Làm báo văn nghệ, có ai nuôi nổi mình bao giờ đâu; huống
hồ tôi lại chỉ viết bài cho tạp chí Văn Hóa? Nên đêm nào trở về căn
gác trọ thuê hai trăm đồng hàng tháng – tôi chỉ nằm mê và giật mình thon thót;
lo ngại cho bữa đói ngày mai. Cứ mỗi lần được bữa cơm ngon lành, no bụng ở đầu
ghế; tôi thêm một lần tự an ủi là chưa thể nào chết đói được? Hồi ấy, tôi ăn cơm bữa nơi quán cơm lao động ở ngã ba Bàn
Cờ. Bà chủ quán và cô con gái thuê một góc hè của một quán Tàu bán hàng giải
khát để bán cơm. Muốn được ăn tháng ở đây bằng cách ghi sổ, thì ít ra cũng phải
làm sao cho người ta tin mình trước đã. Bằng đủ cách, chẳng hạn như mình gửi lại
một vài trăm trước làm tin; rồi bữa nào về ăn, ghi bữa đó; bao giờ hết tiền lại
xoay mà gửi tiếp. Thật mà nói, từ ngày tôi ăn, mỗi bữa cơm mất năm, bẩy đồng là
nhiều nhất. Tôi tin là mình còn có thể sống dai trong xã hội này mà không phải
mấy lo như xưa nữa. Bây giờ tôi mới tìm ra cái lý do giản dị trong đời sống;
nghĩa là càng giản dị bao nhiêu tránh được đỡ phiền phức bấy nhiêu. Ngày xưa,
tôi lo về miếng cơm manh áo nhiều nhất; nào là tiền ăn, tiền thuê nhà, tiền chi
phí; cứ bấy nhiêu cái lo âu kia cũng đã chiếm mất nhiều thời gian của tôi rồi.
Hiện giờ này đây thì không, nhất là lúc trả tiền cơm, đi ra khỏi quán; tôi như
nhẹ hẳn gánh nặng. Tiền thuê nhà trả làm hai tháng một lần cũng được; bà chủ hiểu
rõ nông nỗi của tôi qua những ngày phong lưu mượn, mà trước kia bà tưởng tôi
giàu có lắm. Bà bảo tôi cứ sang bên này ở, tiền nong lúc nào trả cũng được; nào
có ngờ đâu tôi chây nợ đến thế là cùng! Hơn nữa, ngồi viết bài cho tạp chí, cứ
được đăng hai chục trang là có hai nghìn đồng.
Cơm ăn ở quán hàng bà này không ngon miệng cho lắm!
Nhưng tôi lại thấy có không khí gia đình lạ! Mỗi khi đến, cô con gái biết tính
tôi, bưng ngay cốc trà đá, với đĩa cơm, thức ăn mặn là lòng gà, vịt thật ngon
dành cho. Tính tôi lại còn thích thêm gia vị cay đắng, mỗi bữa cơm cần một quả ớt
chỉ thiên. Sau bữa ăn, một ly cà phê đen không đường. Có một hôm, tôi bỏ không ăn cơm ở quán này; sang một
quán Tàu. Ý tưởng này là sau khi đọc trong một cuốn hồi ký về Lénine của Krupskaya, nói
về cuộc đời phiêu bạt của vợ chồng bà trong thời gian sang Paris hoạt
động cách mạng. Ban đầu, hai người thường tìm ăn ở quán sang trọng; đột nhiên
có một bữa, người bồi bàn góp ý với họ; đại để ông bà không phải là người giầu
có cho lắm, thì nên tìm hiệu nào có nhiều người lao động ăn thì tìm đến đó.
Không những tần tiện được nhiều tiền, bữa ăn lại có nhiều chất bổ dưỡng hơn.
Còn ông bà ăn ở đây vừa đắt lại vừa tốn tiền cho ông bà. Gương người đi trước soi, tôi chợt ngẫm rằng ăn thử ở
quán Tàu này xem sao? Chỉ hai hay ba đồng cơm trắng, sáu đồng bộ lòng gà, vịt;
bát canh cải một đồng, vị chi mỗi bữa mười đồng là sang, lại đủ chất bổ dưỡng. Tôi bèn tìm cách nói dối rất khéo với mẹ con bà chủ
quán cũ để chuyển sang một quán cơm Tàu khác. Tất nhiên cơm Tàu bao giờ cũng rẻ mà ngon. Tôi bảo sắp
phải đi Mỹ Tho dạy học và lần này buồn quá đi, là không còn được ở lại Sài Gòn
để ăn cơm nơi bác và cô Hai. Mà cô hai biết không; tôi sắp lấy vợ rồi, có quà
gì mừng không đây? Bà chủ và cô con gái nghe vậy rầu rầu; sau đó bà bảo con gái
làm cho tôi một đĩa cơm lần cuối thật ngon vào! Bà nói với tôi rằng, thỉnh thoảng
ghé về Sài Gòn, nhớ đưa vợ lại cho coi mắt, nghe không? Tôi cảm động về lời nói
sau của bà. Vì thật ra, tôi chưa bao giờ có vợ, mặc dầu tuổi đã khá trên đầu. Ban đầu sang ăn ở quán Tàu này, tôi vẫn sắp đặt sự ăn uống
như với bà chủ cũ. Gửi tiền trước, rồi hàng ngày ăn rồi, ghi sổ. Cuối tháng
tính sổ lại, thừa thiếu bao nhiêu sẽ thanh toán. Từ mấy tháng nay, gặp anh em bạn
bè, họ đều bảo tôi mập hơn lên. Tôi thầm cảm ơn kinh nghiệm của người đi trước
viết sách truyền lại. Còn tôi vẫn viết báo đều đều như thế. Có một hôm, tôi lại thăm một anh bạn già bậc thầy, anh
đưa cho tôi tờ quảng cáo về cuốn sách của một nhà văn học sắp xuất bản, cùng lớp
tuổi bốn mươi ngoài như anh bạn già của tôi. Đọc xong, tôi được thỏa mãn phần
nào, vì tên người viết giới thiệu cuốn sách mới kia, toàn là người có tăm tiếng
cả. Hơn nữa, lại có tên một bạn già văn chương đáng liệt vào bậc thầy của tôi
là anh Hai Hà. Nơi nhà anh bây giờ là một câu lạc bộ văn chương, biết
bao kẻ ra vào; từ trí thức làm chính trị, văn hóa, và hầu hết các nhà văn bây
giờ thường gặp nhau ở đây. Tôi càng cảm thấy được lòng đam mê văn nghệ nở mạnh
trong tâm hồn, bóp chết được ý tưởng ám ảnh buồn muốn bỏ nghề. Ít lâu sau trở lại thăm anh bạn già bậc thầy, đã thấy cuốn
sách kia in xong đặt ở trên bàn. Nghĩa là tờ quảng cáo bữa nọ trở thành hiện thực.
