng cũng lại chưa bao giờ lão thấm thía với chính lòng mình ở giây phút này, cái giây phút khởi đi từ lúc lão miệt mài nghiền ngẫm bản báo cáo do Hào đã để trên bàn.
Những nhân danh, địa danh ghi gói trong đó chợt lôi lão trở về dĩ vãng ngày xưa và đặt lão trong khoảnh khắc vào vị thế của một con người sống cùng một lúc tới hai hoàn cảnh: Một kẻ bắt đầu ra đi và một kẻ đã đi gần như tận cùng của con đường cách mạng. Nhìn lại thành quả, lão thấy xã hội chung quanh hầu như chẳng thay đổi gì. Con người chung quanh lão vẫn lầm than cơ cực. Công cuộc đấu tranh giai cấp làm nảy sinh một giai cấp mới có đầy đủ bản tính bóc lột của chính cái giai cấp mà nó vừa đạp đổ!
Nói cho ngay, cái nhận thức kinh khủng này chỉ gậm nhấm lão một cách âm ỉ và chẳng thường xuyên. Bởi vì một phần là lão quá bận rộn trong công tác, phần khác là do chính lão muốn giập tắt nó ngay vì lão tự nghiêm khắc cho mình là đã lệch lạc mất cảnh giác, mất lập trường.
Nhưng vào buổi chiều hôm nay, một buổi chiều cuối năm có những tiếng pháo đì đẹt từ xa vọng lại hầu như mang lại cho lão một sự hối thúc muốn quay trở lại những hình ảnh ngày xưa. Lão quăng điếu thuốc đang hút giở qua khung cửa sổ rồi mở cửa phòng tiến ra hành lang, đi về phía phòng tạm giam. Viên cảnh vệ đang ngồi trên ghế, trông thấy lão, vội vàng đứng dậy. Lão cất tiếng hỏi:
– Yên ổn cả chứ?
– Trình thủ trưởng, mọi sự bình thường.
Lão kéo tấm vải bạt che kín bên ngoài để nhìn qua những chiếc song gỗ. Lão trông thấy người tù cuối năm đang nằm co quắp tại góc của căn phòng giam chật hẹp và nhờ nhờ ánh sáng. Chiếc áo sơ mi hắn mặc trên người đã rách bươm để phô ra một mảng lưng bầm giập và đọng nhiều vết máu. Chợt lão thủ trưởng hơi nhăn mặt lại. Hình như lão bắt gặp lại cái hình ảnh bầm máu của chính mình hồi gần bốn mươi năm về trước.
Tay lão bấu chặt lấy một tấm song gỗ. Lão gần như thò cả nửa mặt của mình qua khe song để cố nhìn người tù cho thật rõ. Nhưng hắn ta vẫn im lặng nằm ở đấy, không ngước lên, cũng chẳng quay ra nhìn. Trầm ngâm giây lát, lão thủ trưởng quay lại nói với viên cảnh vệ:
– Thằng này nguy hiểm đấy. Phải coi chừng!
Nói rồi lão tất tả đi lên phòng. Lão sai một đàn em mang tất cả mọi thứ vặt vãnh quà bánh, thực phẩm Tết mà lão mua được ở trên thành phố đem ra bầy la liệt lên mặt bàn. Ngoài mấy món đồ dùng lặt vặt như bàn chải răng, xà phòng, dao cạo râu, khăn mặt, vài cuốn sách mới xuất bản, còn kỳ dư toàn là đồ ăn Tết. Có mứt. Có rượu. Có bánh chưng, lạp xưởng và nhiều đồ hộp linh tinh khác đủ để khao cả cái đồn nhỏ bé này một bữa thịnh soạn. Lão gọi Hào vô để ban chỉ thị:
– Thông cảm với các chú vất vả quanh năm, lại tình nguyện không xin phép về quê ăn Tết, tôi khao các chú một bữa tất niên.
Cái tin ấy loan ra làm bầu không khí trong đơn vị rộn ràng hẳn lên. Hào nhanh nhẩu lãnh nhiệm vụ điều động tất cả mọi công việc cần làm: nấu nướng, kê dọn, trang hoàng như chuẩn bị một bữa đại tiệc.
Tối hôm ấy, hàng rào ngăn cách giữa mọi người hầu như mặc nhiên được hủy bỏ (Tết nhất có khác, đồng chí ‘Thủ trưởng dễ dãi hẳn ra). Nhất là khi có rượu vào. Hai chai của Thủ trưởng đem ra, cả đơn vị có hơn chục người chỉ quanh vài vòng là cạn queo. Hào gãi tai xin phép Thủ trưởng cho “vượt chỉ tiêu” một bữa. Thủ trưởng ngần ngại giây lâu rồi miễn cưỡng gật đầu. Thế là có ít nhất hơn một nửa số người hiện diện đã cùng ùa lên, chạy vội vã về phòng riêng. Họ đem bầy ra đủ loại rượu mà nếu chẳng có dịp này thì không bao giờ lão thủ trưởng lại biết được rằng nhân viên của mình lại đổ đốn ra như thế. Nhưng tết nhất mà! Mọi sự xuề xòa hết. Bởi chính lão cũng uống, lão cũng say ngà ngà. Lão cũng đùa giỡn vui vẻ như chưa bao giờ ở đây có ai thấy lão đùa giỡn vui vẻ đến thế. Đến giữa buổi tiệc, lão đem vấn đề người tù ra nói với đám nhân viên:
– Tóm được thằng này tôi phải ghi công các chú. Nó đối với tôi có nhiều nợ máu đấy!
Vừa nói lão vừa cởi phăng chiếc áo đang mặc trên người và xoay lưng về phía néon sáng. Chờ cho mọi người đã đủ kinh ngạc và thắc mắc về những vết sẹo sần sùi, nhăn nhúm rải rác trên khắp lưng của mình, lão mới nói tiếp:
– Đòn thù của cường hào ác bá làng tôi đấy! Cũng một ngày cuối năm như thế này vào thời tiền cách mạng, tôi bị chúng nó trói vào thân cau, vừa đánh vừa dội nước sôi. Sẹo đấy. Sẹo nước sôi đấy!
Rồi lão lại tụt chiếc dép ở chân trái ra và giơ cái cẳng của mình lên cao cho mọi người nhìn thấy:
– Chưa hết đâu. Các chú có thấy vết sẹo cắt ngang gót chân đấy không? Tôi còn bị chúng nó cắt gân, mà kẻ cầm dao chính là thằng này!
Vừa nói lão vừa chỉ về phía phòng tạm giam. Ngay lúc đó có tiếng ly đập bể và có tiếng hét to:
– Cắt tiết nó đi!
Tiếp theo là những tiếng ồn ào, tiếng rủa xả, tiếng văng tục làm bầu không khí tự nhiên sôi sục cả lên.
Lão Thủ trưởng giơ ly rượu lên và cất giọng bình thản:
– Thôi! Rồi đâu sẽ có đó. Ta chẳng nên để cái loại người đó làm mất vui buổi tiệc tất niên hôm nay. Nào, mời các chú nâng ly. Hôm nay đặc biệt cho các chú thả dàn. Nhưng chỉ một hôm nay thôi đấy nhé!
Mọi người quên ngay câu chuyện bi thảm vừa qua và trở về với những ly rượu tràn đầy trước mặt. Ly này cạn, ly khác đã rót thay. Rượu vào lời ra, bầu không khí ồn ào, vui vẻ đúng như một ngày tết.
Khi tàn tiệc, đồng hồ đã chỉ gần mười hai giờ khuya. Trong phòng chỉ còn lác đác một vài người là còn ngồi vững. Những kẻ khác thì đã gục ngay tại chỗ hay lê lết nằm đâu đó trong các góc phòng, ngoài hành lang hay trên những chiếc võng mắc rải rác ở phía sau khu vực kê bàn làm việc.
Lão Thủ trưởng cũng say khướt. Lão được hai tên đàn em xốc lên và dìu về phòng. Mà hai cái anh này cũng chẳng tỉnh táo gì hơn. Bộ ba dính chùm lấy nhau như một chùm sung, chập choạng đi mãi mới hết chiếc hành lang có ánh néon héo úa, vàng vọt.
Khi tới phòng, lão Thủ trưởng cố cất lên tiếng cám ơn bằng một giọng say líu lưỡi rồi lão nhào vào phòng. Hình như lão ngã dúi xuống tại một góc nào đó trong căn phòng, kéo theo một cái ghế ngã đổ. Nhưng điều này chẳng khiến cho hai tên đàn em quan tâm. Họ cũng chuệnh choạng đi về phiá dẫy phòng ngủ dành cho các nhân viên. Một anh lên tiếng hát. Giọng hát ồ ề cất lên chỉ được vài ba câu rồi tắt ngóm. Hình như anh ta cũng đã ngã gục đâu đó trên đường mò về giường ngủ của mình. Cả căn trại trước đầy tiếng la lối, cười nói om sòm nay chìm hoàn toàn trong sự yên tĩnh lạ kỳ. Rải rác đâu đó lâu lâu có tiếng nói mê, có tiếng cựa mình, đạp dẫy lung tung. Cũng có chỗ lại vang lên tiếng ngáy đứt đoạn.
Rồi tiếng pháo giao thừa ở nhiều nơi bắt đầu vọng về. Trước còn thưa thớt, sau trở nên râm ran, rộn rã. Năm cũ đã qua. Một năm mớí bắt đầu. Đời sống cơ cực của mọi người không chắc có thay đổi gì nhưng con người vào cái giờ phút thiêng liêng giữa đêm trừ tịch vẫn nhen nhúm một niềm hy vọng mới, dù là đang ở ngoài đời sống hay đã nằm sau những trấn song của nhà tù.
Người tù ở đây cũng vậy. Tiếng pháo giao thừa đã làm cho ông ta tỉnh dậy sau một cơn ác mộng dài. Hơi ẩm từ sàn đất đưa lên khiến ông ta thấy đầu óc của mình dịu lại. Ông nhấc thử chân tay của mình. Nó vẫn cựa quậy theo sự điều khiển của ông, điều đó khiến ông yên tâm phần nào. Nó đã không bị hề hấn sau những trận đòn mà ông chịu đựng từ hôm trước. Hơn một ngày trôi qua kể từ khi ông bị bắt giữ mà ông thấy nó dài như một thế kỷ. Ông nghĩ đến gia đình, đến bạn bè, đến những người đồng hành trong một chuyến đi hoàn toàn đổ vỡ. Ông cố không muốn nghĩ tới họ nhiều hơn vì ông biết trong hoàn cảnh này ông ông cần dành những tàn lực còn lại cho những chuyện khác quan hệ hơn. Chẳng hạn sự tỉnh táo trong những lời khai báo. Điều gì nói ra được. Điều gì nói ra không được. Lời khai nào có lợi. Lời khai nào dẫn tới hậu quả làm sụp đổ cả một hệ thống những dữ kiện mà ông đã dóng lên qua lời khai báo để tạo cho mình cái vị thế không có gì nguy hiểm trước những cặp mắt soi mói của kẻ lấy cung.
Tiếng pháo giao thừa làm ông tỉnh táo hơn lên. Ông lết lại phiá cửa phòng. Cũng là những tấm song gỗ chắc nịch được che kín mít bởi lớp vải bạt căng từ phía bên ngoài. Ông không nhìn thấy gì nhưng cố vểnh tai lên nghe ngóng. Bốn phiá chung quanh hoàn toàn yên tĩnh gây cho ông cái cảm giác biệt lập hẳn với thế giới bên ngoài. Ông mường tượng qua song gỗ là dẫy hành lang, con đường ông đã quen thuộc khi bị dẫn giải một đôi lần lúc lên phòng thẩm vấn. Bên kia đầu hành lang là dẫy nhà làm trụ sở nơi làm việc của cơ quan. Rồi qua một cái sân đất. Rồi đến hàng rào kẽm gai. Và sau cùng là con đường lộ nhỏ, biên giới giữa đời sống bên ngoài và nhà tù.
Bỗng trong cái tĩnh mịch đến ghê rợn của căn phòng giam nhỏ hẹp chợt vọng lại tiếng chân người. Ông ghé sát tai vào song gỗ để nghe ngóng cho rõ hơn. Ông nghe thấy tiếng chân đi về phía phòng giam của mình. Rồi tiếng chân dừng lại ngay trước cửa phòng. Có tiếng sột soạt của lớp vải bạt che bị kéo lên. Và ánh sáng héo úa của ngọn đèn trước cửa hắt qua song gỗ làm ông hơi nheo mắt lại. Nhưng rồi ông thấy ngay một người đứng ở đó, mặt quay vào. Có tiếng cất lên nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, rành mạch, tiếng của lão Thủ trưởng:
– Ông Nguyễn Phú Định!
Người tù, ông Nguyễn Phú Định, hơi giật mình mở to mắt lên nhìn kỹ kẻ mới đến. Nhưng trong đầu óc bồng bềnh tan loãng của mình, ông không nhận ra được ai ngoài khuôn mặt xa lạ của một kẻ đã bước qua tuổi già với những nếp nhăn ở trán ẩn dưới mái tóc đã ngả mầu đốm bạc. Lão Thủ trưởng nói tiếp:
– Ông không nhận ra tôi đâu, kẻ ba mươi sáu năm trước đã bị chính ông cầm dao cắt gân chân. Ông còn nhớ chứ?
Đầu óc của ông Định bỗng lóe lên một kỷ niệm như một tia chớp sáng lòa. Ông nhìn sững kẻ đối diện. Thời gian đã xóa nhòa hình ảnh quen thuộc, đã chìm sâu trong quá khứ. Ông không còn tìm thấy ở nhân vật này hình bóng chàng thanh niên năm xưa, tóc tai rũ rượi, mặt mũi bầm tím, quần áo rách nát bị trói giật hai tay ra phía đằng sau lưng vòng qua thân của một cây cau. Anh ta đã lẻn vào trong vườn nhà ông Lý trưởng trong làng. Anh ta đã leo lên cây cau để bẻ trộm một buồng cau to nhất, đẹp nhất mà ông Lý dự định sẽ dùng tới trong lễ ăn hỏi của con trai ông. Đang bẻ trộm thì anh ta bị phát giác. Ông Lý vác tù và ra thổi inh ỏi và tráng đinh trong làng đổ xô lại. Cuộc hành hạ một kẻ nghèo đói, khốn cùng kéo dài suốt từ sáng cho đến chiều. Đánh đập. Chửi rủa. Dội nước sôi vào lưng và sau cùng như vẫn còn giận vì mất buồng cau đẹp nhất dành cho ngày lễ trọng, ông Lý lạnh lùng phán:
– Cắt gân chân cho nó chừa đi ăn trộm!
Công việc hãi hùng này ông Lý truyền cho Định cũng là một tráng đinh, phải thi hành.
Định cầm con dao sắc như nước của ông Lý giao cho mà người cứ như lên cơn sốt. Trong đời anh, anh đã từng cắt tiết gà, thậm chí có nhiều lần thọc cả huyết heo nhưng điều đó không làm cho anh có can đảm gì hơn khi phải cắt gân một con người. Chỉ cần nghĩ tới thôi anh đã bủn rủn tay chân rồi. Nhưng lệnh là lệnh, anh không có quyền chối từ. Anh cầm con dao với tất cả sự run rẩy mà chỉ có anh tự nhận biết. Trời xẩm tối, ông Lý ra lệnh cho đốt đuốc lên để soi sáng cho cuộc bạo hình. Ánh lửa bập bùng soi lên từng khuôn mặt dữ tợn của đám tráng đinh đang in những cái bóng chập chờn trong tiếng kêu than rền rĩ của tội nhân tạo thành một bầu không khí ma quái, ghê rợn như khung cảnh địa ngục có bầy quỷ sứ.
Định vô cùng ngại ngần nhưng cuối cùng cũng phải sấn tới. Anh ta đứng trấn ngay trước mặt tội nhân để che lấp mọi người. Rồi anh ta nhìn thẳng vào đôi mắt cầu cứu, van lơn của gã ăn trộm.
Suốt nhiều năm sau đó, mỗi khi nhớ lại, ông Định cũng chẳng bao giờ quên được cái ánh mắt khẩn cầu, tuyệt vọng của một kẻ đang bị dẫn tới đường cùng. Còn chính nạn nhân, tức là Thủ trưởng bây giờ, mỗi khi nhớ lại cái giây phút hãi hùng đó, lão cũng không thể quên được ánh mắt của kẻ cầm dao trước mặt. Trong ánh lửa bập bùng, tia nhìn của gã tráng đinh tên Định không mang vẻ gì gọi là hung ác, bạo tàn mà ngược lại nó có vẻ bao hàm một nỗi cảm thông, thương xót.
Rồi một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu óc Định. Gã nháy mắt với tên trộm, hươi con dao lên, và lợi dụng đang còn sấp bóng, gã bấu lên vai tên trộm một cái như có ý ra hiệu.
Thế rồi cuộc hành hình xẩy ra theo đúng ý muốn của viên Lý trưởng. Định đã nhấc cẳng chân trái của tội nhân lên, nhắm đường gân ở gót mà cứa mấy đường dao.
Máu phụt ra chan hòa và tội nhân hét lên kinh hoàng đau đớn. Nó đã bị cắt đứt gân chân. Nó không còn lết được. Người ta đã khiêng nó đem vứt ở ngoài cổng làng. Ai cũng nghĩ rằng sẽ không còn bao giờ gã còn cơ hội bén mảng tới đây để leo trèo những cây cau, vì chân của gã bị tàn phế. Trừ người trong cuộc.
Quả thật Định đã áp dụng kỹ thuật chọc tiết heo của mình vào cuộc bạo hình. Đường dao của anh trông dữ dằn như thế nhưng chỉ làm đổ máu ở bên ngoài. Gã ăn trộm đêm hôm ấy, chờ không còn ai, đã nhỏm dậy bỏ làng đi mất biệt.
Hơn ba mươi năm trời trôi qua, bây giờ hai nhân vật ấy lại đối diện nhau nhưng vị thế đã đảo lại, tên tội nhân đã trở thành người quyền thế và kẻ kia thì đứng sau những song gỗ của phòng giam tù. Có tiếng của lão Thủ trưởng cất lên:
– Ông Định. Hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông.
Bàn tay của lão chìa ra và ông Định cũng thò tay ra nắm lấy. Lòng ông rưng rưng cảm động. Ông thấm thía về hai chữ tình người, dù là giữa những con người đến từ hai phía. Cuối cùng, bao giờ tình người cũng vượt lên trên được tất cả, trên áp bức, trên cường quyền, trên căm thù bạo lực.
Trong hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, con người đã vận dụng bạo lực, căm thù để mong giải quyết những vấn đề của xã hội. Thời gian đã đủ dài để ai cũng thấy rằng bạo lực hay căm thù chỉ làm đổ vỡ thêm những gì vốn đã hoang tàn, rách nát.
Đã lâu lắm, lão Thủ trưởng vẫn từng gậm nhấm những ý nghĩ dằn vặt này. Nhưng chưa bao giờ lão có cơ hội để bứt phá cái định kiến vốn đã in hằn trong tâm khảm của lão. Như một giọt nước nhỏ vào một cái ly đã tràn đầy, cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa lão và người tù đã khiến lão thừa đủ năng lực để giải phóng chính mình.
Đêm hôm ấy, ông Định thong thả ra đường cái để đón xe trở về Sài Gòn.
Và sáng hôm sau, đúng Mồng Một Tết, tại cái đồn công an nhỏ bé ấy, viên Thủ trưởng đã gieo một cơn phẫn nộ sấm sét lên đầu đám nhân viên thuộc cấp của mình về tội nhậu nhẹt say sưa, đã làm sổng mất người tù cuối năm. Một kẻ có nợ máu. Một tên tù tối nguy hiểm.
NHẬT TIẾN
Santa Ana tháng 1-1983
Chương 11
Tác phẩm gây tranh cãi
Thời điểm sáng tác : 1985
Trong Thư ngỏ gửi nhà văn Nhật Tiến, nhà văn Diệu Tần đã nhân danh độc giả để phê phán rằng Nhật Tiến “luôn luôn nêu lên cái phi nhân, cái thành kiến, cái ngu dốt của phía quốc gia”. Rồi ông dẫn chứng nhân vật Trường trong truyện ngắn Cánh Cửa, với lời phê phán rằng Nhật Tiến đã “dựng một cựu sĩ quan pháo binh…có một nhãn quan hẹp hòi, ấu trĩ, ngu dốt”.
(Trích Hành Trình Chữ Nghĩa, cuốn I, trang 208)
cánh cửa
Truyện ngắn NHẬT TIẾN
Mối liên hệ giữa Trường và Sủng, thằng công an mặt non choẹt chỉ đáng tuổi con trai của chàng, khởi sự từ hôm Trường kiếm được một mảnh nhôm lớn. Mảnh nhôm nằm đâu đó trong bụi cỏ và bị vùi nông dưới một lớp đất bùn. Thoạt tiên, Trường tưởng đó là một miếng tôn gỉ. Nhưng nắn thử, chàng thấy nó vừa cứng, vừa nhẹ. Lúc chàng miết mạnh móng tay cái của mình xuống, Trường thấy nó để lại một vệt sáng ngời. Thế là Trường thủ mảnh nhôm đem về trại và phác họa trong đầu đủ thứ vật dụng mà chàng có thể biến chế. Chàng nghĩ đến một cái lược cài tóc cho vợ, một cái trâm gài đầu cho đứa con gái và một cái mặt dây chuyền đeo cổ để tùy nghi. Thời giờ ở đây có thừa để Trường đủ kiên nhẫn ngồi gò những món vật dụng của mình trở thành tinh xảo. Như cái lược là một công trình tuyệt hảo của bàn tay tài hoa phối hợp với khối óc nhiều sáng tạo. Hàng răng lược đều đặn, khoảng cách cân đối, còn dẫy hoa văn khắc trên mặt lược là cả một nghệ thuật trang trí tỉ mỉ, gợi ý từ những mặt hổ phù, những nét khắc họa trang trí trên đồ gỗ, đồ khảm, đồ chén đĩa mà trước đây Trường đã có nhiều lần say sưa ngắm nghía.
Một công trình như thế, Trường đã phải dành ra cả tháng ròng rã để hoàn tất. Trong thời gian ấy, đi đâu chàng cũng mang nó theo, dắt kỹ ở lần túi trong của chiếc áo thô sơ may bằng vải bao cát. Khi đi lao động có chút thì giờ nghỉ ngơi, Trường hay đem nó ra ngắm nghía để thấy mình còn đôi chút hơi hướng nghĩ về người vợ thân yêu. Chiếc lược này rồi ra sẽ được cài lên mái tóc óng ả, mợt như tơ của nàng.
Nói cho đúng ra, đó là mái tóc trong kỷ niệm, trong trí nhớ của thời kỳ đoàn tụ, yên ấm đã qua chứ không phải là mái tóc cũng của chính nàng nhưng đã tơi tả, héo khô và ngả màu đốm bạc mà chàng đã trông thấy trong lần thăm nuôi kỳ trước. Hôm ấy Trường đã giơ bàn tay sần sùi, chai sạn vuốt lên mái tóc xác xơ của nàng, với lòng đầy nghẹn ngào, xúc động. Mới có vài năm trôi qua mà mọi sự đổi thay mau chóng đến bàng hoàng. Tuy nhiên hình ảnh mái tóc phong sương đầy vất vả ấy dù đã hiện hữu nhưng hãy còn quá bỡ ngỡ, mới mẻ. Nó không đủ sức để bôi xóa được trong tâm tưởng của chàng về một mái tóc đen mượt, óng ả bao quanh chiếc cổ trắng ngần và phủ xuống hai bờ vai thon.
