Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức "Dốc im lặng''

Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức
"Dốc im lặng''

“Dốc im lặng” là tập thơ thứ hai của nhà thơ, họa sĩ Trần Thắng. Cùng với thơ, trong tập này, anh in nhiều bức tranh nổi tiếng của mình. Thơ Trần Thắng ở “Dốc im lặng” không dễ đọc. Không phải nó phức tạp hay quá thâm hậu, cao siêu mà thực ra là rất khó nắm bắt tâm thế của thi sĩ. Trần Thắng là một nhà thơ có sinh quyển thơ riêng biệt. Vì thế, không dễ gì bước vào thế giới thơ anh. Bởi trong đó có quá nhiều trầm tích, bí mật và ẩn ức. Ở đây chỉ thử truy tìm một khía cạnh nhỏ – những ẩn ức nào đó chi phối nhà thơ Trần Thắng được hé lộ trong “Dốc im lặng”.
Trần Thắng may mắn được sinh ra ở một làng quê châu thổ sông Hồng. Một vùng đất mới mỡ màu, dồi dào sinh sôi nảy nở. Một làng quê bé nhỏ, xa khuất nơi cửa sông Hồng. Ở đó, ta bắt gặp không chỉ những tín ngưỡng dân gian bản địa, mà còn chất chứa biết bao tư tưởng cao siêu của các tôn giáo lớn chi phối đời sống nhân loại như Nho, Phật, Lão và Thiên Chúa. Chỉ có điều những tư tưởng cao siêu của các tôn giáo này không tồn tại với tư cách là những giáo lý, những giới thuyết siêu hình, trừu tượng mà bao giờ cũng được “đồng hóa” thành những triết lý dân gian hết sức sinh động, nôm na, dân giã.
Cái làng quê nơi Trần Thắng sinh ra và suốt tuổi thơ tung tăng ở đó, thực ra là một hệ sinh thái tự nhiên trù phú hòa quyện cùng không gian tâm linh phức hệ đa tầng. Không gian tâm linh ấy được kiến tạo bởi sự tích tụ của văn hóa cổ truyền và hòa đồng cùng các giá trị phổ quát ngoại biên với quá nhiều trầm tích chồng lấn. Nó tạo nên môi trường sống lý tưởng cho con người. Thế rồi, bằng cách nào đó nhà thơ đã thấm nhuần một cách sâu sắc những giá trị của sinh quyển làng quê mình.
Dấu viết của thiên nhiên nguyên bản, của văn hóa bản địa, triết lý dân gian ấy hiển lộ thật phong phú, đa dạng và vô cùng sinh động trong thơ anh. Trần Thắng dù sinh ra ở làng quê, nhưng khi trưởng thành anh không sống ở làng quê. Anh là một nghệ sĩ, một nhà thơ sống ở nơi đô hội. Vì thế, những triết lý dân gian, những cảm thức văn hóa truyền thống cổ truyền của làng quê đã khúc xạ qua lăng kính của người nghệ sĩ đương đại.
Bảng lảng khắp “Dốc im lặng” là một cái nhìn thế giới xa xăm vô biên và cái nhìn nhân sinh muôn kiếp chan chứa nhân tình. Nhà thơ vì một ẩn ức nào đó nên luôn bị ám ảnh về hình bóng con người vô cùng nhỏ nhoi, mong manh trong một thế giới vô thường, một thiên hà khôn cùng vần vũ bất thường. Đó là, “Hữu hình vừa cõi nhân duyên/ Thoát vô hình cõi vô biên chạnh buồn/ Rượu như lẫn ánh hào quang/ Người vương sương bụi lang thang thiên hà/ Dừng chân đâu cũng là nhà/ Buông tay cũng cỏ trùm qua phận người” (Xuân vẫn qua đây); hay, “Thánh nhân khuất đỉnh sa mù/ Đất ôm xương trắng hời ru công thành/ Ngàn năm chợt thoáng mong manh/ Một ngày giặc giã cỏ xanh ngút trời” (Tĩnh lặng mong manh); “Nguyện cầu những linh hồn vụt qua và tan biến/ miền cực đầu thai kiếp sinh linh/ thêm tỏ tường giới hạn của mình/ âm thanh cuối cùng lột xác…/ mong manh… mong manh…” (Tháng ngày mong manh).
Và, “Tóc in tuổi trắng mong manh…” (Tết của mẹ); “Ngủ trong một tiếng lá rơi/ Chợt lìa hai cõi mẹ ơi! Vô thường” (Buông); “Giấc mơ dương gian nhỏ nhoi lóe trắng/ Ngát vòm trời thanh sạch lặng sương/ dâng hiến trọn linh hồn thể phách/ có hay không một cõi vĩnh hằng? (Cúc họa mi)… Những câu thơ làm ta giật mình phản tư, ngơ ngác về thân phận con người chả khác gì hạt bụi mong manh trong một thế giới bất toàn vô tận.
Đó có thể là bừng ngộ về sức mạnh tiên thiên của định mệnh nào đó đối với số phận con người. Cứ như thể mỗi con người khi sinh ra đã có một bàn tay vô hình xếp đặt, lập trình sẵn. Con người chỉ là một hình nhân di động trong trò đùa của lực lượng siêu nhiên. Đời người được dẫn dắt bởi một ai đó: “Định mệnh nổi trôi xướng lên giai điệu/ Thanh sạch linh hồn thoát xác hoan ca// Những bóng hình nhân gian chen chúc/ Đi về gió cuốn vô biên” (Thiên sứ); “Chuyện hợp tan đành rằng duyên phận/ Ta vẫn phủ sen trắng giấc xưa” (Xuân gọi) “đã yêu cần gì hối hận/ cuối đường chắc gì đã cùng nhau// Trinh nguyên viết nỗi niềm lên đá/ bao nhiêu mùa sương gió ngẩn ngơ” (Cúc họa mi); “Kiếp người mắc nợ đồng lần/ Xác xơ cũng trả lại phần cõi dương/ Oan hồn vảng vất mù sương/ Đắng cay là thực thiên đường là mơ” (Lời người dở hơi). Thơ Trần Thắng trong những tình thế thơ này là thơ giãi bày, thơ xác quyết. Anh không muốn, không cần ai đối thoại. Thơ nói những điều anh tin hay anh băn khoăn mà không cần ai phản hồi, không cần ai luận bàn, chia sẻ. Thơ như thế cứ như thể người thơ đã thấu hiểu những lẽ huyền hoặc. Hay dường như đã được ai đó mách bảo những mật mã của số kiếp con người.
Đó là cảm quan nhân sinh về sự thoáng chốc, ngắn ngủi của kiếp người: “Biết đâu mây khói phù sinh/ Cõi tạm mời đến cạn mình chẳng buông/ Chén này đời ngược về suông/ Đằng nào cũng quẩn một đường càn khôn/ Chén này nhẹ bẫng sinh tồn/ Xa nhau chợt ngấm nỗi buồn cố nhân” (Tạm Thương cạn mình); “cõi mênh mông mộng mị mơ hồ này có gì ràng buộc/ có cả trăm năm, có cả nghìn năm trong một kiếp người/ chuyện ngàn năm trước, ai biết về nghìn năm sau// Tiễn đưa nhiều thứ trôi vào cát bụi/ để ngộ ra rằng ta đang nương nhờ một cõi/ cõi tạm/ thân xác này tày mấy tấc gang” (Vĩnh hằng); Hay, “Chuyện đời thoáng mây bay/ Chốn nhân gian nương náu phép màu/ Ngỡ an nhiên lại bời bời/ Hương trầm luẩn quẩn mắc lời hẹn nhau” (Nương náu). Và, “Lá buông về cội giấc vàng/ Mong manh gió lật trắng tang kiếp người” (Buông); “miền cực đầu thai kiếp sinh linh/ thêm tỏ tường giới hạn của mình”/ âm thanh cuối cùng lột xác/ ta trở về lẩy bẩy chồi xuân” (Tháng ngày mong manh). Vì ẩn ức nào mà ám ảnh nhà thơ rằng cuộc đời chỉ là cõi tạm, cõi nhân gian chỉ là phù sinh.
Dẫu đời người mong manh, thoáng chốc mây bay gió thổi trong “chốn nhân gian” nhưng nhà thơ không buồn. Thơ không bi lụy, hoảng hốt mà an nhiên tự tại. Hơn thế, nhà thơ còn tự mình tin rằng rời cõi tạm rồi một ngày sẽ “trở về lẩy bẩy chồi xuân”. Phải chăng nhà thơ tin vào sự luân hồi, tin vào sự đầu thai ở kiếp sau của mọi sinh linh, của chính mình. Thơ ấy nghe ra có mùi “an ủi”, “vỗ về”. Nhưng khi nhận chân được con người nhỏ bé bơ vơ giữa “thiên hà”, sự sống quá “mong manh”, nhân gian là “cõi tạm”, cuộc đời là “tấc gang” thì sự “an ủi”, “vỗ về” ấy hình như đã truyền cho mọi sinh linh một năng lượng, một cảm hứng sống nào đó. Hay đó lại chính là xác tín về sự bất diệt của linh hồn con người.
Với cách nhìn thế giới, cách nhìn cuộc đời một cách khác biệt như thế, nên thơ Trần Thắng viết về quê hương, viết về cha mẹ những gì thật gần gũi, thân thương, mến yêu cũng rất đặc biệt. Nỗi nhớ trong thơ Trần Thắng về quê hương thời thơ bé là nỗi nhớ cụ thể, từng chi tiết về con đê, vạt cỏ, dòng sông, mưa bụi… hết sức chân thực, đẹp đẽ dịu dàng. “Triền đê tung hứng bụi mưa/ Cải ngồng lại đến hẹn xưa thắp vàng” (Xuân khai nét cũ); “đang cuộn sóng trong tôi/ sông ơi!/ lúc lênh đênh ngoảnh đầu nhìn lại/ tuổi thơ thật đẹp thật gần sau khúc uốn mềm mại kia” (Sông chân trời); Đó là nhớ về những ngày tết ấu thơ với củi lửa ấm nồng và bánh chưng xanh: “Khói loang đẫm ướt vạt đê/ Nồi bánh chưng ủ bốn bề nhớ thương/ Củi lửa ấm chuyện cố hương” (Tất niên). Không hiểu sao các nhà thơ bao giờ cũng mang theo bóng hình một người con gái thuở thiếu thời và thi vị hóa họ với những đóa hoa đồng quê: “Những đóa sen ngủ quên trên ngực/ thức một miền ngan ngát đồng quê” (Lang thang sen); “Thôn nữ giấu hoa chanh trong ngực/ Dụ trai làng thiêu thân” (Tháng mười quê).
Nỗi nhớ quê của thơ Trần Thắng, còn dựng dậy cả một đời sống tín ngưỡng dân gian linh thiêng rất đỗi thân thương, gần gũi nhưng vô cùng hư ảo, lạ lùng. “Ai giã gạo âm âm cối đá/ Ai húp cháo sột soạt lá đa/ Ai gõ cửa lào thào canh vắng/ Ai chổi tre loẹt quẹt guốc sân vườn?// Vàng mã ngựa xe lờ vờ mặt đất/ Khói hương quẩn bàn tay/ Ai chạm sởn da góc không người/ Chén rượu đầy chưa uống đã vơi// Mẹ cha xa gọi tên nhắc nhở/ Sao trong mơ cha mẹ chẳng nói gì/ Con đuổi theo cháy bùng quần áo giấy/ Tranh cỗ cô hồn lướt thướt mưa Ngâu// Chuông chùa mênh mang tâm nguyện chúng sinh/ Nến lụi vào ngọn khói/… Bóng ai đợi ấm hơi nhà rồi tan” (Vu lan). Chỉ với mấy câu thơ, nhà thơ Trần Thắng đã phục dựng không khí “đại lễ” rằm tháng bảy. Thơ cho ta thấy một đời sống văn hóa tâm linh tích hợp và liên thông vô cùng huyền bí: Tết trung nguyên – Lễ vu lan báo hiếu – Tục xá tội vong nhân – Lễ cúng cô hồn chúng sinh. Đó là cả một đời sống tâm linh lúc nào cũng ngập tràn tâm tưởng đầy hoan hỉ của người Việt. Nhất là những người sinh sống ở làng quê châu thổ sông Hồng.
Cha mẹ là nỗi ám ảnh luôn trở đi trở lại ở “Dốc im lặng”. Nỗi ám ảnh ấy không biết khởi nguyên từ ẩn ức nào. Trong sự nặng lòng với quê cha đất tổ, hình bóng cha mẹ đã khuất núi luôn xuất hiện trong thơ anh. Dù cha mẹ đã đi xa nhưng trong sâu thẳm thế giới tinh thần của nhà thơ, cha mẹ vẫn luôn trở về hiện hữu trong đời sống của anh, trong ngôi nhà thơ ấu của gia đình. “Mẹ về trĩu gánh xa xăm/ Cha về lặng lẽ dáng đằm gió sương” (Tất niên); “Đêm qua mẹ khóc bơ vơ cha về// Thắp hương thầm khấn thầm nghe/ Bướm đêm vảng vất đèn hoe cạn dầu” (Tết của mẹ); “Mẹ cha xa gọi tên nhắc nhở/ Sao trong mơ cha mẹ chẳng nói gì” (Vu lan); “Lạy mẹ con tỏ bến bờ/ Lạy cha con lấm giấc mơ đồng làng” (Sang đò). Và, “Dâng hương con khóc mẹ cười/ Khói hương dẫn mẹ về trời gặp cha// Ngát thơm mở cánh cửa riêng mẹ về/ Từ nay nhòa nhạt nẻo quê/ Từ nay con lớn dãi dề mồ côi” (Buông).
Trong “Dốc im lặng”, nhà thơ Trần Thắng có nhiều bài viết về cha mẹ khi các bậc sinh thành không còn nữa. Không thể cắt nghĩa tình cảm giữa con cái với cha mẹ bởi đó là mối quan hệ thiêng liêng. Đó còn là mối quan hệ quá cá biệt của từng người con với cha mẹ mình ẩn chứa nhiều riêng tư, bí ẩn. Đọc những câu thơ này ta có cảm giác nó vụt hiện từ vô thức tập thể. Chỉ những tài năng thật sự về văn chương, nghệ thuật, vô thức tập thể mới can dự vào quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhà thơ Trần Thắng may mắn có được thiên phú này. Anh đã khẳng định tài năng của mình trong hội họa và bây giờ là trong thi ca.
Đọc “Dốc im lặng” ta linh cảm rằng có một ẩn ức bí mật nào đó luôn ám ảnh, chi phối đời sống nhà thơ. Những ẩn ức ấy bao giờ cũng đánh động, giày vò tâm can anh. Những ẩn ức ấy bao giờ cũng được phát lộ trong những tác phẩm văn chương, nghệ thuật. Chính nó bằng cách nào đó, đã giúp anh tạo lập được tư thế đàng hoàng, “thẳng thớm” hành trình làm người, hành trình sáng tạo dâng hiến trong cõi nhân sinh muôn kiếp. “Cả đời mẹ hứng liêu xiêu/ Mong con thẳng thớm giữa điều ngả nghiêng” (Buông); “Từ nay con gọi cha bằng hương ngát/ Hiểu lẽ đời mà thương nhớ khôn khuây.// Học làm người bao dung thật khó/ Bạc đầu mới biết cách lặng im/ Con tâm niệm điều cha trăn trối/ Về cõi nào cũng phải tốt cõi nhân gian” (Cõi lòng cha). Thực vậy, con người ta mai sau về cõi nào không biết, nhưng trên tất cả, trước hết, phải sống tốt ở cõi nhân gian.
15/12/2023
Vũ Nguyễn Linh Khiếu
Theo https://vanvn.vn/