Anh bạn già bằng lòng cho tôi mượn, và không ngớt lời ca tụng quan niệm tổng hợp
của người biết viết văn học sử. Tôi giữ im lặng, và luôn nghĩ rằng tác giả cuốn
sách kia là người tôi vẫn hằng kính phục. Nhớ lại, lúc tôi mới lăm le vào nghề
viết báo, tôi đã phục tài làm tuần báo văn nghệ, biết được mạch độc giả thích
gì, và quan niệm một trí thức biết tỏ thái độ trong thời kỳ Pháp thống trị. Nói
rõ hơn, tuy tôi từ bỏ về thành, nhưng vẫn không muốn thấy ai mạ lị kháng chiến.
Hồi ấy tôi còn nhầm lớn, cái mặc cảm tự ti của bản thân, bỏ kháng chiến về chỉ
vì lí do gia đình; thực ra không chịu nổi sự hy sinh lớn lao! Cho đến khi mới vào Nam, tôi được anh nâng đỡ và cho
đăng thiên phóng sự Cao Bồi Hà Nội trên tuần báo Nguồn Sống Mới, có chapeau giới
thiệu của anh rất nẩy lửa. Tôi được lĩnh nhuận bút ba trăm đồng cho hai kỳ đăng
báo hàng chục trang, cho đến khi tuần báo ấy bị đình bản. Thiên phóng sự ấy
giúp cho tôi có thêm tiếng tăm, không chỉ với bạn cùng lứa tuổi cùng làm văn,
viết báo mà thôi đâu. Đêm hôm ấy, tôi không ngủ, vì đam mê đọc cuốn sách, qua
lời Tựa của anh Ba Ích. Thêm nữa, với lời khen tặng của anh Hai
Hà và nhiều người khác, là bậc thức giả trong nghề văn chương. Nhưng đột
nhiên, tôi vứt cuốn sách xuống giường, ra ngăn kéo tìm điếu thuốc lá châm hút
suy nghĩ. Rất hoang mang và cố lục lọi trong tiềm thức, xem rằng vớc dáng cuốn
sách được gọi là lớn kia mà tôi đã đọc ở đâu, bao giờ, và tác giả trước
đó là ai? Vẫn tự hào với trí nhớ dai của mình, cộng với sự đọc
sách nhiều, lại không mấy quên! Cứ như thế, ngồi bóp trán, mắt nhắm nghiền, hai
tay ôm mặt ngồi ngủ gục đầu phủ xuống bàn. Bỗng tôi vùng dậy, tuy không reo
lên; nhưng tin ngay rằng đó là một cuốn sách của một nhà văn bên kia giới tuyến
viết, và xuất bản trước đó ba năm. Cũng vẫn chưa thể quả quyết một cách võ đoán
là hoàn toàn chính xác. Ngày mai, tôi phải đi tìm gặp một bạn quen ở Sở Nghiên
cứu, mượn được bản chính, thì câu chuyện sẽ rõ ràng. Tôi ngủ thiếp đi cho đến sáng hôm sau dậy muộn, nhưng
đi tìm Thảo ngay vào buổi trưa. Cầm cuốn sách trong tay, tôi bỗng cười
thật lớn. Chính cuốn sách này rồi. Từ dàn bài cho đến chi tiết giống nhau như
giọt nước; khác chăng chỉ là đảo lộn trên xuống dưới, hoặc từ dưới lên trên. Bắt đầu ngồi vào bàn viết bài điểm sách, và biết chắc
chắn một điều khi nộp bài; anh tổng thư ký tòa sọan tạp chí Văn Hóa sẽ
lo lắng không ít. Nên tôi đem theo cả bản chính để dễ so sánh, và sách đạo văn
của Hồng Trọng in đẹp hơn. Tổng thư ký Kha quyết định đăng bài điểm sách
đó, không cắt xén. Đưa bài đi in, tôi nói với anh em nhà in: - Các bạn nên sắp chữ thật đúng cho tôi; nhất là đừng sốt-tê nhé.
Bài báo ra, họ sẽ túm tụm lại với nhau phản ứng rất sôi nổi đấy! Tôi biết chắc
chắn vậy, sẽ có nhiều người đọc phật lòng. Tôi nghĩ thầm, không thể dửng dưng, như vậy là dung dưỡng
cho chiên ghẻ làm xấu xa làng văn học miền Nam. Và biết chắc chắn rằng công việc
này sẽ dứt giây động rừng, bọn họ sẽ kiếm cách xui bẩy làm hại mình; nhẹ nhất
là bị thất nghiệp. Song tôi đã chuẩn bị tinh thần trước rồi. Bài đã in trên Văn Hóa, ngay khi có bản in thử;
tôi đem lại cho anh Hai Hà đọc trước. Anh vẫn bênh vực Hồng Trọng: - Cậu phải nhớ là anh ấy viết theo lối tổng hợp. Chứ tài
liệu sách, một khi là sách biên khảo, có ai mà chẳng phải nhờ ai? Không tranh luận, tự biết rằng anh Hai Hà, vì
tự ái, vì danh dự phải nói vậy. Một cuốn biên khảo, không có nghĩa là sao
nguyên bản sách in trước không sai một chữ. Có chăng, là đảo lộn dàn bài mà
thôi. Tôi ra về mà lòng thật buồn nghĩ đến cả một lớp nhà văn
già và tin ở lớp trẻ chúng tôi hơn. Ông bà chủ hàng cơm thấy bữa nay khách quen đăm chiêu, nên
ông hỏi ngay là buồn điều gì? Bà chủ cũng như chồng bảo tôi đừng lo tiền cơm
còn chịu lại họ, lúc nào có trả cũng được. Tôi vẫn nói dối họ rằng vẫn đang đi
học. Vào Nam, không họ hàng, thân thích; họ lại thương hoàn cảnh của tôi nhiều
hơn. Ông chủ, người Phước Kiến, nhắc lại chuyện xưa ở bên Trung Hoa, cha mẹ
kể rằng sĩ tử là người đáng quí trọng; lúc hàn vi như rồng ẩn trong ao. Mà ông
đã giúp gì được tôi đâu, ông nói vậy, để đáng gọi là công ơn kia chứ? Chẳng qua
chỉ là cho nhau chịu tiền ăn, sẽ trả sau mà thôi, ông nói vậy. Ông hỏi tôi
trình độ học đến đâu rồi, và sao lúc nào cũng chăm đọc sách, cả lúc ăn cơm đến
lúc ngơi nghỉ? Tôi đáp, vì học còn kém lắm. Dường như biết là nói dối, ông tiếp: - Tôi trông cậu có tư chất thông minh cậu Nguyên à.