Ngày xưa đã xa lắc, đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại như mái tóc đã đổi màu chẳng thể bao giờ còn lấy lại được vẻ nuột nà. Nhưng Trường vẫn cứ muốn níu kéo, cứ muốn mọi kỷ niệm, mọi hình ảnh, mọi tâm tình đều phải dừng lại ở thời điểm nồng nàn ấy như một cái phao cuối cùng giúp chàng có can đảm lội qua được chặng đường khổ ải này. Cho nên chàng vẫn chắt chiu cái lược với tất cả sự say sưa. Mồ hôi lao động thấm qua lớp áo vải thô đã làm cho nó lên nước bóng ngời. Chàng vừa khắc những nét tỉ mỉ vừa thủ thỉ với nàng, với kỷ niệm, với cả chính chàng.
Cơn mê sảng thảng thốt ấy khiến chàng đôi lúc đã bứt rời thực tại và đắm chìm trong những giấc mơ huyễn hoặc. Chàng không nghe thấy tiếng báo cáo viên nói. Còi tập hợp của cán bộ đã thôi thúc luôn hồi, chàng vẫn chưa buồn đứng dậy. Hết giờ nghỉ giải lao mà chàng hãy còn mơ mộng, lần khân. Cho đến một lần thì thằng công an mặt non choẹt đã giận dữ xông lại. Nó túm lấy ngực áo của chàng. Nó kéo chàng bật dậy, sừng sộ:
– Nàm chưa được một góc công nênh mà đã đổ nười ra hả. Ông thì đá cho một cái xem mắt có mở to thao náo, nàm ăn tỉnh táo ra ngay không lào!
Trường không đáp, lẳng lặng nhét cái lược vô trong túi rồi định quay gót đi. Nhưng thằng Sủng tưởng chàng giấu giếm cái gì đã vội vã vặn ngoéo cổ tay chàng lại. Hai người đột nhiên ở vào cái thế phải giằng co. Rồi cái lược rớt xuống đất. Cái lược sáng loáng lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời nom như một thỏi bạc sáng ngời. Vật lạ khiến cho Sủng ngây hẳn người ra. Nó cúi xuống lượm lên rồi giơ lên ngắm nghía cái công trình tuyệt hảo ấy một cách sững sờ. Lâu lắm nó mới lại cất tiếng, lần này giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng hơn:
– Anh nàm nấy đấy à?
Trường không đáp mà chỉ lẳng lặng gật đầu. Rồi chàng giật lấy cái lược trên tay thằng công an mà lòng nhen nhúm một sự tức giận, khinh bỉ đến tột cùng. Những hạng súc vật như nó không đáng sờ mó lên vật kỷ niệm vô giá của chàng. Tay chàng run lên. Mắt chàng long sòng sọc. Chàng sầm sầm quay đi. Đây là lần đầu tiên chàng có phản ứng mạnh mẽ đối với một đứa công an. Những lần khác, chàng chỉ khinh bỉ mà không hề giận dữ. Chàng vẫn nói với các bạn đồng tù rằng chỉ có lòng khinh bỉ mới đặt mình ở vị trí cao hơn. Giận dữ với chúng nó là tự đặt mình ngang hàng. Thế mà hôm nay chàng đã bầy tỏ thái độ giận dữ. Cơn giận dữ ùa đến bất ngờ khiến chàng không thể kiểm soát được, có lẽ nó bắt nguồn từ bàn tay thô bạo của thằng công an đã dám sờ mó lên vật kỷ niệm thiêng liêng của chàng. Nhưng rồi chàng tự nhủ, như thế là còn may. Nó chưa có dịp mè nheo, xin xỏ hay tệ hơn nữa, tạo đủ lý do để tịch thu bất cứ cái gì mà nó muốn.
Sau hôm đó, Trường chôn kỹ cái lược ở một chỗ kín đáo ngoài phòng giam tù. Chàng chỉ sẽ đào nó lên trong lần thăm nuôi kỳ sau để tự tay cài lên mái tóc úa khô, xơ xác của vợ chàng. Bây giờ thì chàng khởi sự công trình mài rũa chiếc trâm dành cho đứa con gái. Công việc ngày một thêm khó khăn hơn, bởi vì những ngón tay xước nát, bầm dập của chàng. Lúc mài mảnh nhôm xuống mặt xi măng hay trên một hòn đá nhỏ, chàng nghe thấy sự buốt xót từ những đầu ngón tay hòa lẫn với cái cảm giác trơn láng, mát lạnh của mặt nhôm. Chàng thì thầm với con gái về sự nó có cảm nhận được làn da tay sần sùi, rớm máu, đau đến tê dại của bố khi cài chiếc trâm này trên đầu hay không. Phải chăng đấy cũng là một loại ngôn từ di chúc của cha gửi đến cho con. Và trong lòng quê hương khốn khổ này, đã có biết bao nhiêu là ngôn ngữ lưu truyền kiểu đó, của thế hệ này gửi lại cho thế hệ sau.
Trong thời gian đó, Trường cũng để ý đến sự thay đổi khác lạ trong cung cách đối xử của thằng công an. Nó bớt hẳn giọng điệu gay gắt đối với chàng. Thỉnh thoảng nó hay nhìn chàng với ánh mắt nửa như thân thiện, nửa như lấm lét. Trường ngạc nhiên tự hỏi cái lược chạm trổ của chàng đã làm chóa mắt thằng côn đồ đó đến cỡ nào khiến nó thay đổi thái độ như thế. Nhưng Trường tự nhủ, dù thế nào thì công an vẫn là những thằng công an. Chế độ sản sinh ra chúng nó để chỉ thuần túy là công cụ của bạo lực, để sẵn sàng đàn áp không nương tay và bất chấp tình người. Ngay các bạn đồng tù của chàng cũng đều chia sẻ cái thành kiến này. Chúng nó chỉ sống theo bản năng và gần gũi với loài súc vật. Trường băn khoăn tự hỏi thằng Sủng toan tính gì đây khi nó muốn lân la với chàng. Điều này khiến cho chàng phải chú ý đến nó nhiều hơn và chàng ngạc nhiên khám phá ra rằng đối với tất cả những tên cán bộ ở đây, chưa bao giờ chàng nhìn ngắm chúng kỹ lưỡng cả. Hàng năm trời gặp gỡ, tiếp xúc, bọn chúng chỉ như những cái bóng mờ nhạt xuất hiện qua lại trước mắt chàng mà chàng không thấy cần thiết phải bận tâm. Thì giờ đâu bận tâm đến lũ người ấy?
Nhưng bây giờ, trong hoàn cảnh này, Trường không thể không nhìn ngắm thằng Sủng kỹ lưỡng hơn. Nó còn trẻ lắm. Tuổi chỉ mời chín, hai mươi là cùng. Đầu nó hớt cao. Vầng trán thấp ngủn lại gồ. Đôi mắt hơi xếch ẩn dưới đôi lông mày rậm. Mặt nó vuông hình chữ điền, đôi môi dầy, bậm sịt lúc nào cũng mím lại làm cho vẻ mặt tăng thêm phần dữ tợn, loại dữ tợn ẩn chứa một vẻ đần độn, đơn giản, cực đoan và liều lĩnh. Chung qui, cả khuôn mặt của nó chỉ vớt vát lại được có mỗi một nụ cười. Lúc nó cười, hai hàm răng trắng bóng phô ra làm dịu đi nét cau có ở đôi lông mày, và trong ánh mắt của nó toát ra một niềm vui không thể che giấu.
Cho đến một hôm, nhân dịp vắng vẻ, thằng Sủng tự ý sấn lại gần chàng. Lúc này Trường đang ngồi mài chiếc trâm bằng nhôm trên mặt cát. Vừa nhác thấy nó, Trường ngừng tay và thủ cái trâm vào ống tay áo. Thái độ của Sủng đầy vẻ rụt rè. Một nửa nó muốn tiến tới, một nửa nó định bỏ đi. Nhưng nó không quyết định được dứt khoát nên hóa ra tần ngần và mỗi lúc một thêm bối rối. Rút cục nó không biết làm gì khác hơn là nhe răng ra cười. Dù cảnh giác cách nào thì Trường cũng không đủ nhẫn tâm để cau có với một kẻ đang cười với mình. Nét mặt của chàng dịu lại. Chàng vẫn không cất tiếng, nhưng nhìn nó với một vẻ dò hỏi. Một lát thằng Sủng mới vô đề bằng một câu bâng quơ:
– Lày, nính Ngụy cũng có nắm tay tài hoa đấy chứ nhỉ.
– Tài hoa về cái gì?
– Cái nược ấy. Cái nược mà anh nàm nấy đấy.
Trường mỉm cười:
– Ờ! Đó là nghề tay trái.
Sủng ngơ ngác:
– Nghề tay trái nà nghề gì?
– Là nghề phụ. Là thứ nghề không phải nghề. Làm chơi cho vui vậy thôi.
– À! Cái đó gọi nà “nghiệp dư”. Nghiệp dư thì lói nghiệp dư chứ cái gì mà nại đi ví von tay phải với tay trái. Chữ nghĩa của các anh đến nà buồn cười.
Trường nhún vai:
– Thì cũng giống như chúng tôi buồn cười khi nghe anh nói nghiệp dư, nghiệp thừa vậy.
Phải như khi trước thì Sủng đã nổi sùng về câu nói móc máy này rồi. Nhưng lần này nó vẫn giữ một vẻ thản nhiên. Nó thú nhận:
– Tôi chưa bao giờ trông thấy một cái nược đẹp đẽ đến như thế. Ló nại nàm bằng tay không thôi. Lếu tôi không chính mắt thấy thì tôi không tin nà do anh nàm.
Thấy Trường không đáp, Sủng lại nói tiếp:
– Mẹ tôi ở nhà cũng có một cái nược bằng bạc. Cái nược di truyền mấy đời rồi cơ đấy. Lom thấy cái nược nàm tôi nhớ đến mẹ tôi, thương mẹ tôi vô cùng.
Trường ngạc nhiên về tâm tình của thằng Sủng. Chàng cất tiếng hỏi:
– Bà cụ bây giờ vẫn khỏe mạnh chứ?
Sủng bùi ngùi:
– Bà ấy mất rồi. Mất hồi lăm kia… Bệnh tật nâu mà thuốc men thì thiếu thốn…
Rồi chợt nhớ ra rằng kể khổ trước mặt bọn Mgụy là sai lập trường, Sủng vội xoay ra chuyện khác:
– Anh cũng còn mẹ hả? Anh khắc cái nược cho bà cụ hả?
Trường lắc đầu:
– Mẹ tôi cũng mất rồi. Cái lược đó tôi dành cho vợ tôi.
Mắt thằng Sủng rạng lên một niềm vui. Hình như nó cũng biết chia sẻ tấm lòng của một người đang xa cách gia đình. Trường tự nhủ, thằng này cũng còn có tâm tình riêng đấy chứ. Điều này làm cho Trường trở nên dễ dãi hơn và chàng không còn giấu cái trâm ở tay áo nữa. Cái trâm mới đang ở giai đoạn hình thành, với dáng dấp thuôn dài và mặt nhôm còn nhiều vẻ thô sơ. Mắt thằng Sủng sáng lên khi nhìn thấy mảnh nhôm trên tay chàng:
– Tôi thấy tài thật. Miếng nhôm xấu xí thế lày mà anh biến chế thành đồ mỹ thuật rất tinh xảo. Tôi phục năn!
Trường giơ cái trâm lên ngắm nghía rồi giảng giải:
– Gọi là nghề tay trái… hay nghiệp dư gì đó. Nhưng vận dụng được nó nhuần nhuyễn cũng phải đòi hỏi cả một quá trình tập luyện.
– Phải rồi, nàm gì thì nàm cũng phải có học tập tốt đã chứ. Anh học cái nghề trạm trổ lày ở trong quân đội Ngụy à?
– Không! Tôi ở ngành pháo binh, mà pháo binh thì ai mà đi dạy cho cái nghề lẩm cẩm này. Tôi tự nghiên cứu, học hỏi lấy.
Sủng ngơ ngác:
– Học hỏi nấy một mình mà cũng nàm được như thế cơ?
– Chứ sao? Miễn là có một đôi chút năng khiếu cộng với lòng say mê nghệ thuật.
Mắt Sủng thoáng một tia hớn hở và nó cất giọng hỏi thành thực:
– Say mê thì tôi dứt khoát nà say mê rồi. Nhưng nàm sao để biết rằng mình có được đôi chút lăng khiếu?
Trường nhìn vẻ mặt đần độn của nó một cách thương hại rồi trả lời buông xuôi:
– Thì cứ làm đại đi rồi sẽ biết.
– Anh hướng dẫn tôi nhớ!
Lời đề nghị bất ngờ của Sủng khiến Trường bối rối. Nhưng chàng chưa kịp trả lời thì nó suy nghĩ thế nào đã vội chữa lại:
– Nhưng không được đâu! Tôi niên hệ nhiều với anh, cấp trên sẽ đặt vấn đề.
Vừa lúc đó có một toán lao động đi ngang, Sủng vội vã bỏ đi.
Tối hôm ấy, hình ảnh của Sủng với ước vọng đơn sơ của nó khiến Trường trằn trọc. Vậy ra tiềm ẩn ở đằng sau những hành động đàn áp, ngỗ ngược, nó vẫn còn có tâm tình riêng, và có cả năng khiếu trong lãnh vực thẩm mỹ. Điều này thật hoàn toàn bất ngờ đối với thành kiến sẵn có của Trường. Từ lâu, chàng vẫn nghĩ rằng tất cả bọn chúng nó đều chỉ là những công cụ vô tri của chế độ, hay tệ hơn nữa, lũ người này chỉ đáng được xếp ngang hàng với một lũ súc vật. Có nghĩ họ là súc vật thì chàng mới bất thần nổi nóng bất tử khi Sủng dám đụng tay vào cây lược kỷ niệm vô giá của mình. Bây giờ nghĩ lại, Trường cảm thấy xấu hổ về cơn giận dữ quá đáng của mình. Ai đã được sinh ra, đầu tiên lại chẳng là một con người. Nhưng từ con người đến nỗi trở thành con thú là do hoàn cảnh xô đẩy. Sự kiện đã xảy ra chẳng cứ ở bên này hay bên kia.
Trong xã hội cũ, có thiếu gì con người cũng chẳng còn đôi chút nhân tính. Đó là những kẻ đầu cơ, tích trữ, những đứa sống nhởn nhơ, phè phỡn trên cơn thiếu thuốc men, bệnh tật của dân nghèo khó, những đứa buôn súng đạn, bán đứng sinh mạng của chính anh em đồng ngũ của mình. Còn trong xã hội Cộng sản này, con người bị xô đẩy vào một tình huống khác, ở đó nó bị chế độ nhào nặn bằng những phương pháp vận dụng khoa học tinh vi nhất, thân phận con người trở thành những mẫu mực được đổ khuôn theo nhu cầu trấn áp để bảo vệ chế độ. Trường tự lấy làm ngạc nhiên rằng tại sao mình dễ dàng nổi giận với Sủng mà chưa bao giờ một lần trước đây, chàng nổi cơn phẫn nộ đối với những con người phi nhân tính ở trong xã hội cũ. Hẳn cơn giận dữ về sự buôn bán trên sinh mạng, sức khỏe và sự nghèo đói cơ cực của đồng đội, đồng bào sẽ đích đáng hơn là cơn giận ùa đến từ sự kiện một kẻ dám sờ tay vào một cái lược vô tri chứ? Trường thấy rõ nỗi bất công của mình và đó là lý do đã khiến cho chàng bứt rứt về cơn giận dữ vừa qua của chàng.
Chàng tự nghĩ, nếu trước đây ai cũng biết nổi giận, và nổi giận kịp thời thì đất nước đâu đến nỗi cơ cực, lầm than như hiện nay. Và ngay cả đến bây giờ, ở bài học mất nước có bao nhiêu người rút tỉa được điều gì đích đáng? Trường thực sự lao đao về những nhận thức mới mẻ này. Chàng có cảm giác như mình vừa đụng phải cái phao vật vờ đâu đó trong cơn chìm tàu hoảng hốt giữa đại dương đầy bão tố. Chàng cố gắng bình tĩnh để nghiền ngẫm đầy đủ mọi sự ngay từ cái khởi đầu. Nghĩa là phải vén những tấm màn che của thành kiến, nông cạn, phải đâm toạc vào bóng tối u mê của những nhận thức cực đoan, một chiều. Nói gọn lại là hãy tự giải phóng chính mình trước để có tự do nhìn ngắm con đường sẽ phải đi tới nhằm giải phóng quê hương.
Ngày hôm sau, Trường đã gặp lại Sủng trong một tâm trạng bình thản hiếm thấy ở chàng. Điều đó có nghĩa là chàng đặt thằng Sủng trước hết ở vị trí một con người để từ đó chiêm nghiệm xem con người đó đã bị chế độ làm biến chất đi đến mức độ nào và những gì còn vớt vát lại được ở trong nó. Không như trước đây, vì mất mát, vì đổ vỡ, vì chìm đắm trong thiếu thốn, khổ hình, Trường hay có thái độ sổ toẹt. Nghĩ cho cùng, kể cũng thật là ghê gớm khi người ta dễ dãi sổ toẹt một con người. Thằng Sủng hôm nay có vẻ rất phởn phơ. Nó nhoẻn với Trường một nụ cười ngay khi vừa chợt trông thấy chàng. Hai hàm răng của nó trắng bóng dưới ánh nắng của một ngày đẹp trời. Trong tia nhìn của nó thấp thoáng ánh sáng của một niềm vui. Trường hỏi:
– Có chuyện gì mà sao hôm nay vui thế?
Sủng vỗ lên túi áo ngực và nói:
– Nhận được thư… nhà!
– Thích nhỉ. Tất cả đều bình yên chứ?
Sủng ngần ngừ, rồi đáp nhỏ:
– Lói đúng ra, không phải thư nhà đâu. Tôi nhận được thư của cô Ninh.
Trường ngạc nhiên:
– Cô Ninh là ai?
Sủng cười hềnh hệch:
– Người yêu của tôi đấy. Hai đứa dự định lăm tới sẽ đứng ra “tổ chức”.
– Tổ chức cái gì?
– Còn cái gì. Tổ chức nà nấy nhau, mà nập gia đình chứ còn gì.
Trường bật lên cười và lần này chàng có dịp nhạo lại nó:
– Cái đó gọi là làm đám cưới. Làm đám cưới thì nói là làm đám cưới chứ cái gì mà tổ chức với tổ chiếc. Chữ nghĩa các anh dùng đến là buồn cười.
Thằng Sủng không lấy làm phật lòng về sự châm trích này. Nó chỉ đáp buông xuôi:
– Ừ thì quen thế lào, lói thế ấy.
Rồi bỗng nó buông một lời nhận xét khiến Trường phải giật mình:
– Nghĩ cũng buồn cười đấy nhỉ. Mình cũng nà người Việt lam mà lói với nhau nắm khi không hiểu.
Trường bị xúc động lắm về câu nói bất ngờ này. Bao nhiêu ngày bị giam hãm ở đây, chưa bao giờ Trường nhớ lại được ra rằng quê hương Việt Nam từ ngàn xa vẫn trải dài từ Nam Quan cho đến Cà Mâu. Cơn sụp đổ phũ phàng của đất nước đóng khung sự suy nghĩ của chàng vẫn ở cái thời điểm mà đất nước bị chia cắt. Bên này và bên kia. Bên này sụp đổ. Bên kia xâm lược, chiến thắng. Uớc mơ của chàng về sự giải phóng đất nước, nếu có thì chỉ là sự giải phóng một miền Nam, khôi phục lại vùng đất cũ chứ chưa bao giờ chàng nghĩ đến một giải giang sơn trải dài từ Bắc xuống Nam cùng chung sống trong một vận hội mới. Làm sao Trường có thể hình dung ra được một sự chung sống như thế với nhân dân hai miền đầy rẫy những mâu thuẫn, khác biệt. Nhưng ít ra đó cũng là một ước mơ, một nguyện vọng chính đáng phải thể hiện chứ.
Trường hỏi Sủng:
– Anh nghĩ rằng tôi cũng là người Việt Nam như anh à?
Sủng ngạc nhiên:
– Anh không nà người Việt Nam thì nà người gì?
– Thì tôi vẫn là người Việt Nam. Nhưng tôi tưởng, dưới mắt các anh, chỉ có một bên là các anh, một bên là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Làm gì có người Việt Nam với nhau, có phải thế không?
Hình như Trường đặt ra với Sủng một câu hỏi có vẻ vượt quá khả năng suy nghĩ của nó. Nó hơi bối rối một chút, Nhưng rồi cũng tìm ra câu trả lời:
– Với chúng tôi, bạn, thù rất phân minh. Nẫn nộn với bạn và thù nà chao đảo, nà hữu khuynh.
– Vậy anh nghĩ về tôi là gì? Bạn hay thù?
– Trước học tập cải tạo, anh nà thù. Sau học tập cải tạo anh nà bạn. Nà bạn hay thù, cái đó tùy thuộc ở anh!
Trường cười khẩy:
– Thôi đi mà anh Sủng? Anh thuộc bài bản đấy, Nhưng thực tế nó đâu phải vậy. Anh thừa biết đấy, trước hay sau học tập, chẳng bao giờ chúng tôi được chế độ tin dùng. Còn trong học tập lại càng rõ ràng cụ thể nữa. Cái chính sách kéo dài cải tạo vô thời hạn, đời sống vật chất cực kỳ thiếu thốn, công tác lao động lại cực kỳ nặng nhọc, tất cả cho thấy không có một kết luận nào khác hơn là các cấp lãnh đạo của các anh có chủ trương hủy hoại khả năng chống đối của con người.
Mắt Sủng tự nhiên sững lại. Nó ngó Trường một cách trân trân, cái nhìn biểu lộ một sự ngạc nhiên hơn là hận thù. Rồi nó buông một câu nhỏ vừa đủ để cho Trường nghe:
– Anh cũng nhận ra điều ấy, hả!
Nói xong Sủng đột nhiên bỏ đi. Thái độ vội vàng này chỉ có thể giải thích được rằng Sủng đã sợ hãi sau khi buông ra một lời thú nhận, đồng tình.
Dẫu sao thì sau lần đó, giữa Sủng và Trường đã mở ra thêm được một cánh cửa. Sự dè dặt của Trường đối với nó đã giảm thiểu đi rất nhiêu. Bây giờ thì Trường có thể kể cho nó nghe huyên thuyên về đủ mọi thứ chuyện trong đời sống ở một xã hội tự do. Trước thì chỉ là vì ý thích, vì lòng hoài vọng những kỷ niệm đã xa vời, nhưng dần dà Trường trở nên say mê trong một dụng ý mới. Chàng muốn cải tạo chính thằng nhỏ đang có nhiệm vụ cải tạo mình. Điều này thật ra không phải dễ. Sủng có những quan niệm đã đóng khuôn và trở thành chai đá. Như quan niệm về sự tự do mà Trường đã nhiều lần gợi ý, Sủng chỉ cho rằng đó là một sự hỗn loạn, cá lớn nuốt cá bé, giầu bóc lột nghèo.
– Điều đó cũng đúng thôi. Nhưng không phải vì chán ghét cái này mà mình phải chấp nhận cái kia cũng tệ hại chẳng kém.
Trường nói với nó như thế và nó im lặng đồng tình. Nó thú nhận:
– Ở miền Bắc, chả có ai rỗi hơi đặt ra những vấn đề như anh lói. Mọi sự đều có Đảng và nhà lước no hết.
Trường kêu lên:
– Thế thì cả cái xã hội ấy đã trở thành một cái chuồng trâu, chuồng bò rồi còn gì.
– Có sao đâu! Bao nhiêu chục lăm lay, chả thấy có ai cần lêu thắc mắc gì ngoài sự tranh cãi về sự thiệt thòi nhu yếu phẩm.
Trường bùi ngùi:
– Thế thì phải hiểu rằng nhân dân miền Bắc đã bị tước đoạt quyền tối thiểu làm người. Bởi vì đời sống đâu chỉ có gói tròn trong có mỗi một vấn đề nhu yếu phẩm.