Văn Cao - Một lối thơ riêng

Văn Cao - Một lối thơ riêng

Văn Cao mong muốn thơ không chỉ phục vụ cho hôm nay, mà thơ phải hướng đến “ngày sau”, phải lo đến tương lai. “ Người thành công nhất ngày nay là phải lo đến cái thất bại ngày sau và người lo thất bại ngày nay cũng phải lo đến cái thất bại ngày sau. Nếu không có sự lo lắng đó, một nhà thơ không nghĩ tới trách nhiệm của mình khi viết, hoặc chỉ viết cho người bây giờ mà không có trách nhiệm đến người sau”.
Chúng ta đều biết Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Trong tư cách nhạc sĩ, Trịnh Công Sơn đã coi ông “sang trọng như một ông hoàng” * với những ca khúc trữ tình như Thiên thai, Suối mơ, Làng tôi, Mùa xuân đầu tiên,… những ca khúc hùng tráng như Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam, Tiến về Hà Nội,… và bản nhạc lớn Trường ca sông Lô. Trong tư cách họa sĩ, Văn Cao đã vẽ tranh, minh họa báo và làm bìa sách. Nhà nghiên cứu nghệ thuật Thái Bá Vân khẳng định “cái nhìn hội họa” của Văn Cao “có địa vị dẫn đường và chi phối” , “ Có thể nói Văn Cao đã lập được trường phái minh họa và bìa sách”. Trong tư cách nhà thơ, Văn Cao có 64 bài thơ trong tập “Văn Cao tác phẩm thơ”. Nhiều người đã đánh giá rất cao thơ ông. Thái Bá Vân cho rằng “ Có nhiều người sành, nhận xét rằng trong ba thứ đó ( thơ, nhạc, họa-VN), thơ Văn Cao là hay nhất”. Chúng tôi không muốn so sánh nhạc với thơ, nhưng chắc chắn thơ Văn Cao là một lối thơ riêng. Nhận xét của nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo về thơ Văn Cao là xác đáng : “Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ ông thật đến siêu thực. Thơ ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên”.
Đọc bài viết “Mấy ý nghĩ về thơ” do Văn Cao viết năm 1957, thấy rõ khuynh hướng thơ của ông nhất quán từ khi viết bài thơ đầu tiên 1939 cho đến bài thơ viết tháng 8 năm 1994 trước ngày ông đi vào cõi Thiên thai một năm. Văn Cao thừa nhận và khuyến khích sự đa dạng của phong cách thơ : “Có người nói thẳng tới cái vô cùng tận của trời xanh qua cái rộng của biển, cũng có người thấy trời xanh vô cùng tận qua bát nước và cũng có người chỉ nói tới một giọt ánh sáng để tìm thấy cái vô cùng tận của trời xanh. Có người phải tìm con đường lớn mới thấy dấu xe mà có người tìm thấy dấu xe trong một hạt bụi”. Nhưng dù khác nhau, các nhà thơ cũng đều phải “tìm riêng lấy một cách thể hiện”. Tìm riêng lấy một cách thể hiện đó là mong muốn của Văn Cao trong bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào dù là nhạc, họa hay thơ. Chúng ta đã thấy tinh thần cách tân của Văn Cao. Tuy nhiên, có thể thấy ông không cực đoan như nhiều người trẻ bây giờ. Văn Cao mong muốn thơ phải có tư tưởng mới: Chúng ta đã qua một thời kì dài thiên về cảm xúc và một thời kì cảm giác. Cái thời kì thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu không?”. Nhà thơ chỉ yêu cầu thiên về tư tưởng thôi. Nghĩa là thơ vẫn cần phải có cảm xúc, cảm giác, và phải có tư tưởng, đậm nhiều hơn tư tưởng. Và không chỉ có thế, Văn Cao mong muốn thơ không chỉ phục vụ cho hôm nay, mà thơ phải hướng đến “ngày sau”, phải lo đến tương lai. “ Người thành công nhất ngày nay là phải lo đến cái thất bại ngày sau và người lo thất bại ngày nay cũng phải lo đến cái thất bại ngày sau. Nếu không có sự lo lắng đó, một nhà thơ không nghĩ tới trách nhiệm của mình khi viết, hoặc chỉ viết cho người bây giờ mà không có trách nhiệm đến người sau”. Viết lời giới thiệu cho tập thơ Lá Chín của họa sĩ Văn Hải, nhà thơ Văn Cao cũng đòi hỏi “Với bạn trẻ làm thơ, tôi muốn tìm một phong cách mới”.
Để tìm một lối thơ cho riêng mình, Văn Cao không  hầu như rất ít viết  thơ lục bát. Bởi vì nhà thơ biết rất rõ lục bát : “một thể thơ dễ làm và cũng khó làm”, rất dễ bị “nhàm tai” ( Giới thiệu tập thơ Lá chín của Văn Hải, Nxb Văn Học, 1993). Những dòng lục bát  ít ỏi của Văn Cao trong hai bài Đêm ngàn và Đêm mưa rất mới mẻ và  hiện đại:
Vi vu… Rừng lại sang rừng
Xa xôi tiếng đáp cũng ngừng xa xôi
Nương nương qua tiếng đồi đồi
Áo chàm nàng thổ pha phôi sắc chàm – Đêm ngàn
Thuyền vào nằm ngủ trong mưa
Trên con sông vắng lập lờ bóng trăng- Đêm mưa
Ngay  từ những bài thơ đầu tiên xuất hiện trên Thi đàn, Văn Cao đã thể hiện một lối thơ tinh tế, hiện đại như các chủ soái thơ mới bằng cách đem “con mắt của một người hội họa” (chữ của Văn Cao) nhìn cảnh vật và thấu thị sự vật bằng cảm nhận :
Trông qua song cửa : trời vàng úa
Mấy lá bàng rơi nhắc nhở thu!
Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống
Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa – Ai về Kinh Bắc, 1941
Thơ làm hoa lá rung rinh thở
Nhựa ở thân cây se sẽ dâng
Sương ở đầu cành thâm thấm lá
Và dần dần thấm đất vươn xuân – Ngâm thơ, 1942
Nhà văn Vũ Bằng đã rất công tâm  và chính xác khi đánh giá rằng :“ Văn Cao  quả là một người tài hoa có một. Đến lúc Văn Cao nổi tiếng về nhạc và vụ ám sát Đỗ Đức Phin, người ta mới giở lại những bài thơ anh đăng tải trên Tiểu thuyết thứ bảy và một loạt tờ báo khác, và đến lúc ấy người ta mới thấy thơ Văn Cao cũng hay như nhạc của anh. Chẳng qua chỉ vì Văn Cao không quan niệm cái gì là quan trọng, không kéo bè kéo đảng để đưa nhau lên, suy tôn nhau  là thi hào “lớn”, văn sĩ “lớn” nên lúc bước vào làng văn nghệ anh không được quảng cáo nhiều, do đó thơ anh bị chìm”.
Văn Cao đã viết trường ca “ Những người trên cửa biển” năm 1956. Sau này trên thi đàn của ta một độ nở rộ những trường ca. Nhưng có thể thấy Văn Cao đã sớm là một người khai sơn phá thạch ở thể loại này. Nhà nghiên cứu Đặng Tiến cho rằng tất cả các bài thơ sau này của Văn Cao, dù đặc sắc, vẫn là “ những mảnh vỡ”  của Hải Phòng.
Những bài thơ đặc sắc của Văn Cao được mọi người nhắc đến, phẩm bình là  Năm buổi sáng không có trong sự thật,  Những bó hoa, Nguyệt thực, Sự sống thật, Khuôn mặt em, Quy Nhơn, Thời gian, Khúc biến tấu tuổi 65,…
Có biết bao người làm thơ về tháp Chàm, nhưng chỉ đến khi Văn Cao đem con mắt nhìn hội họa thì chúng ta mới có một tháp Chàm độc đáo về kiến trúc trong thơ:
Từ trời xanh
rơi
vài giọt tháp Chàm
quanh Quy Nhơn
Thơ cần thiên về tư tưởng, thì những bài thơ như Những bó hoa, Nguyệt thực,  Chọn, Về một người bạn, Trôi,…chứa đầy tư tưởng trong hình thức cô đúc, ngắn gọn.
Văn Cao mong muốn “Qua một bài thơ, người ta thấy ngay con người của nhà thơ đang sống thực” ( Mấy ý nghĩ về thơ). Không ít các bài thơ dài, ngắn của Văn Cao cho người đọc thấy điều đó.
Bài thơ Có lúc là một ví dụ:
Có lúc
một mình một dao trong rừng không sợ hổ
Có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
Có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được(1963)
Và bài thơ Khúc biến tấu tuổi 65 là một ví dụ khác về cuộc sống của nhà thơ sau những biến cố.
Có thể nói rằng toàn bộ sáng tác thơ của Văn Cao là những tìm tòi không mỏi mệt cho một lối thơ riêng, in đậm dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ đa tài. Giữa những lời tuyên ngôn và hành động sáng tạo của nhà thơ luôn nhất quán. Văn Cao viết thơ cho hôm nay nhưng cũng luôn ý thức viết cho “ngày sau”. Thơ của ông sẽ đồng hành cùng bạn đọc đến tương lai, vì ông đã “tìm riêng lấy một cách thể hiện”, đã “can đảm biết làm nổ để mở đường”.
Chú thích:
* Các trích dẫn trong bài viết đều từ cuốn “Văn Cao tác phẩm thơ”, NXB Hội Nhà Văn, 2013.
17/12/2023
Vũ Nho
Theo https://vanvn.vn/