Chưa vợ con vì nghèo, nhưng cũng cần phải lập công danh trước. Tôi biết tướng số
mà cậu; trông bàn tay cũng đủ biết rồi. Năm nay cậu đụng đến cô nào là có con
liền, thoát được đến năm ba lăm tuổi, lấy hai vợ một lần. Tuổi Nhâm Thân vất vả;
nhưng quí nhân phù trợ; cố gắng lên, chưa tới phần đó thôi. Ông nói tiếng Việt thông thạo, nhưng với giọng Tàu,
nghe mới thành khẩn làm sao! Tôi bắt đầu phục hai vợ chồng nhà này; hơn nữa, cứ
nghĩ đến chuyện thầy Tả Ao của ta giỏi địa lý bao nhiêu mà chết vì các thầy địa
lý Tàu sát hại; tôi lại càng tin ông chủ quán này giỏi tướng số là lẽ tất
nhiên. Tôi ăn cơm mà lòng tin số mệnh ghê gớm! Và tôi càng đỡ
lo lắng cho ngày dài thất nghiệp, vì tin sẽ có quí nhân phù trợ. Như lòng tốt của
vợ chồng ông Tàu già chẳng hạn. Găp Kha, anh hỏi chuyện ngay: - Họ (anh em nhà văn) hỏi bút hiệu anh có phải là dân gốc
Ba Tàu không? Bài báo gây xúc động lớn đấy nhé! Tôi không vội mừng, nhờ dịp này sẽ biết được chân tướng
những tên phản phúc, và ai là người chân thật? Người chân thật có đồng ý với
tôi thì tiếng nói âm thầm của họ chẳng bộc bạch khó mà biết được; dầu cho có
tán thành cũng chỉ trong im lìm mà thôi. Một số thù nghịch nhân dịp này đả kích
tôi không tiếc lời, tất nhiên như vậy rồi. Cũng nhờ đó mà hiểu được xem cách họ
công kích ra sao? Nhưng rất vui khi tốp già làm văn nghệ nhẩy tán loạn trong lồng
văn chương, như thái độ hung hăng con chim già đời bị sập bẫy. Bật cười với
chính mình rồi tự nhận sẽ phải đứng đầu gió. Tâm hồn cứng rắn thì phải cứng rắn
rồi và mềm mại thì cũng phải giống như cành dương liễu mọc ngoài ven biển vậy. Nhưng chắc chắn là thất nghiệp sẽ mau đến với bản thân. Một buổi sáng còn mờ sương, có tiếng người gõ cửa. Một bạn nhạc
sĩ trẻ đang dấn thân vào nghiệp làm thơ đến gặp tôi. Hắn ta còn rất trẻ, khoảng
hai mươi, báo tin không hay cho tôi, có tờ tạp chí của Nha Văn tác vụ có
đăng bài đả kích; viên chủ bút viết, ký tên tắt dưới bài. Tôi không lo lắng vì
biết rằng họ sẽ lọt vào bẫy, tất nhiên chỉ chờ cơ hội này chẳng xảy ra. Đọc bài
báo xong, giữ thái độ bình thản thường lệ, nói với bạn trẻ: - Cậu tốt lắm, cảm ơn cậu. Đừng quá lo cho tôi. Còn ý kiến
riêng của cậu ra sao? - Giao lo cho anh lắm. Anh biết chứ, họ đều là những
kẻ có quyền thế; một khi vu cáo cho ai thì kẻ đó chết một cửa tử. Anh không thấy
thế sao? Tôi giữ im lặng. Giao bốc đồng hỏi dồn: - Thế anh có trả lời họ không? - Cảm ơn cậu nhiều. Trả lời hay không thì bây giờ chưa
định được? Giao như có thái độ tức tối thay tôi. Khi ra
về rồi, hẳn là sẽ chê trách tôi nhát gan. Tiễn Giao ra cửa thì Thảo đến
chơi. Anh nói chuyện với tôi bằng một giọng gay gắt: - Này cậu, bài tôi và cậu viết về vụ đạo văn ấy; thằng
nhãi già kia chỉ dẫn chứng bài cậu đả kích. Thằng nhãi già khác viết bài đả
kích là bạn bàn đèn của thằng già đạo văn. Chúng nó đều là dân nghiện, nhớ lấy;
lắm mưu chước như Khổng Minh và cũng dễ phản nhau như Tào Tháo. Như vậy chúng
chơi sách lược tỉa dần. Cậu định sao? Mấy thằng bạn tụi mình lao xao; đề nghị
hoặc cậu, hoặc tôi sẽ viết bài trả lời ngay, không thể chậm trễ. Chúng tôi còn một tờ tạp chí nữa mà Thảo là tổng
thư ký. Tôi đáp: - Hay đấy, anh em nóng hơn chúng mình là điều tốt, Phải
bình tĩnh trong cơn bốc lửa của anh em. Tôi sẽ viết bài như anh em đề nghị. Tôi
có thể nói trước rằng, rồi ra chúng nó sẽ nhẩy lên phản ứng. Thì đây cũng là một
cách khám phá cung cách đối phó của con chim già nhiều mưu mơ giơ móng vuốt ra
chộp, và tưởng một khi tên đầu sỏ ra mặt là cứu được tình thế. Đó là chủ quan
giấu nhẹm để cho tiếng nói khách quan phản pháo. Chúng nó khôn vặt, nhiều mưu
chước hiểm, biết cách ăn vụng lại chưa học được cách chùi mép. Khi Hồng Trọng cho
ra mắt sách, đã đánh lạc dư luận văn nghệ ở đây bằng cách cả vú lấp miệng em.