– Anh lói thế chứ, đó nà một vấn đề quan trọng hàng đầu đấy. Dời nhu yếu phẩm ra nà chết đói nhăn răng.
Trường chép miệng:
– Chưa bao giờ trên đời này lại có một kiểu xã hội đơn giản và khủng khiếp đến như vậy.
Lòng Trường đột nhiên tràn ngập một nỗi xót xa đến độ chàng không còn muốn nói thêm với Sủng một lời. Chàng im lặng đẩy mũi dao nhọn hoắt trên những đường hoa văn chạy trên một cái trâm cài. Sủng cũng không nói gì thêm mà chỉ say sưa chăm chú theo dõi những nét tài hoa mà Trường đang chạm trổ. Khi Trường hoàn tất những nét sửa chữa cuối cùng, chàng giơ cái trâm lên ngắm nghía. Lúc ấy Sủng mới trầm trồ:
– Tuyệt đẹp anh ạ. Lếu anh rảnh, nhờ anh khắc cho tôi một cái để tôi gửi tặng Ninh.
Trường gật đầu:
– Anh đi kiếm nhôm đi. Chuyện khắc là chuyện dễ.
Sủng reo lên như một đứa trẻ được mẹ hứa cho quà. Bây giờ nó mới thú nhận rằng nó đã tom góp được bao nhiêu là mảnh nhôm và ước vọng của nó chỉ là có được một cái lược giống y như cái lược nó đã trông thấy hôm nào để gửi tặng người yêu. Sủng nói:
– Chỉ xin anh thêm cho vô đây một hàng chữ viết nà “Yêu Ninh trong nghĩa vụ thanh liên”.
Trường hỏi:
– Ninh hay là Linh. En nờ hay E lờ?
– E nờ chứ! Giống như điện Cẩm Ninh mà anh lói đấy.
Trường bật cười:
– À! Thế là E lờ? Linh! Linh chứ không phải Ninh. Nhưng này, cái gì mà “yêu trong nghĩa vụ thanh niên”. Nói yêu thôi, không phải là đủ à?
Sủng cúi đầu, bùi ngùi:
– Phải lói thế Ninh mới hiểu được nòng tôi. Bởi vì lếu không dính đến cái vụ nghĩa vụ thì tôi đã nuôn nuôn ở bên cạnh cô ấy rồi còn gì.
Trường chép miệng:
– Đất nước đã hòa bình, độc lập từ bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn cái vụ nghĩa vụ làm cho tình yêu phải phân ly, chia lìa. Nói thật, cái giới lãnh đạo của chế độ này quả là một lũ người không còn nhân tính.
Sủng kêu lên:
– Chết! Anh phát ngôn ninh tinh như thế có ngày mang họa.
– Thì chỉ có tôi với anh. Chả lẽ anh đi tố cáo tôi. …
– Sợ nà sợ anh quen mồm đó thôi. Lói ở đây thì được, về tới trại mà như thế nà chết. Có thiếu gì tai mắt, nguy hiểm nắm.
Trường nhìn Sủng biểu lộ một sự cám ơn về lời khuyên cảnh giác của nó. Niềm cảm thông nẩy nở giữa hai người đem lại cho Trường thêm những ý tưởng mới mẻ. Rõ ràng cả cái dân tộc này cần tới một sự đối thoại. Bọn lãnh đạo, bọn có đầy đủ uy quyền chỉ là một thiểu số. Đa phần còn lại đều là những nạn nhân. Giữa nạn nhân nếu vẫn còn dựng lên những hàng rào, những hố ngăn cách thì sức mạnh tổng hợp không bao giờ tìm thấy được.
Những ngày sau đó, Trường chuyên chú vào việc mài rũa cái lược dành cho Sủng. Sủng có vẻ cảm kích lắm. Lòng nó hẳn có nhiều xốn xang khi nghĩ đến cái lược tuyệt hảo này sẽ được gài lên mái tóc của người yêu. Trường chưa bao giờ hỏi thăm một lời nào về Linh cả. Chàng chỉ nghĩ rằng họ cũng là những trái tim biết thổn thức. Ngoài chuyện cá nhân, đôi lứa, sự thổn thức của trái tim có hướng về một mục tiêu nào khác nữa hay không là do ở trình độ nhận thức, hiểu biết. Cái nhược điểm lớn lao của xã hội này là toàn thể mọi người đều bị chế độ bưng bít tối đa. Giống như tên xà ích che mắt một con ngựa để chỉ cho nó đi theo hiệu lệnh của làn roi. Con ngựa trở nên mù lòa và suốt đời không thể tưởng tượng ra được ở bên kia bóng tối bao trùm tất cả đời sống của nó, là cả một cánh rừng bao la, những đồi cỏ non, những thung lũng trải dài, những triền núi cao thăm thẳm. Và có cả những đàn ngựa hồng xoải vó cất tiếng hí vang động cả trời cao. Ý nghĩ này khiến Trường nẩy ra sáng kiến giành ra một góc nhỏ để trạm trổ một đôi ngựa. Như một thứ thông điệp tự do của kẻ nằm trong tù gửi cho những kẻ ở ngoài nhà tù. Chàng nhắn nhủ với Sủng:
– Nhìn ngắm đôi ngựa này để biết thù ghét kiếp ngựa bị che mắt và chỉ tuân hành theo chỉ thị của làn roi. Kiếp người cũng thế mà thôi.
Sủng chớp mắt liên hồi khi được Trường nhồi nhét cho cái hình ảnh ấy, điều mà trước đây, không bao giờ nó có thể tưởng tượng được ra. Nó hình dung đến hình ảnh một ngày nào đó trong tương lai, ngồi cầm lược chải đầu cho vợ mới cưới, hẳn nó sẽ bối rối nhiều lắm khi phải giải thích cho nàng nghe về ý nghĩ của một đôi ngựa.
Bẵng đi nhiều ngày sau, tự nhiên Trường không thấy Sủng xuất hiện trong những nhiệm vụ hằng ngày nữa. Lúc đầu, Trường dự đoán là Sủng bận rộn một công tác đột xuất nào đó. Sau dần dà, sự vắng bóng lâu lắc của nó gây cho chàng một mối lo ngại về một sự bất thường nào đó đã xẩy ra. Mãi đến hơn hai tuần sau, trong một buổi chập choạng tối, lúc chờ giờ phân phối thực phẩm ăn tối, Trường mới thấy Sủng bất ngờ xuất hiện một cách lén lút và kéo tay chàng ra một chỗ khuất riêng.
Sủng nói:
– “Em” bị gặp khó khăn rồi. Các đồng chí nãnh đạo kết tội em hữu khuynh và truy kích em kịch niệt. Các đồng chí ấy lói rằng tưởng em có nhiệm vụ cải tạo Mỹ Ngụy, lào ngờ chính em bị Mỹ Ngụy nàm cho chao đảo. Biện pháp áp dụng nà gửi em hoàn trả cho đơn vị gốc tùy lơi lày xử ný. Thế nà em không chờ anh hoàn tất được cái nược để em tặng cho Ninh rồi.
Trường vội vã nói:
– Chú chờ ở đây. Tôi tặng chú cái lược của chính vợ tôi.
Nói rồi Trường tất tả đi bới lên cái lược mà chàng đã cất giấu. Dưới ánh sáng chập chờn của những ngọn lửa trên lò bếp, nó vẫn sáng ngời như một thanh kiếm bạc. Chàng dúi vào tay Sủng và thầm thì:
– Nhất là chẳng có một đôi ngựa…
Sủng mỉm cười theo:
– Chẳng có đôi ngựa ở trên nược thì em cũng đã ghi gói hình ảnh đó ở trong đầu. Em sẽ lói với Ninh về đôi ngựa ấy khi có dịp.
Trường xúc động ghì chặt lấy đôi vai vạm vỡ của Sủng. Trong cái nhá nhem của một ngày tàn, đôi mắt của Sủng chợt sáng lên một cách lạ kỳ. Rồi Sủng nhe răng nhoẻn một nụ cười thật hồn nhiên. Nụ cười của tuổi trẻ còn sót lại sau bao nhiêu thiêu đốt của những lò đổ khuôn một con người.
Sau lần đó, không bao giờ Trường còn được nghe nói về Sủng. Nhưng lòng của Trường vẫn tràn ngập một niềm vui vì chàng đã gửi đi được một thông điệp tự do ngay giữa vòng rào kẽm gai của một trại tù.
Santa Ana, tháng 12 năm 1985.
NHẬT TIẾN
Chương 12
Tác phẩm gây tranh cãi
Truyện ngắn
Gặp gỡ ngày cuối năm
Thời điểm sáng tác: 1989
Nhận xét về truyện ngắn “Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm” in dưới đây, bình luận gia Đỗ Thái Nhiên đã viết:
“Gặp gỡ ngày cuối năm” là một truyện đầu voi đuôi chuột! Truyện này đã mở đầu bằng bài toán cộng tả và hữu để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương nhưng lại kết thúc bằng một cuộc làm hòa giữa hai anh em để ngay sau đó người anh dẫn người em đi “hồi tà”!… “ Gặp gỡ ngày cuối năm” hiển nhiên chỉ là truyện cổ võ cho một cuộc “Hồi tà”!
Giáo sư Bùi Ngọc Đường lại có ý kiến khác, ông đã nêu nhận định:
“…….sẽ có lúc, ông Đỗ Thái Nhiên nhận được ra rằng ông đã hơi vội vàng trong khi phê phán những nhận thức của nhà văn Nhật Tiến:
– là “ấu trĩ,
– là “toan tính dùng lòng khoan dung của đạo đức giả để che lấp nghĩa vụ phục hoạt dân sinh”,
– là “khiếp sợ và an thân”,
– là “nên ân cần xin lỗi độc giả của ông ta”!
(Xin coi Hành Trình Chữ Nghĩa, Tập I, trang 193-203)
Gặp gỡ ngày cuối năm
Truyện ngắn
NHẬT TIẾN
Cuối cùng thì hai người cũng đã gặp nhau. Một người ở trong tù. Một người ở ngoài tù. Một người thuộc chế độ miền Nam cũ. Một người là sĩ quan mang quân hàm Đại tá thuộc bộ đội miền Bắc. Họ là hai anh em ruột. Ba mươi năm trời không gặp lại, hơn năm năm cậy cục để mong được tiếp xúc, bây giờ ông anh Đại tá mới được toại nguyện.
Căn phòng trống trải, bốn bề vách gỗ, mái lợp tôn có những chỗ nứt nẻ. Gió ở ngoài lùa qua những lỗ thủng mang theo cái căm căm lạnh của một buổi cuối năm nơi rừng núi. Đồ đạc trong phòng không có gì khác ngoài chiếc bàn gỗ và hai tấm ghế dài kê ở hai phía đối diện. Người công an bảo vệ đã lặng lẽ rút ra ngoài từ mấy phút trước sau khi kín đáo khép cánh cửa ra vào làm bằng tôn xộc xệch. Ngọn đèn héo úa trên trần cũng đã được bật lên. Ánh sáng vàng vọt, xanh xao như bầu không khí thoi thóp, bệnh hoạn của cả trại tù.
Từ nãy, hai người vẫn nhìn nhau. Lòng họ đầy bối rối, ngỡ ngàng. Anh mình, em mình đấy ư? Đâu còn là hình ảnh thân thiết, ruột thịt ngày xưa, thằng anh cõng thằng em chạy nhong nhong trên con đường nhỏ hẹp để đi theo một đám rước, đi ra chùa xem tế lễ hay mải mê chạy theo con diều bang bay bổng trên nền trời cao.
Hình ảnh thân thiết của dĩ vãng như có động lực làm cho hai trí não đang đóng băng của họ trở nên động đậy. Họ cố gắng thu ngắn khoảng cách của thời gian đằng đẵng gần ba mươi năm. Họ kín đáo tìm kiếm ở nhau dấu tích của ngày xưa thân ái cũ. Nhưng rồi họ bất lực. Họ chẳng tìm thấy ở người này hay người kia một chỗ bấu víu nào để có cảm giác gần gũi nhau hơn. Cuối cùng người anh cũng phải lên tiếng trước:
– Chú hút với tôi một điếu thuốc nhé?
Người tù vẫn không trả lời. Anh ta chỉ nhìn bằng cặp mắt lạnh lùng những cử chỉ có vẻ hơi lúng túng của người đối diện có vẻ đang cố gắng phá tan bầu không khí im lặng nặng nề mà vô hiệu quả. Ông ta moi ra ở trong túi áo một bao thuốc đã nhàu nát và lục ở túi bên kia một cái bật lửa cũ kỹ đến nỗi cái bản lề ở nắp đã xộc xệch và nước kền mạ ở ngoài đã phai đi để lộ ra nước đồng màu đỏ quạch. Rồi ông ta nghiêng đầu châm một điếu thuốc. Đôi môi dầy của ông ta chúm lại. Cặp lông mày rậm rịt lốm đốm bạc ríu lấy nhau, kéo theo những lớp da ở hai bên đuôi mắt nhăn túm lại. Chợt người tù khám phá ra rằng cái đuôi mắt ấy, cái cung cách nghiêng đầu châm lửa hút thuốc ấy đã giống hệt như những cử chỉ quen thuộc ngày xưa của bố mình. Lòng anh chợt thoáng một niềm xúc động. Anh cố nén cái cảm giác buốt nhói vừa chạy qua trái tim của mình.
Bây giờ viên Đại tá chìa ra trước mặt anh một điếu thuốc. Bàn tay khô cằn xương xẩu của ông ta hơi run run. Người tù tự nghĩ đó là dấu hiệu của tuổi già chứ không phải là hậu quả của một cơn xúc động. Người Cộng sản không dễ gì biểu lộ những cảm nghĩ của mình một cách dễ dàng và lộ liễu như thế.
Quả thật, “anh ấy” đã già thật. Người tù tiếp tục nghĩ. Những đuôi mắt đã nhăn. Những lớp da hai bên gò má đã rúm ró. Những sợi tóc đã ngả màu xám bạc. Anh cố gắng mường tượng hình ảnh của ông ta không qua ảnh hưởng của thời gian. Nhưng anh ta hoàn toàn bất lực trong ý định này. Hơn ba mươi năm xa cách, hình ảnh của người anh lúc chia tay không để lại trong óc anh một ấn tượng nào. Điều này khiến người tù nẩy ra cái cảm giác kỳ cục khi nghĩ rằng mình có thể nhớ hình ảnh của ông ta thời thơ ấu lúc mà hai anh em còn cõng nhau chạy rông ngoài ngõ rõ ràng và gần gũi như nó mới chỉ xẩy ra đâu đó ngày hôm qua, hôm kia, nhưng muốn bắt lại một hình ảnh khác xẩy ra mới mẻ hơn thì anh đành chịu, như thế thì dĩ vãng đâu có ảnh hưởng bởi yếu tố thứ tự của thời gian. Nó phải là điều gì gắn bó với những nỗi rung động trong trái tim của mình. Có những điều xẩy ra, người ta có thể ghi nhớ cả một đời người, nhưng cũng có nhiều điều khác người ta đã dễ dàng rũ đi như một lớp bụi mỏng bám víu lấy khoảng trời kỷ niệm của riêng mình.
Như thế, quả là mình đã coi “anh ấy” là một hạt bụi trong đời sống, người tù tiếp tục nghĩ. Cũng đúng vậy thôi. Tình cốt nhục, anh em, không có chỗ cho những kẻ đã đứng trên vị trí của lòng căm thù. Leo lên tới quân hàm Đại tá, hẳn ông ta đã nhúng tay vào biết bao nhiêu thảm họa, đã gây nên những thảm trạng đau thương như hiện giờ: những con người bị đầy đọa triền miên trong những trại tù, những bạn bè, đồng ngũ của anh đã âm thầm gục ngã trong tủi nhục đớn đau. Và hơn hết thẩy là trong số những kẻ gục ngã ấy, có cả bố của anh nữa. Người tù thốt nhiên thấy mình sục sôi lên vì một cảm giác căm hờn. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt đục lờ của người đối diện. Hình ảnh của những ngày thơ ấu ngày xưa tan biến mất. Trước mắt anh chỉ là một kẻ xa lạ. Hơn thế nữa, một kẻ đã chịu trách nhiệm về biết bao nhiêu biến cố đau thương, tang tóc chia lìa. Đó là lý do mà anh từ chối điếu thuốc vẫn được chìa ra từ một bàn tay run run.
Viên Đại tá chờ đợi không được, liền đặt gói thuốc xuống mặt bàn. Ông ta cũng không biểu lộ một ánh mắt hay cử chỉ nào dù bất mãn hay bối rối về sự lạnh lùng, căng thẳng của người tù. Ông chỉ cầm cái bật lửa cũ kỹ đặt chồng lên gói thuốc rồi đẩy chúng lại gần hơn nữa về phía người đối diện. Hai người bây giờ cách nhau bởi một màng khói mỏng tuôn ra từ đầu điếu thuốc vừa được châm lên và đang nằm giữa hai ngón tay xương xẩu của viên Đại tá. Cuối cùng vẫn lại là lời lên tiếng trước của ông ta:
– Tôi đến thăm chú năm lần trong năm năm. Lần này chú mới cho gặp, tại sao chú không nói gì hết vậy?
Người tù lại nhìn thẳng vào đôi mắt của viên Đại tá. Anh ta biết rõ mình đang trồi lên từ một cơn sóng của sự thù hận. Rồi anh ta nói rành rẽ:
– Có chứ! Tôi có nhiều điều muốn nói với anh lắm chứ! Tuy nhiên có lẽ tôi chẳng cần dài dòng chi nhiều. Tôi chỉ tóm tắt bằng một câu thôi. Đó là, nếu tôi có súng, tôi có thể bắn anh mà không chút mảy may thương xót gì.
Viên Đại tá mỉm cười. Nụ cười chẳng mang một vẻ gì cay đắng hay bất mãn cả. Hình như ông ta đã quá quen thuộc với sự trực diện đối với lòng hận thù. Ông ta chỉ nhìn “thằng em của mình” với ánh mắt chế giễu. Rồi ông ta nhỏ nhẹ:
– Bắn tôi xong rồi, chú có giải quyết được vấn đề gì không?
Người tù cười khẩy:
– Được chứ! Ít nhất tôi cũng loại được một tên ra khỏi hàng ngũ của những kẻ bạo tàn.
– Vậy thôi sao?
Người tù nhún vai:
– Thế cũng đủ.
Viên Đại tá bật lên cười:
– Có hai điều đáng phàn nàn trong ước muốn điên rồ của chú. Một là tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé trong hàng ngũ của những kẻ mà chú gọi là bạo tàn. Loại đi một cá nhân không thôi, sẽ chẳng có gì thay đổi đâu. Hai là hành động ấy của chú sẽ đổ dầu thêm vào lửa, nó không những không làm suy yếu hàng ngũ của những kẻ bạo tàn mà trái lại còn dấy động chúng nó lên bằng lòng hận thù. Một hành động như thế chỉ thuần túy cảm tính chớ không giải quyết được gì!
Người tù cãi lại:
– Tại sao không giải quyết được gì? Bè lũ các anh, bớt được một tên nào hay tên đó. Sẽ có ngày cả nước sẽ nổi dậy có cùng một hành động như thế, và lúc đó anh sẽ thấy mỗi cá nhân sẽ chỉ làm một việc nhỏ bé đó thôi, cũng đủ để làm nên đại cuộc rồi!
Mặt viên Đại tá bỗng nhiên nhăn lại. Ông ta biểu lộ sự bất mãn của mình bằng cách đập nhẹ bàn tay của mình xuống mặt bàn. Rồi ông nói, lần này người tù thấy rõ những nghị lực của ông ta như tuôn ra theo từng lời:
– Chú ở tù năm năm rồi mà còn ấu trĩ đến như thế à? Phải nói rằng chính sách cải tạo không nhằm dậy dỗ các chú trở thành những con người Cộng sản mà mục đích của nó là nhằm tiêu diệt khả năng đề kháng của những người ở phe của chú. Thành quả của nó thế nào, chú đã thấy. Phần đông các sĩ quan cải tạo về đều ôm một mơ ước đoàn tụ với thân nhân ở nước ngoài. Đó có phải là một hình thức tháo chạy hay không? Còn nhân dân nổi dậy? Họ làm sao nổi dậy được khi chính những người có khả năng chiến đấu, lãnh đạo như các chú chỉ có một mơ ước là muốn ra đi, và mặt khác làm sao họ nổi dậy được khi mà đời sống bây giờ đã thu gọn họ vào có một điều kiện duy nhất là lo chạy vạy để có miếng cơm hàng ngày? Chủ trương thắt bao tử để cai trị của chính quyền nó có tác dụng như thế nào, chú chưa nhìn ra hay sao?
Người tù như chết lặng đi vì những sự thực tàn nhẫn mà ông ta vừa trút lên đầu mình. Anh ta choáng váng đến độ cũng không thấy ngạc nhiên khi những sự thực ấy lại được thốt ra từ một cán bộ cao cấp của chính quyền, những kẻ mà vốn từ xưa tới nay chỉ quen nói những lời nhân nghĩa giả trá, đề cao chế độ đến tận mây xanh.
Đến lúc này thì người tù thực sự thấy cần một điếu thuốc. Anh ta muốn nén xuống cơn hoang mang cực độ đang xâm chiếm trọn vẹn tâm trạng của mình. Chẳng cần chờ đợi mời mọc, anh nhặt gói thuốc lên và gắn một điếu lên môi. Viên Đại tá nhoài người ra, cầm lấy cái bật lửa, mở nắp ra và đánh lửa lên. Lúc cúi xuống châm điếu thuốc, một lần nữa, người tù lại thấy rõ bàn tay run rẩy của ông ta.
Một lát sau, viên Đại tá lại cất tiếng:
– Kinh nghiệm cho chúng tôi biết, căm thù là nguồn nhiên liệu để nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh. Nhưng nếu chỉ biết căm thù không thôi thì tự mình cô lập mình. Nó là một con số trừ chứ không phải là con số cộng. Trong ý nghĩ đó tôi có thể nói, chú chỉ biết làm tính trừ chứ chưa biết làm tính cộng.
Người tù nhún vai:
– Tuyệt đối, không bao giờ chúng tôi làm tính cộng với những người như anh, cho dù anh là ruột thịt đi chăng nữa.
Viên Đại tá kêu lên:
– Chẳng có điều gì trên cõi đời này được gọi là tuyệt đối cả trừ cái chết của mỗi người. Đấy cũng là một điều chú nên trang bị cho nhận thức của mình.
Người tù nhìn người đối diện với ánh mắt ngạc nhiên. Anh ta cố gắng tìm hiểu những ẩn ý gợi lên đằng sau câu nói của ông ta. Tuy nhiên, anh không thấy điều gì khác hơn là ông ta đang là cán bộ quân sự cao cấp của bạo quyền và điều này chỉ có một ý nghĩa duy nhất là ông ta phải là người sẽ sống chết vì bạo quyền, cho bạo quyền. Nghĩ được như thế, người tù thấy mình thoải mái hơn. Anh ta tự thấy rằng mình không hề sai lầm khi vẫn giữ được thái độ hoàn toàn đối lập đối với ông ta, dù ông ta là ruột thịt. Anh em ruột thịt không có ý nghĩa gì hết đối với những kẻ đã lựa chọn đứng trên hai chiến tuyến. Anh chợt nhớ đến “con số cộng” mà ông ta vừa nhắc nhở đến. Bất giác, anh chợt nở một nụ cười mang đầy vẻ giễu cợt. Anh tự nghĩ “Làm gì có được con số cộng giữa tôi và anh. Đấy là chuyện ảo tưởng”. Điều này lại lôi kéo anh qua ý nghĩ duyệt lại những người đứng về phe hàng ngũ của mình. Quả là viên Đại tá đã nói đúng khi đề cập đến mơ ước đoàn tụ của những người đã ra tù. Đó là một sự thực cay đắng. Nó cũng cay đắng như lúc nhìn vào hoàn cảnh của những con người đang tranh sống, chụp giật với tất cả tận cùng ý nghĩa của hai chữ sinh tồn để có được miếng cơm manh áo hằng ngày.