Theo một lịch sử trốn lính trong tiểu thuyết ''Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín''

Theo một lịch sử trốn lính
trong tiểu thuyết "Từ giờ
thứ sáu đến giờ thứ chín"

Tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của nhà văn Nguyễn Một (NXB Hội Nhà văn, 2023) là sự quy chiếu vào bản thân nó, cả trong cách viết và trong các cách đọc khả thể, rất nhiều văn bản.
Ngay cái nhan đề của tiểu thuyết đã là một liên văn bản, liên văn bản quan trọng nhất, theo cách trích dẫn trực tiếp Kinh Thánh mà nhà văn đặt ở những dòng cuối cùng của tác phẩm: “Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền thờ bị xé ra làm đôi ngay chính giữa” (Kinh Thánh Lc 23, 1 – 49). Cái khoảng thời gian tối tăm trường dạ từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín ấy, chính là biểu tượng của thời gian hủy diệt. Và sự hủy diệt mà Kinh Thánh tiên tri ấy, có thể nói như vậy, đã được Nguyễn Một tìm thấy hồi đáp từ những hình ảnh đau thương điêu tàn trên quê hương đất nước mình, từ những gia đình và những cuộc đời bị vùi dập tan nát của đồng bào mình trong cuộc chiến dai dẳng nhất thế kỷ XX, cuộc chiến mà báo chí phương Tây vẫn thường gọi là chiến tranh Việt Nam.
“Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” là một tiểu thuyết chiến tranh. Nguyễn Một đã kiến thiết sự “viết chiến tranh” của mình chủ yếu dựa trên cái trục là cuộc chạy trốn của nhân vật chính, một chàng trai mới lớn người xứ Quảng tên Sơn, Trần Viết Sơn. Để trốn phải đi lính, trốn phải cầm súng chiến đấu cho cả quân lực Việt Nam cộng hòa lẫn quân đội của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam, từ quê hương Quảng Nam, Sơn đã chạy đến Thủ Biên, thị xã ven đô Sài Gòn. Từ Thủ Biên, Sơn chạy tiếp vào Tây Ninh. Từ Tây Ninh, Sơn quay trở lại Thủ Biên rồi chạy đến Sài Gòn và kết thúc cuộc chạy trốn đúng lúc chính quyền Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ. Chính từ việc dựng lên cái lịch sử trốn lính kéo dài vài năm với đầy những vòng vo này, Nguyễn Một đã tạo được một “viết chiến tranh” rất riêng và ít thấy ở các nhà văn khác. Ví như Bảo Ninh với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, hay Vĩnh Quyền với tiểu thuyết “Mảnh vỡ của mảnh vỡ”, chẳng hạn: hai tác giả này, cũng như nhiều người khác nữa, chỉ có thể nói được điều gì đó về chiến tranh bằng cách tung nhân vật của mình vào chiến tranh, đẩy họ ra chiến trường, bắt họ cầm súng chiến đấu cho phía bên này hoặc phía bên kia. Còn Nguyễn Một lại nỗ lực để nhân vật chính không can dự chiến tranh, và từ cái tình thế không can dự nhưng vẫn bị chiến tranh làm cho khốc hại của chàng trai Trần Viết Sơn, nhà văn đã bộc lộ những hình dung ngổn ngang và sự suy ngẫm nhức nhối của mình về cuộc chiến. Hoặc có thể nói, ông cố gắng tìm kiếm những đáp án cho một câu hỏi: chiến tranh là gì?
Chiến tranh là tàn sát, là hủy diệt cuộc sống ở mọi cấp độ. Từ cuộc sống bình yên của các làng mạc, các gia đình đến sự sống ở trên đời của mỗi cá nhân; từ tình yêu đầy thơ mộng của những lứa đôi đầu xanh tuổi trẻ đến ước mơ tươi sáng về những con đường phía trước của một lớp người lớn lên trong thời chiến, tất cả đều bị chiến tranh chém phập xuống, đứt lìa, hoặc cho nổ tung, vỡ vụn. “Mỗi lòng người một lý lẽ bất an/ Mỗi cái chết có một hình thức khác…”, thi sỹ miền Nam Nguyễn Tất Nhiên từng viết những câu thơ như vậy. Nhưng trong tiểu thuyết của Nguyễn Một thì tuyệt đại đa số các cái chết đều chỉ có một hình thức, đó là chết vì bom đạn. Bom đạn do quân lính hai bên nã vào nhau trong các trận đánh. Nhưng pháo rớt và đạn bay vu vơ, không biết của bên nào, gây nên những cái chết oan khuất bất thình lình của dân thường, cũng có. Đạn bắn ra để trừng phạt hoặc trả thù những người bị coi là “chiêu hồi”, “chỉ điểm” với bên này, hay “che giấu, tiếp tay cho Việt cộng” với bên kia, cũng có. Duy nhất chết sung sướng ở tiểu thuyết này có lẽ chỉ có một người, được nhắc tới khi hồi ức xa xôi dội về, đó là cái chết của ông tú Mại, cụ tổ họ Trần Viết của Sơn: chết gục trên chiếu xóc đĩa ngay khi vừa thua tiếng bạc mất trắng cả ruộng vườn lẫn cô vợ bé xinh đẹp.
Sự sống của tình yêu tuổi trẻ trong chiến tranh cũng mong manh chẳng kém gì mạng người trước bom đạn. Mối tình học trò của Sơn và Diễm – bản thân hai cái tên này đã làm thành liên văn bản với một văn bản “kinh điển” của văn hóa xã hội miền Nam suốt những năm 1960, đầu những năm 1970: nhạc sỹ Trịnh Công Sơn với tình khúc mê đắm trong “Diễm tuyệt hư ảo của những ngày xưa” bất hủ – là như thế. Mối tình của Tâm, sỹ quan quân lực Việt Nam cộng hòa, anh trai của Diễm, với Trang, cũng là như thế. Những tình nhân ấy đã yêu nhau đắm đuối mà không ngờ rằng: “Mỗi đắm đuối chứa một mầm gian ác/ Mỗi đời tình có một thú chia tay…” (thơ Nguyễn Tất Nhiên). Những tình nhân ấy đã không có được nhau trọn vẹn, và những gì mà rốt cuộc họ có được với nhau thì đều phải trả giá bằng một tuổi trẻ đầy nước mắt, bằng những quăng quật bầm dập với đời, bằng những cú đòn chí mạng mà chiến tranh và những dư chấn quá nặng nề của nó giáng xuống trên thân thể và trong tâm hồn họ. Riêng với mối tình của Sơn và Diễm, dường như Nguyễn Một đã dựng lên bằng toàn bộ sức mạnh của phẩm tính lãng mạn trong mình. Ông ướp đôi tình nhân trong những làn gió mát của sông Đồng Nai, trong tiếng chuông và tiếng kinh cầu của ngôi nhà thờ cổ, và nhất là trong hương hoa bưởi nồng nàn mà thanh khiết của đất Thủ Biên. Chính cái mùi hương ấy đã lưu giữ những ký ức đẹp đẽ trong Sơn, để về sau này, trước khi tiểu thuyết khép lại, nó trở nên hóa thiêng với anh. “Sự hóa thiêng của nỗi buồn sương khói”, hay là sự thanh lọc tâm hồn sau bao mất mát, bao biến động mà chiến tranh đã tạo trên đời người.
Chiến tranh là vô lý, vô nghĩa và đầy những lọc lừa, dối trá. Trong chiến tranh Việt Nam, tuy không nhiều, nhưng cũng không quá hiếm những trường hợp mà cha con hoặc anh em trong một gia đình mỗi người lại cầm súng chiến đấu cho một bên. Những oái oăm này từng được nói đến trong tiểu thuyết “Mảnh vỡ của mảnh vỡ” của nhà văn Vĩnh Quyền, hay truyện vừa “Nhiệt đới gió mùa” của nhà văn Lê Minh Khuê. Và ở tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, nó ứng ngay vào gia đình Sơn: bốn anh trai của anh, thì hai người theo cộng sản, hai người theo cộng hòa. Và dù về bản chất chỉ là những người nông dân ngẫu nhiên bị cuốn vào sự đối kháng chứ không phải theo tự do lựa chọn của lý trí, bốn người họ cũng đã nã đạn vào nhau trong một trận đánh lúc nửa đêm. Kết cục thật bi thảm, cái bi thảm của sự vô nghĩa: hai người lính Việt Nam cộng hòa đã thành tử sỹ “tận nghĩa với quốc gia”, một chiến sỹ quân giải phóng thành liệt sỹ “hy sinh vì tổ quốc”; chiến sỹ còn lại thì, như sau này anh tự tiết lộ với Sơn, đã bị mảnh đạn cắt phăng bộ phận sinh dục. Điều kỳ lạ là cái kết cục bi thảm vô nghĩa, cái ngày tàn nghiệt ấy đã được người cha của họ, ông Ruộng, dự đoán ngay từ khi bốn đứa con rẽ theo hai phe đối địch. Chính vì thế mà ông ra lệnh, và đã sắp xếp để Sơn, thằng út, bằng mọi giá phải chạy trốn, có chết cũng không cầm súng chiến đấu cho bên nào. Một lịch sử trốn lính được bắt đầu như thế.
Nhân vật ông Ruộng, có thể nói, là hiện thể cho nhận thức của Nguyễn Một về sự tỉnh táo, trải đời của người nông dân, nhất là người nông dân xứ Quảng, cái mảnh đất mà bên này bên kia cứ ngày đêm cài vào nhau như răng lược, và bên nào cũng có lý lẽ cho quyền được xả súng giết chết kẻ địch của mình. Đọc “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” ta sẽ thấy ông Ruộng cứng cỏi đến thế nào khi bẻ gãy những nỗ lực thuyết phục của anh con trai cả, chiến sỹ quân giải phóng, khi anh xin cha cho Sơn “theo anh em vào rừng”. Và cũng trong tiểu thuyết này, với một nhân vật gốc nông dân xứ Quảng khác – ông Trần Văn Duy, thiếu tá tiếp vụ của quân lực Việt Nam cộng hòa, anh em kết nghĩa của ông Ruộng – cái tinh thần cứng cỏi ấy còn trở nên thẳng tuột đến phũ phàng. Ấy là khi ông Duy phủ nhận lý tưởng “chiến đấu cho miền Nam Việt Nam tự do” của Tâm, con trai ông: “Chiến tranh là gian trá mà. Dân tộc ngu ngốc mới để chiến tranh xảy ra. Chiến đấu cái gì, quê hương cái gì? Vô nghĩa hết. Sự sống quan trọng nhất!”. Sau này, khi nhà văn mượn lời nhân vật Hùng Hippie kể với Sơn: ông Duy vốn làm giàu bằng việc lợi dụng chức vụ để tuồn hàng viện trợ của Mỹ bán cho “những người ở trong rừng”, thì cái quan điểm “chiến tranh là gian trá” mà ông nói ra miệng ấy, vô tình đã tạo thành liên văn bản với một mảng rất rộng các quan điểm tương tự trong văn chương thế giới. Ví như văn hào Pháp Anatole France, với kết luận thản nhiên: “Chiến tranh là một cú áp-phe lớn”. Hay nhà văn Mỹ Joseph Heller, với nhân vật gã sỹ quan hậu cần Milo trong tiểu thuyết “Bẫy 22” nổi tiếng, kẻ chuyên chỉ đạo những chuyến buôn liên lục địa bằng đội máy bay chiến đấu, kẻ sẵn sàng ném bom quân mình và làm ăn với quân địch, miễn là có lời.
“Viết chiến tranh” của Nguyễn Một trong tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” là một cái viết mang đậm âm hưởng bi, song cũng có những lúc hài. Cái hài ẩn lẫn trong cái bi. Đó là khi Sơn, trong cuộc chạy trốn lệnh tổng động viên bắt lính của chính quyền Việt Nam cộng hòa đã từ thị xã Thủ Biên vào đất Tây Ninh, bị quân giải phóng bắt, và sau ba tháng huấn luyện trong rừng anh chuẩn bị được bổ sung vào trung đoàn bộ binh Đông Nam bộ thuộc Trung ương cục miền Nam. Trốn thoát được quân giải phóng, Sơn lại bị cảnh sát Việt Nam cộng hòa bắt khi anh chạy vào Sài Gòn tá túc tại phòng trọ của một người bạn cũ, Hoàng thi sỹ, với tội danh tham gia biểu tình chống chế độ, dù anh chẳng liên quan gì đến việc này. Nỗi trớ trêu đầy hài hước của một người anh hùng nhất định không cầm súng, không chọn phe trong thời chiến có thể là như thế. Và nó càng trở nên trớ trêu và hài hước hơn khi về sau, chỉ cần bằng một lời khai bịa đặt, thì cái quá khứ giải phóng quân và sinh viên biểu tình chống chế độ Sài Gòn lại là điểm cộng để Sơn được thăng tiến nhanh chóng trong chế độ mới. Ở phương diện này, có lẽ Nguyễn Một là một trong số rất ít nhà văn Việt Nam đã bóc trần được cái yếu tính gian trá mập mờ, trắng đen bất định của chiến tranh. Và không chỉ trong thời chiến, nó còn lan sang cả thời hậu chiến, như một hệ lụy tất yếu trên đất nước mà con người đã phải gồng mình chịu đựng biết bao đau thương vì đạn bom và chia cắt.
Bình luận về tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một, nhiều người cho rằng ông đã từ bỏ lối viết hiện thực huyền ảo – như từng thể hiện ở hai tiểu thuyết “Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” trước đó – để viết một tác phẩm hoàn toàn hiện thực, trần trụi hiện thực. Tuy nhiên từ “Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” đến “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, có một yếu tố mà Nguyễn Một luôn kiên định, thậm chí nhấn mạnh như một niềm tin xác quyết, đó là khả năng nhìn thấu và xoa dịu những nỗi đau con người của tư tưởng Thiên Chúa giáo. Có thể nói, tư tưởng Thiên Chúa giáo đã thấm ở phần lõi của cuốn tiểu thuyết chiến tranh buồn này. Nó đọng lại ở nhiều hình ảnh, nhiều phát ngôn, mà sâu sắc nhất, có lẽ là lời than trách mang chức năng cắt nghĩa đến nguyên ủy chiến tranh của nhân vật bà xơ/ dì Thục Hạnh: “Con người chúng ta đã đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời. Chúng ta đọc báo hàng ngày, nhưng mấy ai đọc Kinh Thánh. Chúng ta nghe lời những nhà chính trị mà vì tham vọng đẩy mọi người vào cuộc chiến, chứ mấy ai nghe lời Chúa: “Hãy yêu người như yêu mình ta vậy”, chúng ta đòi hỏi phải để chúng ta tự quyết về cuộc đời của mình như con cái đòi rời bỏ cha mẹ, nhưng khi gặp khổ đau thì gào lên trách cha mắng mẹ”.
Không gian chiến tranh trong tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” nằm trọn ở Nam phần của đất nước thời kỳ còn chia cắt hai miền. Trong không gian chiến tranh ấy, Nguyễn Một đã nỗ lực tái hiện và tái kiến tạo diện mạo đời sống xã hội một thời. Ngoài bom đạn, chết chóc, ly tán, trốn chạy, trong không gian chiến tranh ấy, nhà văn vẫn chừa chỗ, rất rộng, cho thơ và nhạc của hai mươi năm văn nghệ miền Nam Việt Nam, như một sự quy chiếu liên văn bản giàu tính thẩm mỹ. Rải suốt tác phẩm là những trích dẫn thơ của Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn…, những ca từ trong nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nhật Ngân, Đinh Miên Vũ… Tất cả vang lên, khi thì như sự tương hỗ, có lúc lại như tiếng đồng vọng với hoàn cảnh hoặc nỗi niềm của con người thời chiến. Hoặc, từ một phía khác, có thể xem đó như phần nhạc nền đầy ấn tượng của “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, một tiểu thuyết chiến tranh xuất sắc của văn chương Việt Nam trong khoảng hai mươi lăm năm đầu thế kỷ XXI.
17/12/2023
Hoài Nam
Theo https://vanvn.vn/