Dùng ảnh hưởng của nhóm văn hóa Cải Lương do anh Hai Hà cầm
đầu, ban phát lời tán tụng trước, thì chúng tưởng rằng sẽ dư sức đả đảo nhóm
văn nghệ Tối Tăm và bọn lừng khừng nửa vời khác. Còn đối với các bậc
nho học, cụ Nghè, cụ Cử; chúng lại nhờ một vị có danh, như Võ Thoanh ban
lời tán dương phủ đầu. Đối với nhóm luật sư, giáo sư; họ dựa uy tín anh Hai
Hà, cả luật sư Nghiêm Cả Thức để đỡ đòn. Còn phe làm từ điển, lại
nhờ anh ruột góp tiếng khen : "em hát dở, anh cũng khen hay". Ba Ích viết Tựa, là người đọc văn mác
xít cũng nhiều, thâu nhập văn hóa Đông Tây không ít. Như vậy, thì chúng còn sợ
ai nữa, lại có thêm tay nghiện giỏi chửi bới biết cách hạ đòn thù; còn ai dám
lên tiếng phê với bình? Đằng sau lại là cả một cơ quan văn hóa của
chính quyền ủng hộ. Song có ngờ đâu rằng, dù các vị ấy cho lời khen; nhưng làm
sao đọc được hết sách phía bên kia giới tuyến xuất bản được? Riêng các cụ Nghè, cụ Cử giỏi Hán học; thì xin lỗi các
vị có biết gì đâu văn học mác xít ra sao? Còn anh Hai Hà từng tham gia văn hóa mác xít,
dạy trường văn hóa mà khen tặng Hồng Trọng là đệ nhất sử gia có quan
niệm tổng hợp, thì còn ai dám chê? Một mặt nữa về pháp lý, chúng nó có người đỡ đầu, lại bỏ
vốn cho in, dầu bị tố giác ăn cắp sách bên kia giới tuyến, rồi in lại bán tự do
cho dân chúng Sài Gòn, thì đã có Văn tác vụ trưởng đỡ đòn. Chúng nó nằm ở bàn đèn có nhiều đòn thông minh vặt, cái
đầu trán hói kia quả có lắm mưu chước. Khi chúng ta lên án, nó bèn thuê một ký giả có tiếng là
đao búa trong làng viết bài hạ tôi. Nó nêu bằng chứng, tại sao tôi lại có sách
mác xít đọc, mà sách kia không có bán ở Sài Gòn, kể cả nó làm trong Nha
Văn tác vụ cũng không có sách ấy? Không nói ra, nhưng hàm ý, gián tiếp
mách nước cho an ninh, tôi có là một mắt xích nào đó, thì mới có sách của cộng
sản ở bên này giới tuyến. Rồi nữa, chúng nó biết bút danh kia của tôi; vẫn cứ gán
bài viết non nớt này của một em học sinh trẻ dại nào đó mới tập viết văn, sai
văn phạm, dốt ngọai ngữ; đổ lên đầu chủ nhiệm, chủ bút tạp chí Văn Hóa, một
giáo sư đại học bận quá nhiều việc, không đủ thời gian đọc bài vở, nên đăng bài
theo kiểu thiếu bài lấp chỗ trống. Đó là hai, ba, bốn địn tuyệt kế để
hãm hại, vu cáo, làm ly gián, ghép tội kẻ viết bài tố cáo đạo văn. Nhưng bạn đọc chờ đấy, màn sau hạ hồi phân giải. Tôi sẽ viết bút chiến đáp lại, nói trước với bạn đọc;
chúng rất nhiều mưu chước, một khi đuối lý, chúng sẽ không khước từ thuê cả du
côn hạ địch thủ cũng không từ? Hai bài báo in ra, tốp nhà văn già đe dọa đi kiện chúng tôi
qua tội mạ lị. Hai nguồn tin do hai cơ quan sửa sọan nộp đơn kiện tôi, nào là
tôi vu khống cơ quan công quyền, một khi đầu đơn kiện là đã đuối lý tranh luận.
Ra pháp đình, tôi lại càng sẵn bằng chứng tự biện hộ, mà như vậy lại càng chóng
tiêu tan danh dự hơn. Song sự đe dọa kia lại rơi vào yên lặng. Một buổi tôi ngồi uống nước ở quán Kim Sơn, vừa
bước ra; thì một thanh niên theo sau chúng tôi, dường như có âm mưu gì? Bữa ấy có cả Thảo. Thảo dừng bước và như
đoán được ý anh bạn trẻ kia, lên tiếng hỏi trước: - Tôi trông bạn quen lắm và chắc bạn có chuyện gì muốn
nói? Từ lúc nãy tôi đã lưu ý tới bạn rồi. Người bạn kia gật đầu đáp: - Các anh có phải … là anh Nguyên (chỉ vào
tôi) phải không? Còn đây là anh Thảo? - Vâng, chúng tôi cùng đáp. Thảo rút bao thuốc lá mời bạn kia, trong khi
châm diêm, bạn kia kể chuyện bằng giọng ra ơn: - Lúc nãy khi các anh ngồi uống nước, khi anh Thảo đi
mua thuốc lá, tụi cao bồi kháo nhau rằng đợi về đầy đủ hãy thanh toán một thể.