Bất ngờ, anh cảm thấy rùng mình khi biết rõ mình đang bị trôi xuống con dốc của nỗi tuyệt vọng. Nó làm anh nhược hẳn người ra. Anh cố gắng che giấu tâm trạng của mình bằng cách đưa điếu thuốc lên môi, rít một hơi thật dài và thở mạnh ra. Làm khói xanh tỏa ra mù mịt làm che mờ khuôn mặt của người đối diện. Người tù thấy rõ nỗi cô đơn đang phủ kín con người của mình. Bỗng có tiếng của viên Đại tá cất lên:
– Tôi không đến đây để dìm chết chú xuống bằng những nỗi tuyệt vọng mà chú đang cảm nhận ấy đâu. Không bao giờ có hai chữ tuyệt vọng đối với những người còn duy trì cho mình một mơ ước muốn thực hiện. Vấn đề là ở chỗ hãy bắt đầu từ những cái gì mình đang có chứ không phải cái gì mình muốn có. Và vấn đề là ở chỗ đừng bao giờ xây dựng những nhận thức của mình chỉ vỏn vẹn bằng cảm tính, bởi cảm tính chỉ là bước đầu của nhận thức trước những trực quan sinh động của thế giới khách quan bên ngoài.
Lại một lần nữa người tù tự hỏi “ông ta muốn ám chỉ cái gì đây?”. Anh ta định nói toẹt ra thắc mắc này nhưng rồi lại kìm giữ được ngay. Bởi vì anh biết rõ, dù ám chỉ điều gì, ông ta vẫn là ông ta, một kẻ được tôi luyện trong bạo lực và trở thành một giai cấp quyền thế của bạo lực. Chỉ bấy nhiêu điều cũng đủ xác định vị trí của ông ta rõ rệt trong bất cứ hoàn cảnh nào rồi. Nghĩ như thế, người tù không nói năng gì thêm mà chỉ lơ mơ ngồi nhả khói với sự cố ý làm ra vẻ lơ là đối với những lời nói của viên Đại tá. Khoảng cách giữa hai người như thêm lên vì sự im lặng nặng nề lại kéo dài. Một lát sau, vẫn lại ông ta lên tiếng trước:
– Tôi có một thắc mắc nhỏ muốn hỏi chú. Tại sao những lần trước chú từ chối không gặp tôi, mà lần này chú lại chấp nhận cho tôi được gặp chú? Có điều gì thay đổi ở nơi chú không?
Người tù nhún vai:
– Chẳng có gì thay đổi hết. Tôi đồng ý gặp mặt anh không phải vì nghĩ tới anh mà vì lời trăn trối của bố.
Nhắc đến người cha thân yêu, giọng người tù như nghẹn lại. Anh ta chớp mắt nhiều lần, cố nén cơn xúc động đang ùa đến, và tiếp tục nói bằng giọng khó khăn, cắt quãng:
– Bố chết ở trại giam Chí hòa như anh biết. Giây phút cuối cùng có thằng Quang hiện diện. Anh nhớ thằng Quang con chú Sáu chứ? Nó là cán bộ của Cục Bảo vệ Trại giam. Nó nghe được lời trối trăng của bố. Bố trối trăng rằng dù anh em thù hận thế nào thì cũng cố gặp nhau một lần. Như một hình thức nối lại sợi dây ràng buộc gia đình đã đứt quãng mấy chục năm. Còn anh? Anh làm gì trong thời gian bố tù tội và chết tức tủi trong trại giam?
Viên Đại tá cúi đầu, tránh né cái nhìn như xoáy vào óc của đứa em của mình. Ông ta nói:
– Khi đó tôi bận công tác ở bên Cam bốt. Mãi tôi mới được tin bố bị bắt. Khi có hoàn cảnh về thăm thì bố đã mất rồi.
Người tù cười nhạt, nụ cười vừa đắng cay vừa có tính chất thù nghịch:
– Thế cũng là may cho anh. Anh có lý do để bào chữa. Chứ thực ra, nếu có hoàn cảnh thì anh cũng chẳng làm được gì. Trong chế độ bất nhân này, bố là một chuyện, anh lại là một chuyện khác. Nhân danh Đại tá, anh cũng chẳng làm gì được cho bố hết.
– Chú nói đúng đấy. Cũng như hoàn cảnh của chú bây giờ, tôi có làm được gì cho chú đâu, ngoài mấy gói quà thăm nuôi.
Người tù chăm chú nhìn người anh, lần này anh ta dịu giọng:
– Ít ra anh cũng có đôi điều thú nhận sự thật. Nhưng nói cho ngay, một chế độ như thế, anh vẫn trung thành phục vụ thì kể cũng là chuyện lạ.
Viên Đại tá chợt mỉm cười:
– Thì chú “thuyết phục” tôi đi.
Người tù kêu lên:
– Tôi đâu có phí hơi sức để thuyết phục những người như anh! Mèo bao giờ cũng hoàn mèo!
– Chú lại đầy định kiến mất rồi? Khổ thay cho con số trừ thường trực của chú.
– Anh muốn tôi làm tính cộng hả? Muốn thế thì tôi phải thay đổi hay là chính anh phải thay đổi?
– Cả hai bên, chú à! Chú rũ bỏ định kiến của chú đi, chú sẽ thấy tôi có thể là bạn đồng hành của chú. Ngược lại tôi cũng vậy. Và tôi nghĩ là tôi đang làm vậy.
Người tù cười khẩy:
– Đồng hành đi đâu? Làm gì? Hay là cùng nắm tay xây dựng cái chế độ phi nhân của anh?
Viên Đại tá chợt bật lên cười. Tiếng cười rổn rảng phá tan bầu không khí yên tĩnh của căn phòng, vọng ra cả hành lang phía bên ngoài. Cánh cửa ra vào bỗng sịch mở và anh bảo vệ viên thò đầu vào với vẻ mặt ngơ ngác. Anh ta bắt gặp tia nhìn lạnh lẽo của viên Đại tá đang ném về phía mình với một điệu bộ hách dịch, điều này khiến anh ta sợ hãi vội vàng đóng sập ngay cánh cửa lại. Sau tiếng cười, viên Đại tá châm thêm một điếu thuốc nữa và nét mặt trở lại vẻ trầm ngâm, lạnh lùng. Một lát sau, ông ta nói chậm rãi:
– Hai chữ Cộng sản hình như là một vấn đề ám ảnh đối với nhiều người, trong số đó có chú. Trong khi đó, thật ra đối với thế giới, nó đã trở thành lỗi thời. Nó lại càng trở nên lỗi thời đối với những người đã từng tích cực tham dự vào cái guồng máy ấy, như tôi chẳng hạn. Nói khác đi, chỉ những thằng ngu thì cho tới bây giờ vẫn còn tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng sản sẽ đem lại ấm no và hạnh phúc cho nhân loại.
Người tù nhìn viên Đại tá với ánh mắt ngạc nhiên. Anh ta tò mò nhìn ngắm kỹ khuôn mặt của người đối diện để tìm tòi xem ông ta đã che giấu bản chất qua sự giả trá đến mức độ nào. Nhưng anh ta không tìm thấy được điều gì qua cử chỉ của ông ta cả, kể cả sự thành thực. Rút cục, anh tự nghĩ, những thằng Cộng sản đều là những đứa nói láo, quan điểm, lập trường, nhận thức luôn luôn chỉ có tính cách giai đoạn. Nghĩ như vậy, anh cảm thấy lòng thản nhiên, chẳng hề thấy chút rung động trước những lời lẽ bất ngờ của ông anh quý hóa.
Viên Đại tá lại nói tiếp:
– Chủ nghĩa Cộng sản thuần túy đã biến đổi bản chất của nó từ lâu rồi. Hãy cứ nhìn cái cảnh những tên lãnh tụ siêu cường qua lại thăm viếng nhau và cụng với nhau những ly sâm banh thì đủ thấy!
Người tù chợt mỉm cười, cắt ngang lời nói của viên Đại tá:
– Anh già đầu rồi mà còn ngây thơ nhỉ! Hoặc giả anh là một chuyên viên kịch cỡm đang thủ một vai nói dối một cách ngờ nghệch!
– Đối với chú, tôi chả cần thiết phải nói dối làm gì. Chú ở đây đã năm năm mà vẫn còn một đôi chút bướng bỉnh. Nhưng mười năm nữa, mười lăm năm nữa, chú sẽ chỉ còn là một thân xác tàn úa, vô dụng, không đáng để tôi phải quan tâm!
– Thế thì anh là một kẻ ngây thơ! Tụi tôi ngây thơ thì mọi sự cũng đã kể như xong rồi. Nhưng anh ở trong guồng máy của chế độ, anh mà ngây thơ thì chỉ có ngày guồng máy nó sẽ nghiền nát anh ra.
Viên Đại tá nhún vai:
– Thì tôi đã nói với chú rồi. Chỉ những thằng ngu mà bây giờ vẫn còn tin rằng chủ nghĩa Cộng sản là liều thuốc đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân loại. Tôi đâu có ngu!
Người tù cướp lời:
– Cho là anh sáng suốt đi. Nhưng cái xã hội tồi tệ này còn biết bao nhiêu là thằng ngu.
Viên Đại tá chặn ngang:
– Không! Chúng nó cũng không ngu gì. Một số đông đã nhận chân ra sự thực thì hoặc câm nín hoặc còn đang trăn trở nhìn lại con đường đã đi qua của mình. Một số khác có cơ hội được hưởng thụ thì đang cố gắng níu lấy điều giả trá để mưu cầu đặc quyền đặc lợi cho bè lũ phe nhóm của mình. Chú cứ nhìn kỹ mà xem, bọn chúng nêu chiêu bài chống phong kiến bóc lột, nhưng trong đời sống thực tế, chúng nó phong kiến hơn ai hết. Chúng nó nêu khẩu hiệu “Không gì quý hơn độc lập, tự do” nhưng chúng nó tước đoạt độc lập tự do của con người hơn ai hết. Nếu phải dùng danh từ “ngụy” thì chính chúng nó ngụy hơn ai hết.
Người tù giương to đôi mắt để cố nhìn ngắm con người đối diện. Anh ta lại không tin những lời lẽ vừa phát ra lại là của “ông anh Đại tá” của mình? Thâm tâm anh tự nhủ phải hết sức thận trọng để tránh cái cạm bẫy mà tên cán bộ cao cấp này đang giăng ra. Thói quen theo thành kiến có sẵn đã tạo cho anh cái thái độ dè dặt. Cuối cùng, anh đã nói:
– Tôi chẳng cần mất công đánh giá những lời phát biểu của anh thành thực đến mức độ nào. Tôi chỉ tự hỏi tại sao bỗng dưng anh lại đem những lời đó ra nói với tôi? Để làm gì cơ chứ?
Trầm ngâm một lát, viên Đại tá mới nói:
– Chú không nhớ những lời trăn trối của ông cụ à? Cụ dặn rằng dù anh em thù hận đến mức nào thì cũng cố gặp nhau một lần, như một hình thức nối lại sợi dây ràng buộc gia đình đã đứt quãng mấy chục năm. Tôi cho rằng, gặp nhau để rồi vẫn thù hận về nhau thì sự gặp gỡ chẳng mang lại ý nghĩa gì. Mà tại sao ta phải làm như thế trong khi mọi sự đều đã đổi thay? Chú có một mơ ước về đời sống ấm no, hạnh phúc thì tôi cũng vậy. Và tôi tin rằng nhiều người trên giải đất này cũng đều như vậy. Tại sao không thể nhìn nhận nhau để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương?
Người tù nhìn ông anh của mình bằng cặp mắt lạnh lùng. Anh phấn đấu trong lòng một cách dữ dội và lý trí của anh luôn luôn nhắc nhở “Đừng tin những gì Cộng sản nói, hãy nhìn những gì Cộng sản làm”. Điều này khiến anh cảm thấy tự tin hơn và anh buông một câu lạnh lùng:
– Nếu có điều kiện thì tôi chắc chắn sẽ toan tính một cái gì với bất cứ ai, trừ những tên cán bộ Cộng sản!
– Nghĩa là chú vẫn chỉ thích có một con toán trừ?
– Phải! Trừ đi những kẻ như anh.
– Bằng cách nào?
– Có được súng trong tay, tôi sẽ bắn không tiếc tay.
Viên Đại tá nhìn anh ta bằng đôi mắt lạnh lùng. Rồi bằng một cử chỉ hết sức bất ngờ, ông ta rút khẩu súng ở phía sau thắt lưng ra và ném lên bàn. Ông buông sõng một câu:
– Có súng rồi đó! Chú bắn đi!
Người tù sửng sốt nhìn ông ta bằng một vẻ bàng hoàng. Anh ta không thể ngờ được rằng tình thế đã du mình tới cái giây phút ấy. Anh hết nhìn người đàn ông trước mặt rồi lại liếc khẩu súng đang nằm tênh hênh trên mặt bàn. Nó là một khẩu nhỏ nhắn, quen thuộc, dễ sử dụng, có nước thép bóng ngời như lúc nào cũng được lau chùi kỹ lưỡng. Thốt nhiên anh nhoẻn một nụ cười chế nhạo:
– Anh đừng dọa tôi. Súng của anh làm gì có đạn! Tôi thừa biết mánh khóe của anh rồi!
Viên Đại tá lẳng lặng chộp lấy khẩu súng, và bằng những ngón tay thiện nghệ, ông ta lật cái ổ đạn qua một bên cho người tù nhìn thấy những viên đạn sáng ngời. Sau đó, ông ta kéo cơ bẩm cho viên đạn sẵn sàng lên nòng. Rồi ông ta ném trả lại nó trở lại chỗ cũ với tất cả sự lạnh lùng đến ghê rợn. Cử chỉ của ông ta làm cho người tù chết lặng đi. Anh đã bị dồn vào cái thế phải chọn lựa. Và anh chợt phát giác ra rằng nói thì được chứ thực hành điều mình nói sẽ không phải dễ dàng gì. Phải chi viên Đại tá này không phải là anh ruột của mình! Phải chi hai người đang đối diện với nhau ở ngoài trận địa. Phải chi ông ta không tự nguyện thấy khẩu súng cho kẻ đối diện để giục dã hắn ta bắn lại chính mình. Những điều kiện “phải chi” ấy cứ dồn dập nảy ra trong óc của người tù khiến cho tâm trạng của anh bấn loạn lên. Anh thấy mồ hôi rịn ra ướt cả chân tóc và đầm đìa một mảng lưng. Anh thấy mình đang rũ liệt và anh cảm thấy mình không đủ can đảm để cầm khẩu súng trên tay.
Chờ đợi một lát, khi đã nắm chắc phản ứng của người tù, viên Đại tá mới lẳng lặng nhặt khẩu súng lên, trả nó lại vị trí ở sau lưng như cũ, rồi ông ta mới nói:
– Như thế là đủ. Tôi thấy chú chẳng có lòng dạ nào cầm súng bắn tôi, mặc dù chú vẫn thường xuyên bị ngự trị bởi lòng hận thù. Cuộc đời còn đáng sống chính là cái yếu tố nhân bản ấy.
Người tù nhìn ông ta thảng thốt:
– Tại sao anh lại làm như vậy chứ?
Viên Đại tá nhún vai:
– Để cho chú tin rằng những điều tôi nói với chú là thực. Trong hàng ngũ của những kẻ mà chú coi là thù nghịch, thật ra vẫn còn ẩn chứa những nhân tố có thể đem áp dụng toán cộng chứ không phải là toán trừ. Nếu cứ ôm mãi quan niệm chỉ làm tính trừ, chú sẽ chẳng bao giờ có hy vọng thay đổi được cái xã hội này đâu.
– Nhưng tôi là một thằng tù. Bài học ấy của anh, trong hoàn cảnh tôi, có áp dụng được gì đâu!
– Tù thì vẫn có ngày hy vọng được thả. Vấn đề là ở chỗ gìn giữ được cho mình một niềm tin, một hy vọng. Niềm tin và hy vọng ấy phải được xây dựng trên một cái nhìn sáng suốt và khách quan chứ không phải là những thành kiến cố hữu. Thế thôi!
Nói hết lời, viên Đại tá đứng dậy. Ông ta xòe một bàn tay ra trước mặt người tù. Anh ta rụt rè một giây rồi giơ tay ra nắm lấy bàn tay xương xẩu, với nước da đen xạm có nổi lên những đường gân xanh. Đột nhiên, anh xiết chặt lấy bàn tay ấy, và lần đầu tiên anh có cảm giác buốt nhói của một tình thân thiết ruột thịt.
Hai người nhìn nhau trong yên lặng một hồi lâu rồi cùng tiến ra phía cửa phòng. Lúc viên Đại tá giơ tay cầm lấy cái nắm cửa thì người tù vội vã chặn lại, và thốt lên hỏi:
– Tại sao anh lại làm như thế? Nếu tôi chai lì, cứ lượm khẩu súng lên và bóp cò thì sao?
Viên Đại tá ôm lấy bờ vai của em mình, xiết chặt rồi thủ thỉ:
– Tôi hiểu rõ những con người đã được đào luyện và giáo dục trong xã hội tự do, nhân bản. Chú là em của tôi. Điều đó có nghĩa là dù ở hoàn cảnh nào, trong lòng chú vẫn có những tình cảm máu mủ ruột thịt. Nếu chú được sinh ra và lớn lên ở xã hội Cộng sản, có lẽ tôi đã xử sự theo cách khác.
NHẬT TIẾN
2.1989
Phần III - Chương 1
Hãy làm sạch môi trường chữ nghĩa hải ngoại
Một vài thân hữu có nhã ý ngỏ lời nhận xét về tôi, đã cho tôi một trong những người “rất hết lòng với chữ nghĩa”. Tôi xin cám ơn và hy vọng rằng, với hai cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa vừa ấn hành có thể sẽ không làm phụ những tấm lòng đã ưu ái dành cho tôi cái nhận xét đó.
Nói cho đúng ra, hầu như tất cả những ai đã từng cắp sách đến trường ở vào thời buổi xa xưa, cái thời mà miệng còn ê-a những bài trong các cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu, lớp Dự Bị….thì hầu như ai đều cũng đã rất hết lòng với chữ nghĩa.
Ở vào trường hợp của tôi cũng vậy. Ngay từ hồi còn bé, tuổi thơ của tôi cũng đã thấm đẫm biết bao nhiêu là lời hay, ý đẹp mà các thế hệ cha anh đã để lại đầy dẫy trong sách vở.
Khi vừa mới bắt đầu bước vào năm đầu tiên của bậc tiểu học, tôi cũng đã từng nghêu ngao bài học trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu:
Hỡi các cậu bé con
đang lúc tuổi còn non,
các cậu phải chăm học,
có học mới nên khôn.”.
Rồi thì những năm sau đó, nhà trường đã luôn dạy dỗ chúng tôi toàn những lời hay, ý đẹp, những bài học luân lý dạy làm người ngay từ thuở đầu đời như “Đi học để làm gì”, “Chọn bạn mà chơi”, “Học trò biết ơn thầy”, “Làm người phải học”..v..v..
Trải nhiều năm ròng rã của thời thơ ấu, đầu óc của tôi vẫn vang vang những câu trong các bài học thuộc lòng, như:
Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom.
Thấy người già yếu ốm mòn,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Những lời lẽ nghe đơn giản, mộc mạc là thế nhưng đã thấm sâu vào trí não của lũ con trẻ chúng tôi, không chỉ một thế hệ mà nhiều thế hệ, để từ đó đã tạo dựng nên những con người khi lớn lên, bước vào đời sống trong xã hội đã biết tôn trọng các phẩm chất làm người
Thế mới biết thế hệ cha ông chúng ta trong chủ trương gắn bó những giềng mối như Gia đình, Học đường, Xã hội đã dụng công kiến tạo một truyền thống văn hóa vô cùng tốt đẹp mà tiếc thay, càng về sau này đã càng bị những biến động chính trị, xã hội làm cho bị bào mòn, hay hủy diệt đi.
Vậy những nguyên nhân nào đã góp phần vào sự bào mòn và hủy diệt đó?
Dĩ nhiên, thủ phạm chính yếu vẫn là đường lối, chính sách và chủ trương của nhà nước CS.
Sự tàn phá truyền thống văn hóa của CSVN đã thể hiện rõ ràng nhất qua các cuộc Cải Cách Ruộng Đất trời long đất lở mà hàng vạn gia đình đã xẩy ra những thảm kịch: con tố cha, vợ tố chồng. Bộ mặt bất nhân, tàn ác của đám lãnh đạo CS vào thời điểm bấy giờ (thập niên 50 của thế kỷ trước) đã bộc lộ rõ ràng, và chính sách của họ đã tàn phá biết bao nhiêu gia đình, hủy diệt biết bao nhiêu nhân mạng cũng như tài sản văn hóa.
Sau này, mức độ tàn phá không thể hiện cụ thể trên khía cạnh vật chất nhưng vẫn tồn tại trong chủ trương giáo dục, chỉ nhằm biến con người trở thành công cụ phục vụ cho chế độ (khác xa với nền giáo dục nhân bản truyền thống).
Hậu quả của chính sách giáo dục phục vụ chính trị này ngày nay đã bộc lộ quá rõ: kỷ luật nghiêm minh ở chốn học đường đang trên đà lụn bại, nền đạo đức xã hội càng ngày càng suy đồi…chỉ cần xem tin tức trên báo chí trong nước hàng ngày là đủ thấy rõ.
Đấy là lý do khiến cho hàng triệu con người đã bỏ nước ra đi và cho đến nay vẫn còn quy tụ trong một cộng đồng hải ngoại với lý tưởng chống CS để có Tự do, Dân chủ trên quê hương đất nước.
Tuy nhiên, công cuộc chống Cộng của người Việt hải ngoại đã nhiều khi bị nhiều kẻ nhân danh chính nghĩa này để quấy hôi bôi nhọ bằng nhiều cung cách tệ mạt, như tráo trở, đổi trắng thay đen, sử dụng những ngôn ngữ ti tiện hạ cấp làm hạ phẩm giá con người như đã thấy trên mặt báo chí hay Internet ở hải ngoại trong suốt mấy chục năm qua.
Đặc biệt, một vài bút hiệu vốn đã nổi tiếng về những thủ thuật gian manh gây chia rẽ để phá nát hàng ngũ cộng đồng mà lạ thay, hầu như ai cũng thấy mà ít ai dám lên tiếng
Sự quấy rối và phá nát hàng ngũ này đã được thể hiện qua những cung cách như sau:
– Dựng đứng bất cứ một câu chuyện nào, bất chấp sự thật, bất chấp liêm sỉ để hòng triệt hạ đối thủ nhân danh chính nghĩa chống Cộng.
– Trong tiến trình dựng chuyện, bịa đặt, xuyên tạc, thì đủ loại ngôn từ, đủ cách ví von, lươn lẹo hạ cấp nhất đã được đem ra sử dụng để triệt hạ đối thủ. Kết quả là, những bài viết, những câu thơ vần vè theo cung cách như thế đã làm nhơ nhuốc bộ mặt chân chính của Cộng đồng người Việt hải ngoại, làm gương xấu vì đã tạo thói quen dùng ngôn ngữ vô giáo dục, vu cáo, ăn nói hàm hồ, chụp mũ, bịa đặt. Điều này khiến cho thế hệ trẻ đi sau sẽ hoặc là khinh miệt trình độ giáo dục thấp kém của cha, ông, hoặc là bắt chước, đua đòi theo kiểu viết lách hung hãn, đem ứng dụng trong mọi cuộc tranh chấp cần đến sự hỗ trợ của chữ nghĩa.