Nhà văn Như Bình: Sa và đường tới cuộc hẹn với chính mình

Nhà văn Như Bình: Sa và đường
tới cuộc hẹn với chính mình

Khi Như Bình chia sẻ cho tôi về những nhận xét của nhà văn Ma Văn Kháng sau khi đọc xong “Rượu hoa mất trí” của chị, tôi càng tò mò để đọc kỹ truyện ngắn này. Và tôi đã bị chị chuốc cho đến say mèm với truyện ngắn “Rượu hoa mất trí” dự thi trên Báo Văn Nghệ số 48, ra ngày 2.12.2023 rồi, mà rượu chữ của chị vẫn vấn vít tôi không ra khỏi được cơn say. 
Thiên truyện đẹp về miền núi. “Rượu hoa mất trí” được xây dựng trên nền không gian núi rừng kì vĩ. Núi Fansipan chạm đỉnh trời và con sông Mường Hoa tuôn dài như áng tóc dày mềm nhưng nhức của Sa. Vẫn là một đề tài cũ muôn thuở: Chuyện tình và tình tay ba. Thế nhưng phải cao tay và giỏi về thủ pháp, Như Bình mới ung dung tự tại, rủi rải một cách tự tin để kể câu chuyện “xưa như trái đất”. Chị tự tin để mà đi vào lòng người, đánh thức mọi giác quan của người đọc bằng những ám gợi và thao thức hoà quyện trong ngôn ngữ và không khí truyện của chị. Hoa, rượu, váy thêu, khèn, trống, sông, thác, núi, đá, sương ngún… là những “nhân vật” có cá tính đắt trong thiên truyện của chị, đậm đặc tập tục văn hoá vùng cao, là tấm phông nâng đỡ đời sống con người. Mối tình của Sa và hai người đàn ông, hai biểu tượng văn hoá kỳ vĩ của người Mông “khèn” và “trống” mở ra những thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện như một bức tranh thổ cẩm đẹp thấm đẫm những tinh tuý văn hoá của người Mông nơi cổng trời.
1. Chất sử thi: “Rượu hoa mất trí” mang hơi hướng sử thi, vượt trào khỏi khuôn khổ của một truyện ngắn thông thường. Bầu khí quyển vùng cao trong vắt, ngân nga dài như một tiếng chiêng đồng đã cho tôi thoảng giọng kể khan trong ngôi nhà bên bếp lửa của già làng. Truyện mở ra núi đồi sừng sững, vách đá cheo leo, bầu trời trong xanh, suối sâu thăm thẳm và khói lam tuyền như một áng mây màu thiên thanh quấn quýt mỗi nếp nhà vào những khoảnh khắc chiều rơi. Giữa đại ngàn tráng lệ,  âm vang, khát vọng tâm hồn con người gửi qua tiếng khèn, tiếng trống điêu luyện, kì tài; sự việc chết đi, sống dậy rồi lại trở về với đất của Sa đã điền đầy vào sự man ru, phủ một tấm màn bí ẩn, khiến câu chuyện càng có tính sử thi, mang vẻ đẹp huyền bí.
Đặc biệt là cách tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh và điệp ngữ để khắc họa nhân vật, đậm đặc văn hóa vùng cao: “Mày ngu như con chó rừng, mày si như con nhím đầy gai, mày gan như con cóc núi, mày chậm như con sên hang, mày đần như con bò rừng”, “mày nhảy sung như bò tót, mày lắc lư đầu như sư tử, mày múa trống như con công múa điệu tìm bạn tình. Mày uống rượu hoa bà Sa ủ, tay mày khoẻ như cánh tay con vượn trong rừng già, chân mày nhanh như chân con hoẵng tơ”. “Tiếng trống như thác trên đỉnh Fansipan đổ ào xuống. Như con vực ngầm cuộn trào mùa lũ ống, như dòng Mường Hoa rì rào buổi chợ xuân”. Màn đánh trống và thổi khèn trong “Rươụ hoa mất trí” của Như Bình được mô tả bằng những phút xuất thần. Văn Như Bình giàu hình ảnh, chất thơ. Độc giả như lạc vào không khí cổ xưa, thuở bình minh của loài người. Tạo ra sự lạ lẫm, cách ngắt nhịp, giọng điệu sử thi đặc trưng, đem đến cho nhân vật và thiên nhiên chiều kích phi thường.
2. Âm hưởng dân gian: Văn đẹp như thơ, truyện đầy chất dân gian, cho dù là người đàn bà xứ cát trắng, nhưng Như Bình lại cho tôi cảm giác chị là đứa con của núi đá, của mù sương. Không thế tại sao chị nhập nhuyễn vào không gian văn hóa vùng cao đến vậy. Nơi con người sống giữa hoang vu, thanh sạch, yêu ánh sáng, thích tự do và mượn tiếng hát để bộc bày tâm trạng. Lời của Sa khi xuống chợ tình đã cho người đọc hình dung một câu chuyện:
“Con hoẵng trốn sương
Con hoẵng trốn trăng
Con hoẵng trốn nắng
Con hoẵng nhớ bạn
Xuống thung tìm ai”
Và lời của Si – chồng Sa khi xuống chợ đón vợ trở về cũng mở ra một biển mênh mông bi kịch tình yêu, buồn mà đẹp.
“Núi vắt dải mây hồng
Móng ngựa gõ mông lung
Thung buông tấm lụa lam
Gập ghềnh núi gọi núi
Hoa tớ dày như mưa
Phủ hồng khắp mọi lối
Hoa Lềnh si đỏ chói
Giăng đèn lồng trên cây
Người cũ anh không có
Lủi thủi đi trong mây”
Lẽ ra, người đàn ông giữ tiết như Si, tài hoa và thuỷ chung như Si, yêu vợ đến tận tuỵ, quên bản thân như Si, xứng đáng có một người vợ cũng yêu mình đẹp như Sa, tận tuỵ với chồng như cách Sa đi hái hoa ủ rượu, và nồng nã với mình như khi Sa giã lanh dệt vải, thêu váy. Nhưng lẽ đời, tình yêu đi liền với nỗi đau. Vì thế khúc tình tự của Si cũng mang giá trị của một vết thương tâm. Cái tài tình của Như Bình là dựng nhân vật qua một ít ngôn ngữ, nhưng các nhân vật sống động và gây ám ảnh lâu dài, họ có thể không rõ mặt nhưng rõ trái tim, rõ tâm hồn, tính cách. Cả nhân vật chồng Sa là ông Si, và nhân vật người yêu cũ của Sa là Thào Mông thấp thoáng với màn đánh trống gây bừng thức mọi giác quan của người đọc đều đặc sắc, đủ để độc giả phải thốt lên rằng họ xuất hiện trong đời Sa hay thế, lạ lùng thế. Như Bình để cho hai người đàn ông xuất hiện trong đời Sa gặp nhau cuối thiên truyện thật bất ngờ. Cuối cùng cái thứ rượu hoa một đời Sa ủ để tìm Thào Mông trao cho người đàn ông trong mộng của Sa nhưng không gặp. Khi người Thào Mông chạm môi vào rượu hoa của Sa thì hồn Sa cũng đã về trời. Rươụ Hoa lúc này vừa đắng vừa đau, muốn uống quên hoá ra lại uống nhớ:
“Rượu vò đã chín
Ủ mấy mùa trăng
Rượu vò đã thơm
Ủ mùa sương ngấu
Mày uống càng nhớ
Mày uống càng quên
Rượu như tình cũ
Uống vào nhớ thêm”
Đưa những đoạn thơ đầy tính dân gian, sử thi vào truyện, Như Bình đã dựng nên một không gian văn hoá miền núi vùng cao Tây Bắc đẹp thấm đẫm hồn người.
3. Sương, Hoa và Rượu cũng là những nhân vật sống động: Ba chi tiết nghệ thuật trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm, đẹp đến ám ảnh là: Sương, Hoa và Rượu là những nhân vật điển hình của người Mông. Như Bình đã nhân hóa, khiến chúng cũng là những nhân vật rõ tính cách mang đầy tâm trạng. Trong sự liên tưởng của tôi, sương và hoa đó là nước mắt và nhan sắc đàn bà. Rượu là tình yêu. Tác giả đã trao sinh mệnh cho sương, hoa, rượu, trao cho họ đời sống phập phồng. Sa bước vào tác phẩm cùng với làn sương thiên di. Bắt đầu là “nắng xé sương rắc bụi vàng trên đám lá cây rừng”- thiếu phụ Sa trong cơn “no tình”. Khi bước chân trên nẻo đàn bà chênh vênh, sương sa xuống đời Sa “đêm đã ngún sương khắp lối đi. Sương thập thò từng mảng như bông gòn rơi lơ lửng trước mặt, ngỡ thò tay vốc được từng nắm. Sương đã bò kín lổm ngổm lên bậc cầu thang”. “Sương trắng trời đêm, sương sà từng đụn, từng đụn bay la đà bâu kín lấy căn nhà sàn. Sương bay vào bếp đòi dụi tắt nốt những ngún than hồng”. Đời Sương cũng như đời Sa, rực rỡ thiếu nữ rồi già và tàn lụi. Qua một phiên tình, “Sa nhẹ như dải sương héo”. Sa chết “nỗi đau theo sương mà rớt xuống chân” Si.