Thằng chúa đảng bảo bọn đàn em: Trước hết nếu đánh áp đảo một tên, thì
chúng nó sẽ không cho mình anh hùng? Nghĩa là chúng nó định đánh các anh. Thảo ngắt lời, có ý như không dằn nổi bực rọc: - Tại sao chúng định đánh chúng tôi và tại sao bạn lại
biết rõ vậy? Có phải bạn cũng ở trong băng chúng nó? Bạn thanh niên kia sợ xanh mặt, hít một hơi thuốc, cải
chính với giọng nói nhanh nhanh, như thiếu bình tĩnh: - Không đâu. Tôi chỉ là một người quen tụi chúng nó. Gặp
ngày dạo phố, thấy chúng ngồi đây vào chiều thứ bẩy, thằng đầu sỏ gọi tôi vào hỏi
có biết hai thằng này không? (xin lỗi, chúng nó chỉ vào hai anh). Mày cứ ở lại
đây xem tao thanh toán chúng nó. Tôi hỏi lý do, nó cho biết rằng các anh làm
nhiều chuyện chướng mắt lắm. Anh (chỉ vào Nguyên) thắt cà vạt buông thõng,
đi thì ngẩng mặt lên trời, không thèm nhìn ai, như ra cái điều ta đây ghê gớm lắm,
nên phải cho nó nếm một bài học đích đáng. - Nhưng điều đó, tôi trả lời, có can gì đến họ đâu? - Đành rồi, nhưng hai anh vừa biên một bài mạt sát ông
nhà văn ở cạnh xóm nhà thờ Huyện Sĩ, nên họ thuê cao bồi đánh các
anh? Thảo muốn biết rõ, nên thăm dọ mãnh liệt hơn: - Nhưng sao chúng không đánh chúng tôi ngay chiều nay tại Kim
Sơn, mà lại rút lui? Như thế là làm sao? - Thưa anh, thế nào thì tôi không được rõ. Nhưng chỉ biết
thằng đầu sỏ bảo tụi đàn em Không phải tao sợ đâu như chúng mày tưởng? (nói
với tên đàn em hung hãn nhất). Phải hiều rằng một người biết lo tày kho
người hay làm. Hình như chúng nó biết chuyện này, một thằng đi báo cảnh
sát thì phải; còn một thằng ngồi lại vẫn thấy ung dung, trầm ngâm, không chút sợ
hãi. Nó (chỉ vào Nguyên) có một tuy dô nào bảo vệ, mới nghiễm
nhiên tự tại như vậy. Thấy câu chuyện này chỉ đến đây là tạm đủ, giã từ, cảm
ơn. Tôi bàn với Thảo: - Đúng đấy, nhưng có hai giả thuyết, chúng nó đàn áp đảo
tinh thần trước, dọa thuê du côn đánh chúng mình. Nhưng bọn này cũng khá khôn;
đánh vào tinh thần mình trước; để chúng mình luôn luôn lâm vào thế bị động, lo
chống trả hơn là thế công. Tên lúc nãy ra vẻ tử tế, nhưng biết đâu lại chẳng là
người bọn chúng? Sau này sẽ biết rõ cả thôi. Chúng tôi giã từ nhau, đồng ý bằng cái gật đầu. Sau lần ở tòa sọan tạp chí Văn Hóa về, tôi gặp Kha, nhìn
vào đôi mắt dường như anh có điều gì muốn thổ lộ. Đáng lý ra tôi phải hỏi anh,
và từ khi đưa bài đăng, đã thông báo phải đọc kỹ, đăng rồi anh phải có cách đề
phòng. Bây giờ đã trở thành mầm mống lớn tai hại, phải tìm cách đối phó. Mỗi khi cần suy nghĩ chuyện gì, sẵn tiền, tôi ra Aux
Délices uống trà, hay cà phê, nghe nhạc thính phòng. Hoặc có khi tạt
vào Givral nghe ca khúc Vénus, để thầm cảm ơn âm thanh do nữ
ca sĩ hát lên, để quên đi nỗi lo từ cuộc sống ngoài kia đe dọa. Một buổi tối ở Aux Délices ra, đi đến đầu đường Lê
Lợi, hai thanh niên, dáng người gầy gầy, dỏng cao, ăn mặc lố lăng, xắn tay
áo đến tận vai ngáng chân tôi lại, hỏi dồn: - Bạn (anh bé nhất), nếu bạn là thanh niên không hèn,
tôi hỏi bạn điều này. Có phải tối hôm nọ bạn đánh tôi rồi bỏ chạy, phải không? Rõ ràng lời vu cáo của kẻ gây hấn. Tôi đáp: - Xin các bạn thong thả, buông tay tôi ra, và đứng xa
ba bước rồi nói chuyện. Tôi hứa danh dự, không hèn để nghe chuyện của bạn kể.