Đã đến lúc tình trạng này cần phải được cộng đồng triệt để lưu tâm tới và những thủ đoạn của đám cầm bút đầu gấu, chuyên việc trấn áp và triệt hạ nhiều nhân vật có thiện chí của Cộng đồng cần phải được tiếp tục phơi bầy ra ánh sáng.
Xin lần lượt điểm qua từng tên tuổi đã và đang còn quấy hôi bôi nhọ trong địa hạt chữ nghĩa.
NGUYỄN HỮU NGHĨA
( còn xài nhiều bút hiệu khác như Cung Vũ, Cả Cười, Mõ Làng Văn, Dương Thượng Ngã, Bút Chì – Chủ bút tờ Làng Văn ở Canada )
Làng văn, làng báo trong cả chục năm qua hầu như không ai còn lạ gì một nhân vật thâm hiểm, bất nhân, bất nghĩa nổi tiếng vì cung cách hành xử ném đá giấu tay, vốn đã từng là kẻ gây biết bao nhiêu ngộ nhận cũng như xáo trộn trong văn giới, báo giới bằng những thủ đoạn như dựng chuyện, xuyên tạc, gửi fax mạo danh người khác, cắt xếp lại thư tay của người khác để có một bản văn mới, nội dung gây chia rẽ đoàn thể để hòng chiếm đoạt vai trò lãnh đạo..v..v…
Kẻ đó tên là Nguyễn Hữu Nghĩa.
Trong Hành Trình Chữ Nghĩa cuốn 1, tôi đã trình bầy trường hợp chính tôi là nạn nhân xuyên tạc của tên này.
Ngay sau khi sách phát hành, Nghĩa lại đưa lên mạng một loạt bài trích trong cuốn Chém Đá của tác giả Sắc Không (tức Nguyễn Hữu Nhật) do Làng Văn, cơ sở xuất bản của Nghĩa ở Canada ấn hành, với ý đồ lợi dụng tình thế để vừa bán thêm sách, vừa dùng bài viết của Nguyễn Hữu Nhật trong mục Chém Đá để tiếp tục bôi nhọ tôi một lần nữa.
Riêng chuyện Chém Đá này, tôi xin dành xuống phần dưới (trang 187), khi đề cập đến những chuyện xoay quanh giữa tôi và Nguyễn Hữu Nhật.
Trong phần này, tôi chỉ xin nhắc lại một vài vụ việc mà Nguyễn Hữu Nghĩa đã gây ra trong làng Văn, làng Báo mà tài liệu ghi gói vẫn còn tồn tại trên nhiều trang mạng, với nhiều nhân sự thuộc nhiều lãnh vực khác nhau đã đề cập tới.
1) Nguyễn Hữu Nghĩa hại đời tư nhà văn Võ Kỳ Điền ra sao …do nhà báo Hải Triều tường thuật như sau:
(trích)
Ngày 16/5/1998, tôi ( nhà văn Hải Triều) có mặt ở Montreal chuẩn bị cho buổi nói chuyện và ra mắt tập “Vết Hằn Để Lại Nghìn Sau” ngày Thứ Bẩy 17/5. Đêm đó, tôi ngủ nhà anh Võ Kỳ Điền. Lâu mới gặp nhau, anh buồn buồn tâm sự muôn thứ chuyện, trong đó có chuyện “phone tặc” hại gia đình anh:
“Anh nghĩ, cứ nửa đêm, vợ chồng đang say giấc, nó gọi phone; bốc phone, một giọng nói xa lạ vọng lên trong máy: Có (TSTYĐB) nằm bên cạnh không? Có lúc tôi bắt phone, có lúc vợ tôi bắt phone, và bà không thể kéo dài tình trạng này. Gia đình tan vỡ!”
Không có một người đàn bà nào nằm bên chồng mà chịu nổi cái cảnh này. Hai vợ chồng, vì hậu quả chuyện fax rơi do người làm văn hóa bằng tờ Làng Văn/Nguyễn Hữu Nghĩa chế ra, và chuyện phone tặc mà ly dị nhau.
Chuyện “phone tặc ban đêm” trên đây, thực ra chỉ là cơn mưa rớt còn lại của vụ nhà báo Nguyễn Hữu Nghĩa có trong tay một bức thư “riêng tư tình cảm” liên hệ đến nhà văn Võ Kỳ Điền, và ông chủ bút Làng Văn đã chơi cái trò bỏ vô máy Làng Văn rồi gửi đến cho bà xã nhà văn Võ Kỳ Điền để những ngày sau đó, gia đình người ta tan nát trong cơn bão cách ly, đường ai nấy đi!
Xin viết lại cho độc giả rõ, nhà văn Võ Kỳ Điền một thời chính là cộng tác viên có tên trong danh sách Làng Văn, khi thấy không thuận thì Nguyễn Hữu Nghĩa thẳng tay cạn tàu ráo máng!
Lúc thực hiện cái trò bá đạo đen tối này, chủ bút Nguyễn Hữu Nghĩa nhà ta cẩn thận dấu đi cái số fax của máy Làng Văn để phủi tay sau khi gửi đi, nhưng cái máy fax ở sở của chị Võ Kỳ Điền qua cái “journal report” ghi lại được số fax nơi gởi: “(416). 240. 0342 lúc 15.49 ngày 17.08.1992. Đó là số fax in trên trang 1 của tờ Làng Văn! Nguyễn Hữu Nghĩa đã bị bắt quả tang, chối lòng vòng, nhưng sau cùng phải thú nhận!
“Chuyện này cả thế giới đều biết, tôi không cần chạy lại cái “fax rơi” đó làm chi cho buồn lòng bạn tôi, anh Võ Kỳ Điền. Cái thứ “fax rơi” cỏ rác đó in vào sách chỉ làm bẩn sách mà thôi. Có điều rôi rất bất nhẫn và thất vọng về tình trạng nín khe của những thức giả Văn Bút Hải Ngoại trước những oan khiên của nhà văn Võ Kỳ Điền; trong lúc, chánh phạm gây ra cái vụ vô đạo này vẫn nhởn nhơ múa gậy vườn hoang như những ngày “giả chết vô bưng, hồi sinh về thành” mấy mươi năm trước; trái lại anh ta còn trở thành nhân vật được một số thức giả trọng nể, tin cậy và đang là cố vấn cho Hưng ca và giám sát một vài hội đoàn cựu quân nhân ở miền Đông Canada…
Tôi nhớ, cũng vì “phục” chuyện fax rơi này mà sau khi ông Nguyễn Hữu Nghĩa ra một tập tham luận chính trị lấy tên là “Dọn Đường Về Nước”, một độc giả chúng tôi gửi về tòa soạn hai câu thơ nhờ gửi tặng chủ bút Làng Văn:
Dọn đường về nước ai ơi
Nhớ đem máy fax thư rơi mà dùng!
Kể ra, việc xấu đến độ tán tận lương tâm cũng tạo được ít tiếng vang trong đời, thì người ta đâu cần chuyện làm việc tốt chi cho mất công!
“ Như vừa nói trên, tôi không có ý đánh máy để in lại “lá thư fax rơi” của Nguyễn Hữu Nghĩa ký dưới tên Chung (nhưng có bản chụp ở phần phụ bản sau khi anh VKĐ bỏ đi một đoạn.), nhưng tôi chạy lại nguyên văn hai thư nhà văn Võ Kỳ Điền đã gửi thẳng cho tôi và tạp chí Lửa Việt, để độc giả đọc chính những gì “nạn nhân” viết về vụ “thư fax rơi” của nhà làm văn học kiêm chủ bút Làng Văn Nguyễn Hữu Nghĩa.
Thư số 1.
– Laval 7 Sept 1992
Anh Hải Triều thân mến,
Hôm trước tôi có gởi cho anh xấp tài liệu liên quan tới vụ thư rơi do Làng Văn gởi. Tài liệu vẫn có giá trị, vì việc tôi làm chính đáng, trách nhiệm, có sự cố vấn của luật sư đàng hoàng. Tuy nhiên cô XX khi hay tin, có vẻ lo sợ vì một vài chi tiết đời tư mà cô ta không muốn bị phơi bày. Tôi thông cảm điều đó, và tôi có điện thoại cho anh ngay tối hôm thứ Bẩy nhưng chỉ gặp được người nhà. Chắc cô ta đã nói với anh.
Hôm nay, cũng do sự cố vấn của luật sư, tôi gởi đến anh bản đính chánh lá thứ hai này có xóa bỏ vài dòng, câu xúc phạm nặng nề đời tư cô X. X. còn lại bức thư nặc danh vẫn giữ nguyên. Nếu khi dùng để viết bài liên quan đến vụ “thơ rơi” này, anh nên dùng bản này ( bản có xóa vài dòng) để làm tài liệu chính thức.
Mọi sự trông cậy vào anh.
Thân mến
Võ Kỳ Điền
Thư số 2.
– Laval ngày 12 tháng 11 năm 1992
Kính anh Hải Triều
Tôi cám ơn anh nhiều lắm. Vừa qua, tờ Làng Văn+Chiến Sĩ Tự Do để nguyên một số báo mạ lỵ tôi, lời lẽ hàm hồ, mất dạy. May quá, nhờ có Lửa Việt ra kịp lúc với bài của Phạm Hoàng, bài của anh, tôi cảm thấy hả dạ. Anh đã trả lời dùm tôi, tát vào mặt tụi nó những cái tát đau điếng. Nghĩa bị mất mặt vì vụ thơ rơi nên lồng lộn như con thú bị thương, lúng túng biện bạch.
Nó là tên trây trúa hạng nặng nên chắc sẽ phản ứng bằng hai thái độ ở thời gian tới. Sau bài đánh phá tôi, nó sẽ nằm im để dưỡng thương, chờ thiên hạ quên đi rồi sau đó sẽ tính tới theo kiểu VC, lui một bước để tiến tới hai bước. Hai là sẽ tiếp tục bôi tro trát trấu vào tôi theo kiểu đánh anh, Hà Thúc Sinh, Huỳnh Dung lúc trước. Nó ỷ có tờ báo trong tay và một số báo phe đảng. Tôi lúc nào cũng sẳn sàng để viết bài tiếp tục lột mặt nạ nó và không bao giờ lùi bước hết. Đã chấp nhận chiến đấu rồi thì không hề lùi bước, nhưng mục đích của tụi Nước Đục là cố ý đánh phủ đầu tôi để tôi không dằn được cơn nóng giận, trả lời qua, trả lời lại, nó sẽ nhân theo đó mà đánh vào chỗ yếu của mình….
Sau loạt bài đánh phá tôi, rất nhiều bạn bè thân tình đều khuyên tôi im lặng, không nên trả lời, vì trả lời là mắc bẫy nó. Tôi tuy tức giận lắm, nhưng cũng thấy được những lời khuyên đó là quý báu. Người ta có thể dùng lý luận để làm sáng tỏ sự thật chứ không thể dùng lý luận để bóp méo, che dấu sự thật.
Đã hơn một lần tôi nhịn được là không công bố bài viết trả lời Trà Lũ, tuy tôi đã “nạp đạn xong và sắp bắn”. Điều đó rất hay, vì hôm nay có bài của anh và của Phạm Hoàng hay hơn bài của tôi nhiều lắm. Trong cơn tức giận, có nhiều khi ý kiến của mình chủ quan sơ sót, tôi lại không quen với lý luận đấu tranh. Bạn bè ở bên ngoài nhìn vấn đề sáng suốt và khách quan hơn…
Một lần nữa, cám ơn anh và Lửa Việt nhiều lắm.
Thân mến
Võ Kỳ Điền
(Chấm dứt phần trích thư Võ Kỳ Điền)
Tôi (tức nhà văn Hải Triều) xin minh bạch rằng, tôi với anh Võ Kỳ Điền chỉ là bạn văn mà thôi. Thấy bạn mình ngộ nạn oan khiên từ một hành vi tà đạo của một kẻ làm văn hóa có tờ báo và nhà xuất bản, phe nhóm trong tay, trong lúc Võ Kỳ Điền không có báo, tôi nhào vô cứu bồ bạn tôi.
Chủ quan, tôi nghĩ rằng tôi làm việc công đạo, Nguyễn Hữu Nghĩa làm là việc tà đạo; một phần vì việc lén ngụy tạo thư rơi rồi fax đến vợ người ta để phá gia cang người ta là tội bị xuống địa ngục, hay đáng làm mồi câu cá mập; một phần khác là cả Nguyễn Hữu Nghĩa (Trung tâm VBVNHN Ontario) và Võ Kỳ Điền đều là thành viên Văn Bút VNHN thuộc hai trung tâm miền Đông Canada (Võ Kỳ Điền là Tổng Thư Ký VBVNHN Trung tâm Quebec). Ông Ontario xắn bàn tay lông lá “sát thủ” ông Quebec bằng một đòn hạ cấp mà không có cái hội văn chương, chữ nghĩa nào có thể chấp nhận nổi. Thế mà ông Nguyễn Hữu Nghĩa vẫn được bốc lên mây trong VBVNHN, thì cho kẹo dừa tôi cũng không vào để làm thành viên. Ông Nguyễn Hữu Nghĩa và Khải Chính Phạm Kim Thư cứ đoán mò rồi quả quyết là Hải Triều gia nhập Văn Bút Viên Linh, gom chung vào một mối để ném bùn, là một điều rất ư là tầm bậy.
Ở Hoa Kỳ, trừ nhà văn Nguyễn Tà Cúc, không biết có vị thức giả Văn Bút nào cảm thương hoàn cảnh nhà văn Võ Kỳ Điền mà viết lên được một chữ bất bình! Dường như không có mấy ai! Cả cho đến lúc này.
Hải Triều
(Hải Triều-Vũng Lầy Văn Báo Hải Ngoại – Chương13)
Nguồn: http://www.freewebs.com/matthatnguyenhuunghia/nhn_vokydien.html
2) Nguyễn Hữu Nghĩa gây chia rẽ hàng ngũ người Việt Quốc Gia:
Ghi chú: Những điều ghi trong mục 2, 3, 4 là do nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn tiết lộ sau một thời gian dài cộng tác với Nguyễn Hữu Nghĩa, và nhờ đó nhà văn có điều kiện thấu rõ những hành vi đốn mạt của người cộng tác với mình. Vài đoạn trích từ báo TỰ DO số 107 – Tháng 1.1998, phát hành tại Toronto, Canada:
(trích)
Năm 82, khi Mặt trận Hoàng Cơ Minh vừa ra đời, đang hoạt động mạnh, Nguyễn Hữu Nghĩa liền phịa ra bản tin “Hội Cựu Quân Nhân Ontario họp đại hội lên án kháng chiến bịp”, gửi cho tờ Việt Nam Hải Ngoại. Tờ này đang chống Mặt Trận nên mừng rỡ đăng lên ngay không kiểm chứng! Mục đích của Nghĩa là để Mặt Trận và Hội Cựu Quân Nhân Toronto thù nhau! (báo Việt Nam Hải Ngoại số 125/tháng 8/82).
3) Nguyễn Hữu Nghĩa viết thư nặc danh để chiếm đoạt quảng cáo:
(trích)
Năm 84, vừa dứt tờ Lửa Việt để làm tờ Làng Văn, Nghĩa liền viết thư nặc danh gửi cơ quan chính quyền Canada đang đăng quảng cáo trên Lửa Việt, cốt để cơ quan này cúp quảng cáo trên Lửa Việt mà chuyển sang Làng Văn! Thư nặc danh, nhưng Nghĩa viết tay, không ngờ cơ quan này gửi lá thư đó cho Lửa Việt! Tôi đang làm công việc hòa giải giữa Làng Văn và Lửa Việt, nhìn lá thư của Nghĩa do Bùi Bảo Sơn đưa ra, tôi ngượng quá, không biết nói gì để phân trần cho Nghĩa!
4) Nguyễn Hữu Nghĩa cắt xén thư tay của nhà văn Hà Thúc Sinh để hoàn thành một lá thư tay khác nhằm lũng đoạn phong trào Hưng Ca :
(trích)
Thâm độc hơn nữa là Nghĩa lấy thư viết tay của Hà Thúc Sinh, cắt xén từng chữ, rồi ghép lại những câu theo ý mình để chửi người khác! Sau đó Nghĩa đem photo và gửi cho anh em trong phong trào Hưng ca, mục đích để họ ghét Hà Thúc Sinh mà đứng hẳn về phe Nghĩa! Những câu Nghĩa ráp nối ấy, mang nội dung chửi Hưng ca mà mọi người cứ tưởng Hà Thúc Sinh viết, bởi đúng là bút tự của Hà Thúc Sinh! Ngày ấy Hà thúc Sinh và Nguyễn Hữu Nghĩa cùng là phong trào trưởng phong trào Hưng ca. Một rừng hai cọp! Nghĩa muốn Hưng ca chống lại Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, Hà Thúc Sinh không bằng lòng, chủ trương hoặc thân Mặt Trận, hoặc ít ra cũng không chống! Kết quả là Nghĩa thắng là nhờ nhiều mánh khóe và nhờ có tờ Làng Văn trong tay.
Nguyễn Ngọc Ngạn – 25.11.97
(Trích từ báo TỰ DO số 107 – Tháng 1.1998, phát hành tại Toronto, Canada)-
http://mt-nguyenhuunghia.tripod.com/detraloi_1cauhoi.html
Trước khi trở thành nhà văn, ông Nguyễn Ngọc Ngạn đã là một nhà giáo. Rồi trong suốt một thời gian dài làm MC trên chương trình Thúy Nga Paris, cung cách trình bầy, ứng xử của ông đã thu phục được cảm tình của hầu hết các tầng lớp khán giả. Do đó, tôi (Nhật Tiến) tin tưởng những gì ông đã trình bầy trong những đoạn kể trên đều là sự thật. Mà nói ngay trong thực tế, tất cả những điều mà nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn tố giác ở trên, Nguyễn Hữu Nghĩa đều đã cứng họng không thể trả lời vì đã va chạm phải Sự Thật.
Trên đây mới chỉ đơn cử vài hành vi của Nguyễn Hữu Nghĩa. Còn rất nhiều “thành tích” khác, đặc biệt là Văn Bút VN Hải Ngoại tan nát ra sao, Văn giới đều biết rõ. Độc giả có thể tham khảo thêm về những chuyện động trời khác, xin vào web site: http://mt-nguyenhuunghia.tripod.com/
Chương 2
NGUYỄN HỮU NHẬT
(Còn có bút hiệu SẮC KHÔNG, phụ trách mục Chém Đá trên tờ Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa,
sau gom một số bài in thành 2 cuốn:
CHÉM ĐÁ, ĐÁ ĐỔ MỒ HÔI do Làng Văn xuất bản.)
Tôi (Nhật Tiến) và ông Nguyễn Hữu Nhật không hề có chuyện giao du, thân thiết để sinh lòng yêu mến hay thù oán, ganh ghét nhau. Giữa hai người chỉ có một sợi dây ràng buộc duy nhất: Nguyễn Hữu Nhật là chồng sau của nhà văn Nguyễn thị Vinh, mà gia đình chúng tôi trước đó hàng mấy chục năm thì đã coi bà Nguyễn thị Vinh như một người thân thiết, các con tôi thường gọi bà Vinh là “me Vinh”.
Nếu Nguyễn Hữu Nghĩa không post lại trên internet một đoạn của cuốn Chém Đá sau khi cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa của tôi vừa được phát hành, thì tôi vẫn hoàn toàn không hay biết gì về việc Nguyễn Hữu Nhật đã từng liên tục bôi nhọ tên tuổi của tôi trên báo Làng Văn từ hơn 10 năm trước đó, rồi sau lại còn cho in thành sách nữa!
Nội dung đoạn Nguyễn Hữu Nghĩa đã post lên Net trong tháng 3 -2012 vừa qua như sau:
Giới thiệu sách: CHÉM ĐÁ -Tác giả: Sắc Không -Nhà xuất bản: Làng Văn
Số trang: 224-Giá: 12 mỹ kim (kể cả cước phí đường bộ trong Canada và Mỹ)-Trả bằng Paypal cho: langvan@langvan.net- Hoặc gửi chi phiếu về:Làng Văn -250 N. Service Rd. Grimsby, Ontario L3M-4E8 Canada
Mời đọc một đoạn:
CHIM HÓT TRONG LỒNG
Mỗi người Việt là một nhà thơ, trừ Sắc Không, một kẻ gần thành… nhà thơ, bởi “sở trường gồm rất nhiều sở đoản và sở đoản là chẳng có sở trường nào cả”. Ngay cái tên Sắc Không, nằm trong câu hỏi – dao chém đá có sắc không- cũng đủ sặc mùi quê rồi. Nào có biết chi về “sắc tức thị không, không tức thị sắc” trong Tâm Kinh nhà Phật, xin quí bạn đọc đừng hỏi gì cao xa thêm nữa.
Trong số những người cật vấn Sắc Không, hân hạnh thay có cả nhà văn Nhật Tiến, tác giả tập Chim hót trong lồng (có giê), hôm qua đã gay gắt hỏi Sắc Không:
– Này! Anh thấy tôi và Nguyễn Chí Thiện khác nhau ở chỗ nào?
– …
– Cứ nói! Giữa hai lằn đạn bắn ra. Một mình đi tới mà ta chẳng sờn. Huống hồ…
– Khác ở chỗ này: Bùi Nhật Tiến là nhân vật cai ngục trong thơ Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Chí Thiện là nhân vật bà sơ trong truyện của Bùi Nhật Tiến!
Chưa hết, nhà văn Nhật Tiến còn cố hỏi thêm:
– Người ta bảo ở hải ngoại này có “tam Bùi qui độc”. Hai người kia là Bùi Duy Tâm và Bùi Tín. Lạ thật, tên ba anh em chúng tôi, cùng khác cha mẹ, đều vần T. Nhưng anh thấy ai đáng mặt “đệ nhất độc”?
– Không dám. Nhưng nhà thơ Mậu Binh Hà Huyền Chi có một bài thơ nói về việc ấy. Ông có thể nghe…?
– Được!
– Tôi xin đọc:
Chó săn thua đứt chim mồi,
những tên cầm-bút-làm-bồi, gáy vang
Sông Đà bọt nổi sớm tan
giả làm Mặt Thật càng tàn rụi nhanh
Quê Người hết em lại anh
ra công giấu vuốt, che nanh Quê Nhà
Sự thật sao không nói ra:
Bởi đâu con trẻ, người già đói ăn?
Ngay sau khi đoạn văn kể trên được đưa lên net, một độc giả tên Hà Xuân Thắng đã gửi email chất vấn Nguyễn Hữu Nhật như sau:
From: “Thang Ha” <haxuanthang1@yahoo.com>
Chào ông Nguyễn Hữu Nhật,
Tôi có 2 câu hỏi mong ông lấy danh dự của kẻ làm người trả lời:
1 – Có phải bút hiệu Sắc Không chính là ông?
2 – Đoạn đối thọai giữa ông và ông Nhật Tiến bên dưới là do ông sáng tác, đúng không?
Ngoài ra, ông Hà Xuân Thắng cũng post lên net lá thư gửi cho tôi như sau:
From: This sender is DomainKeys verified”Thang Ha” <haxuanthang1@yahoo.com>
Kính gửi nhà văn Nhật Tiến,
Mấy ngày gần đây, trên nhiều mạng lưới toàn cầu đã có sự xôn xao về những chuyện đã từng xẩy ra trong quá khứ liên hệ tới nhà văn, nhân cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa của ông được nhà xuất bản Huyền Trân ấn hành.