Hoa là thứ cùng với nước mắt của núi Fansipan chưng cất thứ “rượu hoa mất trí”. Dưới ngòi bút huyền ảo của Như Bình, những đóa hoa rừng thi nhau tỏa hương: hoa hồng, hoa tớ dày, hoa lềnh si buồn thổn thức … mỗi loài mỗi vẻ, vẽ trọn vẹn nhan sắc Sa và vẻ đẹp miền núi cao Tây Bắc. Hoa là khuôn mặt, vóc hình và tâm hồn Sa. Đóa hoa ấy đi qua bao cơn vọng tưởng, tận tụy với gia đình, mê mải theo đường thêu nếp váy rập rờn, đến nỗi bướm ong tìm đến hút nhụy. Hoa táp sương trên nẻo đến phiên chợ tìm người tình mong đợi. Để rồi đường về năm nào của Sa cũng là cơn say đến héo mòn, vắt ngang lưng ngựa như một dải hoa kiệt cùng.  “Cái mỏm đá bằng phẳng dưới cây lềnh si, bên dòng sông Mường Hoa mòn vẹt lõm đúng một chỗ ngồi. Gốc cây tớ dày bên cạnh cây lềnh si cũng bóng sờn lên một đường thẳng đứng chỗ bà Sa buộc ngựa. Bà ngồi cho đến khi hoa tớ dày phủ hồng lên trên người như phủ một nấm mồ hoa”. Vừa câm nín, khát thèm, lại giữ gìn, u uẩn. Cả trong cơn say ngủ hay khi sinh mệnh đã bị số phận rút cạn kiệt, Như Bình đều “chôn” Sa trong ngôi mộ hoa. Người đàn bà đẹp, đến cả khi chết đi rồi vẫn lộng lẫy trong tàn phai rực rỡ. Một bóng hoa đi vào tình yêu, tạ từ cõi nhân gian vẫn mang vẻ đẹp mà tạo hóa trổ bằng “nét mong manh thấp thoáng cánh hoa bay”.
Rượu cũng chính là Sa. Sa là một vò rượu mà “Trai gái ngày hợp cẩn, uống rượu hoa bà Sa ủ, như uống mật ngọt hạnh phúc. Rượu hoa làm cho tình yêu lên hương, trai gái bện hơi, sinh con đẻ cái, thương nhau, trọng nhau, tri kỉ suốt đời. Nhưng người nào đau tình, uống được một ngụm rượu hoa của bà Sa thì sẽ quên hết mọi kí ức phiền muộn. Uống được một chén rượu hoa của bà Sa thì cả gương mặt và hình hài người mình muốn quên đi bỗng dưng tan biến mất như là một hơi rượu. Uống thêm chén nữa, thấy trong trẻo tâm hồn, yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống mến thương”.
Sương, rượu, hoa hay là Sa thì họ đều là những tinh tuý trong đời sống của người Mông, yêu tự do, sống mãnh liệt đầy khao khát, dù đôi khi họ cũng lầm lạc, ảo tưởng trong tình yêu. Sa hiện thân của những người phụ nữ Mông, sống chỉn chu với thân phận, tôn trọng gia đình nhưng vẫn đề cao tự do, quyền được tôn trọng bản thân. Sa đàn bà hơn tất cả những người đàn bà. Tuổi trẻ phập phồng và cũng ngây thơ lầm tưởng. Những vương vấn ảo diệu với tình đầu sau tà áo mỏng đã mãi  nhịp thổn thức trong trái tim Sa. Để thảng hoặc trong những chợ phiên tình tự, Sa vẫn dốc hết thẫn thờ cho miền tuổi trẻ trong veo ấy. Nhưng ra khỏi phiên chợ, tình cũ chôn cất tận đáy huyệt đàn bà.
Sa chết như bi kịch tình yêu, tưởng thế mà không phải thế. Biểu tượng cho nét văn hoá phụ nữ Á Đông: thủy chung, khát vọng, cuồng nhiệt, mất mát, gìn giữ đấy lại muốn bứt phá đấy. Thân đàn bà, dù đến tận cùng vẫn co tròn trong bổn phận. Chỉ dám khóc niềm khao khát cháy hết mình chỉ bằng một cơn say mà thôi. Sa đẹp cả hồn lẫn xác, như một thứ rượu quý cất bằng muôn loài hoa giữa vách đá cheo leo, chưng bằng phẩm hạnh đàn bà. Tình yêu hay cái đẹp đều mong manh, sinh mệnh ngắn ngủi vô thường. Vì quá đẹp, đã đầy luyến ái, Sa như một kiểu nhân vật vẽ bởi hiện thực và hư ảo. Hai thứ đó nhập nhòa làm một, khiến Sa của Như Bình như một làn sương, một hương thơm. Thứ vưu vật ấy chỉ có thể cảm nhận được bằng sự tinh tế. Vì thế Sa chính là rượu nhân gian, thứ men lử để khi nhấp, bất kì ai cũng tưởng ra một thế giới đẹp như chiêm bao, lại xót đau như dao cứa. Dưới ngòi bút Như Bình, Sa được khai sinh, được sống và yêu, được lầm tưởng và đau nhớ. Âu cũng là lẽ hạnh phúc đương nhiên rất đỗi đàn bà. Sa cho tôi uống say từng giọt chữ Như Bình.
4. Chất liêu trai của bút pháp hiện thực huyền ảo: Con chữ Như Bình đã phủ một lớp mơ màng, đem đến cho thiên truyện chút phảng phất liêu trai. Bước ra từ đó, Sa rất vùng cao, lại thật đồng bằng, ngợp hương rừng lại nao nức phố phường. Sa là cơn cớ, thân phận đàn bà. Khi đọc, tôi như thấy giọt lệ Sa đang cay trong khoé mắt mình. Sa sống thơm như hoa khai, “chết đẹp” như hoa rũ, giữa váy áo, hương hoa và giọt lệ đàn ông của Si, trong tập tục cúng lễ của văn hóa vùng cao. Nhưng dường như Sa chưa dứt khỏi sinh mệnh, vì tình yêu với người xưa như một sợi dây, neo Sa lại bến trần gian. Chỉ khi người Thào Mông xuất hiện, dưới cánh tay săn đầy, tiếng trống lật tung kí ức, Sa đã đi cơn rực rỡ cuối cùng của tuổi trẻ, nàng nhảy múa như chưa hề sống trong thân phận hôn nhân, tựa hồ tuổi trẻ đang phập phồng bừng thức dưới vòm ngực căng. Khoảnh khắc như là đầu tiên, tựa hồ cuối cùng, duy nhất ấy đã cho Sa thỏa cơn khát mộng. Nhưng cuối cùng, trong cuộc hẹn với chính mình, Sa mới nhận ra người đáng cho Sa yêu cả cuộc đời chính là chồng Sa. Người Sa tưởng đã yêu cả cuộc đời là Thào Mông hoá ra lại không phải. Sa yêu chồng mà quên mất mình yêu. Sa yêu chồng mà lầm tưởng là vẫn yêu người cũ. Như Bình cao tay khi viết nên câu chuyện tình muôn thuở của ba người, tưởng đấy mà không phải đấy, thực mà hoá ra mộng…và tỉnh cơn mộng mới nhận ra mình thuộc về ai. Viết đến đây tôi liên tưởng tới tựa đề cuốn sách mới ra mắt của diễn giả Từ Huy: “Sống là đang trên đường tới cuộc hẹn với chính mình. Điểm hẹn chính là đường chân trời, là ranh giới của các mảnh không thể hợp nhất của bản ngã”.
“Rượu hoa mất trí”, đã đưa độc giả nhập vào lô xô núi đá, thăm thẳm đại ngàn, một bức vẽ về văn hoá vùng cao mà nhân vật trung tâm là người phụ nữ. Truyện đẹp như một đoá hoa trổ trên vách đá, ngôn từ chắt ra từ những mảng màu của đời sống, thơ ca, hội họa, cảm hứng nhân văn và âm hưởng vùng cao, chất liệu hiện thực ngồn ngộn. “Rượu hoa mất trí” của Như Bình là yêu thương, cảm thông của người đàn bà viết với vẻ đẹp và thân phận đàn bà, lại như một sự trân trọng và xót tiếc, thông điệp bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần vùng cao. Không hề quá lời khi nói rằng, truyện của nhà văn Như Bình, dù chỉ dăm trang giấy nhưng tựa như một bảo tàng về nhịp sống văn hoá và con người, thiên nhiên vùng cao. Giữa thời buổi, có quá nhiều thực đơn ăn nhanh, đó là một điều đáng để độc giả trân trọng.
Viết đến đây tôi lại nhớ lại lời của nhà văn Ma Văn Kháng khi ông đọc truyện ngắn “Rượu hoa mất trí” và nhắn cho Như Bình: “Trời! Một chuyện tình thấm đẫm hương hoa, mùi rượu, tiếng trống, tiếng khèn run rẩy và da diết, xốc xáo cả tim gan con người. Yêu quá con người chưa phân thân còn nguyên khối chân tình giữa không gian nguyên thuỷ ngát hương mộc mạc tinh khiết đến cùng. Truyện hay từng chi tiết câu văn. Tài tình quá Như Bình ơi”. Xin phép nhà văn Ma Văn Kháng cho tôi được trích dẫn nhận xét này thay cho lời kết của bài viết như một tặng thưởng cho truyện ngắn mới của chị, dẫu khi ra đời, mỗi truyện ngắn dù đời sống dài hay ngắn, thì bản thân nó đã có một định mệnh riêng rồi.
6/12/2023
Hoa Đỗ Quyên
Theo https://vanvn.vn/