Nhưng bạn có biết tên tôi không? Một anh đứng phía sau đáp: - Có chứ, tên anh là Nguyên. Bạn kia thấy bạn mình nhường bước, tháo lui, như lời
tôi đề nghị, tôi nói tiếp: - Tôi xin thưa chuyện với bạn; đã bẩy năm từ khi vào miền
Nam, tôi chưa hề đấm đá ai. Chỉ có hai cách để các bạn sinh sự với tôi; một là,
tranh đào của bạn hai là các bạn vu cho tôi hèn mạt, đánh bạn rồi bỏ chạy. Tôi
chưa đánh ai bao giờ và cũng chẳng tranh đào của ai? Vậy thì chỉ còn cách này,
các bạn được ai thuê để đánh tôi ? Nói! Ngưng lại dò phản ứng, tiếp: - Đúng là thuê thật, tôi hứa danh dự cho các bạn đánh,
đến ngã gục, thắng cuộc các bạn nhận tiền thưởng. Nếu không phải vậy, mà các bạn
vẫn cố ý gây sự, tôi xin tiếp các bạn bằng võ lực nếu cần. Người bạn trả lời biết tôi tên là Nguyên biết
phải trái, nắm tay bạn kia, quay sang tôi: - Chúng tôi xin lỗi vì nhầm. Biết anh là anh Nguyên mà,
xin bỏ qua cho. - Không có gì, tôi cũng xin cảm ơn các bạn. Lên xe tắc xi về nhà, một ít tiếng đồng hồ sau, Thảo đến
gõ cửa gấp gáp. Đêm ấy, Thảo cho biết chuyện, anh vào một quán nước gần
nhà, đi cùng với anh bạn là quân nhân. Anh bị một trong hai người ngồi bàn kế gợi
chuyện rồi gây sự. Họ như muốn đị thanh toán anh. Vì có hai quân nhân bên cạnh,
nên bỏ đi còn hăm dọa lần khác sẽ gặp. Tôi cũng kể cho Thảo nghe chuyện vừa trải
qua ở dưới phố. Hai chúng tôi lại rủ nhau xuống phố, vào Brodard uống sô-cọ-la nóng,
nghe ca khúc Nếu một hôm nào em trở lại qua tiếng hát Gloria
Glasso, điệu nhạc kia như đang ru ngủ người mình yêu- như có một hôm nào
nàng bỏ ra đi, rồi sẽ quay trở lại. Ấy, tôi cứ tự cho một thuyết minh na ná giống
vậy. Không biết có đúng với trường hợp ngồi đời của bạn tôi không ? Một buổi, tôi lại tòa sọan báo Giáo dục phổ thông nhận
tiền nhuận bút. Tôi thường hay đề phòng kẻ lạ mặt theo sau. Lần này, biết đó là
dáng dấp của một trí thức, thuộc một cơ quan văn hóa nọ theo sau, tôi chẳng có
gì phải lo ngại đề phòng thái quá, biết là ông đã biết danh tính tôi, hình như
buổi nay muốn gặp có điều gì muốn nói. Linh tính tôi phỏng dự vậy. Đến tòa sọan, tôi bước thẳng vào phòng quản lý. Từ trong
phòng ấy, nhìn qua phòng khách, ngăn cách qua chiếc bình phong, vẫn thấy thấp
thoáng có người chờ ở ngoài. Tôi đi ra, thì chính ông đứng ở cạnh cửa, tự nhận
mình là một du học sinh ở Pháp về, trạc tuổi tôi, hoặc nhỉnh hơn một chút, khoảng
ba mươi ngoài. Dáng người mập ở tư thế bề ngoài, phía sau ẩn chìm một chút thủ
đoạn vặt của bực thang đầu làm chính trị. Ông gật đầu chào tôi, tôi đáp lễ,
nhưng tôi không có ý bước ra ngồi để làm quen. Ông vẫn tiến lại gần, ân cần, lễ
phép hỏi: - Ông có phải là ông Nguyên ? - Vâng, thưa chính tôi.. - Tôi là Văn tác vụ trưởng, hân hạnh được gặp
ông. Tôi muốn thưa chuyện với ông, đúng hơn xin lỗi ông về chuyện báo của tôi
đăng bài đả kích ông. Ông Mạnh Côn viết bài đả kích ông trong tạp
chí Văn Hữu của chúng tôi; mà tôi lại không được đọc trước khi giao
cho nhà in. Thực ra, tôi không có thành kiến gì về ông cả. Xin bỏ qua cho và
như ông đã biết, tôi đã đuổi ông ấy ra khỏi tòa sọan. Hôm nào rảnh, xin mời ông
ghé qua văn phịng tôi. Nếu ở văn phòng tôi thiếu không khí văn nghệ, chúng ta
có thể sang milkbar. Thế nào cũng xin mời ông ghé qua, để còn mời ông
cọng tác với tạp chí của chúng tôi nữa. Tôi nhận lời, và cảm ơn theo xã giao thường lệ. Vô
cùng bặt thiệp. Cứ nghĩ về âm mưu nho nhỏ kia, tôi buồn cười một mình mãi. Tôi
càng đề phòng hơn. Và hiểu thêm diện tích đá sỏi, chông, gai của con người hôm
nay giăng mắc là như vậy! Tôi không thấy việc đuổi Mạnh Côn làm mãn
nguyện; vì biết rằng công việc kia chẳng riêng một chủ bút thực hiện chịu trách
nhiệm. Nếu trót lọt chủ nhiệm hưởng, rắc rối một mình chủ bút lãnh đủ. Đấy là
đường hướng, thủ đọan chính trị áp dụng trong lãnh vực văn nghệ. Ngẫm lại chuyện
này hệt như bắt chước chuyện Nhật hoàng, cử một đô đốc Nhật Bản đem quân chiếm
Lạng Sơn; rồi khi Đồng Minh phản đối; thì đưa đô đốc về vườn và bắt tự xử cũng
chưa chừng? Riêng tôi cũng tới lúc phải xin Kha cho rút
lui khỏi tòa sọan Văn Hóa. Đây cũng là cách đỡ làm khổ cho bạn, cho cả
bản thân tôi; mà mỗi trong chúng ta đôi khi đã làm khổ nhau quá nhiều. Từ nay
trở đi, chắc chắn là khó có tiền trả hàng quán vào đúng mỗi dịp cuối tháng. Tôi
chưa biết có cách nào nói với ông bà già Tàu cho mình ăn chịu nữa? Dầu chưa nói
ra, nếu nói, hẳn hai vợ chồng không nỡ từ chối vẫn bằng lòng cho chịu tiền ăn.