Vốn là một độc giả của ông từ lâu năm, chính nhờ cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa này, mà một số chuyện đồn đại cũng đã được ông làm sáng tỏ. Tuy nhiên, riêng câu chuyện đối thoại giữa nhà văn Nhật Tiến và tác giả Sắc Không (nghe đâu là do ông Nguyễn Hữu Nhật ở Na Uy đội lốt) mà tôi gửi đính kèm, tôi xin được hỏi:
1) Có đúng là đã có một cuộc đối thoại như thế xẩy ra giữa nhà văn Nhật Tiến và tác giả Sắc Không hay không? Nếu đúng, thì Sắc Không là một người khác hay chính là ông Nguyễn Hữu Nhật, người chủ trương tủ sách Anh Em và tạp chí Hương Xa ở Na Uy?
2) Nội dung cuộc đối thoại ấy có đúng như ông Sắc Không đã viết lại hay là nó đã bị thêm bớt hay xuyên tạc đi, vì tôi thấy ngôn ngữ sử dụng cũng như ý tưởng của Nhật Tiến trong cuộc đối thoại này quá thấp kém, không phù hợp với những gì mà tôi đã từng biết về ông.
Kính mong ông làm sáng tỏ cũng như đã làm sáng tỏ chuyện “sau 1975, đeo băng đỏ hướng dẫn công an đi bắt văn nghệ sĩ “(do Nguyễn Thiếu Nhẫn vu cáo) hay chuyện “nhà văn đi quyên góp 18.000 đô la đem về VN nộp cho CS để xin in Tuyển tập Văn chương Hải ngoại” ” (như Nguyễn Hữu Nghĩa đã bịa đặt trên báo Làng Văn).
Xin cám ơn ông rất nhiều.
HÀ XUÂN THẮNG
Tôi đã trả lời lá thư kể trên với nội dung như sau:
“Kính gửi ông Hà Xuân Thắng,
Xin cám ơn nhã ý của ông đã theo dõi những chuyện thị phi xoay quanh quãng đời cầm bút của tôi trong vài chục năm vừa qua. Cũng may nhờ nhà Huyền Trân phát hành cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa mà một vài chuyện thị phi đã được làm cho sáng tỏ. Riêng câu chuyện đối thoại giữa tôi và ông Sắc Không mà ông có gửi kèm theo 2 câu hỏi, thì tôi xin được trả lời như sau:
1) Đây lại là một thứ chuyện bịa đặt một cách trắng trợn nhằm bôi nhọ tư cách của tôi do tên Sắc Không nào đó viết ra. Thật tình, tôi không hề có bất cứ một sự liên hệ nào với ngòi bút mang bút danh Sắc Không dù qua hình thức thư từ, điện thoại hay email chứ đừng nói là đã đối diện nhau để có cuộc đàm thoại mà trong đó tôi đặt ra những câu hỏi hết sức thấp kém như thế.
Còn chuyện ngòi bút Sắc Không có phải là Nguyễn Hữu Nhật hay không thì tôi cũng không thể trả lời. Bởi vì tuy tôi có biết ông Nguyễn Hữu Nhật từ thời còn ở Sài Gòn trước 1975, nhưng khi ra tới hải ngoại, tôi không hề có sự liên lạc nào với ông ta, ngoại trừ có lần ông ấy từ Na Uy ghé Nam Cali để nói chuyện ở trụ sở báo Người Việt thì tôi cũng ghé qua chào hỏi theo tính cách xã giao nhân danh tôi còn làm việc ở tòa soạn báo Việt Tide có trụ sở ngay gần đó.
Thế thôi!
2) Tuy nhiên tôi lại được đọc một đoạn như sau trong cuốn “Trận Giặc Văn Bút” do tác giả Đặng văn Nhâm viết, tôi thấy có hé lộ vài chi tiết liên hệ giữa tác giả Nguyễn Hữu Nhật và bút danh Sắc Không. Tôi xin trích lại để giúp ông tìm hiểu thêm, mặc dù tôi không thể kiểm chứng được những gì mà ông Đặng văn Nhâm đã viết ra về 2 nhân vật này. Xin ông hãy chỉ coi đoạn trích dưới đây như một thứ tài liệu để tham khảo thôi:
“ Hơn thế nữa, NG.H. Nhật ….đã viết trên tờ Làng Văn, số 157, trang 98, núp dưới bút hiệu “Sắc Không” nồng nặc sặc sụa mùi Thiền, bịa chuyện để nhục mạ bà Thụy (tức nhà văn Trương Anh Thụy), …..bằng những lời đểu cáng, cực kỳ tục tĩu chưa từng thấy trong lịch sử văn, báo giới VN…”
(Trận Giặc Văn Bút, trang 187 do
Việt Nam Văn Hiến ấn hành năm 2000 tại Cali)
Sau cùng, xin một lần nữa rất cám ơn ông trong những nỗ lực mà ông đã bỏ ra để đi tìm sự thật cho sinh hoạt chữ nghĩa cũng như trả lại sự công bằng cho những người công chính.
NHẬT TIẾN
Rồi lại thêm một chuyện động trời nữa xuất hiện trên net: Nhà thơ Hà Huyền Chi hiện cư ngụ ở Portland đã lên tiếng rằng bài thơ trích trong đoạn “Chim Hót Trong Lồng” mà Nguyễn Hữu Nghĩa “mời đọc một đoạn” để giới thiệu cuốn Chém Đá (như đã nêu ở trên) tuy nói ông là tác giả nhưng thực sự là ông không hề sáng tác bài thơ này.
Email của Hà Huyền Chi viết như sau:
“ Hhc, Maubinh không phải là tác giả của bài thơ này:
Chó săn thua đứt chim mồi,
những tên cầm-bút-làm-bồi, gáy vang
Sông Đà bọt nổi sớm tan
giả làm Mặt Thật càng tàn rụi nhanh
Quê Người hết em lại anh
ra công giấu vuốt, che nanh Quê Nhà
Sự thật sao không nói ra:
Bởi đâu con trẻ, người già đói ăn?
Trước đây NHNghiã từng mạo danh HHC trong 1 bài đánh Viên Linh, in trong sách. (HHC đã chính thức trả lời NHNghĩa trên tờ VanNgheTienPhong và còn giữ bản lưu)”
HHC
Mà không phải Nguyễn Hữu Nhật chỉ “làm thơ” giấu mặt dưới bút hiệu Sắc Không để nhục mạ tôi có một lần.
Do Nguyễn Hữu Nghĩa mới đây nhẩy vào quảng cáo cuốn Chém Đá để kiếm thêm ít tiền lẻ, nên tôi mới có dịp tìm đọc cuốn sách này, và thấy Nghĩa đã vô tình để lộ bộ mặt tráo trở, hèn hạ của Nguyễn Hữu Nhật.
Thật vậy, trong suốt chiều dài 2 cuốn sách của Nguyễn Hữu Nhật (cuốn Chém đá và cuốn Đá Đổ Mồ Hôi) nội dung đã phơi bầy biết bao nhiêu nạn nhân bị nhục mạ, kể cả tôi cũng bị mang ra bêu riếu nhiều lần (mà hẳn Nguyễn Hữu Nhật muốn giấu kỹ từ khi qua San Jose tính chuyện phát triển công cuộc làm ăn ngành xuất bản báo chí tại địa bàn có đông người Việt định cư, nhưng việc không thành).
Sau đây là một bài thơ khác mà trong cuốn Chém Đá (trang 151), Nguyễn Hữu Nhật bịa đặt ghi là của Mậu Binh (một bút hiệu khác của nhà thơ Hà Huyền Chi):
DA NGÀ, BIA NGOẠI
(Thơ Mậu Binh)
Lòng bát úp lật ngửa trôn
Viết văn, đánh-đĩ-tâm hồn, từng câu
Ta về chẳng biết đi đâu
Tìm nguồn cảm hứng cho sầu bớt dâng
Lồng to, chim bé bâng khuâng
hót bao nhiêu tiếng cũng không nghĩa gì
Da ngà bọt trắng mép ly
Bia ôm Cửa Mở, mặt lỳ Thềm Hoang
Hồn Người Áo Trắng lang thang
Bến Ninh Kiều *, gậm Cầu hàng *, nay đâu?
Ta, Người Thổi Kèn, bấy lâu
ống đu đủ toác, miệng ngầu máu me…
Quê Nhà trên búa dưới đe
Lại khen đổi mới còn khoe Quê người
Lập thân khốn nạn nhất đời
hợp tung văn nghệ tùy thời lưu manh?
* Đất tung hoành của bọn nhà “đất”
Nội dung bài thơ nhắc đến tên vài tác phẩm của tôi: Chim hót trong lồng, Thềm Hoang, Những người áo trắng, Cánh cửa, Tiếng kèn, Quê nhà Quê người.
Cung cách dùng chữ nghĩa và khẩu khí trong bài thơ kể trên với những câu như đánh-đĩ-tâm hồn, Lồng to, chim bé, mặt lỳ Thềm Hoang, Lập thân khốn nạn, văn nghệ tùy thời lưu manh?..Đất tung hoành của bọn nhà “Đất”, (Nguyễn Hữu Nhật muốn ngụ ý “nhà thổ”) v..v…nói lên sự phóng bút một cách vô tội vạ, vô lương tâm và bất cận nhân tình ra sao chỉ cần đọc sơ qua một lần ai cũng thấy.
Dy có điều cần nói rõ ra là: tôi đã nhờ cô Hoàng Vân, một người quen với nhà thơ Mậu Binh (tức Hà Huyền Chi ) hỏi xem ông có làm bài thơ này để in trong cuốn Chém Đá của Nguyễn Hữu Nhật không, thì nhà thơ đã trả lời như sau:
“Hi Hoa`ng Va^n,
Ba`i tho* Che’m DDa’ du*o*’i dda^y kho^ng pha?i cu?a Ma^.u Binh dda^u em. Te^n kho^’n na`o cho^m bu’t bie^.u cu?a anh ddo’ em.
MauBinh
Vâng, cái “te^n kho^’n na`o cho^m bu’t bie^.u” Mậu Binh đó, còn ai khác ngoài Nguyễn Hữu Nhật nữa!
Trước sự thật đã quá rõ ràng này, Nguyễn Hữu Nhật không chối cãi được sự lươn lẹo của mình, đã thế, ông ta còn bịa đặt thêm một câu chuyện khác nữa qua một email gửi cho Michael Bùi (nhờ Diễn đàn Chính nghĩa chuyển) mà nội dung có những đoạn như sau:
Anh Em Xuất Bản /USA 1990.
AE__3/19/2012__Kg DienDanChinhNghia__Kg OngMichael Bui
Na Uy, Oslo ngày 19 tháng 3 năm 2012
Kính gửi Diễn đàn ChinhNghiaViet@yahoogroups.com
Xin diễn đàn giúp chuyển vi thư. Đa tạ.
Kính.
Nguyễn Hữu Nhật.
Kính gửi ông Michael Bùi
(trích)
Tôi (tức Nguyễn Hữu Nhật) chỉ kể lại sự thật những gì đã xảy ra:
A_Không ai có thể ‘’hạ nhục nhục tư cách’’ của ai. VGCS đã và đang ‘’hạ nhục tư cách’’ của bao nhiêu người Quốc gia Dân tộc mà có được đâu. Ông Nhật Tiến chủ trương ‘’giao lưu, hòa hợp’’, tôi chống lại, thuộc vấn đề chính trị, như đảng Cộng Hòa, đảng Dân chủ ở Mỹ chống lại nhau về đường lối chính trị, không ai đặt vấn đề ‘’tư cách’’ trong việc đó. Chẳng qua loại ‘’biếm văn’’ có nhiều cách viết. Nó thường được “hư cấu’’ như tranh hí họa (cartoon). Biếm họa thường cay độc hơn biếm văn nhiều. Tôi thành thật xin lỗi ông nếu ông cho rằng cuộc “phỏng vấn’’ phải phải có thật.
B_Năm 2005, tôi qua Mỹ để ra mắt sách tại Phòng Sinh Họat của Nhật báo Người Việt. RMS (Ra Mắt Sách) khó có thể là ‘’bành trướng sự nghiệp’’? Ông bà Nhật Tiến có tới dự. Buổi ra mắt sách được gia đình ông Nhật Tiến tặng cho chiếc bánh lớn đãi quan khách. Tôi nghĩ là “anh em’’ có dấu hiệu ‘’cảm thông’’ vì sách CĐ do nxb Làng Văn in năm 1997, sau 8 năm mọi chuyện đã khác, kể cả quan điểm chính trị của ông Nhật Tiến, sau vụ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương thất bại. Cho tới giờ, năm 2012, hỏi hoa vàng nào còn nở nữa không? Trói, cởi trói, rồi trói lại. CS giờ đây vẫn chơi trò ‘’trăm hoa đua nở’’ của Mao?
C_Sau buổi sinh hoạt, chúng tôi đến thăm tư gia ông Nhật Tiến, hình như hôm đó có cả ông Michael Bùi. Chúng tôi nói chuyện văn chương, chữ nghĩa, bình thường. Ông Nhật Tiến còn bảo ‘’có gì’’ thì gửi cho báo Việt Tide. Và báo Việt Tide của ông Nhật Tiến còn đăng phóng sự, hình ảnh buổi ra mắt sách của tôi, tôi còn lưu giữ số báo đó. Thăm xong, chúng tôi về nơi ở của mình.
D_Hai năm sau, sinh hoạt ra mắt sách tại San Jose, chúng tôi từ nơi ở riêng, được mời tới thăm nhà ông anh của ông. Ông nói đúng ‘’ở vài ngày’’. Nay trở thành vì miếng ăn, nơi ở. Nơi chúng tôi ở, nhiều bà con, bạn văn nghệ, bạn đọc dễ đến thăm chúng tôi hơn là ở nhờ riêng một tư gia nào, dù không ít tư gia bạn bè có nhã ý cho tá túc. Đó là sự thật.
E_Bút danh SK chỉ là muốn ‘’chơi chữ’’, hỏi dao có sắc/bén không, như đã in ở trang đầu sách CĐ. Làng Văn 1997, để tránh sự hiểu lầm. Nó không dính dáng gì tới hai chữ ‘’sắc không’’ mà nhà Phật thường dùng. Một vài ‘’nickname’’ đã lạc đề.
F_Xin nhắc lại, ông viết: ‘’…Nhưng nói gì thì nói, dù sao me Vinh vẫn là me của chúng tôi muôn đời muôn thuở, và cũng vì cái chữ tình, tôi sẵn sàng gom góp để lo cho ông ở Motel 6 nếu thật sự ông cần đến nó, ông nhớ chưa?..’’ Xin cảm ơn ông, nhờ mère / me / mẹ Vinh, mà ông chỉ ‘’cấm cửa’’ tôi, nhưng vẫn có ‘’nhã ý’’ cho tôi ở ‘’motel 6’’.
6/ Cũng ‘’vì cái chữ tình’’, tôi xin kể thêm đôi chút:
a- Khoảng ngày 27, 28 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn hỗn loạn lắm rồi. Ông Nhật Tiến và tôi đến văn phòng Trung tâm Văn bút Việt nam, đường Đoàn Thị Điểm, lên lầu thấy cửa khóa. Tôi phải để ông Nhật Tiến tháo giày, đứng lên vai tôi, cố gỡ tấm lưới thông gió. Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi. Ông Thanh Lãng chủ trương ở lại. Lúc đó hình như, tôi không nhớ, Phó chủ tịch Văn Bút là ông Nhật Tiến.
b- Hành động ‘’khuất tất’’ trên nói lên điều gì? Ông Nhật Tiến và tôi không là CS! Cũng như phần đông người vượt biển đều chống Cộng. Chỉ cách chống Cộng khác nhau thôi.
c- Năm 1989, tôi ra ngoài này, giữa lúc Liên Sô và Đông Âu tan rã, CS Việt chới với. Tôi không hiểu tại sao khá đông văn nghệ sĩ tỵ nạn CS, lại lại xuất bản và tham dự Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương? Sau 2 lần, 11 năm tù qua các trại tập trung, 4 năm quản chế, tất nhiên tôi chống mọi khuynh hướng ‘’giao lưu, hòa hợp’’ với CS. Tự nhiên nó như thế. Trước và sau năm 1975, hàng triệu gia đình người miền Nam đã tan cửa, nát nhà, tù đầy, vượt biển, chết chóc, bị làm nhục, sự không may mắn của đời riêng tôi nào nghĩa lý gì? Khi mối nhục chung của đồng bào ta, là quốc nhục, cũng là nỗi nhục của riêng tôi.
d- Cái khó khăn cho tôi là tôi đã bất đồng chính kiến với một vài người trong họ, với cả đôi người thân quen, dù họ từng là bạn học, bạn lính, bạn tù, bạn văn… Để chống lại sự độc tôn, độc đảng, độc tài, tôi chấp nhận bị đối phương xuyên tạc, đả kích, mạ lỵ…
7/ Thưa ông Michael Bùi, về văn học, tác giả Thềm Hoang là một nhà văn có tài, nhân bản, cùng với các sáng tác khác trước 1975. Sau 1975, nội dung sách in đã khác. Tôi mong rằng sau lá thư này, tôi nên giữ im lặng. Vì tôi chỉ có một, duy nhất, đối tượng cần phải viết, nói đến nhiều hơn nữa là Việt gian CS. Phần khác, tôi cũng không để CS khai thác mâu thuẫn, của người tỵ nạn CS, ở ngoài này, nếu có.
Tôi không nghĩ ông gây khó xử cho tôi. Nhất là khi chính ông Nhật Tiến cũng không muốn lên tiếng. Tôi im lặng cũng kỳ. Trả lời thì dễ rơi vào cảnh ‘’tiếng bấc đi, tiếng chì lại’’ như nhiều chuyện trong ‘’thiên hạ’’? Tôi thiết nghĩ chúng ta nên ngừng ở đây. Một lần nữa, tôi vẫn muốn xin lỗi ông và đặc biệt xin lỗi quý vị trên các diễn đàn ngày đêm đang lo cho vận nước, trong khi nghe chuyện của tôi, chỉ thêm rác tai quý vị.
Nước ta giờ đang mất dần, không phải chỉ Miền Nam năm 1975 đã mất. Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi còn nhớ trong sân nhà của ông bà Nhật Tiến, hình như đường Thiệu Trị, Phú Nhuận, bà PK, thân mẫu của ông, ngồi xé từng cuốn sách để đun nước, pha trà, không chịu nộp cho CS. Sài Gòn thất thủ. NTV và tôi đã khóc cùng ông bà Nhật Tiến. Làm gì có chuyện ông Nhật Tiến ‘’đeo băng đỏ, dẫn công an, đi bắt anh em’’! Cơn ác mộng chưa qua. Sách CĐ viết và in cách nay 15 năm. Một lần nữa tôi xin lỗi đã làm ông phải bận tâm. Tôi vẫn biết ‘’hãy nói về hoa hồng, để mình được thơm lây.’’
Nhưng nếu gõ về VGCS và bọn ‘’tay sai, cò mồi, bồi bút’’ lúc này, bàn phím của tôi trước sau như một, vẫn:
‘’Nếu không cho lửa vào thơ được,
tôi sẽ cho thơ vào lửa ngay!’’
Trân trọng.
Nguyễn Hữu Nhật.
Nhật Tiến Trả Lời
Tôi xin có mấy điều nói về nội dung lá thư trên của Nguyễn Hữu Nhật:
1) Ông Nhật viết: “Năm 2005, tôi qua Mỹ để ra mắt sách tại Phòng Sinh Họat của Nhật báo Người Việt. RMS khó có thể là ‘’bành trướng sự nghiệp’’? Ông bà Nhật Tiến có tới dự. Buổi ra mắt sách được gia đình ông Nhật Tiến tặng cho chiếc bánh lớn đãi quan khách. Tôi nghĩ là ‘’anh em’’ có dấu hiệu ‘’cảm thông’’ vì sách CĐ do nxb Làng Văn in năm 1997, sau 8 năm mọi chuyện đã khác, kể cả quan điểm chính trị của ông Nhật Tiến, sau vụ Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương thất bại.”
Xin nói ngay rằng vào thời điểm đó (2005) khi ông Nguyễn Hữu Nhật ra mắt sách tại tòa soạn báo Người Việt, tôi không hề hay biết gì về chuyện ông ta đã nhục mạ tôi trong cuốn Chém Đá bằng cách bịa đặt một cuộc đối thoại giữa tôi và ông ta và cài vào miệng tôi những câu hỏi nghe rất hạ cấp. Rồi lại còn bài thơ ông ta mạo danh Mậu Binh cũng in trong cuốn sách ấy của ông với đầy dẫy những lời nhục mạ tôi như đánh-đĩ-tâm hồn, Lồng to, chim bé, mặt lỳ Thềm Hoang, ống đu đủ toác, miệng ngầu máu me…Lập thân khốn nạn, văn nghệ tùy thời lưu manh.
Nói trắng ra, nếu tôi biết được Nguyễn Hữu Nhật đã làm những câu thơ này đem đăng báo Làng Văn rồi lại còn in thành sách thì hồi đó không bao giờ tôi lại ghé qua báo Người Việt để chào xã giao ông ta vào cái hôm ông ra mắt sách dù trong lòng tôi vẫn rất muốn gặp nhà văn Nguyễn thị Vinh có ông Nhật đi theo vì ông là chồng sau của bà Vinh.
Và nhất là nếu biết được sự thể ông là tác giả những câu thơ hạ cấp kiểu “Xốc quần quần tụt tụt quần. Xốc sao cho bọn cù lần mỏi tay” đặt trong bài nói về bà Khúc Minh Thơ như thế thì tôi cũng đã không ngỏ lời mời ông ta “có gì’ thì gửi cho báo Việt Tide” bởi vì thứ chữ nghĩa bệnh hoạn như thế sẽ chỉ làm bẩn mắt độc giả, không đời nào tôi lại chứa chấp trong nội dung của tờ Việt Tide.
Tôi thực tình không hiểu tâm địa của ông thế nào mà sau khi đã làm tất cả những chuyện như thế mà cho đến bây giờ vẫn còn đi khoe: “Và báo Việt Tide của ông Nhật Tiến còn đăng phóng sự, hình ảnh buổi ra mắt sách của tôi, tôi còn lưu giữ số báo đó…”.
Vâng, đúng là Việt Tide đã có bài tường thuật buổi ra mắt sách của ông Nguyễn Hữu Nhật.
Nhưng cái sự khoe khoang này chỉ nói lên một điều rằng: hồi đó, cũng như bao giờ, tôi vẫn luôn trân trọng đối với các sinh hoạt chữ nghĩa. Một khi ông mang sách từ Na Uy qua Nam Cali để ra mắt, thì đang còn làm việc ở báo Việt Tide, tất tôi phải phụ với tòa soạn viết bài tường thuật buổi ra mắt sách của ông chứ. Trừ phi tôi biết ông còn có bút hiệu Sắc Không, phụ trách mục Chém Đá trên báo Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa thì tôi sẽ không đối xử trân trọng với ông như thế. Bởi những gì ông đã viết ra chứng tỏ ông không phải là con người tôn trọng chữ nghĩa.
Và bây giờ thì tôi lại có thể nói rõ thêm ra rằng ông đã chỉ lợi dụng chữ nghĩa bằng cái tài láu cá vặt của ông để quấy hôi bôi nhọ và làm nhem nhuốc khuôn mặt chống Cộng chân chính của người Việt và gây chia rẽ trong hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại mà thôi.
Nếu tôi có phải mất công in thêm cuốn Hành Trình Chữ Nghĩa tập 2, tức Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi này thì cũng chỉ là vì muốn cho toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại khỏi bị những con người như Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Hữu Nghĩa lừa bịp, dối trá, luôn luôn dùng báo chí, sách vở để trấn áp và triệt hạ những người công chính theo những ý đồ gian manh mà rất nhiều người trong văn giới, báo giới đều biết rõ nhưng hầu như ai cũng không muốn dây với những kẻ xứng đáng được gọi là “lũ đầu gấu trong sinh hoạt văn học, nghệ thuật ”
Còn chuyện gia đình tôi tặng một chiếc bánh lớn đãi quan khách, lý do không phải vì cuốn sách của ông Nhật mà vì lý do chúng tôi chào mừng sự hiện diện của nhà văn Nguyễn thị Vinh từ Na Uy xa xôi qua Nam Cali, vì bà cũng hiện diện trong buổi ra mắt sách đó của ông ta vậy.