Bàn thêm về truyền thuyết cội nguồn dân tộc

Bàn thêm về truyền
thuyết cội nguồn dân tộc

Bài viết tập trung làm rõ thêm về truyền thuyết cội nguồn dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở nguồn tư liệu khai thác được, tác giả lý giải một số nội dung, góc độ về cội nguồn dân tộc ta từ câu chuyện kể về vua Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân với Âu Cơ đến các Vua Hùng. Từ đó, đề cập đến vùng đất Tổ ở Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) với tục thờ cúng Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các vua Hùng nơi đây.
Theo huyền sử, dã sử, các truyền thuyết, thần thoại, và truyện kể dân gian thì con cháu người Việt có nguồn gốc tổ tiên họ Hồng Bàng. Người Việt xưa lưu truyền nhau nối đời câu chuyện về mối tình lịch sử đầy lãng mạn giữa Lạc Long Quân với nàng Âu Cơ. Từ cuộc hôn nhân lịch sử này đã tạo ra nói giống người Việt gắn mới mối liên hệ con cháu Lạc Hồng. Từ đó, các thế hệ về sau suy tôn Hùng Vương – người con trai trưởng của Lạc Long Quân với Âu Cơ làm Quốc Tổ. Cũng từ đây, vùng đất Phú Thọ được xem là đất Tổ của dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, khi chúng ta lùi xa hơn về thời gian lịch sử, nhiều quan niệm nhắc đến vị thủy Tổ đầu tiên của người Việt là Kinh Dương Vương. Đồng thời, vùng đất Hà Tĩnh ngày nay được xem là nơi lưu giữ dấu tích tổ tiên Lạc Hồng.
1. Hiểu thêm về truyền thuyết cội nguồn dân tộc
Nguồn tài liệu thư tịch sớm nhất của nước ta ghi chép về họ Hồng Bàng và Kinh Dương Vương là cuốn Lĩnh Nam chích quái. Ở phần Tiểu truyện sách này có viết: “Đế Minh, cháu ba đời họ Viêm đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, lấy con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh, phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường ngôi cho anh. Đế Minh liền lập Minh làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc. Lại phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ”(1).
Câu chuyện này được nhiều nhà sử học như Phan Huy Chú, Ngô Sỹ Liên, Ngô Thì Sỹ, các sử thần nhà Lê, Quốc sử quán triều Nguyễn… chấp thuận và ghi chép tương tự ở nhiều công trình sử học quốc gia như: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Đại Việt sử ký tiền biên, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục… Nhiều nhà sử học và người xưa đều xem Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước ta.
Như vậy, Kinh Dương Vương là tên hiệu của Lộc Tục khi được vua cha Đế Minh cho cai quản đất phương Nam. Ở đây, Vua ngoài sự đoan chính, đức tính thông minh, phúc hậu thì còn là con người biết khiêm nhường, lễ độ, không tham lam. Bởi vì khi được vua cha tỏ ý nhường ngôi thì Lộc Tục liền từ chối, cố nhường cho anh cả là Đế Nghi.
Trên cơ sở nguồn tư liệu cổ và dấu tích khảo cổ học thì nước Xích Quỷ do Kinh Dương Vương cai quản ban đầu bắt nguồn từ hồ Động Đình (vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc ngày nay) đến Hà Tĩnh tiếp giáp với Quảng Bình. Trong quá trình cai quản vùng đất phương Nam, Kinh Dương Vương lựa chọn vùng đất Hà Tĩnh làm kinh đô quốc gia mới. Phần này tác giả sẽ viết thêm ở mục sau.
2. Hiểu thêm về câu chuyện tình giữa Lạc Long Quân với Âu Cơ
Tư liệu cổ có viết rằng: “Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước”(2). Như vậy, Lạc Long Quân là con trai đầu của mối tình giữa Kinh Dương Vương với con gái Long Vương ở hồ Động Đình. Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên thì bà tên hiệu là Thần Long(3).
Theo các truyền thuyết, thần thoại, huyền sử cũng như cuốn Lĩnh Nam chích quái và nhiều bộ quốc sử sau này đều nhận định Lạc Long Quân đã lấy nàng Âu Cơ. Kết quả cuộc hôn nhân lịch sử mang tính quyết định này là nàng Âu Cơ mang thai một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra một người con: “Lạc Long Quân kế tiếp họ Hồng Bàng, lấy con gái họ Âu Lạc có điềm lành sinh ra trăm con trai, tổ của Bách Việt thực sự bắt đầu từ đấy, hưởng nước lâu dài, giàu có sống lâu và nhiều con trai, từ xưa tới nay chưa từng có vậy”(4).
Cùng chung sống với nhau ở nước Xích Quỷ một thời gian, bỗng nhiên một hôm vua bảo với Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về biển Nam Hải”(5). Theo logic của truyền thuyết thì điều này là hợp lý. Bởi vì tiên từ trên trời xuống núi, còn rồng thì chỉ có đủ sức mạnh và quyền uy khi ở dưới nước.
Sau cuộc chia tay quyết định đó, mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên ở đất Phong Châu (thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay). Họ đã “cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang”(6). Điều này cho thấy ngay từ đầu, trong tâm thức và văn hóa, văn minh của người Việt thì người phụ nữ đã là một nửa giang sơn. Vì vậy, không thể nói ngày xưa thân phận người phụ nữ không được xem trọng. Bởi ngày xưa ấy là ngày xưa ở thời điểm này!
Sử gia Ngô Thì Sỹ có viết: “Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban đức ban ơn vỗ về dân chúng, chuyên nghề làm ruộng nuôi tằm, không lo tới việc binh đao chinh chiến”(7). Tương truyền các vua Hùng truyền ngôi nối nhau được 18 đời, sau đó thì bị mất nước vào tay Triệu Đà.
Công cuộc dựng nước và giữ nước suốt 18 đời vua Hùng được đề cập khá nhiều trong các truyện kể dân gian, truyền thuyết như Bánh chưng bánh dầy, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, Trầu cau, Dưa hấu… Những câu chuyện này giống như bộ sử dân gian, vừa đượm màu sắc huyền thoại vừa chứa đựng những cốt lõi lịch sử. Sau này, nhiều công trình sử học nước ta có đề cập cụ thể, thuyết phục hơn về thời các vua Hùng. Tiêu biểu có các sách như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…
Trên cơ sở đó, vùng đất Châu Phong được xem là đất Tổ của các vua Hùng. Nhiều quan niệm dân gian, tín ngưỡng bản địa cũng như tín ngưỡng dân tộc đều xem Hùng Vương – người con trai cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ là Quốc Tổ dân tộc ta.
3. Hà Tĩnh với tục thờ cúng Vua Hùng và các Thủy Tổ dân tộc
Ngược dòng thời gian trước thời các vua Hùng dựng nước, chúng ta thấy cội nguồn dân tộc bắt đầu từ cha rồng Lạc Long Quân với mẹ tiên Âu Cơ và xa hơn là Kinh Dương Vương. Theo nhiều tư liệu cổ sử thì cả 3 vị Thuỷ Tổ này từng ở vùng đất Hà Tĩnh và lập kinh đô tại đây. Sau cuộc chia tay giữa Lạc Long Quân với Âu Cơ thì 50 người con mới cùng mẹ lên vùng núi Phong Châu (Phú Thọ).
Bởi vậy, trong tâm thức người Việt cổ cũng như quan niệm dân gian vẫn xem Hà Tĩnh cũng là vùng đất Tổ của dân tộc hay là cái nôi của tổ tiên Hồng Lạc. Nơi đây, vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương đã cho dựng kinh đô của đất nước thuở đó.
Tương truyền, từ buổi đầu dựng nước, phải tìm đất định đô, Kinh Dương Vương đã hướng vào vùng đất Hồng Lĩnh. Từ trên đỉnh núi cao nhìn xuống, nhà vua nhìn thấy nơi đây núi dăng thành lũy, khe chảy thành hào. Non thì đủ cao, sông cũng đủ sâu, đồng điền đủ rộng. Con người khả dĩ có thể tự làm lụng để nuôi sống lâu dài. Phóng tầm mắt ra xa, phía đông có đại dương muôn trùng sóng cả, phía tây lại có núi non điệp trùng, khi tiến có thế công, khi thoái có thế thủ. Đây là điều lợi thế bậc nhất cho một vương triều khi mới sơ khai định đô. Với tầm nhìn bao quát càn khôn đó, Kinh Dương Vương đã chọn đây làm nơi dựng đô. Sau đó, để định chính đô giữ vững giang sơn, cơ nghiệp rộng lớn, Kinh Dương Vương đã thiên di ra vũng núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) rồi cử Lạc Long Quân trấn giữ kinh thành. Từ đó, Ngàn Hống không còn là kinh đô của đất nước. Tuy nhiên, những dấu tích về một thiên truyện thần kỳ trên dãy núi Hồng 99 ngọn vẫn còn lưu mãi trong tâm thức dân gian.
Trong cuốn Đại Việt sử ký tiền biên, tác giả Ngô Thì Sĩ có nhận định rằng: “Kể từ khi Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng nối dòng dõi vua Thần Nông, lấy con gái vua ở Động Đình đã làm sáng rõ đạo vợ chồng, làm đúng đắn nguồn gốc phong hoá. Vua thì lấy đức cảm hoá dân, chỉ rủ áo chắp tay; dân thì cày ruộng đào giếng, sớm làm tối nghỉ, đấy là phong thái cổ thời Viêm đế chăng?”(8)
Trải qua hàng trăm ngàn năm với sự khắc nghiệt của tạo hóa, sự biến động của lịch sử mà đa số các di tích, dấu tích thời Kinh Dương Vương dựng nước ở dãy Hồng Lĩnh dần bị phai mờ, thậm chí còn phế tích và biến mất. Song, với đạo lý Uống nước nhớ nguồn, ý thức về văn hóa tâm linh, cội nguồn bằng tinh thần bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa, chính quyền và nhân dân địa phương đã đóng góp công sức để khôi phục, tôn tạo lại dấu tích tổ tiên. Nhờ đó, ngôi cổ tự chùa Đại Hùng được dựng lại khang trang trên dãy Hồng Lĩnh.
Điểm khác biệt lớn nhất của chùa Đại Hùng so với các chùa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là chùa không chỉ là nơi để mọi người dâng hương niệm Phật vào các ngày lễ trọng của nhà Phật, mà hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ Tổ Hùng Vương, toàn thể nhân dân địa phương và vùng phụ cận như Can Lộc, Nghi Xuân, Đức Thọ, tỉnh Nghệ An… đều đến đây để dâng hương tưởng niệm vị Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các vua Hùng. Theo thống kê chưa đầy đủ thì chùa Đại Hùng là một trong 1.417 di tích có thờ cúng các vua Hùng trên cả nước và là điểm thờ các vua Hùng duy nhất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Một nét khác biệt nữa là chùa Đại Hùng ngoài thờ cúng các vua Hùng thì đây còn là nơi hiếm có thờ cả Quốc Phụ Lạc Long Quân, Quốc Mẫu Âu Cơ và Thủy Tổ Kinh Dương Vương. Mặc dù đây là một thiết chế Phật giáo nhưng Nhân dân quanh vùng đã cộng hưởng huyền sử Kinh Dương Vương định đô trên dãy Hồng Lĩnh kết hợp quan niệm “đất của vua, chùa của làng” nên họ đã gắn tín ngưỡng dân gian thuần Việt thờ cúng Tổ tiên với đạo Phật. Đây cũng chính là một nét độc đáo, là sự khẳng định giáo lý nhà Phật có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Việt Nam.
Điều này cũng cho thấy tổ tiên luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh và tình cảm của Nhân dân, bất kể là người theo tôn giáo hay không. Những hoạt động tâm linh, tình cảm của người dân nơi đây đối với vị Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các vua Hùng luôn có sức sống mãnh liệt, bền bỉ, vượt cả không gian và thời gian.
Những ngày đầu tháng 3 âm lịch hàng năm, các gia đình quanh vùng đã tập trung về chùa dọn dẹp, sơn quét, tu sửa các hạng mục thờ tự để chuẩn bị cho ngày dâng lễ. Vào các ngày từ mùng 5 đến đúng ngày mùng 10 tháng 3, mỗi ngày đều có hàng trăm nghìn lượt khách từ các huyện, tỉnh bạn đến chùa dâng hương. Đến lễ giỗ chính thức, có đến hàng vạn người tham gia rất trang nghiêm. Lễ vật mọi người đến dâng chủ yếu các sản phẩm nông nghiệp như bánh chưng, bánh tét, hoa quả…
Tuy là nơi thờ Phật nhưng không chỉ có tín đồ, phật tử mà bà con không theo Phật cũng đến để dự lễ giỗ Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các bậc vua Hùng. Họ dâng nén tâm hương hướng về cội nguồn dân tộc, hướng về vùng đất Tổ Phú Thọ bằng tất cả tấm lòng tri ân, thành kính và cầu mong cho đất nước được thanh bình, thịnh vượng.
Điều hành chính lễ đều do các sư tăng, đại đức thực hiện. Bài văn tế ca ngợi công lao dựng nước của vị Thuỷ tổ Kinh Dương Vương và các bậc vua Hùng được các bậc túc Nho trong vùng soạn thảo rất trau chuốt, thể hiện sự trân trọng và tri ân đối với các bậc tiền nhân có công dựng nước.
Hiện nay, lễ giỗ Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các bậc vua Hùng đang được chính quyền địa phương tập trung nghiên cứu và khôi phục các giá trị truyền thống của cha ông. Quá trình này được thực hiện với phương châm “gạn đục khơi trong” để lễ hội truyền thống này thực sự là sản phẩm sáng tạo của Nhân dân và do Nhân dân tổ chức thực hiện.
Vượt ra khỏi không gian tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, bên kia dòng Sông Lam thì Nhân dân Nghệ An cũng thực hiện lễ giỗ Tổ Hùng Vương đều đặn hàng năm. Có lẽ từ thuở trước, Hà Tĩnh với Nghệ An từng là một vùng đất chung thuộc bộ Cửu Đức, rồi trấn tỉnh Nghệ An. Mãi đến năm 1831, cuộc cải cách của vua Minh Mệnh mới cắt đất Hà Tĩnh ra hẳn làm một tỉnh với tên gọi như hiện nay.
Trong không gian địa lý, hành chính chung suốt hàng trăm ngàn năm đó, một số địa điểm trên đất Nghệ An cũng thờ cúng và làm lễ Giỗ các Vua Hùng rất chu đáo. Tiêu biểu là chùa Đại Tuệ ở Nam Đàn, cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, đông đảo nhân dân quanh vùng thường về chùa để dự lễ rất trang nghiêm. Vào dịp đầu xuân, một số ngôi chùa trong tỉnh làm lễ cầu Quốc thái dân an, xin mưa thuận gió hòa đều có nghi lễ thờ cúng Quốc Tổ riêng được chuẩn bị rất công phu và do các bậc cao tăng thực hiện.
Chú thích:
(1) Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hoá, H. 1960, Tr. 21 – 23.
(2) Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hoá, H. 1960, Tr. 21 – 23.
(3) Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013, Tr. 44 – 45.
(4) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1997, Tr. 29.
(5) Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013, Tr. 45.
(6) Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hoá, H. 1960, Tr. 21 – 23.
(7) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1997, Tr. 29.
(8) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1997, Tr. 29.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Giáo trình Lịch sử Việt Nam cổ – trung đại, Nxb Đại học Vinh, 2019.
2. Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013.
3. Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1997.
4. Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hóa, H. 1960.
5. Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Nxb Khai trí, 1961.
20/12/2023
Nguyễn Tài
Nguồn: Văn hóa Nghệ An
Theo https://vanvn.vn/

Trịnh Hoài Đức công thần nhiều công đức

Trịnh Hoài Đức
công thần nhiều công đức

Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Trịnh Hoài Đức, phần lớn viết về thời hiển đạt, ít có tài liệu nêu rõ về nguyên quán, tuổi thơ của ông. Trịnh Hoài Đức (có tên khác gọi là An, tên tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai), tuổi “con gà”, sinh năm Ất Dậu (năm 1765), mất cũng năm Ất Dậu (năm 1825), nguyên quán ở làng quê nghèo Phúc Hồ, thuộc quận Trường Lạc (nay thuộc TP. Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến), nơi nhìn ra eo biển Đài Loan.
Cuộc đời của Trịnh Hoài Đức có thể chia thành hai chặng: Tuổi thơ bình dân và trưởng thành vinh hiển.
Thân phận bình dân
Thế kỷ XVIII, ông nội Trịnh Hoài Đức là Trịnh Hội theo đoàn người Hoa phản Thanh phục Minh vượt biển vào Đàng Trong, ngụ cư tại vùng đất mới (do Nguyễn Cảnh định danh là xã Thanh Hà, thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa); lúc đầu thử làm gốm da chu, sau làm nghề buôn bán, dần trở nên khá giả.
Cha Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh ham học, nổi tiếng là chữ đẹp và cao cờ; lúc nhỏ học thi thư, lớn lên thông lục nghệ, bỏ tiền của mua được chức quan nhỏ trông coi việc thu thóc; vì để thóc chìm nên bị quan trên chuyển xuống cho làm lại tốt ở đội Tả phùng dực, rồi đến kinh đô Phú Xuân nộp tiền để nhận áo mũ hàng lục phẩm và nhận việc ở phủ Tân Bình, mang gia quyến đi theo.
Riêng Gia định Thành thông chí, Trịnh Hoài Đức biên soạn trong thời gian đương nhiệm tại Gia Định (không rõ cụ thể từ năm nào) gồm 6 quyển: Quyển I: Tinh dã chí; Quyển II: Sơn Xuyên chí; Quyển III: Cương vực chí; Quyển IV: Phong tục chí; Quyển V: Sản vật chí; Quyển VI: Thành trì chí. Đây được xem là bộ sách kinh điển về địa phương Nam bộ, hiện đã có nhiều bản dịch; những người nghiên cứu lịch sử văn hóa Nam bộ đều có căn cứ từ đấy với lòng tin phục về tài năng, tâm huyết và phương pháp khoa học của học giả Trịnh Hoài Đức.
Thời gian ở phủ Tân Bình với cha, Trịnh Hoài Đức học hành trong vòng tay mẹ và chỉ dẫn của thầy giáo làng dạy ấu học trong vùng.
Đến năm lên mười tuổi, Trịnh Hoài Đức mồ côi cha, theo mẹ và anh chị về chỗ ở cũ tại xã Thanh Hà để phụng dưỡng bà nội. Nhiều tài liệu có khác nhau sau sự cố này. Lê Quang Trường cho rằng Trịnh Hoài Đức theo mẹ về lại Biên Hòa, sống đời dân dã. Từ năm 1776, quân Tây Sơn đánh chiếm Trấn Biên, mẹ Trịnh Hoài Đức lại đưa cả nhà đến trấn Phiên An, lưu ngụ tại huyện Tân Long, sống nhờ nghề canh cửi của người mẹ quả phụ. Dù nghèo khó, kiếm sống vất vả trong loạn lạc, mẹ Trịnh Hoài Đức vẫn luôn nghiêm nghị, khuyên dạy và dồn sức cho Trịnh Hoài Đức theo thầy học tập.
Trong thôn xóm, trẻ thiếu thầy dạy, phần lớn chỉ biết tự học, tự giảng. Trịnh Hoài Đức cùng người bạn cùng cảnh ngộ lớn hơn 3 tuổi là Ngô Nhân Tĩnh tìm đến thọ học thầy Xử sĩ Võ Trường Toản; cùng học còn có Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, sau đều trở thành công thần triều Nguyễn Gia Long. Khi quân Tây Sơn tiến Gia Định lần nữa (khoảng năm 1783), Trịnh Hoài Đức cùng gia đình chạy loạn, có lúc đến Cao Miên, có lúc về Mỗi Suy (Bà Rịa).
Như vậy, từ thơ ấu đến tuổi ba mươi ba “tam thập nhi lập”, cuộc đời của Trịnh Hoài Đức luôn trong bối cảnh gia đình “gánh mẹ” neo đơn, chạy loạn, vượt khó học hành.
Công thần đầu triều
Đến năm 1788, khi Nguyễn Ánh thu phục Gia Định, dựng phủ Soái, mở khoa thi, chiêu mộ nhân tài thì Trịnh Hoài Đức ứng thí, được tuyển dụng. Cuộc đời vinh hiển mở ra từ đây.
Trịnh Hoài Đức bắt đầu công vụ bằng chức vụ Hàn Lâm chế cáo ngay khi trúng tuyển; sau đó được bổ làm Tri huyện Tân Bình (năm 1789), rồi được kiêm Điền Tuấn coi việc khai khẩn đất Gia Định; nhậm chức Đông cung Thị giảng (năm 1793); Ký lục dinh Trấn Dinh, Hộ bộ Hữu tham tri (năm 1794), Tiếp vận quân lương (năm 1801); Thượng thư Bộ Hộ, Chánh sứ sang Đại Thanh (năm 1802); hai lần Hiệp trấn Gia Định thành phụ tá Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân (các năm 1808, 1816); Thượng thư Bộ Lễ kiêm quản Khâm thiên giám (năm 1812); hai lần Thượng thư Bộ Lại (năm 1811, và từ năm 1814-1820); Quyền Tổng trấn Gia Định thành (năm 1820); Binh bộ Thượng thư sung chức Phó tổng tài Quốc tử giám, thăng Hiệp biện Đại học sĩ (từ năm 1820); Giám khảo Kỳ thi Ân khoa (năm 1822).
Năm 1823, ở tuổi 58, nghĩ mình đã già yếu, Trịnh Hoài Đức dâng sớ từ quan, nhưng ông chỉ được vua phê chuẩn nghỉ dưỡng 3 tháng; sau đó về Phú Xuân tiếp tục công việc, cho đến khi qua đời.
Trịnh Hoài Đức là một khai quốc công thần của Nguyễn vương Phúc Ánh, công thần đầu triều Nguyễn được giao nhiều việc hệ trọng, việc nào cũng hoàn thành tốt, được vua tin cậy, ban nhiều đặc ân: Ban tiền để xây nhà ở do thanh liêm không có dinh thự riêng; ban thuốc quý khi dưỡng bệnh. Khi ông mất, vua truy tặng hàm “Thái bảo, Cần chánh điện Đại học sĩ”, tên thụy là Văn Khắc; ban lệnh làm tang lễ trọng thể, an táng tại quê nhà theo nguyện vọng; cử hoàng tử Miên Hoằng đến viếng tang, danh thần Lê Văn Duyệt phúng viếng và di quan an táng tại làng Bình Trước (nay thuộc P. Trung Dũng, TP. Biên Hòa).
Linh vị của Trịnh Hoài Đức được đưa vào điện thờ tại miếu Trung hưng Công thần (năm 1852) và đền Hiền Lương (năm 1858).
Đa tài, đa năng
Hiếm có vị đại quan công thần nào như Trịnh Hoài Đức: Xuất thân bình dân, vinh hiển tột bậc, thăng tiến thực tài, tâm đức rạng ngời, lập công thời trung hưng, tận tụy phụng sự hai đời vua (Gia Long, Minh Mạng).
Thân là quan đầu triều, nhưng Trịnh Hoài Đức không có gia sản đáng kể, không dinh thự riêng, đến cuối đời mới được vua ban 2 ngàn quan tiền để xây nhà ở. Năm Đinh Sửu 1817, ông về quê tham gia việc trùng tu Thất phủ cổ miếu, phát hiện dấu hiệu ông nội là Trịnh Hội tham gia việc khởi dựng, cha là Trịnh Khánh góp phần trùng tu năm 1743, nỗi niềm người con của xứ sở Trấn Biên rưng rưng nước mắt.
Xét việc Trịnh Hoài Đức đã thực hiện tốt các việc được giao ở nhiều lĩnh vực, ông là người đa tài, đa năng lực: Quản lý việc khai khẩn ruộng đất (quan Điền Tuấn); quản lý hành chánh địa phương (Tri huyện Tân Bình, hai lần Hiệp Tổng trấn và một lần Quyền Tổng trấn Gia Định thành); đại thần trọng trách điều hành các nhiệm vụ quốc gia về hành chính, lễ nghi, tài nguyên, văn hóa, quốc phòng (Thượng thư 4 bộ); mẫu mực trong giáo dục tạo nguồn nhân lực (Đông cung Thị giảng, Phó tổng tài Quốc tử giám, Giám khảo Kỳ thi Ân khoa), giỏi việc quân lương hậu cần (Tiếp vận quân lương); nhà ngoại giao thực tài (Chánh sứ đi sứ sang Đại Thanh)…
Công đức của Trịnh Hoài Đức được người đời sau ghi nhớ nhiều nhất có lẽ là tri thức văn hóa. Ông là người hiến kế vua Minh Mạng ban “Chiếu cầu sách cũ” (năm 1820) và chính ông là người thực hiện công đầu, dâng lên vua những bộ sách quý: Gia Định Thành thông chí (chính ông biên soạn), Bột di ngư văn thảo (của Mạc Thiên Tứ), Lịch đại kỷ nguyên và Khang tế lục; khuyến khích người bạn Lê Quang Định dâng lên vua Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. Đó là những bộ sách kinh điển mang giá trị văn hóa muôn đời.
Trịnh Hoài Đức còn để lại cho đời di sản thơ văn giàu cảm xúc, nhiều tâm sự: Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập, Gia Định tam gia thi tập, Đi sứ cảm tác.  Qua các thi tập của ông, có thể thấy một thi nhân tài hoa, đa tình, đa cảm; có lẽ vậy mà ông được thi hữu yêu quý, xem ông là cốt lõi trong “Gia Định Tam gia”, hạt nhân trong văn đàn “Bình Dương Thi xã”.
Cấn Trai trước hết là một thi sĩ đi nhiều, quan sát kỹ, cảm nhận ở tự nhiên những vẻ đẹp tinh tế, đầy nhân tính. Trịnh Hoài Đức là người con chí hiếu, luôn biết ơn mẹ, luôn nghĩ về mẹ. Khi chuẩn bị đi sứ xa mẹ lâu ngày, quan Chánh sứ trăn trở với trái tim thơ…
* Đa tâm sự
Trong “Gia Định tam thập cảnh”, Chỉ Sơn tiên sinh cảm nhận ba mươi cảnh đẹp của xứ Gia Định, mỗi cảnh có sắc thái riêng, đều lấp lánh hình bóng của con người: Đất đỏ ở Long Đất như có người bừa mây “Chu thổ sừ vân”; bến quê Tân Triều như chiếc thuyền lẻ nằm ngang, lòng khách tha thiết gửi vào nước sông trong “Tân Triều đãi độ”; Ông Tiều ở Hố Nai gió thổi tung mái tóc trắng phau, tiếng hát hồn nhiên vang trong núi, hòa điệu tiếng nhịp chặt cây và tiếng suối chảy “Lộc động tiều ca”. Trước vẻ đẹp của sen và cô gái hái sen, tác giả tưởng như có chuyện hẹn hò, sợ làm kinh động:

Du nữ thái liên hưu loạn động,

Cựu minh do đãi trục lai triều.
Dịch nghĩa
(Các cô gái đến hái sen đừng làm kinh động,
Hẹn cũ còn chờ theo nước triều lên).
Hoặc như, viết về cây bần ở Nam bộ, bài thơ ví thân cây như lưng cô gái nho nhỏ, thướt tha yếu đuối, vẫn nhờ làn gió nâng niu ở bờ sông đất Việt, hoa nở từng chùm đỏ ối, cành quả hàng chuỗi xanh rì, ban đêm đom đóm lập lòe như cây lửa “Thủy liễu”… Không yêu quý thiên nhiên thì không cảm nhận tinh tế đến vậy.
Trịnh Hoài Đức là người con chí hiếu, luôn biết ơn mẹ, luôn nghĩ về mẹ. Khi chuẩn bị đi sứ xa mẹ lâu ngày, quan Chánh sứ trăn trở với trái tim thơ:
Dịch nghĩa
Lìa hiệp tang thương kể mấy hồi
Ân tình ai cũng khéo phanh phui
Trăng lòa ải bắc nhàn chinh bóng
Thu quạnh trời nam quạ đút mồi
Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt
Công danh nghĩ lại đổ mồ hôi
Quân thân tuy cách lòng đâu cách
Trọn đạo con là trọn đạo tôi.
Ở Trịnh Hoài Đức, tình bạn thắm thiết, thủy chung chiếm vị trí trang trọng trong thơ. Rất nhiều bài thơ với nhiều cung bậc cảm xúc dành cho những người bạn thân thiết lấy chữ Sơn làm nhân hiệu như Nhữ Sơn Ngô Nhân Tĩnh, Chỉ Sơn Lê Quang Định, Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn. Bài thơ “Khốc Hộ bộ Thượng thư Mẫn Chính hầu Lê Quang Định” đau thắt ruột gan: Bạn thân ở Gia Định đã một nửa héo lụi, Lê khanh nay lại cưỡi sao Vĩ mà đi, cởi áo cừu đã làm lễ nhập quan, vẫn còn khóc như mưa phải nâng vạt áo lau.
Gặp lại người bạn cũ tại một ngôi chùa ở Biên Hòa, Trịnh Hoài Đức có thơ “Tặng Giác Lâm Viên Quang thiền sư” với lời lẽ chân tình, ấm tình bạn, đậm màu thiền;
Dịch nghĩa:
Nhớ thuở thái bình xưa
Đồng Nai vừa thịnh mỹ
Đạo Thích được tôn sùng
Nhà ngoại còn phú quý
Ta làm trẻ dâng hương
Sư là người giữ giới
Áo tuy chia xanh vàng
Lòng vẫn chung ý khí
Bạn giỏi xót phong trần
Quỷ đói ngập thế giới
Bọt nước chuyện mất còn
Bèo hoang phận chìm nổi
Trải hơn bốn mươi năm
Mà như không mấy đổi
Đồng tây rảnh dạo quanh
Cửa núi chợt gặp lại
Ta Hiệp trấn thành này
Sư Hòa thượng ngôi ấy
Cầm tay tựa mơ mòng
Mở lòng còn run rẩy
Chuyện xưa nói làm gì
Đạo lớn thảy như vậy
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
90 năm sau khi “Cấn Trai thi tập” được ấn hành, Nguyễn Liên Phong phổ biến bài thơ nêu trên, kèm theo mấy dòng cảm tác trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca:
Giác Lâm chùa tổ sơ khai,
Tục kêu Cẩm Đệm lâu dài thạnh sung.
Thuở xưa Hoài Đức Trịnh công,
Viên Quang Hòa thượng cũng đồng bạn chơi.
Kẻ Vương người Phật theo đời.
Khi sau hội ngộ có lời tặng ngôn.
Một bài cổ điệu ngũ ngôn,
Trịnh công thủ bút thuyền môn rõ ràng.
Tâm sự trung quân ái quốc của Trịnh Hoài Đức rõ nhất trong “Bắc sứ thi tập” và “Đi sứ cảm tác”. Ở đó, Trịnh Hoài Đức làm thơ ghi chép gần như là nhật ký cảm xúc về mọi sự, bàng bạc trong thơ là tấm lòng trung trinh với vua, thương nhớ quê nhà.
Hành trình đi sứ kéo dài khiến cho Trịnh Hoài Đức thêm lo lắng, lòng trĩu nặng ơn vua nợ nước. Bài Đông nguyệt do Quảng Đông thủy trình vãng Quảng Tây tỉnh có đoạn được dịch nghĩa:
Ơn vua ơn nước còn mang nặng chưa đền đáp,
Năm tháng xa cách còn dần dà chưa về.
Đẩy cửa cao giọng gọi lái đò,
Nhổ neo giương buồm gấp gấp vượt sông.
Có lúc ông cảm thấy thẹn lòng vì không lo được việc nhà:
Cờ sứ cách trở lần lữa nơi dịch quán,
Người vợ thuở hàn vi lại bị bệnh ở phương trời xa.
Chí trẻ mưu sự kinh luân tế thế của ta thật lầm lẫn,
Cung tên treo lên thuở mới sinh, chợt cười đã thành chuyện hão.
Lữ thứ hoa triêu
Nghe tiếng sáo như tiếng thổi bùng ngọn lửa trong lòng:
Tha hương làm khách mãi,
Chiết liễu điệu xui lòng.
Chín khúc sông sầu nhớ,
Quanh thành sông lượn vòng.
Tương hành tạp vịnh văn địch
Tương tự, khi lên lầu ở Trường Sa, trông những cánh buồm, dừng chén rượu, nhớ mùa thu quê hương “Đăng Trường Sa Củng Cực lâu lưu đề”. Khi nằm bệnh, giấc mộng mơ màng theo tiếng chuông bay về cõi quê hương; trời thu như gió mát để đưa tiễn đưa về quê sớm “Khai Phong phủ hành quán lập thu bệnh trung ngâm”.
* Tự tình, tự trào
Trịnh Hoài Đức ít nói về mình, nhưng có thể tìm thấy tính cách của ông trong thơ. Bài thơ Cấn Trai đề bích, có ý nghĩa tự sự, như khắc họa một con người kết tinh của Trời Đất, thừa hưởng tinh hoa của con người, sống có nguyên tắc vì xã hội và quốc gia, biết kiềm giữ, dù đã thành danh nhưng luôn vươn tới cái mới, uống rượu nhiều, khổ luyện làm thơ, có tâm hồn nhân văn “Không bẻ hoa trước sân, dành để thưởng xuân tự nhiên”:
Phiên âm
Thiên địa chung nhân tú,
Nhân thừa thiên địa chân.
Tửu đa giới đãng tính,
Thi khổ cảnh lao thần.
Lý du cương duy lập,
Danh thành đức nghiệp tân.
Đình hoa khai bất chiết,
Lưu thưởng tu nhiên xuân.
Dịch nghĩa
Trời đất chung đúc khí linh tú nên người,
Người thừa hưởng cái chân của trời đất.
Uống rượu nhiều, tự răn về tính khoáng đãng,
Khổ công làm thơ, cảnh giác về chuyện mệt mỏi tinh thần.
Lý đầy đủ, nguyên tắc để ràng buộc xã hội và quốc gia được lập,
Đã thành danh, đạo đức, sự nghiệp phải có cái mới.
Hoa trước sân nở không bẻ,
Dành để thưởng cái xuân tự nhiên.
Bài thơ Tự trào tự kiểm, tự đùa vui với mình, thể hiện tâm tình lạc quan, hài lòng với cuộc sống, ngạo với đàn thơ, vui với nước đẹp, núi lạ:
Phiên âm
Thiên nhược ư dư hống tiếu đoan,
Sinh phùng loạn thế cưỡng danh an.
Nhân nhưng mang tuế thâu nhàn nhật,
Tàm quý vi tài bác hảo quan.
Nê tuý nhất bôi kiêu tửu bá,
Nha đồ ngũ vận ngạo thi đàn.
Cận lai kiêu hãnh càn khôn lượng,
Thuỷ tú sơn kỳ túc ngã hoan.
Dịch nghĩa
Trời dường như trêu cợt ta,
Sinh gặp đời loạn mà vẫn gượng giữ vẹn được danh.
Bởi vẫn năm bận rộn trộm rút lấy ngày nhàn,
Thẹn mình tài nhỏ mà lại được chức quan kha khá.
Say nhà một chén kiêu căng với tửu bá,
Bôi lem nhem năm vận ngạo với đàn thơ.
Gần đây đánh cuộc may rủi đo lường trời đất,
Nước đẹp núi lạ đủ cho ta vui.
Muốn hiểu thêm về Trịnh Hoài Đức, có thể tìm hiểu hai cặp đối ở di tích mộ ông. Hai cặp đối ấy hoặc làm theo di nguyện của Trịnh Hoài Đức, hoặc của bạn tâm giao, thấu hiểu tâm đức của người quá cố.
Cặp đối 1, mỗi vế 7 chữ thể hiện triết lý đượm màu thiền về con người với tự nhiên:

Sơn thủy hữu tình thành quyến thuộc
(Núi sông hữu tình thành người thân trong nhà)

Càn khôn vô vực thị gia hương
(Trời, Đất không có ranh giới chính là quê nhà).
Cặp đối 2 mỗi vế 5 chữ về đạo lý ứng xử ở đời mang tính giáo huấn:

Các nhân chính tẩu mã
(Người sống ở đời chính là đang cưỡi ngựa)

Cử thế kiên hành chu
(Việc xử thế ở đời như là kiên trì chèo thuyền)
Muốn hiểu thâm ý cặp đối 5 chữ này, phải thuộc lời giáo huấn của cổ nhân, cũng qua câu đối:
Tâm như bình nguyên mục mã, dị phóng nan thu
Học như nghịch thủy hành chu, bất tiến tất thoái
(Lòng người như cưỡi ngựa trên bình nguyên, phóng đi thì dễ, ghìm giữ mới khó.
Việc học như chèo thuyền ngược nước, không tiến tới được, ắt sẽ tụt lùi).
Hai cặp đối ấy có ý nghĩa triết lý nhân sinh như là bài học từ cuộc đời của Trịnh Hoài Đức để lại cho đời. Có thể lấy chữ Đức để diễn đạt về Trịnh Hoài Đức: Công đức, tâm đức và nhơn đức.
19/12/2023
Huỳnh Văn Tới
Nguồn: Báo Đồng Nai 12.2023
Theo https://vanvn.vn/

Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức "Dốc im lặng''

Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức "Dốc im lặng'' “Dốc im lặng” là tập thơ thứ hai của nhà thơ, họa sĩ Trần Thắng. Cùng với thơ, trong ...