Và bữa ăn cơm chịu, như trong lòng nhẩm tính, là chưa bao giờ có thể trả được,
ăn lại thấy ngon miệng hơn. Cũng giống như đi mua chịu thuốc lá khi lên cơn
thèm vậy. Thế mới thật đau đầu! Và cũng chẳng hiểu sao, trước khi xin thôi làm ở tòa soạn Văn
Hóa, tôi lại đến thăm Văn tác vụ trưởng rất đúng lúc. Trong văn phòng của ông, trang hoàng thật lịch sự. Bàn
lớn hình bầu dục lộng kính, bên cạnh là hai chiếc ghế bành và sau bàn là ghế
quay dành cho chủ nhân. Khi vào, gặp ông đang ngồi ưỡn ra phía sau, hai chân tựa
điểm lên thành bàn. Hai ghế ngồi, một là Hồng Trọng và ghế kia
là Thượng Sĩ, ký giả kỳ cựu báo Tin Mới thời tiền chiến. Hồng Trọng nhìn thấy bóng tôi, mặt anh tái
mét, có lẽ anh ta vẫn căm giận tôi nhiều thì phải. Tôi nghĩ như vậy đúng hơn là
anh sợ gặp tôi. Giận căm thì không còn gì đúng hơn; như lời anh Hai Hà nói
với tôi, với giọng nói yêu cầu tránh nhắc tên tôi; bây giờ như hiện đủ mười
ngón tay hằn trên khuôn mặt Hồng Trọng.Tôi nhắc với văn tác vụ trưởng hay
là đến không đúng lúc chăng, chắc ông đang bận và xin lỗi để dịp khác; thì ông
đứng dậy mời tôi ra phòng khách, lấy cớ chỉ bận ít phút chỉ thị công việc cho
nhân viên. Tôi nghĩ đợi ít phút cũng được, chẳng hại gì! Không hiểu có phải là
tôi cũng hèn, sau khi xin thôi báo Văn Hóa rồi thì sợ đói; rồi nhớ lời
văn tác vụ trưởng hôm nào mời viết báo là lý do chính để tôi đến đây không? Tôi
nhớ có lần anh Ba Ích nói với tôi: - Mày ơi! (anh thường xưng hô lúc thân mật, toa,
moa lúc đông người), tao có được đọc tác phẩm phía bên kia đâu mà biết tất
cả. Tao tin vào chủ soái Hàn Thuyên Hai Hà nhiều quá, rồi khen tưới
cuốn kia viết theo quan niệm văn hóa tổng hợp. Rồi mày viết bài phê bình, tao mới
ngã ngửa người ra; nhưng muộn rồi. Như là tao bị rơi vào trường hợp bị bạn hữu
lừa gạt tình cảm vậy. À mà thằng Mạnh Côn có gặp lại mày rồi hả?
Chính nhà văn tiền chiến Đỗ Tốn làm công việc hòa giải này, phải vậy
không? Thôi, mày cũng chẳng nên chấp nhất làm gì, anh em văn nghệ cả. Cứ nghĩ vậy thôi, hẳn Hồng Trọng căm giận
tôi càng thấm thía hơn. Bạn bè thách đố anh ta viết bài tranh luận với tôi; nếu
quả thật là tôi viết sai và vu khống cho anh ta. Mà tôi biết chắc chắn, anh ta
không còn cách nào viết bài bút chiến chống đỡ; nếu có, anh ta chỉ dùng lối viết
chửi rủa, mạ lị, kiểu anh già văn chương lên lão làng sẵn sàng nộp địch thủ của
mình, bằng cách làm điềm chỉ viên văn nghệ. Bữa nay gặp lại anh ta ở đây, tôi
thấy sự hiện diện của mình, dầu được tiếp đón trọng vọng trong văn phòng này, dầu
có thủ đọan đi nữa cũng làm cho anh bạn già đau nhói. Ở chỗ, văn tác vụ trưởng
bỏ lại hai nhân viên sang tiếp đón tôi như thượng khách. Buổi gặp gỡ này có gì đâu? chỉ là lấy lòng, vì sợ tôi còn làm
cho báo Văn Hóa, thì tập hai bộ sách trên của Hồng Trọng xuất
bản, nếu có đạo văn thì cũng xin giữ im lặng cho công việc được xuôi chèo mát
mái. Và Nha Văn hóa vụ của ông không bị cấp trên khiển trách và dư luận
nhòm ngó. Song tôi đã xin thôi việc rồi, sao văn tác vụ trưởng không biết, mà
còn phải săn đón làm gì cho mất công !
Ít lâu sau, trên tờ tạp chí Nha Văn hóa vụ, chính Hồng Trọng thay Mạnh
Côn, giữ chân chủ bút. Vừa xuất bản được một số, số thứ hai bắt đầu có bài
đả động đến tôi. Bài một, gọi là nghiên cứu đứng đắn vấn đề văn học thời
đại; rồi bàn đến thanh niên cao bồi, đưa ra trường hợp cụ thể là đời tư của Duy.
Duy là trưởng nam anh Hai Hà; còn phần sau thì nhắc đến tôi. Tuy
bài báo không ký tên Hồng Trọng, giọng văn kia làm sao giấu nổi chân tướng. Duy bị Hồng
Trọng lên án quy vào hai điểm: Làm tình nên Duy bị đưa vào khám Chí
Hòa và làm tiền qua nhiều bài viết phê bình sân khấu, cải lương. Còn tôi, dưới mắt Tam Giang (bút danh khác của Hồng
Trọng) là thiên tài văn nghệ theo kiểu cao bồi Mỹ. Sung sướng thay hết được tả
chân đến tả người; nghĩa là tả hình dáng tôi như văn miêu tả học trò lớp năm: "… thiên tài cao bồi văn nghệ ăn mặc đúng tác phong
cao bồi quốc tế, cũng tóc tai lõa xõa, luôn mang kính râm, cà vạt không thắt
nút cổ, quần áo xộc xệch; một hôm tìm đến nhà một nữ sĩ nọ….". Về tôi, như anh ta nhận xét, viết văn chỉ để đầu tư
tâm hồn phụ nữ, cho như vậy là đáng tởm lợm. Chẳng hạn tả một xen tôi bị anh của người yêu đánh đập
vì dụ dỗ gái vị thành niên. Đọc cũng thấy là lạ, hay hay; yêu đàn bà thì tôi
yêu nhiều thật, mà chẳng có ai ở tuổi thanh niên lại chưa yêu bao giờ? Đọc xong
thiên phóng sự, đau đớn thay, tôi thấy thú mới chết ! Tôi lại càng nghiện được