2) Ông Nhật cho đến bây giờ (tháng 3-2012) còn kể lại một chuyện như đã nêu ở trên như sau: “Khoảng ngày 27, 28 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn hỗn loạn lắm rồi. Ông Nhật Tiến và tôi đến văn phòng Trung tâm Văn bút Việt nam, đường Đoàn Thị Điểm, lên lầu thấy cửa khóa. Tôi phải để ông Nhật Tiến tháo giày, đứng lên vai tôi, cố gỡ tấm lưới thông gió. Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi. Ông Thanh Lãng chủ trương ở lại. Lúc đó hình như, tôi không nhớ, Phó chủ tịch Văn Bút là ông Nhật Tiến.”
Ghê gớm thay cho sự trắng trợn khi con người ta quen thói bịa đặt. Tôi có thể nói một cách minh bạch và rõ ràng rằng câu chuyện tôi tháo giầy đứng lên vai ông Nhật để cậy gỡ tấm lưới thông gió của trụ sở Văn Bút vào một ngày cuối tháng 4-1975 là hoàn toàn bịa đặt.
Tôi đã trả lời ông Nhật về chuyện này trong một bài phổ biến công khai trên internet như sau:
Lại thêm chuyện bịa đặt của Nguyễn Hữu Nhật liên quan đến
Nhật Tiến và Nguyễn Hữu Nhật:
Thật sự khi phải trần tình hay đôi co với một người vốn không bao giờ tôi có sẵn đôi chút kính trọng nào, nhất là mới đây, sau khi phát giác ông ta là tác giả cuốn Chém Đá, sử dụng tài vặt để về hùa cùng với Nguyễn Hữu Nghĩa của báo Làng Văn quấy hôi bôi nhọ hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại, và hạ nhục riêng tôi, thực tình tôi không còn muốn hạ bút viết một dòng nào nữa về cái bút danh Nguyễn Hữu Nhật này.
Tuy nhiên, trong một lá thư mới đây ông ta gửi cho con trai tôi (Michael Bùi), Nguyễn Hữu Nhật lại bịa đặt thêm nữa liên quan đến chuyện Văn Bút ngày xưa còn ở VN. Không muốn để cho người đọc bị lầm lẫn vì những chuyện bịa đặt như thế, tôi đành một lần nữa phải nói rõ về chuyện Văn Bút này.
Lời ông Nguyễn Hữu Nhật:
“Khoảng ngày 27, 28 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn hỗn loạn lắm rồi. Ông Nhật Tiến và tôi đến văn phòng Trung tâm Văn bút Việt nam, đường Đoàn Thị Điểm, lên lầu thấy cửa khóa. Tôi phải để ông Nhật Tiến tháo giày, đứng lên vai tôi, cố gỡ tấm lưới thông gió. Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi. Ông Thanh Lãng chủ trương ở lại. Lúc đó hình như, tôi không nhớ, Phó chủ tịch Văn Bút là ông Nhật Tiến.”
Sự Thật là:
“Cái chuyện nhiều văn hữu lui tới trụ sở Văn Bút ở đường Đoàn thị Điểm vào thời điểm cuối tháng 4-1975, trong đó có ông Nguyễn Hữu Nhật hay không thì tôi không nhớ. Nhưng cái chuyện tôi phải tháo giầy đứng lên vai ông ta để gỡ tấm lưới thông gió nhằm vào văn phòng tìm con dấu của Văn Bút, nhưng rồi con dấu bị Chủ Tịch Thanh Lãng mang đi mất rồi là chuyện hoàn toàn sáng tác của Nguyễn Hữu Nhật.
Lý do:
1) Việc đóng, mở cửa văn phòng của Trung Tâm Văn Bút là do Cụ thư ký già Nguyễn văn Hinh phụ trách. Cụ Hinh cùng toàn thể gia đình bao gồm vợ con, dâu rể, và đàn cháu lại cư ngụ ngay ở tầng dưới của trụ sở, vì thế bất cứ lúc nào ban Thường Vụ cần vô văn phòng để tìm hồ sơ, giấy tờ đều có chìa khóa để mở, can cớ gì phải làm cái chuyện trèo tường, phá lưới thông gió như Nguyễn Hữu Nhật kể lại. Về nhân vật Cụ Hinh trông nom trụ sở Văn Bút như thế nào tôi cũng đã viết rõ trong một bài in trên báo Việt Tide trước đây để bổ túc những chỗ thiếu sót của nhà thơ Du Tử Lê khi ông cũng viết về Văn Bút nhân có tin nhà báo Phạm Việt Tuyền, nguyên Tổng Thư Ký Văn Bút từ trần ở Pháp.
2) Rồi Nguyễn Hữu Nhật lại kể rằng “Chúng tôi muốn lấy con dấu của Văn Bút để lập danh sách văn nghệ sĩ nào cần di tản. Tiếc thay Chủ tịch Lm. Thanh Lãng đã mang đi hết rồi”.
“Con dấu bị mang đi hết rồi” sao lại còn có chuyện nhà thơ Nguyễn Đức Sơn đến trụ sở Văn Bút vào ngày cuối cùng để xin giấy chứng nhận có đóng dấu mà tôi đã viết lại và đã đăng tải trên báo Việt Tide từ mấy năm trước như sau:
NGUYỄN ĐỨC SƠN,
MỘT HỒN THƠ LẠC LÕNG GIỮA CHỢ ĐỜI
Tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam ở số 107 Đoàn thị Điểm Sài Gòn, nếu là ở thời kỳ sinh hoạt bình thường thì ngôi biệt thự đồ sộ ấy chỉ nhộn nhịp vào những ngày Thứ Bẩy hay Chủ Nhật là những ngày có các buổi hội thảo về văn chương hay những buổi ra mắt sách. Riêng mỗi thứ Tư hàng tuần thì có buổi họp của ban Thường Vụ nên đèn đóm cũng bật sáng và có xe cộ ra vào. Nhưng khi tình hình chiến sự đã thay đổi, số hội viên lui tới trụ sở này thường xuyên hơn trước và bất kể giờ giấc. Mọi người lui tới để trao đổi tin tức, để bàn luận riêng về những chuyến đi, và đặc biệt hơn cả là thúc đẩy Ban Thường vụ sử dụng cương vị của mình để vận động những chuyến ra đi tập thể dành cho anh chị em văn nghệ sĩ. Nhưng tất cả những nỗ lực ấy không đem lại một kết quả nào. Không một hội viên nào được cung cấp phương tiện ra đi, nhân danh Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Rồi thì cơn sụp đổ toàn diện đã tới.!
Vào buổi trưa ngày 1 tháng 5-1975, khi Ban Thường Vụ đang lo dọn dẹp hồ sơ, giấy tờ thì thi sĩ Nguyễn Đức Sơn đạp xe tới. Ông nói:
– Tôi chẳng có bất cứ một thứ giấy tờ nào để tuỳ thân. Văn Bút cấp cho tôi một cái!
Ông Tổng Thư ký chép miệng:
– Cậu đùa sao? Miền Nam mất rồi, Văn Bút còn tư cách gì để cấp giấy chứng nhận cho ai.
Nguyễn Đức Sơn cười ngỏn ngoẻn:
– Cứ đề mẹ nó là Văn Bút Giải Phóng, tôi đem về tỉnh, có thằng ma nào biết ai vào với ai.
Trước tình cảnh liên hệ tới sự sống còn của anh em văn nghệ, và lại ở vào những giây phút cực kỳ rối bời và hấp hối ấy, Ban Thường Vụ tự thấy nếu có thể làm được bất cứ điều gì giúp được hội viên thì cứ vượt qua nguyên tắc mà làm. Cho nên một cái giấy chứng nhận đã được đánh máy, như sau:
GIẤY CHỨNG NHẬN
Nay chứng nhận: Ông Nguyễn Đức Sơn
Sinh năm: ….
là: Hội viên của Hội Văn Bút Giải Phóng.
Giấy này được cấp cho ông Nguyễn Đức Sơn để tiện việc di chuyển.
Làm tại Sài Gòn ngày 1-5-1975
1.    ban Chấp hành
( ký tên không rõ)
Bên lề tấm giấy còn có dán ảnh của Nguyễn Đức Sơn trên ảnh có đóng triện son đỏ chói.
Có tấm giấy trong tay, Nguyễn Đức Sơn quơ tay chào mọi người rồi biến nhanh xuống cầu thang. Ông cũng không nói cho anh em có mặt lúc đó là sẽ đi đâu, làm gì.
Mãi bốn năm sau, vào khoảng giữa năm 1979, một hôm Nguyễn Đức Sơn đột ngột xuất hiện ở cửa nhà tôi ở đường Bùi Viện Sài Gòn. Quần áo của ông rách rưới, ông ngồi trên chiếc xe đạp mà từ tay lái tới khung xe, tới cái porte- bagages phía đàng sau, lủng lẳng, treo buộc hộp không, chai lọ và đủ thứ đồ. Có túm thì đựng măng khô, có túm thì củ mài, có những bọc lá thuốc không biết là để chữa bệnh gì, duy có một bọc được gói ghém cẩn thận mà ông đã giơ lên khoe:
– Trà Blao đây! Tớ đạp xe 3 ngày từ Blao xuống. Mấy cái gói kia thì nhặt nhạnh ở dọc đường. Nhưng cái món trà này thì đích thị là quà biếu thổ sản đấy.
Tôi thực sự vui mừng chỉ thiếu điều ôm lấy ông vì thấy ông vẫn bình an, mạnh khoẻ, cất cho tôi cái điều băn khoăn vẫn canh cánh bên lòng là ông có được an toàn không, khi ông mang cái giấy chứng nhận dỏm kia trong người. Nhắc lại chuyện đó, ông cười ha hả:
– Ôi giời ơi! Cứu tinh của tớ đấy. Ngay sau hôm đó, tớ chuồn tuốt lên Bảo Lộc và nhờ có cái giấy thổ tả này, tớ đi đâu cũng lọt. Nhưng tớ đã dẫn tuốt vợ con vô rừng, kiếm củi trồng khoai mà sống với nhau. Không có đứa nào làm phiền hết!!
(ngưng trích)
Chuyện xẩy ra như thế, và nhà thơ Nguyễn Đức Sơn hiện hãy còn sống sờ sờ, ai muốn tìm hiểu thì vẫn có thể thấy rõ sự thật, vậy mà lại có câu chuyện hoang đường “tôi với Nguyễn Hữu Nhật tháo gỡ tấm lưới thông gió của trụ sở Văn Bút để tìm con dấu nhưng chủ tịch Thanh Lãng mang đi mất rồi ” được sao???
NHẬT TIẾN
Trong lá thư gửi Michael Bùi kể trên, Ông Nguyễn Hữu Nhật có kết luận rằng:
“ tôi (tức Nguyễn Hữu Nhật) trước sau như một, vẫn:
“Nếu không cho lửa vào thơ được,
tôi sẽ cho thơ vào lửa ngay!’’
Tôi chưa thấy ông Nhật “cho thơ vào lửa” bao giờ, nhưng ông “gắp lửa bỏ vào tay người” thì đã quá rõ, xin nhắc lại câu đối thoại mà ông đã bịa đặt ra trong mục Chém Đá đăng trên báo Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa:
“Chưa hết, nhà văn Nhật Tiến còn cố hỏi thêm:
– Người ta bảo ở hải ngoại này có “tam Bùi qui độc”. Hai người kia là Bùi Duy Tâm và Bùi Tín. Lạ thật, tên ba anh em chúng tôi, cùng khác cha mẹ, đều vần T. Nhưng anh thấy ai đáng mặt “đệ nhất độc”?”
Vậy xin nhắn ông Nguyễn Hữu Nhật một lần cuối cùng:
– Nếu ông chưa có dịp bỏ Thơ của ông vào lửa thì ông hãy can đảm bỏ ngay hai tập Chém Đá và Đá Đổ Mồ Hôi tồi tệ do ông là tác giả kia vào lửa, và đừng bao giờ để cho Nguyễn Hữu Nghĩa còn có dịp lừa đánh lừa độc giả bằng cách quảng cáo trên NET một cuốn sách dựng chuyện vu cáo người khác, và “ bán với giá 12 mỹ kim (kể cả cước phí đường bộ trong Canada và Mỹ) Trả bằng Paypal cho: langvan@langvan.net- ”.
Kiếm tiền bằng cách này cũng là một thứ làm ăn bất chính đấy, thưa ông.
Chương 3
NGUYỄN THIẾU NHẪN
(còn có bút hiệu LÃO MÓC)
Trong Hành Trình Chữ Nghĩa cuốn I, tôi đã nhắc lại vụ Nguyễn Thiếu Nhẫn vu cáo rằng tôi sau 1975 đã “dắt công an CS đi bắt văn nghệ sĩ”.
Khi cuốn sách phát hành, một vài độc giả đã post lên net những email để có ý kiến như sau:
From: MienDu Nguyen <haingoaithica04@…>
Subject: [PhoNang] Re: TRẢ LỜI NHÀ VĂN NHẬT TIẾN
Date: Monday, March 12, 2012, 10:30 AM
Ông Nguyễn Thiếu Nhẫn thân kính,
Xin lỗi ông, xin phép cho tôi được góp ý một vài lời ông nhé, là một người cầm viết, mà ông viết những câu như vậy, thì gây hiểu lầm là phải rồi.
Những câu ông nói rằng, ông viết trong thể NGHI VẤN,!? không khác nào là chiến thuật mà ông muốn tung hoả mù “vu khống” nhà văn Nhật Tiến.
Báo trong nước là báo nào, ngày nào, tháng nào, ai viết, ông chỉ nghe nói vu vơ thôi, rồi đặt bút lại viết những câu vu vơ như thế, làm hại đến nhân phẫm của người khác, rồi còn bào chữa là ” viết với thể NGHI VẤN”? lại đưa đi đăng báo khắp nơi.
Nếu là NGHI VẤN, thì ông phải viết như thế này: “Tôi được nghe nói báo trong nước đăng tải là nhà văn Nhật Tiến ….. điều này không biết có đúng sự thật như vậy không, nếu đúng …, thì thật đáng buồn …. còn không đúng thì xin lỗi …”.
Nhà văn Nhật Tiến nói ông “ngòi bút BẤT XỨNG”, là phải rồi. Phàm là một người cầm viết, muốn trở thành một nhà văn thực thụ, phải biết sử dụng câu cú rỏ ràng, chứng minh, phân tích, phải có nguồn gốc lấy từ đâu. Tôi đọc những điều ông viết, thấy rỏ ràng ông nói vu vơ, trong cách viết vu vơ ấy đã có ý manh nha hại người. Tôi thiết nghĩ ông nên rút lại bài báo và nên có lời xin lỗi với nhà văn Nhật Tiến thì tốt cho ngòi bút của ông hơn, nếu sau này ông còn muốn trở thành một “cây viết đứng ngoài nắng”.
Lời thật thì mất lòng, xin lỗi ông, tôi hy vọng ông hiểu những điều tôi viết, mà không trách cứ kẻ hậu sinh này – thân kính chào ông
Miên Du Đà Lạt
http://www.honque.com/miendu
From: Hong Vu <hongportland99@…>
To: thanhcongnguyen1951@…
Sent: Friday, March 16, 2012 1:28 PM
Subject: Fw: [PhoNang] Máu mực bể dâu
Forwarded Message
From: Hoa Le <hoale92704@…>
Sent: Friday, March 16, 2012 12:22 PM
Subject: Re: [diendanviahe] NHÀ GIÁO MỘT THỜI NHẾCH NHÁC
Nói gì thì nói, tôi yêu cầu ông không được mang phụ nữ Việt bị hãi tặc trên đường đi tìm tự do ra chế diễu đó nghen ông Nhẫn. Đây là vết thương dân tộc, ông bất nhân nó vừa vừa thôi.
Hòa Lê
Santa Ana,CA
Sự phẫn nộ của ông (hay bà) Hòa Lê là rất chính đáng và xứng đáng dành cho “ngòi bút Nguyễn Thiếu Nhẫn” mà từ lâu vốn đã bị nhận diện là một ngòi bút bất xứng.
Báo Đại Nghĩa số ra ngày 05 tháng 4 năm 1995, có cho độc giả được biết:
“Lão Móc tức Nguyễn Thiếu Nhẫn là cây viết nồng cốt của báo Quê Hương và đồng thời cũng là nhân viên của đài phát thanh Quê Hương nữa. Những bài viết bôi bẩn, đánh phá cá nhân những nhân vật và tổ chức chống Cộng trong vùng được Nguyễn Thiếu Nhẫn – Lão Móc xử dụng những từ ngữ bẩn thỉu rất hạ cấp, dùng ngòi bút bóp méo sự thực một cách bất cố liêm sỉ, một đức tính cần có của người cầm bút, đến đổi có nhiều đồng bào cho chúng tôi biết là họ rất khó chịu và không thể tưởng tượng nổi một ông được gọi là nhà văn, nhà báo và cũng từng giữ chức chủ tịch hội văn nghệ sĩ tự do nữa thì thật là lạ!”
Đáng lẽ ra thì tôi đã chấm dứt nói về cái bút hiệu này để khỏi tốn giấy, tốn mực và nhàm tai độc giả. Nhưng sự kiện về Nguyễn Thiếu Nhẫn lại không chỉ liên hệ đến một vụ bịa chuyện để bôi nhọ cá nhân tôi, mà tệ hại hơn, nó còn là một sự vung vãi, bôi bẩn chữ nghĩa bằng những lời lẽ vô cùng tệ mạt mà Nguyễn Thiếu Nhẫn vẫn còn tiếp tục loan truyền trên trang blog của chính anh ta.
Vì tính chất của vụ việc, tôi đành phải xin lỗi quý độc giả khi phải trưng ra đây những lời lẽ mà Nguyễn Thiếu Nhẫn cho đăng lên blog của chính hắn ( mặc dù nhiều từ ngữ tôi đã phải thay bằng dấu “… …”, như sau:
Đ.M. mày hoa chay says:
Tháng Mười 21, 2011 lúc 4:18 chiều
Đ.M. thằng hoa chay này phải lụi vài nhát vào lưng của nó rồi thiến d…i và tống đầy c…t vào mồm nó cho nó câm mõm chó khỏi sủa bậy.
Đ.M. mày thích Việt Cộng sao không hả họng cho to ra rồi bú c… và ăn c… tụi nó, đừng núp trong l…. má mày rồi ló họng ra khỏi cửa mình rồi tru sủa như con chó hoang. Đ.M. Mồm mày nói ra toàn mùi cứt đái thúi lắm.
Bú c… tụi Việt Cộng xong rồi ông nội mày đây sẽ thưởng cho mày liếm đít để ông cố nội mày khỏi phải dùng chó Việt Cộng để chùi đít.
Nguồn: http://nguyenthieunhan.wordpress.com/.
Tao Đ.. L..n má mày thằng HOA CHAY Việt Cộng says
Tháng Một 22, 2012 lúc 2:43 sáng
Tao Đ… L… má mày thằng HOA CHAY Việt Cộng
Mày bú c… Tầu PHÙ liếm đít tụi Nga Sô
Mả cha mày thằng bú C… ngoại bang
Làm tôi mọi cho Việt Minh Cộng Sản
Đ… má Mày, ăn c… ngon không mà ngu hơn con chó ghẻ
Ló đầu ra trong l… má mày mở miệng sủa hoang
Đ… má mày thằng chó đẻ HOA CHAY BÚ C….
Tao thiến D… những con chó Việt Gian Cộng Sản.
Nguồn:http://nguyenthieunhan.wordpress.com/.
Nhà văn Chu Tất Tiến chắc cũng rất bất mãn vì cái lối chống Cộng vô tư cách, mạt hạng này nên ông đã “dại dột” lên tiếng ngay trên cùng trang blog đó với lời lẽ như sau:
chu tất tiến says:
Tháng Một 22, 2012 lúc 4:24 chiều
Thưa quý vị,
Thiển nghĩ, trong vấn đề chống lại chủ thuyết phản dân, phản quốc của Đảng Cộng Sản, nếu chúng ta dùng những ngôn ngữ văn minh, trí thức, lịch sự, thì có hiệu quả hơn là sử dụng thứ ngôn ngữ chợ búa của ông bạn trên đây, đọc nghe ghê cả người. Mong tác giả của trang blog này đục bỏ cho không khí chống Cộng trong sạch và khoa học hơn.
Lập tức Nguyễn Thiếu nhẫn giở ngay ngôn ngữ lưu manh hạ cấp để trấn áp Chu Tất Tiến như sau (tôi tô đậm vài hàng để cho rõ thêm):
NGUYỄN THIẾU NHẪN says:
Tháng Một 30, 2012 lúc 4:20 chiều
THƯA CHUYỆN VỚI
ÔNG CHU TẮT TIẾN
Thưa ông,
Tôi nghĩ trang blog như một cái nhà. Ông vào nhà không ngồi ở phòng khách lại vào restroom “thưởng thức các món ngon vật lạ xong” à thực khách thải ra, rồi lại than phiền với chủ nhân là nên dẹp bỏ những “món ngon vật lạ” mà ông đã được thưởng thức, để cho “không khí chống Cộng sạch sẽ và khoa học hơn (sic!)”. Đúng là chuyện khôi hài và lố bịch. Ông muốn “nịnh sằng, nổ sảng” thì cứ làm blog rồi tha hồ “nổ”. Sao lại vào nhà người ta đòi thế này, thế nọ. Khi thực hiện trang blog, tôi chủ trương không làm chuyện “vừa đá banh, vừa thổi còi”. Sao ông không coi cho hết những “áng văn tuyệt tác” của bọn CAM và tay sai nó dành cho các bài viết của tôi? Tôi đã coi bọn âm binh này không ra gì. Ông lại vào đây ra điều cao ngạo đòi “không khí chống Cộng sạch sẽ và khoa học hơn”.
Đề nghị ông không nên vào đây nói chuyện nhảm nhí nữa. Với lại không nên tự xưng “Người Việt hải ngoại”; lý do ông chỉ là MỘT người.
Chào ông,
Nguyễn Thiếu Nhẫn
Nguồn:http://nguyenthieunhan.wordpress.com/.
Dĩ nhiên Nguyễn Thiếu Nhẫn sẽ biện minh rằng trang blog là “nhà riêng” của anh ta. Nhưng lý sự kiểu đó chỉ là một thứ ngụy biện. Vì nếu đã ưa thích sống chung với loại ngôn ngữ hạ cấp kiểu đó thì cứ chép vào sổ tay hay nhật ký để cho riêng mình coi, can cớ gì phải đưa lên Internet nếu không muốn cho mọi người vào đọc.
Khi một điều gì đã post lên Net, lên blog thì không còn có thể nói nó là “nhà riêng” để muốn làm gì thì làm, viết gì thì viết được. Bởi nó vẫn đòi hỏi phải tôn trọng pháp luật và giữ phẩm giá con người. Không tin, Nguyễn Thiếu Nhẫn thử post lên vài hình con nít bị lạm dụng coi, xem có cãi được với FBI về chuyện “đây là nhà riêng của tôi, tôi muốn làm gì thì làm” chăng???
Và cho dù nó chỉ là trang blog, nhưng ảnh hưởng của những thứ blog hạ cấp này không phải là không có, nhất là đối với kẻ đồng hội đồng thuyền hoặc với những tuổi trẻ chưa có kinh nghiệm về chữ nghĩa, đọc xong rồi lại cứ tưởng các bậc trưởng thượng, cha anh đều xài ngôn ngữ kiểu đó, đều có một loại tư tưởng tệ mạt kiểu đó nên lấy đó làm gương.
Xin nêu vài chứng cớ cụ thể:
1)Đồng hội đồng thuyền: “Nhà thơ” (!) Nguyễn Đạt đã góp ý như sau:
“Nếu không có những ngòi bút sắc bén của những nhà văn chân chính, lương thiện và có tâm huyết như nhà văn Hoàng Hải Thủy, nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn thì bọn nhà văn Cỏ Đuôi Chó còn nỏ mồm đến bao giờ?”
Thật là khổ cho những chữ “chân chính, lương thiện và có tâm huyết” sau khi những sự kiện như trang blog Nguyễn Thiếu Nhẫn vừa bị phơi bầy ở trên hay là nhà văn Nguyễn Thụy Long trước khi mất đã phải viết về Hoàng Hải Thủy qua bài “Mõm Chó Vó Ngựa” (xin coi ở phần sau)
2) Tuổi trẻ thơ ngây, chưa có kinh nghiệm về chữ nghĩa:
*) Truc thanh, Saigon, on September 19, 2009 at 8:03 am said: Kính chúc nhà văn Hoàng Hải Thủy luôn luôn được an khang, nhiều phước lộc. Tôi không còn lời nào tốt đẹp hơn nữa để ca tụng công trình mà Ông đã góp tay xây dựng cho sự nghiệp văn chương chân chính, chói lọi của đất nước Việt Nam.
*) Cô bé, on January 17, 2008 at 1:43 pm said: Cháu cảm ơn bác đã cho cháu, một cô bé với suy nghĩ mỳ ăn liền, những cảm xúc thực nhất mà cháu đã từng đọc.
(nguồn: http://hoanghaithuy.wordpress.com)
Trước khi có những nhận định thêm về những “feedback” (phản hồi) mang lòng tin cậy một cách tội nghiệp kiểu này, xin mời độc giả hãy coi qua phần “chữ nghĩa” của Hoàng Hải Thủy.
Chương 4
HOÀNG HẢI THỦY
Aka Công Tử Hà Đông
Trong ròng rã nhiều năm, Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Đông đã mạt sát tôi trong rất nhiều bài viết, mặc dù khi ông còn ở VN, tôi đã ca ngợi hoặc bênh vực những tác giả của tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào” trong đó có ông, trên báo chí hoặc trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Nam Cali vào khoảng thập niên 80 (xin xem Hành Trình Chữ Nghĩa, bài “Hoàn cảnh sáng tác của anh chị em văn nghệ sĩ ở quê nhà” trang 55-65).
Cũng không sao, ông lên đã tiếng mạt sát tôi chỉ vì nhân danh tinh thần chống Cộng là điều có thể hiểu được.
Nhưng tôi thắc mắc là trước khi ông liên tục chửi tôi trong nhiều năm ròng rã như thế, không biết ông đã đọc được bao nhiêu bài viết của tôi để tìm hiểu lập trường chính trị của tôi ra sao trước khi hạ bút xuống?
Tôi lại cũng thực tình không hiểu khi nghe nhà văn Nguyễn Thụy Long tiết lộ rằng trước 1975, ông Hoàng Hải Thủy cũng đã chứa VC trong nhà. Thế thì những lời lẽ chống Cộng của ông còn có được giá trị bao nhiêu phần trăm?
Xin trích lời của nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long::
“Trong đợt đầu văn nghệ sĩ bị bắt bị thâu gom, hắn ta (tức Hoàng Hải Thủy) cũng bị bắt được ít lâu tính theo ngày tháng, hắn được anh ruột, nay là CS lớn, bảo lãnh cho về, tôi không nhớ đầy đủ họ tên ông này, chỉ nhớ tên ông ta là Chất. Hồi thời Việt Nam Cộng Hòa, có một thời gian ông này phải trốn trong nhà Hoàng Hải Thủy thuê tại đường Hồ Biểu Chánh Phú Nhuận, ngay bên cạnh nhà của nhà báo Duy Sinh thời đó, nay cũng ở Hoa Kỳ. Nhiều bạn bè biết chuyện ấy, nhưng tố cáo làm chi, vì nghĩ đó là tình máu mủ ruột thịt thì hắn phải làm việc “chứa VC trong nhà”. Người quốc gia khác người CS ở điểm đó, vì họ không muốn biến thành Công an nhân dân, hay tên chỉ điểm không công.”
(trích bài Mõm Chó Vó Ngựa, tác giả Nguyễn Thụy Long, Báo Việt Express, xuất bản ở Nam Cali- số 11 ngày 15-12-2005)
“Chữ nghĩa chống Cộng” của Hoàng Hải Thủy sau khi đã an toàn ở hải ngoại nghe cũng rất kinh. Như ông đã mạt sát tôi bằng những lời lẽ dưới đây, mặc dù tôi đoán chừng là ông chưa hề đọc hay đọc kỹ những gì tôi đã viết, mà chỉ moi móc, cắt xén chỗ này một ý, chỗ kia vài câu để lấy cớ chửi rủa:
Trong lúc ông bố kêu gọi người Việt ở Mỹ “hoà giải” — đúng hơn là “đầu phục” — bọn Bắc Cộng thì tờ báo của bà con gái ông ta ở Quận Cam, Cali, Mỹ Quốc, lại đăng những chuyện ăn trộm, ăn cắp, ăn cướp, ăn lường, ăn bòn, ăn mót, ăn móc, ăn mút, ăn liếm, ăn đút, ăn khoét, ăn đủ cách đểu giả của bọn đầu xỏ Bắc Cộng. Chúng nó bẩn đến như thế mà ông muốn chúng tôi đầu phục chúng nó ư, thưa ông nhà văn kiêm nhà tư tưởng sâu sắc đáng kính? Ông cha tôi ngày xưa có câu “xui trẻ ăn cứt gà“, nay ông nỡ lòng nào ông làm cái việc “xúi người già ăn cứt Cộng sản.” Chúng tôi không đến nỗi ngu như ông tưởng đâu, thưa ông. Ai ăn cứt Bắc Cộng thì ăn, chúng tôi, những người Việt ở Mỹ, chúng tôi không ăn.”
Nguồn:: http://hoinhavanvietnamluuvong.info/.
Công Tử Hà Đông-Như có Boóc Hồ ở Bolsa Street!
Hay một thí dụ khác::
Ông Ðại Sứ Hoa Kỳ vừa mãn nhiệm là ông Michael Michalak. Ông này từng khoe ông học nói tiếng Việt. Ðại Sứ Liên Xô ở Việt Nam Cộng Sản đã học nói tiếng Việt từ năm 1980, tức là trước ông Ðại Sứ Hoa Kỳ xa. Nghe nói Ðại Sứ Liên Xô từng khoe ông nói được tên nữ diễn viên điện ảnh của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà:
“Chị Thâm Thúi Háng..”
Lại nghe nói Ðại Sứ Mỹ Michalak cũng khoe ông nói được bốn tiếng:
“Chị Thâm Thúi Háng..”
Và nay ông Ðại Sứ Shear cũng nói ông sẽ học nói tiếng Việt. Chắc mục đích của ông cũng là để nói được cái tên:
“Chị Thâm Thúi Háng..”
Than ôi… Một loạt những ông Ðại sứ Mỹ “Thâm Thúi Háng..” Trông mong gì ở những ông Ðại Sứ Thâm Thúi Háng này!”
Nguồn: http://hoanghaithuy.wordpress.com/.
Những ngôn ngữ hạ cấp như ở trên của Hoàng Hải Thủy tức Công Tử Hà Đông không khiến cho văn giới phải ngạc nhiên, vì mọi người đã biết từ xưa, hồi đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Hoàng Hải Thủy đã viết phóng sự lấy tên là “Tây Đực, Tây Cái” đăng báo hàng ngày. Tưởng là thâm thúy, có duyên lắm, nhưng một thời gian sau tác giả phải đổi tên lại là “ Ông Tây, Bà Đầm” vì bị công luận lên án là chữ nghĩa có phần nào thiếu tính cách giáo dục.
Tưởng đó là một bài học để đời, nhưng khi ra đến hải ngoại, ngồi ở một nơi an toàn, Hoàng Hải Thủy lại ngựa quen đường cũ, viết lách đến nỗi nhà văn Nguyễn Thụy Long phải than phiền:
Khi hắn sang được đến đất Mỹ, để tạo ra những câu chuyện làm quà, hắn viết về đời sống của những anh em văn nghệ sĩ còn ở lại Việt Nam, thay vì để người ta còn nhớ những người nghệ sĩ vì lý gì đó còn phải ở lại trong nước, không ra đi được như hắn, hắn lên tiếng chửi bới những người đó, bôi nhọ thân phận những anh em nghệ sĩ phải ở lại không tiếc lời (Như bạn ly dị thì hắn viết là “anh bị vợ bỏ”, không đẹp trai thì hắn viết là “sẹo đầu sẹo cổ”, bạn một cảnh hai quê thì hắn viết “thuyền trưởng hai tầu,”). Nghe nói hắn còn mang nhân vật lịch sử ra viết lách kiểu này, gọi ông Thi Sách là Thuyền trưởng hai tầu vì bịa ra rằng Hai Bà Trưng là vợ cả vợ bé của ông.”
( bài Mõm Chó, Vó Ngựa đã dẫn ở trên)
Quên mình là đã có thời “chứa VC trong nhà”như Nhà văn Nguyễn Thụy Long tiết lộ, Hoàng Hải Thủy còn chửi Cộng bằng thứ ngôn ngữ mà văn giới nghe thấy phải đỏ mặt, như gọi Giải thưởng Nhà Nước VN trao cho nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là “Giải thưởng Nhà Thổ”:
“ Ðầu Năm Lợn, Tháng Hai 2007, bọn Cộng Hà Nội trao cái gọi là “Giải Thưởng Nhà Nước” cho 4 Nhà Thơ Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Ðạt vì các tác phẩm mà bọn Cộng gọi là “có giá trị cao về văn học nghệ thuật, ca ngợi đất nước, nhân dân, góp phần xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và bảo vệ Tổ quốc“. Phải gọi cái “Giải Thưởng Nhà Nước Bắc Cộng” này là “Giải Thưởng Nhà Thổ” vì những lý do sau đây….
Nguồn: http://www.gio-o.com
Đồng ý rằng khi nhà nước CSVN trao giải cho nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là có ý đồ xí xóa mọi tội ác đã gây ra cho biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ VN nên không thể ca tụng loại giải thưởng có tính cách xí xóa này. ( Xin đọc quan điểm của tôi về vụ này ở Hành Trình Chữ Nghĩa, cuốn I, trang 203)
Nhưng khi phê phán một vấn đề thuộc về lãnh vực văn hóa thì cũng phải dùng ngôn từ văn hóa, như thế tiếng nói mới có tác dụng. Chứ phun ra những thứ từ ngữ nhà điếm, nhà thổ thì tôi e rằng chính CSVN sẽ cười lên hô hố mà khuyến khích: “ Cứ chửi nữa đi. Càng chửi càng lộ rõ bộ mặt văn chương chữ nghĩa của bọn hải ngoại là những thứ vô học, vô văn hóa.”
Mặt khác, sự nghiệp văn chương của Hoàng Hải Thủy để lại được bao nhiêu so với những tác phẩm mà Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán đã sáng tác trong thời Kháng chiến chống Pháp hay Phong trào Nhân văn Giai Phẩm mà nhiều thế hệ độc giả cho đến nay vẫn còn truyền tụng? Không lẽ chỉ trưng ra được những truyện sáng tác như “Yêu nhau bằng mồm” hay viết lại tác phẩm của người khác gọi là phóng tác như “Kiều Giang” từ cuốn Jane Eyre của Charlotte Brontë?
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là ta phải quan tâm đến nhu cầu đọc sách báo văn chương tiếng Việt của thế hệ trẻ đi sau.
Không lẽ chúng ta cứ để cho giới trẻ, con cháu của chúng ta, những người trẻ có lòng muốn tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu về văn chương Việt Nam, về văn hóa dân tộc, mầy mò vào Internet để nghiền ngẫm những bài của Nguyễn Hữu Nghĩa (Mõ làng Văn), Nguyễn Hữu Nhật (Sắc Không), Nguyễn Thiếu Nhẫn hay Lão Móc, Hồ Công Tâm hay Hồ Công Tử, Hoàng Hải Thủy (Công tử Hà Đông)…v..v…. mà không căn dặn hay lên tiếng với các con cháu một lời cảnh báo rằng “Văn chương chữ nghĩa của các bậc cha, ông không phải là những thứ rác rưởi, cặn bã như thế.”
Phải nói cho ngay, nhiều tuổi trẻ ở thế hệ thứ hai, thứ ba chưa đủ trình độ Việt ngữ để đánh giá một bài văn, vài câu thơ nói chi đến chuyện nhận diện được lòng tự trọng và sự thanh khiết, liêm sỉ của người viết.
Bởi nếu không cảnh báo thì sẽ vẫn còn tiếp tục xẩy ra chuyện “tung hứng” làm vẩn đục môi trường chữ nghĩa.
Khi nói hai chữ “tung hứng” là nói về một kẻ đã viết ra thì lại có kẻ khác nhẩy vào phụ họa, khiến cho sự việc được diễn tả trở nên có tính cách “ tham gia hội đồng” và sự tác hại cứ thế mà được nhân lên.
Về chuyện này, đành lại phải nhắc tới Công Tử Hà Đông, tức Hoàng hải Thủy khi ông ta viết bài nói “Trần Dần đáng được Giải Văn Chương Nô Ben cần thêm dấu tiếng Việt (ý nói thiếu dấu Nặng để Nô Ben thành Nô-Bẹn).
Một độc giả trẻ ở Paris bèn “phụ họa” như sau:
“TTLan-Paris, on September 20, 2011 at 2:33 pm said:
“Kính thưa bác CTHĐ, đúng là thơ Trần Dần quá bẩn, và con người TD đáng kinh tởm. Không còn phải nói gì hơn. Bởi thế nên, để trả lời câu hỏi của bác, Trích: “Trần Dần Jờ Dzoạc đáng được Giải Văn Chương Nô Ben. Cái Giải Văn Chương Nô Ben Trần Dần thiếu một dấu trong 5 dấu của Chữ Việt: Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng. Mời quí vị cho thêm một Dấu.”, thì cháu đưa ra dấu ‘nặng’, có nghĩa là giải văn chương nô bẹn, có nghĩa là cái giải văn chương của những đầy tớ ‘nhăn dzăng’ (Nô) viết văn hạ cấp lấy cái ‘bẹn’ ra làm thơ. Cháu xin lỗi phải dùng những tiếng không thanh nhã trên dđ này, nhưng cháu thấy chỉ có những từ ngữ ‘hạ cấp’ ấy mới đi đôi với thơ của TD. Kính Bác, Lan.
Nguồn: http://hoanghaithuy.wordpress.com
Đây là một chứng tích cho ta thấy tuổi trẻ trong sáng nhưng tâm hồn đã bị ô nhiễm bởi thứ văn chương hạ cấp.
Người viết (cậu hay cô TTLan) hạ ngay một câu phê phán “đúng là thơ Trần Dần quá bẩn, và con người TD đáng kinh tởm” mà không đưa ra được một dẫn chứng cụ thể nào để chứng tỏ cố thi sĩ Trần Dần “quá bẩn” ở những chỗ nào? con người của cố thi sĩ Trần Dần “quá kinh tởm” ở những điểm nào?
Như thế chứng tỏ cô hay cậu TTLan chưa chi đã học thói bắt chước cung cách chụp mũ, bôi bẩn vô tội vạ của lũ ma cô cầm bút, đã thế lại còn được ông Hoàng Hải Thủy khích lệ đưa lên trang Web của ông nữa (hoanghaithuy.wordpress.com) thì làm gì tệ nạn “áp đặt chữ nghĩa, dựng chuyện trắng trợn, ăn không nói có lấy được” lại không được thể mà cứ đi xa mãi.
Ngoài chuyện “tung hứng” được khích lệ kể trên, tuổi trẻ vào Internet còn là do ở trí óc tò mò.
Chẳng hạn như đoạn văn của Hoàng Hải Thủy sau đây, chắc chắn sẽ gây bối rối cho nhiều bạn trẻ, nhưng có thể họ vẫn chăm chỉ theo dõi vì tính tò mò:
“Ngày đó sẽ là ngày khu Bolsa, Orange County, Cali đỏ rực cờ máu, một triệu người Việt ở khắp nơi trên đất Mỹ, nghe lời kêu gọi của Nhà văn Nhớn, cơm nắm, muối mè lền khên kéo nhau về khu Bolsa dự mét-tinh chào mừng Ngài Thủ Tướng, hình Boóc Hồ dzại đĩ, xin lỗi, phốt ti-pô, sửa lại: hình Boóc Hồ dzĩ đại được dựng lên che kín mặt tiền nhà Phước Lộc Thọ, nhà tranh đấu cho tự dzo độc tài dzô sản Trần Truồng được Ngài Thủ Tướng Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của ông Nhật Tiến, ông Nguyễn Mộng Giác, bà Nguyễn Thị Hoàng Bắc, ôm hun thắm thiết, gắn huy chương Sao Vành Lá Đa ghi công. Trong mít-tinh dzĩ đại tôn vinh Boóc Hồ và chào mừng Ngài Thủ Tướng, ngoài những bài diễn văn ca tụng công ơn trời biển của Boóc và Đảng còn, theo đúng truyền thống Bolsa, có phần dzăng nghệ dzăng gừng, Thi sĩ Cù Cưa lên micro trang trọng ngâm bài thơ Sao Vành kính dâng Hồ Chủ Tịt:
Tối trời em ngỡ trăng thanh
Em ngồi em để cái Sao Vành em ra.
Sao Vành như cái lá đa,
Đen như mõm chó, chém cha Sao Vành…
Nữ Ca sĩ Thờn Bơn kính dâng Boóc Hồ bài ca từng được nhân dân Sài Gòn hát chào mừng Boóc trong những tháng đen hơn mõm chó cuối năm 1975:
Đêm qua em mơ gặp Boóc Hồ
Chân Boóc dài Boóc đạp xích-lô…”
Nguồn:
http://hoinhavanvietnamluuvong.info/.
Văn chương chữ nghĩa kiểu này phải liệt vào hạng hạ cấp tột độ, người Quốc Gia chân chính không bao giờ thèm xài để viết những bài chống Cộng khi chính nghĩa Tự Do, Dân Chủ đã sáng ngời và tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc VN thế nào qua các vụ đấu tố trong Cải cách Ruộng đất hay tham vọng đốt cả Trường Sơn để chiếu cố miền Nam…v..v…thì lịch sử cũng đã làm rõ.
Vậy nếu có vì tò mò mà đọc rồi thì các cháu cũng đừng nên bắt chước thứ viết lách như thế, bởi nó không những làm hủy hoại sự trong sáng vốn có của tiếng Việt mà lại còn hạ thấp tư cách của con người vì đã bộc lộ cho người đọc thấy cái chất tiểu nhân, lươn lẹo, không xứng đáng được gọi là người cầm bút có tư cách.
Phải chăng đó cũng là lý do mà nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long đã phải diễn tả thứ văn chương này là loại văn “Mõm Chó, Vó Ngựa” ý nói Mõm chó sủa càn, Vó ngựa đá bậy.
Thêm một ví dụ nữa về thứ văn chương nham nhở, xúc phạm đến tiền nhân mà Hoàng Hải Thủy gọi ông Thi Sách là “Thuyền trưởng hai tầu” ý nói là làm chồng của cả Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng của toàn thể dân tộc.
Xin trích từ bài “Đừng Vì Hứng Bút Mà Coi Thường Độc Giả Và Hỗn Láo Với Tiền Nhân” – tác giả Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do (tôi tô đậm những chỗ cần nhấn mạnh):
“Hoàng Hải Thủy viết:
“Dzậy thì thưa quý dzị chúng ta nên đi đến kết luận ngắn gọn là trong những truyền thống của ông cha ta có truyền thống cho phép Thuyền Trưởng Lái Nhiều Tàu là tốt đẹp, đáng để ta gìn giữ. Và nếu đám con cháu hèn ngu không giữ được truyền thống cao đẹp ấy đám con cháu ấy đúng là hèn ngu, mà hèn ngu thì ráng chịu.
Chuyện làm tôi théc méc là tôi không biết vì sao những vị Nữ Thuyền Phó Mít con cháu Hai Bà Trưng nói chung, và các cụ, các bà, các cô Nữ Sinh Trưng Vương nói riêng các nàng này cũng là những Nữ Thuyền Phó, có nàng còn là Nữ Hải Tặc lận - lại rất quyết liệt trong việc cấm Thuyền Trưởng Chạy Hai Tàu …
Tôi théc méc là bởi vì chính ông cha, chú bác các nàng - mới vài chục niên trước đây thôi - là những Thuyền Trưởng Hai Tàu có Ba-Tăng, có giấy phép Triều Đình cấp.”
“Lẽ ra là con cháu Hai Bà Trưng các nàng phải tôn trọng cuộc đời tình ái của Hai Bà mới phải. Hai ngàn năm trước thuyền trưởng Thi Sách là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Đốc Điều Hành Công Ty Hàng Hải Trưng Shipping Company, một mình thuyền trưởng Thi Sách chạy hai tàu viễn dương Trưng First và Trưng Second ngon lành êm ru bà rù….”

“Nếu thuyền trưởng Thi Sách không chạy hai tàu họ Trưng cùng một lúc và được cả hai Nữ Thuyền Phó hài lòng thì khi Thái Thú Tô Định tham tàn cho Thuyền Trưởng đi tàu suốt, hai bà đã không căm phẫn.
Nếu Hai Bà đã không căm phẫn thì Hai Bà đã không nổi dậy đánh đuổi bọn quan quân nhà Hán.
Nếu Hai Bà không đánh đuổi bọn quân nhà Hán, không dựng cờ độc lập ‘Lĩnh Nam riêng một triều đình…’ thì biết đâu bây giờ chúng ta đã chẳng xí xố xì xồ mí nhau …”……
“Chúng tôi thiết nghĩ nếu ông Hoàng Hải Thủy trở về với sở trường là phóng tác truyện hay ngoại quốc, như Kiều Giang, Tìm Em Nơi Thiên Đường, hoặc chỉ dùng lối văn nham nhở để viết các phóng sự đại loại như Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Nhau Bằng Mồm thì ông sẽ vẫn giữ được cảm tình và sự mến mộ của độc giả. Nếu ông cứ tiếp tục dùng lối văn này để viết về văn học, hoặc bàn nhảm về các danh nhân, anh hùng của lịch sử thì chúng tôi e rằng ông sẽ chỉ gây công phẫn và nhận sự khinh bỉ nơi người đọc lớn tuổi, gây độc hại và dẫn dắt lầm lạc các độc giả trẻ, những người muốn tìm hiểu về văn học và lịch sử nước nhà…
Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do
Nguồn:http://hoanglanchi.com/.
Đáng buồn thay, những thứ văn chương nham nhở kiểu này, và còn cả những thứ thâm độc và mạt hạng hơn nữa vẫn còn thấy tiếp tục xuất hiện trong lãnh vực chữ nghĩa, nhiều nhất là trong một số diễn đàn trên Internet.
Chắc chắn những thứ rác rưởi này sẽ ảnh hưởng xấu xa vào sự suy nghĩ, cung cách ứng xử cũng như ngôn từ nói và viết của thế hệ trẻ đi sau, để rồi ra trong một tương lai thấy rõ, làng Văn, làng Báo sẽ xuất hiện một lớp người viết lách vô văn hóa, chỉ biết đối diện nhau để nhe răng múa vuốt.
Cho nên đã đến lúc không thể còn giữ im lặng được mãi. Phải nhổ hết cỏ dại, nấm độc trên sách, trên báo và nhất là trên Internet để khuôn mặt văn hóa của người Việt hải ngoại không bị làm cho lem luốc đi mãi.
Nhật Tiến
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXTruyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...