nghe giọng anh ta chửi rủa, hờn giận, phịa chuyện mạ lị. Mà càng chửi rủa bao
nhiêu, lại càng nhìn thấy tâm địa vô cùng xuẩn động của anh bày tỏ. Nhất là đoạn
cho tôi in ảnh thật lớn trong tác phẩm vì sợ đời quên, ấy là sau khi tôi đã bị
đưa đi giáo dục ở trại Tế Bần. Bởi vì vào thời đọan 1960, phong trào
bắt du đãng, được đề cao hàng ngày trên báo; nhân lúc tạp chí của Văn tác vụ là
tiếng nói báo chí chính quyền; một khi lên án ai thì giống như chỉ điểm, sớm muộn
gì, tôi cũng bị bắt đi làm cỏ bên gốc cây ki náp ở Tây Sa, Trường Sa là điều chắc
chắn! Nhưng trong chế độ dân chủ tư sản còn có cái thú tự do
cá nhân và báo công quyền ở đây cũng chưa là Cờ Đỏ, Ngôi Sao. Phải rồi, tôi còn nhớ nữ thi sĩ Akhamatova bên
Nga bị đưa vào trại chỉnh huấn, chỉ vì một bài báo đăng trên Ngôi Sao, lên
án bà là văn chương vị nghệ thuật. Còn tôi vẫn đi dạo ngồi phố, tóc vẫn bù xù, cà vạt
buông thõng và ngồi uống cà phê ở La Pagode Tôi vẫn gặp anh ta đi
qua, liếc mắt nhìn tôi rồi quay đi; như không muốn thấy tôi tại sao lại vẫn còn
ngồi đó chứ gì? Qua những câu văn chỉ điểm, tại sao lại chưa có tác dụng như ý
muốn. Một điều nữa làm tôi cảm động hơn hết thảy, hôm nay
đây, ngày cuối cùng cuối năm sắp hết, là tết đến rồi còn gì? Ông bà già Tàu dọn
cho tôi bữa ăn; mà quái lạ, sao bữa nay như có vẻ linh đình. Tôi chưa muốn hỏi
nguyên nhân, vì biết rằng giây phút này cũng quan hệ như sắp tiễn người yêu đi
lấy chồng còn mình thì bất lực xây dựng hạnh phúc với họ. Vì vẫn còn trắng hai
tay, em ơi, anh không có tương lai, chả lẽ giữ em mãi bên anh, thì chúng ta
cùng già và cùng chết đói! Phút lưu lại bên nhau càng dài bao nhiêu càng hay bấy
nhiêu ; ấy tôi biết giây phút này đối vợ chồng ông già Tàu cũng giống như vậy
đó. Tôi tin như sắp xảy ra một tín hiệu chia ly rồi. Cái cớ duy nhất băn khoăn,
tôi còn nợ họ chưa trả, thì không sao chia ly nổi mình dường như không vững nữa.
Bữa nay, ông chủ Tàu hấp tấp đi đâu, cái xiết tay chặt chẽ lắm khác hơn ngày
khác; đôi mắt nhìn xoáy sâu như muốn bầy tỏ mà nghẹn ngào. Rồi ông ta vẫn đi mà
không nói câu nào. Bà chủ Tàu đợi tôi ăn cơm xong, vẫn rót cho tôi ly nước trà
như mọi lần. Bà gọi tôi lần này theo cách xưng hô thân mật là thầy giáo. Thầy giáo, sao hôm nay bà gọi tôi, qua lối
xưng hơ như vậy, chắc có chuyện gì quan trọng đây? - Thầy giáo ơi, bọn tôi hết vốn rồi, không phải vì thầy
đâu mà thầy đừng vội nói tới món nợ đấy nhé. Chúng tơi nói đùa cho vui đấy, vì
sắp phải rời nơi này đi buôn bán và hy vọng rằng có ngày gặp lại thầy giáo. Khi
ấy thầy giầu sang, tôi dám tin như thế lắm, chúng ta lại nhờ lẫn nhau. Có một
người quen thầy tới đây lại không gặp và trao cho tôi cái thư này. Họ đợi mãi
không gặp được thầy giáo. Phong thư dán kín bằng mép, qua nhựa hạt cơm còn cộm hằn
lên. Bên ngồi phong bì trắng tinh không có chữ. Tôi nghĩ, chẳng ai biết mình ăn ở đây, sao lại có người
đến trao thư được? Có lẽ là của ông bà Tàu và qua mấy tháng nay, họ có biết
tên thật của tôi đâu? Phong bì mỏng, loại một đồng sáu cái, thì làm gì mà thoát
khỏi mắt tôi tinh như chuồn chuồn ngô? Nhưng bà già Tàu có giọng nói, cách xử thế của một người
hết sức trung thực nên tôi không đủ can đảm từ chối; hơn nữa chính tay bà đặt
phong thư ấy vào túi áo trên của tôi. Lại nói: - Chúc thầy mạnh khỏe và ráng học, sau này chúng tôi
mong được gặp lại. Thế nào thầy cũng vươn tới phần số may mắn, thành danh phận.
Sao cũng có ngày gặp lại nhau thôi. Quả đất tròn mà thầy! Tôi về phòng trọ, nơi chỉ để ngủ. Chợt nhớ là chưa hề
được một lời cảm ơn, tôi quay trở lại và có ý định đem phong thư trả lại. Giá
thử nếu phải cầm, thì cũng phải biết là có cái gì ở trong, là tiền thì nhiều
hay ít; dầu với tôi bây giờ ít hay nhiều vẫn quan trọng quá! Từ một đồng trở
lên cũng cần thiết lắm, mà tôi có nhận, thì cũng phải có lời làm sao chứ? Đạp
xe đạp ngược chiều gió còn gì khổ hơn. Tới quán, nơi ông bà già Tàu thuê một
góc bán cơm, thì được biết, kể từ mai ông bà không còn trở lại đây nữa. Và cũng
không biết địa chỉ riêng của họ. Tờ một trăm đồng, mỗi lần có tiền một lần nhớ lại. Tôi
cố ý tìm địa chỉ ở quán nước, quán cơm nơi chợ Thái Bình; như có lần tôi nhớ
mang máng bà già Tàu thổ lộ từ mấy hôm trước. Song có bao giờ tôi gặp lại họ
đâu, thế ra trong quãng đời chật vật của tôi, ân nhân là vợ chồng Tàu nghèo
sang trú ngụ làm ăn trên đất nước Việt Nam này. Thế Phong Theo https://vietvanmoi.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét