Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Người đương thời Thơ mới bàn về thơ J.Leiba

Người đương thời
Thơ mới bàn về thơ J.Leiba

Thơ J.Leiba được các nhà phê bình như Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế), Thanh Châu, Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Bội Liêu… quan tâm và đánh giá cao.
Trong công trình nghiên cứu có ý nghĩa tổng quát và tổng kết Ba mươi năm văn học (NXB Tân Việt, H., 1941), nhà phê bình xuất sắc Nam Bộ là Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế) đã điểm danh và có nhận định chung về thơ J. Leiba trong toàn cảnh nền thơ đương thời:
… “Trong làng thơ cũ, có kẻ nổi lên phản kháng…
Rồi thơ mới, thơ cũ xung đột nhau!…
Người ta đem cả hai làm vấn đề cãi nhau trên diễn đàn (Manh Manh nữ sĩ – Nguyễn Văn Hanh), trên báo chí (Tản Đà – Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều – Thái Phỉ, Thế Lữ – Nguyễn Vỹ).
Hầu hết các cuộc tranh biện giữa làng thơ mới và làng thơ cũ, độc giả bao giờ cũng thiện cảm với làng thơ mới hơn. Chỉ có đối với cuộc tranh biện giữa Tản Đà và Lưu Trọng Lư trên mặt tờ Tiểu thuyết thứ Bảy (tháng Janvier 1935) là độc giả hơi phân vân, không nhứt quyết thiên hẳn về bên nào. Vì Lưu Trọng Lư là nhà thơ mới nổi tiếng, mà Tản Đà lại là nhà thơ cũ hữu danh. Một mới, một cũ cùng tương đương. Đối với ông nào, độc giả cũng cho là phải…
… Làng thơ mới (mới lẫn cũ) của văn học quốc ngữ trong vòng mười năm nay đếm được (…).
… Ngoài ra, văn học quốc ngữ còn đếm được nhiều thi sĩ tuy chưa có tác phẩm ra đời, nhưng tài năng đã phát huy rõ rệt trên các báo chí:
– J. Leiba Thanh Tùng Tử (1912-1941) với những vần diễm ảo bắt nguồn trong quá khứ…
– Tchya với những vần cao siêu đầy tư tưởng;
– Thái Can, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân với những vần cổ kính;
– Phan Khắc Khoan với những “vần Huy Thông” rất trầm hùng.
– Nguyễn Xuân Huy với những vần dìu dịu như “một buổi chiều Xuân Diệu”.
Nên kể thêm vào: Đinh Hùng – Hoài Điệp, Huyền Kiêu, Nguyễn Đức Chính, Phạm Hầu, Hồ Dzếnh, Thái Kim Điên.
Riêng ở Nam Kỳ, ngoài một ít thi sĩ có tác phẩm đã xuất bản (Đông Hồ, Thiên Thu, Khổng Dương), còn lắm thi sĩ trẻ tuổi hữu tài hãy còn đắm chìm trong bóng tối.
– Phi Yến (đã quá cố) với những vần huyền diệu…
– Sương Lam Tử với những “vần Chế Lan Viên” rất huyền bí.
– Việt Châu với những “vần Thái Can” đầy trang nghiêm!
– Cô Mộng Tuyết với những vần dí dỏm…
– Bùi Ái Quốc với những vần thanh thoát…
– Nguyễn Viết Khải với những vần ma quái”…
Trong bài tự luận Hoa với đời sống tinh thần của chúng ta in trên Trung Bắc tân văn (số 103, ra ngày 4.4.1942), nhà văn Thanh Châu (tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn in trên Tiểu thuyết thứ Bảy, tháng 9.1937) đã phát biểu cảm nhận về hoa, về vẻ đẹp hoa cúc trong thơ J. Leiba:
… “Thi sĩ Leiba trước khi từ biệt cõi đời có bài thơ Lưu biệt, trong đó thi sĩ nói đến một loài hoa mình thích:
Ta vẫn yêu hoa, mé trước song,
Giàn đưa hương sớm, dệt muôn hồng.
Trăm hoa, lòng vốn yêu riêng cúc,
Hương đạm, thần cao, khí tiết trong.
Người đời danh lợi mải đua chen,
Luống tủi hoa thơm bạn cỏ hèn.
Yêu cúc, giận đời tri kỷ ít,
Cùng hoa lên ở chốn non tiên…
Cái thích của nhà thơ yểu mệnh ấy dành riêng cho hoa cúc, cũng không có gì là lạ. Cúc vốn là loài hoa yêu dấu của những nhà ẩn dật, lánh đời, những kẻ đã từ quan cáo lão trở về vườn ruộng. Xưa nay, muốn chỉ những người đã cất bỏ được cái gánh nặng công danh, để nghĩ đến cái đời sống tinh thần trong sạch của mình riêng, người ta chỉ cần gợi hai tiếng “tùng cúc” trong một câu thơ là đủ. Khi nhà thơ Lưu Trọng Lư tới thăm ông tổng đốc Nguyễn Bá Trác, một hưu quan ở quê nhà, thi sĩ cũng đã có tặng câu:
Ở đây, hoa đã nở mùi thuyền.
Ý muốn nói rằng cái mùi hoa ở trước sân cụ Nguyễn đã nhuốm mùi đạo như cái bông hoa ở chỗ tu hành rồi. Cái mùi hoa đó, cũng lại là mùi hoa cúc. Bởi vì thi sĩ đã kết bài thơ ấy bằng hai câu:
Một thiên hạn mạn đây là hết,
Cúc gọi thu về dưới cố viên.
… Người đời càng văn minh thì giá trị của hoa lại càng tăng. Người ta nói thế mà không ngờ rằng từ nghìn xưa các thi sĩ đã ngâm hoa vịnh nguyệt…
… Ở nước ta tuy việc chơi hoa không được coi trọng lắm nhưng càng ngày lại càng có những bà nội tướng, khi đi chợ, trừ cá thịt là những thức cần phải ăn để mà sống, một đôi lần cũng đã nghĩ đến mua một bó hoa về. Và bởi khi mang về, các đức ông chồng cũng không lấy sự đó làm chê lắm, mà lại còn tỏ vẻ khoan khoái là khác nữa, nên sự mua hoa dần thấy là cần. Hoa thành một thức không mua không được. Nó làm tươi tỉnh những bộ mặt nhăn nhó của những người làm ăn vất vả ở ngoài khi trở về nhà. Nó đem lạ hòa khí cho gia đình khi có những mây đen che phủ. Một đôi khi, nó còn đem lại cả ái tình, khi người ta đã đi xa cái tuổi mà ái tình là việc chính ở đời. Nhiều người đàn bà đã gây lại được một cái hạnh phúc gần tan vỡ, chỉ nhờ có mấy xu hoa. Cũng như có những chàng trai trẻ đã chiếm được tình yêu ở người mình mơ ước, bằng một nụ hồng gửi tặng”…
Trong lời giới thiệu Một thời đại trong thi ca ở sách Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Huế, 1942), các nhà phê bình Hoài Thanh – Hoài Chân đã ba lần nhắc đến tên và ghi nhận vị thế J. Leiba trong tương quan những thi nhân cùng thời:
… “Hồn thơ Đường vắng đã lâu, nay lại trở về trong thơ Việt. Lần đầu tiên (1934) nó đi theo J. Leiba. Leiba giao lại cho Thái Can. Thái Can giàu, Leiba sang. Ở Thái Can cũng như ở Leiba hồn thơ Đường có cái cốt cách đời thịnh. Với Đỗ Huy Nhiệm, Vân Đài, Lưu Kỳ Linh, Phan Khắc Khoan (trong tập Xa xa), Thâm Tâm, hoặc nó kín đáo tinh vi hơn nhưng nó rắn rỏi chắc chắn hơn, nhưng cũng nghèo hơn…
… Cảm được lòng người đàn bà khó chiều kia, họa chỉ có Quách Tấn. Mối lương duyên gây nên từ Một tấm lòng đến Mùa cổ điển thì thực là đằm thắm, Mùa cổ điển gồm cả cái giàu sang của Thái Can, Leiba, súc tích lại trong một khuôn khổ rắn chắc. Nhưng Quách Tấn có thực là một nhà thơ cũ hoàn toàn? Có thực Quách Tấn không bao giờ mơ tưởng bạn phương xa?”…
Trong phần giới thiệu chân dung J. Leiba, Hoài Thanh – Hoài Chân tuyển chọn bốn bài thơ (Năm qua, Mai rụng, Hoa bạc mệnh, Bến giác, tương đương với số bài của Đông Hồ, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Vũ Hoàng Chương) và đi sâu phân tích đặc điểm cội nguồn chất thơ:
“Thơ đăng báo Loa với một tên ký chẳng Việt Nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền được người ta thích.
Người ta thích những vần thơ có giọng Đường rõ rệt, mà lại nói được nỗi lòng riêng của người thời nay. Trong khuôn khổ xưa, cái hương vị mới ấy rất dễ say người. Thơ Leiba ra đời (1934) giữa lúc ai nấy đều thấy mình như trẻ lại. Các nhà thơ đương thời, Thế Lữ, Đông Hồ, Thái Can, kẻ trước người sau, đều tả bằng những nét âu yếm nỗi lòng của người thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhưng không ai nói được đầy đủ như tác giả bài “Năm qua” (Có trích theo đây) những giai đoạn của một cuộc yêu đương nhóm lên từ hồi tóc còn bỏ xõa. Ít ai nói được như Leiba những vui buồn của người xuân nữ. Những câu như:
Hoa tặng vừa tàn bông thược dược,
Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa…
hay là:
Sầu đối gương loan, bóng lạ người,
Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?
có thể để ngang với những câu tuyệt hay trong thơ cổ.
Hồi ấy là hồi đẹp nhất trong đời thơ Leiba. Về sau thơ Leiba không được hồn nhiên như thế nữa. Không rõ những gì đã đến trong đời thi nhân, nhưng lời thơ như vướng tí cặn của những đêm phóng túng. Hình như Leiba đã đau khổ nhiều lắm. Người tức tối lúc nghĩ đến nấm cỏ đương chờ mình:
Ví biết phù sinh đời có thế,
Thông minh, tài bộ, thế gia chi!
Học thành, danh đạt, chung quy hão:
Mắt nhắm, tay buông, giữ được gì?
Thà chọn sinh vào nhà ẩu phụ,
Cục cằn, mất dạy, lại ngu si.
Leiba là một người bao giờ cũng có dáng điệu quý phái, ưa cái không khí quý phái, tin ở tài năng, ở dòng dõi mình, và rất tự trọng, cả trong những lúc buông tuồng. Một người như thế mà nói những lời như thế hẳn phải chán nản lắm.
Chán nản đưa người về tôn giáo. Thơ Leiba hồi sau có bài đượm mùi phật. Mặc dầu chưa đúng hẳn với tinh thần đạo Phật. Bài “Bến giác” (Trích theo đây) chẳng hạn còn có một giọng lạnh lùng, chua chát chưa phải là giọng của kẻ đã dứt hết trần duyên. Cho đến cái bình tĩnh của nàng Kiều khi ở trong am Giác Duyên lần thứ hai, Leiba cũng chưa có (Xin nhắc lại lời Kiều nói với Vương ông khi tái hợp: Mùi thiền, đã bén muối dưa,/ Màu thiền, ăn mặc đã ưa nâu sồng./ Sự đời, đã tắt lửa lòng,/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!). Tuy thế người gần đạo Phật hơn các nhà thơ bây giờ.
Thơ Leiba đã thay đổi theo một hai điều thay đổi trong tâm trí thanh niên khoảng bảy tám năm nay. Xem thơ ta có thể thấy khi tỏ khi mờ hình ảnh của thời đại”…
Trong bài Mùa xuân, một nguồn cảm hứng dồi dào của thi nhân in trên Tạp chí Thanh nghị (số 29-31, Xuân, tháng 1.1943), Vũ Bội Liêu bình luận chủ điểm thơ xuân của nhiều thi nhân, trong đó có thơ J. Leiba:
“Mùa xuân tới, cái gì cũng tươi sáng, dịu dàng, êm ái, cả hình sắc lẫn hương thơm cùng ý tưởng, mà đời người “ngọt ngào như có vị đường”:
Cỏ xuân mượt như hoa,
Tóc liễu mướt như tơ.
Dâu xanh, xanh khắp nội,
Đường dệt vạn màu hoa”…
Vào chặng cuối phong trào Thơ mới, nhà phê bình Kiều Thanh Quế trong bài Nhân đọc Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân in trên Tạp chí Tri tân (số 134, tháng 3.1944) có ý nghĩa “tổng kết sự tổng kết”, “đánh giá sự đánh giá”, “phê bình sự phê bình” đã nhắc nhớ đến thơ J. Leiba:
“Quyển sách dày dặn cố ghi lại một thời đại thi ca Việt Nam chẵn mười năm 1932-1942…
… Thơ ca Việt Nam trong mười mấy năm gần đây đi từ cổ điển (với Tản Đà, Trần Tuấn Khải), trải qua lãng mạn (với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận), sang tưởng tượng (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên) rồi bây giờ đến tả chân (với Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ)…
… Trong các cuộc biến thiên lớn của thơ ca Việt Nam ấy, ta vẫn đếm được mấy phong trào nhỏ: lối thơ hài hước của Tú Mỡ mà tác giả Thi nhân Việt Nam vô tình hay hữu ý đã quên đứt, nhưng được ông Lê Thanh nói đến trong một tập phê bình Tú Mỡ; và lối thơ say của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tố, Vũ Hoàng Chương…
… Cái say của tác giả Tiếng thu là cái say của kẻ “giang hồ rượu ngấm”. Đến cái say của Nguyễn Tố quả là cái say của Tản Đà còn di truyền lại, cái say của kẻ ăn chơi.
Còn cái say của Vũ Hoàng Chương thật là mới: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say”. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa…
… Buồn, người ta chán đời, rồi người ta đâm ăn chơi, uống rượu cho say để quên…
… Có kẻ chán nản quá, muốn gởi thân vào cửa thiền:
Người đẹp vẫn thường hay chết yểu,
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.
Ba xuân, muôn thắm thêu cành biếc,
Bạc mệnh hoa kia đã rụng rồi!…
… Hồn kết gió hương trời Nhược Thủy,
Cánh viền mây thắm động Thiên Thai.
Hóa thành những giọt mưa thơm ấy,
Tưới nở trăm hoa đã héo rồi!
(J. Leiba – Hoa bạc mệnh)
Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá!
Lệ lòng mong cạn chốn am Không.
Cửa thiền một đóng duyên trần đứt,
Quên hết người quen chốn bụi hồng.
(J. Leiba – Bến giác)
… Trên kia, xét cuộc biến thiên của thơ ca Việt Nam hiện đại, ta đã nói đến giai đoạn tả chân của thơ Việt. Rồi từ tả chân, thơ Việt Nam đã bước qua cầu siêu tả chân (surréalisme) mà sang lối thơ tập thể (cubisme)”…
Đương thời Thơ mới 1932-1945, các nhà phê bình ghi nhận thơ J. Leiba như một nỗi niềm in đậm cảm quan Phật giáo, một tiếng chim kêu thảng thốt giữa cõi đời. Thi sĩ Leiba chưa có tập thơ riêng, chỉ mới có thơ lẻ in báo, vậy mà người phê bình vẫn trân trọng, ghi nhớ thơ ông. Mới hay người phê bình một thời thật có tâm, biết cảm nhận, phát hiện, khẳng định những trang thơ của một người thật bình thường chỉ với một tiêu chí duy nhất: thơ hay!.
1/11/2022
Nguyễn Hữu Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bến mơ trong thơ Yến Lan

Bến mơ trong thơ Yến Lan

Nhà thơ Yến Lan (1916 – 1998) có không hiếm những vần thơ hay, nhưng dường như nhà thơ mang bút danh yểu điệu rất con gái này chỉ được biết đến nhiều qua bài thơ Bến My Lăng xuất hiện từ phong trào thơ mới. Nhà thơ Yến Lan là thành viên của Bàn thành tứ hữu (Bốn người bạn thơ ở thành Đồ Bàn), gồm những nhà thơ xuất sắc một thời tại Bình Định.
Thơ Yến Lan mang hương sắc lạ: ngôn ngữ giàu hình tượng, giai điệu mang mang nhưng tứ thơ phong kín một nỗi niềm khiến người đọc lắm khi chỉ cảm thụ bằng trực giác. Yến Lan là một thi sĩ đã làm thơ và tham gia công tác kháng chiến trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Nhà thơ Yến Lan để lại 2 vở kịch thơ (Bóng giai nhân và Gái Trữ La), 8 tập thơ trong đó Thơ tứ tuyệt là tuyển tập thơ sau cùng (1996) được nhiều người đánh giá cao.
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thi ca thuộc phạm trù phi vật thể, nằm trong sinh hoạt kiến trúc thượng tầng. Người làm thơ hay nếu không có năng khiếu được trời cho thì trước hết phải đam mê thi ca, có một tâm hồn dễ xúc cảm và kinh qua ít nhiều kiến thức văn học cơ bản cùng một vốn sống trải nghiệm thực tế ở cuộc đời. Trong lúc nhà thơ Hàn Mặc Tử coi người làm thơ là người điên, Chế Lan Viên cho rằng nhà thơ là người không bình thường, ta có thể xem Yến Lan là chàng thi sĩ của những vần thơ bay bổng mơ mộng đứng riêng một cõi trên thi đàn.
Nhà thơ Yến Lan tên thật là Lâm Thanh Lang, người Bình Định, vùng đất giàu cổ tích được xem là địa linh thi kiệt với những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học hiện đại: Quách Tấn (1910-1992), Hàn Mặc Tử (1912-1940), Chế Lan Viên (1920-1989), Xuân Diệu (1916-1985)… Thuở nhỏ học tiếng Hán với ông nội vốn là người Minh Hương, Lâm Thanh Lang sớm mồ côi mẹ từ lúc 6 tuổi. Lớn lên, ông cưới bà Nguyễn Thị Lan, sống bằng nghề dạy học tư và làm thơ.
Trong hoàn cảnh khiêm tốn về vật chất, bà Lan đã tỏ ra là người vợ hiền rất hiểu và thương chồng. Chính người bạn đời của nhà thơ đã giúp tác giả ghi chép tất cả sáng tác của chồng khi nhà thơ gặp cảnh ốm đau không thể cầm bút, khiến nhà thơ rất mực yêu thương vợ. Ngay cả bút danh Yến Lan của nhà thơ cũng được hình thành từ một giai thoại thể hiện tình cảm đặc biệt của hai người bạn gái nhà thơ. Cô Yến và cô Lan chơi thân với nhau, hứa với  nhau về sau sẽ cùng lấy một chồng. Thi sĩ nghe hay hay nên lấy tên hai cô ghép lại làm bút danh cho mình như để lưu giữ một tình bạn đẹp đậm tính nhân văn giữa ba người. Không chỉ chan hòa tình cảm với vợ và bè bạn, sâu đậm nồng nàn hơn là tình yêu quê hương tha thiết mà Yến Lan đã bày tỏ trong nhiều bài thơ đau đáu viết về Bình Định nhau rốn yêu thương: Bình Định 1935,  Bình Định 1945, Bình Định 1947, Bình Định 1975…
Nhắc đến Yến Lan, ta không thể không nói đến trước hết bài thơ “Bến My Lăng” được coi là tác phẩm nổi tiếng đã làm nên tên tuổi nhà thơ trên văn đàn.
Thi ca thế giới xưa nay thường hay nói đến bến, từ ngữ chỉ địa điểm không gian mang ý nghĩa của một nơi đỗ tạm thời, một khoảnh khắc dừng chân trong giây phút để rồi chuẩn bị lên đường, chia xa đôi đàng người đi kẻ ở. Bến Tầm Dương (Bạch Cư Dị), Bến tình (Ngũ Lang), Bến Ninh Kiều, Bến cũ người xưa… Chỉ một từ đơn âm thôi mà đọc lên nghe sao man mác bao nỗi ngậm ngùi! Bến My Lăng của nhà thơ Yến Lan được coi là bến đò Trường Thi hiện thực trên sông Cửa Tiền tại Bình Định, quê hương tác giả được nhà thơ thi vị hóa thành Bến My Lăng, đọc lên nghe mơ màng huyền ảo một vẻ siêu thực!
Dường như khá đông công chúng không ai xa lạ với bài thơ tên Bến My Lăng và tác giả là nhà thơ Yến Lan cũng được trân trọng là một nhà thơ có vị trí trên văn đàn. Nhưng cảm nhận hoặc đánh giá bài thơ ấy thì ít ai mạnh dạn. Bến Ly Lăng được sáng tác theo thể loại thơ mới 8 chữ (alexandrin) ảnh hưởng phong cách phương Tây như bài Nhớ rừng của Thế Lữ hay Cảm xúc của Xuân Diệu. Bài thơ Bến My Lăng của Yến Lan gồm 5 khổ rưỡi, mỗi khổ 4 câu, tất cả là 22 câu. Nhà thơ chủ yếu gieo vần gián cách âm hưởng cao thấp. Chỉ 3 câu liên tiếp cuối bài là theo liên vận (vần liền): Lăng-trăng-trăng dễ gây cảm giác lâng lâng mơ hồ cho người đọc.
Hình tượng nhân vật chủ đạo trong bài thơ là ông lão chèo đò trên một bến sông tĩnh lặng với phong thái phiêu diêu ngạo nghễ, không giống với bao người lái đò khác ngày ngày đưa khách sang sông vì chuyện áo cơm. Trong không gian thơ mộng lung linh ánh trăng vàng, ông lão hiển thị bên sách vở và bầu rượu cạn như một triết nhân đang trầm tư: “Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu/ Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu”. Cảnh đêm trăng đẹp hôm nay khiến lão cảm thấy buồn, lòng mang mang hồi tưởng lại hình bóng một chàng trai trẻ trên yên ngựa đến bến sông một đêm trăng nào trong ký vãng xa xôi: “Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly”. Trong cảnh đất nước tang thương, dân tình khổ sở, phải chăng ông lão đang tự vấn mình rồi mơ về hình bóng những chàng trai dũng cảm, với tinh thần bất khuất, đám xông ra sa trường, diệt thù cứu nước: “Ừ sao không nhớ người trai trẻ/ Trò chuyện cùng tôi dưới ánh trăng”.
Có phải những Kinh Kha của nước Yên ngày trước hăm hở vượt dòng sông Dịch với lời minh thệ “nhất khứ bất phục phản” để tiêu diệt Thủy hoàng bạo chúa. Hay những Lạn Tương Như son sắt một lòng vì tổ quốc, mang bảo ngọc dũng cảm ra đi vì nghiệp lớn cũng như bao thanh niên yêu nước đã ra đi làm bổn phận người trai trong mấy mùa chinh chiến. Ông lão chờ đợi cho mãi đến một đêm kia có chàng kỵ mã gội ánh trăng vàng, ruổi ngựa đến bến My Lăng giục giã gọi đò đến run rẩy cả trăng sao: “Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi”. Nhưng ông lái đò gối đầu lên sách im lặng, như còn đang mãi say trăng, khiến chàng trai giục giã: “Mà ông lão say trăng, đầu gối sách/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi, run rẩy cả vầng trăng”. Nhưng không gian vẫn im lặng, lạnh lùng, chẳng vang lên tiếng phản hồi của ông lão chèo đò cho chàng kỵ mã. Bài thơ đan kết bằng ngôn từ chắt lọc trữ tình, long lanh sắc màu huyền thoại và ngồn ngộn hình tượng cổ tích, nhịp nhàng cộng hưởng cùng thi tứ mang mang như phong kín một nỗi niềm của ông lão chèo đò trong hoàn cảnh quốc phá gia vong.
Yến Lan có những bài thơ hay: Lại về tỉnh nhỏ (1956), Mùa xuân lên cao, Uống rượu với bạn đồng hương làm ra từ sau năm 1945, được nhà thơ Chế Lan Viên và GS. Nguyễn Văn Long khen ngợi. Riêng Một mối thất tình có bước chuyển hướng mới trước va chạm giữa con người và cuộc sống. Bài thơ Nghe con đường chảy thì có hơi hướng giai điệu như Bến My Lăng, với nhạc thơ khá dịu ngọt, tứ thơ mơ mộng, phiêu diêu khiến cho Yến Lan có một thế đứng vững riêng một cõi và được nhiều người biết thêm tác giả trên thi đàn.
Dù cả một đời làm thơ chắt chiu lam lũ mà dường như Yến Lan chỉ được công chúng mơ hồ nhớ lại qua một tựa bài trong sự nghiệp cầm bút: Bến My Lăng. Bằng hữu văn chương và các nhà phê bình văn học cũng ít phát biểu về Yến Lan. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh khách quan có ý kiến: “Xem thơ yến Lan, tôi mơ màng như đi trong mây mù”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Long tỏ ra thông cảm và triết lý: “Đọc Yến Lan, giới yêu thơ bị lôi cuốn về thế giới suy tư, một cõi im lặng, một sự trầm mặc nhẹ nhàng nhưng bao hàm ý nghĩa của sự sống và cuộc đời”. Nhưng chính tựa đề bài thơ về một bến sông lạ này đã khiến nhiều người cảm thấy thích thú, trong đó có một nữ nhà văn ở đất Cầm Thi và một nữ ký giả tại hòn ngọc Viễn Đông đã tỏ ra tâm đắc, cùng lấy tên My Lăng làm bút danh cho mình.
Mỗi lần tôi có dịp đọc lại bài thơ Bến My Lăng, trong lòng không tránh khỏi bâng khuâng, mường tượng về một bối cảnh u huyền đậm màu cổ tích: bài thơ chập chờn hình ảnh những nhân vật mang phong thái phiêu diêu, hào sảng như ông lái đò và hình bóng mơ hồ của chàng kỵ mã hiện ra trong tâm khảm: Bến nơi mô, em gọi My Lăng/ Cho người đau đáu mộng thuyền trăng/ Chờ ai bến đợi sông mơ đó/ Mà bóng người đi mãi biệt tăm.
2/11/2022
Nguyễn Thanh
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Lửa từ bi" trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương

"Lửa từ bi" trên hành trình thơ
của Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương xuất hiện trên thi đàn sau khi những tên tuổi lớn của Phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu… đã đi qua thời đỉnh cao. Ông xuất hiện với một giọng thơ lạ: vừa cổ kính xưa cũ vừa hiện đại đến táo bạo; vừa thanh cao phiêu dật vừa nhục thể đến trần trụi rã rời…
Ông tự nhận và cũng được không ít người xưng tụng là “Ông hoàng thơ ca”, bậc “Thi vương” (Hoàng Chương), “Thi bá”… Trước 1945 ông có Thơ say (1940), Mây (1943). Trong kháng chiến ông có Thơ lửa (1948), Rừng phong (1954). Sau 1954 ông có Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962), Lửa từ bi (1963), Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)…
Dõi theo hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương ta thấy có nhiều thay đổi, trong đó có khúc quanh quan trọng là việc cho ra đời tập thơ Lửa từ bi – một tập thơ được viết ra từ ánh sáng ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong cuộc đấu tranh vì tự do, hòa bình, vì Phật pháp và vì dân tộc.
1. VŨ HOÀNG CHƯƠNG TỪ “THƠ SAY” ĐẾN “LỬA TỪ BI”
Từ Say (Thơ say) đến Mộng (Mây)
Vũ Hoàng Chương xuất hiện với những vần thơ say – có cái say từ thiên cổ theo kiểu “túy hậu cuồng ngâm”, say để phát lộ tính tình, nhưng cũng có cái say của thời hiện đại, ở những đô thị mới mẻ, náo nhiệt mà cũng không thiếu trụy lạc của thời thực dân. Bài thơ Say đi em mở đầu tập Thơ say là bài thơ mang nhịp điệu mới mẻ ấy. Người thơ say nhạc, say khiêu vũ, say rượu và say với giai nhân:
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng.
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
(…) Âm ba gờn gợn nhỏ,
Ánh sáng phai phai dần…
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân,
Lui đôi vai, tiến đôi chân:
Riết đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Say để quên đi mối Sầu – một mối Sầu nào đó người thơ không nói rõ, nhưng cơ hồ lớn lắm, như bức thành sừng sững mà cái say rã rời cũng không làm cho nó sụp đổ được:
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn,
Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa và quên, quên hết!
(…) Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa,
Gối mỏi gân rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa.
Say không còn biết cho đời,
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa,
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!(1)
Bài Say đi em mở đầu tập thơ mà như bài tựa, nó gồm thâu hết cái say trong cả tập thơ. Ẩn chứa sau cái say ấy là mối sầu vạn cổ như trong thơ xưa, mà cũng pha chút đắng cay thân phận của một người dân thuộc địa.
Người thơ sẽ nói rõ hơn, thảm hại hơn về cái thân phận ấy ở nhiều bài thơ sau, mà ấn tượng nhất là bài Phương xa:
Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh,
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! theo gió hãy lênh đênh.
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.
Một đôi người u uất nỗi bơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! xin ghé bến hoang sơ.
Thế nhưng nhổ thuyền đi đâu, trốn ở bến bờ nào được? Người trốn vào ái tình bẽ bàng với những cô gái môi nâu vì thuốc phiện:
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
Sát gần đây, gần nữa cặp môi nâu
(…) Hãy buông lại gần đây làn tóc rối
Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên,
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.
Quên (Thơ Say)
Trong những cơn say rượu và thuốc phiện, người thơ mơ trốn lên Thiên Thai, Đào Nguyên… nhưng động xưa đã khép, “Đào Nguyên lạc lối” không tìm được nữa! Người tìm vào những mối tình học trò với những U tình, Cánh buồm trắng, Vườn tâm sự, Em là công chúa… Nhưng tình học trò dù có thiết tha đến mấy dường như cũng quá nhạt với người! Người tìm vào những giấc mộng tình yêu với hồ ly, gái liêu trai… với phức cảm vừa rùng rợn lại vừa đắm say:
Gạn giấc chiêm bao với mảnh hình
Tóc xòa buông rủ mái tròn xinh.
Hoa mai thêu trắng nền xiêm lụa,
Đôi mắt ngời sao miệng đẫm tình.
Lòng cháy yêu đương tự bấy giờ,
Sá chi người thực với trong mơ!
… Đêm đêm ảo ảnh thơm chăn gối,
Tình hướng về Đông, dạ lắng chờ.
Tình Liêu Trai (Mây)
Thế nhưng Tình Liêu Trai cũng chỉ Mộng. Đôi khi người sực tỉnh, một niềm xót xa thân phận và một niềm khao khát hành động lại ùa về:
Ôi! Lòng ta sao buồn không nguôi?
Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi.
Há vì cơm áo chẳng no lành?
Há vì đời không ai mắt xanh?
Nhớ thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh
Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh.
Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương hề vướng mắc.
Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh…
Túy hậu cuồng ngâm
Bài thơ Túy hậu cuồng ngâm cuối tập thơ Mây có một giọng khác lạ so với những bài thơ trước, nhưng theo tôi nó vẫn là một phần máu thịt trong hồn thơ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ như một sự tỉnh mộng, nhưng từ một góc nhìn khác lại cũng là chìm vào giấc mộng: giấc mộng hành động, giấc mộng anh hùng!
Từ Mộng đến với Hành động và Sân hận
Từ Vũ Hoàng Chương của Túy hậu cuồng ngâm đến Vũ Hoàng Chương của Thơ lửa do Hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành 1948 thì gần lắm rồi, chỉ một bước chân qua bên kia là “Vùng tự do” (vùng kháng chiến) là tới. Như chính Vũ Hoàng Chương bộc bạch: “Tự biết mình là một người dân vong quốc, tôi rất kính trọng Kháng chiến và cảm phục Cách mạng. Sự cảm phục và kính trọng này đã khiến cho tôi giác ngộ được phần nào, và tự hứa sẽ tích cực tham dự công cuộc chung của nhân dân do Hồ Chủ tịch lãnh đạo”(2).
Trong kháng chiến, Vũ Hoàng Chương chuyển hướng thành một nhà thơ ái quốc nhiệt thành và say mê hành động, như chính trong văn bản trên, ông đã kể về những hoạt động của mình:
“ - đã viết được vở kịch thơ Hồn Cách mạng, diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (1946)
 – đã được giải thưởng thứ 3 về thơ Toàn quốc kháng chiến, do đích thân Hồ Chủ tịch làm chủ khảo (1947)
– đã được hội Văn hóa Liên khu 3 ấn hành cho tập thơ kháng chiến nhan đề Thơ lửa (1948)
– đã viết đều ở báo Công Dân tại tỉnh Nam Định (1947, 48)…
– đã được bầu làm trưởng nhánh Văn chương Báo chí của hội Văn nghệ chi nhánh Liên khu 3 (1948)…”(3).
Vì thế chúng ta không hề ngạc nhiên khi đọc bài thơ Nhớ về Hà Nội vàng son của ông viết năm 1947 – bài thơ có một giọng điệu trong sáng, hào hứng hiếm có. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về Cách mạng tháng Tám:
Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!
Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương
Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt
Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.
Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy
Là những nhành sông đỏ sóng cờ
Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại
Năm cánh hoa xoè trên năm cửa ô (…) 
Chen tiếng hoan hô, này khẩu hiệu
Muôn năm Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Muôn năm người lính già tiêu biểu
Vì giang sơn quyết bỏ gia đình.
Ôi ngày mười chín, ngày sung sướng!
Vạn ước mong dồn một ước mong!
Ôi mùa thi ấy, mùa tin tưởng!
Một tấm lòng mang vạn tấm lòng (…) 
Thế nhưng rồi Vũ Hoàng Chương lại đi đến một khúc quanh khác: năm 1950, ông bỏ về Hà Nội, rồi từ Hà Nội ông di cư vào Nam năm 1954. Thơ Vũ Hoàng Chương từ sau 1954 là nỗi hoài niệm về Hà Nội, về quê hương miền Bắc. Được chiều chuộng trong không gian văn nghệ bên kia bờ Hiền Lương, ông trượt đi trong nghịch cảnh. Với những tập Hoa đăng (1959), Trời một phương (1962)… thơ ông mang nặng nỗi niềm u uất và cả sân hận… Đọc những bài thơ như Bài ca Bình Bắc, Nhớ Thăng Long, Từ đây, Nhớ Bắc… người ta thấy rất nhiều ảo tưởng, rất nhiều hoang tưởng và nhất là rất nhiều sân hận. Nhưng mà thôi, với thi sĩ thì nói đến sân hận làm gì! Nguyễn Du chẳng đã từng nhắc chúng ta: “Thân tàn gạn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta”?…
2. ĐẾN VỚI TỈNH THỨC, TÌNH YÊU TRONG “LỬA TỪ BI”
Chế độ Ngô Đình Diệm đã không đem lại tự do, hòa bình, thống nhất như có thời Vũ Hoàng Chương từng ảo tưởng. Chế độ ấy thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo, cấm đoán Phật giáo – một tôn giáo thân thiết gắn bó với dân tộc hơn nghìn năm nay. Chế độ ấy mở cửa đất nước cho quân đội ngoại bang vào dày xéo quê hương. Hòa bình, thống nhất trở nên xa vời, thảm họa của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc đang đến rất gần… Ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Hòa thượng bình thản ngồi trong khối lửa, nhưng cả thế giới thì rúng động trước sức nóng của khối lửa ấy.
Trong bối cảnh ấy, Vũ Hoàng Chương đã nhận ra bộ mặt thật của chế độ và nghịch cảnh của dân tộc, nhà thơ đã đi đến một khúc quanh mới: ông từ bỏ những vọng tưởng và sân hận mà thức tỉnh đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại. Bài thơ Lửa từ bi và cả tập thơ cùng tên là minh chứng cho khúc quanh đó.
Vũ Hoàng Chương cũng xác quyết về khúc quanh này trong Lời tựa tập Lửa từ bi: “Những bài thơ trong tập này nhằm ghi lại một nguồn cảm hứng mới của tác giả, khơi dậy trong lòng cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ Việt Nam, khoảng năm 2.507 Phật lịch (từ 15 tháng Tư đến 15 tháng Chín), tức là năm 1963 d.l.”(4).
Trong không khí đàn áp Phật giáo khốc liệt của năm 1963, bài thơ Lửa từ bi đã ra đời một cách khó khăn. Lúc đầu bài thơ bị tòa báo từ chối, sau nó được in dạng quay ronéo như truyền đơn, và sau đó mới được xuất bản trong tập thơ Lửa từ bi cùng 14 bài thơ khác. Tác giả kể: “Bài Lửa từ bi gửi đăng nhật báo Tự do Saigon ngày 28/7/63 bị kiểm duyệt bỏ trọn, đã được văn phòng Chùa Xá Lợi, ngay sau đó, quay thành những bản “Ronéo” và phổ biến nhân ngày Chung thất của Bồ Tát Quảng Đức. Bài Người với người được đăng trên nhật báo Tự do ngày 18/8/63 chỉ bị kiểm duyệt bỏ 10 chữ. Sau đấy, Chùa Xá Lợi bị cường quyền xâm phạm, nhật báo Tự do cũng bị đình bản, tác giả không còn phương tiện nào khác để phổ biến thơ của mình ngoài cách truyền tay trong số các bạn thân tín”(5).
Tập thơ được xuất bản, nhưng không phải bởi một nhà xuất bản có uy tín nào, mà do Đoàn Thanh niên tăng ni – một tổ chức đấu tranh cho Phật giáo đứng ra in. Giấy in xấu, bìa vẽ vội, xuất bản rất nhanh – chỉ 3 tháng sau khi Hòa thượng chịu pháp nạn: tháng 9 năm 1963. Thế nhưng tập thơ này lại trở thành tập thơ hay nhất của Vũ Hoàng Chương sau Thơ say. 
Bài thơ bắt đầu bằng cảnh tượng Hòa Thượng Thích Quảng Đức tọa thiền trong tòa sen lửa. Ngọn lửa thì ngùn ngụt bốc lên, còn chúng sinh với xác phàm và tâm trần khổ đau thì quỳ xuống. Ngọn lửa của Hòa thượng cháy lên thành một mặt trời thứ hai:
Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!
tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng – Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,
ánh Đạo – Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên(6)
Hòa thượng thiêu mình không phải bằng cái tâm sân hận, mà Người tận hiến cuộc sống của mình từ tình thương và lòng từ bi: 
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày
bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;
gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,
Phật – pháp chẳng rời tay.
Sáu ngả Luân – hồi đâu đó
mang mang cùng nín thở,
tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh – xe – quay.
Ngọn lửa từ nhục thân của Hòa thượng ngùn ngụt cháy, nhưng ngọn lửa ấy không phải lan ra thành bão lửa, mà ngọn lửa đưa Hòa thượng lên Niết bàn và để lại bóng mát cho chúng sinh:
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió;
NGƯỜI siêu thăng
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,
nhân gian mát rợi bóng cây Bồ – đề.
Hòa thượng trở thành bất tử – bất tử mà không cần ngọc đá để tạc tượng, không cần lụa tre của người viết sử làm thơ:
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;
lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;  
chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên – thu – tuyệt – tác
trong vô hình sáng chói nét Từ – Bi.
Vì ngọc đá lụa tre của trần gian vẫn có ngày mục nát, nhưng trái tim yêu thương của Hòa thượng thì vĩnh cửu, tỏa ánh sáng từ bi xuống tận tầng đáy sâu nhất của hỏa ngục – nơi con người bị đọa đày: 
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi ?
ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
với Thời – gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn Trái – Tim – Bồ – Tát
gội hào quang xuống tận ngục A – tỳ.
Trước ngọn lửa từ bi ấy, nhà thơ đại ngộ: từ vô minh mà đến tỉnh thức. Những kiêu căng, ngông nghênh của một “thi vương”, “thi bá” trần hoàn cũng hết, nhà thơ chỉ coi thơ là rơm rác trước ánh lửa kia, và rồi lại mong thơ mình là rơm rạ để cháy lên theo lời kinh:
Ôi Ngọn – lửa – huyền – vi!
thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác
từ cõi Vô – minh
hướng về Cực – lạc;  
vần điệu của Thi – nhân chỉ còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm rác,
THƠ cháy lên theo với lời Kinh
tụng cho Nhân – loại hoà bình
trước sau bền vững tình Huynh – đệ này.
Thơ Vũ Hoàng Chương cháy lên từ đó, cháy lên để soi đường đi đến với Tình yêu – tình yêu Tự do, Hòa bình, tình Anh em và tình Nhân loại:
Thổn thức nghe lòng trái Đất
mong thành quả Phúc về cây;
nam mô Bổn – Sư Thích – Ca – Mâu – Ni – Phật;
đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt,
tình thương hiện Tháp – Chín – Tầng xây.
Bài thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngay sau đó nó được truyền ra nước ngoài. Với uy tín của mình, Vũ Hoàng Chương đã kêu gọi giới trí thức quốc tế chú ý đến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Tác giả kể:
“Riêng 2 bài Lửa từ bi và Người với người đã gửi sang Âu châu ngay sau lúc sáng tác nên nữ thi sĩ Bỉ quốc Simone Kuhnen de la Cœuillerie đã dịch Pháp ngữ để kịp thời đệ trình lên Hội nghị thi ca quốc tế họp tại Knokke từ 5 đến 9 tháng 9/63. Tác giả cũng đích thân gửi thư yêu cầu Hội nghị chú trọng đến cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ tại Việt Nam. Thi sĩ Pierre – Louis Flouquet, nhân danh Phó chủ tịch, đã thỏa mãn lời yêu cầu này. Hai bản dịch (Feu de Sacrifice và D’homme à homme) đã được giới thiệu với các đại biểu của 50 quốc gia. Một đoạn trong bài thứ nhất được ngâm lên giữa Hội nghị, đó là đoạn:
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát
Với Thời-gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT
Gội hào quang xuống tận ngục A – Tỳ”(7)
Từ sau tập Lửa từ bi, trong thơ Vũ Hoàng Chương những chán chường, khổ đau, mộng mị như trong Thơ Say và Mây cũng hết; những ảo tưởng, hoang tưởng và sân hận trong Hoa đăng, Trời một phương cũng không còn, thơ ông như đến với một cảnh giới khác: tràn đầy yêu thương, tràn đầy tình huynh đệ, tràn đầy hỉ xả, và cả lạc quan. Đọc tên các tập thơ sau Lửa từ bi cũng thấy được phần nào: Ánh trăng đạo lý (1966), Bút nở hoa đàm (1967), Cành mai trắng mộng (1968), v.v… Ông bắt đầu cách ly mình với chính quyền thân Mỹ. Năm 1966 khi đang làm chủ tịch Hội văn bút(8), ông đã từ chối tham gia hội nghị về thơ tổ chức ở New York để phản đối Mỹ và chính quyền bù nhìn – như ông viết: “Năm 1966, hội nghị ở Mỹ (New York) nhưng tôi không đi, và đã cử Tổng thư ký đi thay làm trưởng phái đoàn. Vì tôi ghét bọn Mỹ Thiệu và Kỳ lúc đó đang đàn áp Phật giáo ở Đà Nẵng, Sài Gòn”(9).
Con đường thơ của Vũ Hoàng Chương trải qua những tháng ngày buồn tủi, khốc liệt nhất của dân tộc. Vũ Hoàng Chương là một thiên tài thơ Việt Nam hiện đại, một thiên tài thơ chịu lắm thăng trầm. Dường như chúng ta vẫn nhìn ông với con mắt định kiến mà không biết ông đã trải qua một hành trình gian khổ từ Thơ Say, Mây đến Thơ lửa; rồi từ Hoa đăng, Trời một phương đến với Lửa từ bi… một hành trình tự lột xác mình. Chúng ta chưa đánh giá hết bước chuyển mình của Vũ Hoàng Chương từ tập Lửa từ bi cũng như chưa đánh giá hết vị trí lịch sử của tập thơ này với văn học Việt Nam hiện đại. Tôi xin trích một đoạn đánh giá về tập thơ này trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Rừng Trúc khi ấn hành thơ Vũ Hoàng Chương ở Paris:
“Phải nhận rằng ngàn-chín-trăm-sáu-ba đánh dấu sự chuyển mình lớn của văn học Việt Nam trong giai đoạn mới của sử tính. Dường như chúng ta vừa trở về tổ ấm, vừa nắm bắt vũ khí sở trường chôn lâu trong hoen rỉ và lãng quên để trang bị tri thức và tâm linh mình. Không có vũ khí tinh thần này, chúng ta chẳng còn là ta nữa.
Bài Lửa từ bi của Vũ Hoàng Chương đã thực đánh dấu cho sự chuyển mình đó. Nó bộc lộ đủ một phong triều văn học mới, dựng trên Bao dung và Trí tuệ. Bởi nó ánh được Ngọn lửa tỉnh thức. Bởi nó đã dùng lời Việt nói ra sự chấn động ầm ầm của lương tâm quốc tế”(10).
Bài thơ là một khúc quanh của một nhà thơ, đánh dấu một khúc quanh của một nền văn học(11). Nó thực sự cần có một chỗ đứng xứng đáng hơn trong các tuyển tập, trong các bộ lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Và tác giả của bài thơ cũng vậy. 
Chú thích:
(1) Vũ Hoàng Chương: Say đi em, in trong Thơ say, Mây. Nxb. Hội Nhà văn, H., 1996. Các bài dưới đây đều theo sách này.
(2) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(3) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(4) Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xb, Sài Gòn, 1963.
(5) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.
(6) Theo bản in Lửa từ bi trong tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.
(7) Bài tựa tập Lửa từ bi, Sđd.
(8) Vũ Hoàng Chương làm Chủ tịch Hội Văn bút (Pen club) từ 1964-1968.
(9) Di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
(10) Lời tựa tập Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974.
(11) Các tập thơ của Vũ Hoàng Chương: Thơ Say (tác giả xuất bản, 1940; Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Mây (Đời Nay xb, 1943, Nxb. Hội Nhà văn tái bản, 1995), Kịch thơ Trương Chi (tập kịch thơ, gồm 3 vở: Trương Chi, Vân Muội, Hồng Diệp, 1944, bản viết tay của tác giả), Cô gái ma (kịch thơ, 1944, bản viết tay của tác giả), Rừng phong (P.Văn Tươi xb, Sài Gòn, 1954), Hoa đăng (Văn hữu Á châu xb, Sài Gòn, 1959), Tâm sự kẻ sang Tần (kịch thơ, công diễn lần đầu ở H., 1951, 1961, bản chép tay của tác giả), Trời một phương (tác giả xuất bản, 1962), Lửa từ bi (Đoàn Thanh niên tăng ni xb, SG, 1963), Poèmes Choisis (thi tuyển, Versions Francaises de Simone Kuhnen de la Coeuillerie; Préface de André Guimbretiere; Editions Nguyen Khang, Sai Gon, 1963), Ánh trăng đạo lý (Nha Tuyên úy Phật giáo ấn hành, 1966), Cành mai trắng mộng (1968), Ngồi quán (Lửa thiêng xb, Sài Gòn, 1971), Đời vắng em rồi say với ai (1971), Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974), Ta đã làm chi đời ta (hồi ký, 1974) và một số di cảo viết tay của Vũ Hoàng Chương.
– Xin xem: Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, tái bản. Nxb. Văn học, H., 1998.
– Nhiều tác giả: Từ điển văn học (bộ mới). Nxb. Thế giới, H., 2004.
PHỤ LỤC:
Lửa từ bi
Kính dâng lên Bồ-tát Quảng-Đức
Lửa! lửa cháy ngất tòa sen!
tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng-Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
chắp tay đón một Mặt-trời-mới-mọc,
ánh Đạo-Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên
Ôi, đích thực hôm nay trời có mặt;
giờ là giờ Hoàng-đạo nguy nga!
Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt
nhìn nhau: tình Huynh-đệ bao la.
Nam mô Đức-Phật-Di-Đà,
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày
bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây;
gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,
Phật-pháp chẳng rời tay.
Sáu ngả Luân-hồi đâu đó
mang mang cùng nín thở,
tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh-xe-quay.
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió;
NGƯỜI siêu thăng
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây,
nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-đề.
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc;
lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi;
chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên-thu-tuyệt-tác
trong vô hình sáng chói nét Từ-Bi.
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi ?
ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
với Thời-gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn Trái-Tim-Bồ-Tát
gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ. 
Ôi Ngọn-lửa-huyền-vi!
thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác
từ cõi Vô-minh
hướng về Cực-lạc;
vần điệu của Thi-nhân chỉ còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm rác,
THƠ cháy lên theo với lời Kinh
tụng cho Nhân-loại hoà bình
trước sau bền vững tình Huynh-đệ này.
Thổn thức nghe lòng trái Đất
mong thành quả Phúc về cây;
nam mô Bổn-Sư Thích-Ca-Mâu-Ni-Phật(1);
đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt,
tình thương hiện Tháp-Chín-Tầng xây.
Saigon tháng 5, P.l. 2507
(T.l. tháng 6, 1963) (2)
Vũ Hoàng Chương
(Chép lại chính xác theo tập thơ Chúng ta mất hết chỉ còn nhau, thơ Vũ Hoàng Chương, Rừng Trúc xuất bản, Paris, 1974)
Chú thích:
(1) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là “Nam mô Thích-Ca-Mầu-Ni-Phật” (không có “Bổn-sư” và không phải “Mâu-Ni”)
(2) Bản trong tập Lửa từ bi, Đoàn Thanh niên tăng ni xuất bản, Saigon, 1963 viết là: “Khởi viết từ ngày 11-6-63, xong ngày 15-7-63 tại Saigon”
4/11/2022
Đoàn Lê Giang
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7 năm 2013
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Michel Houellebecq: Sự cần thiết của hư cấu

Nhà văn Michel Houellebecq:
Sự cần thiết của hư cấu

Lý do tồn tại cốt yếu của tiểu thuyết nằm ở chỗ con người nhìn chung là một bộ não quá phức tạp, quá trù phú cho sự tồn tại mà nó dẫn dắt. Tiểu thuyết, với con người, không phải là một lạc thú. Nó là sự cần thiết. Sự cần thiết của những cuộc đời khác, khác với cuộc đời của mỗi người đọc, đơn giản là bởi chỉ riêng cuộc đời anh ta là không đủ…
Đối với con người, tác phẩm hư cấu không chỉ là lạc thú, mà còn là cần thiết.
Tôi vẫn luôn cảm thấy bất ngờ mỗi khi người ta vinh danh nhà văn. Trừ một số ít ỏi, phần lớn các nhà văn vẽ lên cho chúng ta khung cảnh về một thế giới không còn hi vọng, tan hoang vì tai họa, bị xâm chiếm bởi những cá nhân tầm thường, đôi khi còn hung ác và bất lương. Trong thế giới ấy, niềm hạnh phúc, phẩm giá và tình yêu không có chỗ. Nói đúng hơn, chúng bị lạc chỗ, chúng chỉ hiện lên như những ốc đảo xa xôi, gần như là kỳ diệu, ngụ giữa một đại dương của nỗi đau khổ, sự dửng dưng và cái ác.
Còn tệ hơn nữa, chính các nhà văn lại thường mang các ám ảnh tình dục. Đôi khi họ là kẻ bợm rượu, thỉnh thoảng là con nghiện các thứ thuốc hạng nặng. Chẳng hạn như tôi, từ hơn 40 năm nay, là con nghiện thuốc lá nặng. Nếu các nhà văn cần tất cả những thứ ấy để bảo trợ cho sự sinh tồn của họ thì viễn cảnh thế giới họ bày ra – thứ họ mang, những thứ tốt nhất họ có để chia sẻ cho chúng ta – là một viễn cảnh sầu muộn và tai ương.
Trong hoàn cảnh như vậy, có thật chính đáng khi chúng ta ca ngợi các nhà văn, và đặt cho họ niềm ngưỡng mộ và trọng vọng của số đông?
Câu trả lời là có.
Văn chương không chỉ đóng góp cho tri thức sinh sôi, hay cho tiến bộ về đạo đức của con người. Văn chương còn đóng góp cốt yếu cho sự sống an lạc của chúng ta mà không hình thức nghệ thuật nào khác có thể thay thế.
Tôi thấy cần phải đưa ra những nhận định tương đối riêng rẽ để giải thích vì sao tôi lại đi đến niềm tin như vậy.
Cũng như số đông mọi người, tôi khám phá ra lạc thú trước khi khám phá ra nỗi đau khổ. Với những đứa trẻ, lạc thú thông thường là những món quà ngon, tuy hồi bé tôi không phải là đứa trẻ thích ăn quà bánh. Sau đó một chút, tôi khám phá ra tình dục; đây là thứ khiến tôi mê muội gần như lập tức. Và sau đó, dần dà là những lạc thú khác; chúng cũng không quá đặc biệt để phải kể lại.
Riêng điểm này làm tôi bất ngờ: từ hàng nghìn năm nay, sự tinh khéo của con người được viện đến để tạo ra những đồ vật mới, sản phẩm mới. Từ nhiều thế kỷ nay, tài năng và sự tháo vát đó được phát huy nhờ bệ đỡ là nền công nghiệp và chủ nghĩa tư bản, nhờ chúng mà con đường đi đến phát minh được rút ngắn và rộng mở. Nhưng sự tinh khéo ấy chưa bao giờ thành công trong việc tạo ra bất cứ thứ gì chạm gần tới tình dục, thứ được ban tặng cho con người bởi sự tồn tại đơn thuần của cơ thể chúng ta.
Tuy vậy tình dục, hay thậm chí là những món ngon vật lạ, chỉ chạm được tới những khu vực hạn chế của cơ thể người. Nỗi đau khổ thì trái lại – nó là thứ thông thường sau này ta mới khám phá ra, thứ mà càng có tuổi người ta càng hiểu hơn – nỗi đau có thể tấn công bất cứ phần nào của cơ thể, nỗi đau mang những kích thước và hình hài có thể kéo dài đến vô tận. Không ai trong chúng ta có thể phản bác điều này: nỗi đau tinh vi hơn, đa dạng và nhiều hơn là lạc thú.
Tôi không tin vào nỗi sợ cái chết. Tôi nhớ đến triết lý gắn liền với niềm vui của Epicurus, triết gia Hy Lạp cổ: ta tồn tại thì cái chết không tồn tại, và khi cái chết tồn tại thì ta cũng không còn. Tức là chúng ta không bao giờ gặp gỡ cái chết, chúng ta không có điểm gì chung với nó. Lý lẽ ấy tuy đơn giản nhưng nó thuyết phục và chính xác. Nỗi sợ duy nhất mà ta có thể có là nỗi sợ cái chết của những người khác, những người thân thương với chúng ta. Và nỗi sợ duy nhất ta có thể có về phần mình, đó là nỗi sợ đau khổ.
Cuộc cách mạng Pháp là sự tàn bạo đến khủng khiếp. Có những khoảng thời gian, nó chỉ đơn thuần là đưa người lên máy chém hàng loạt. Và tôi nghĩ, trong số những con người “đợi đến lượt mình”, như cách nói của Pascal, không ai sợ cái chết. Hay nói đúng hơn là vào thời đó, vì phần lớn là người Công giáo, họ được thuyết phục rằng chết đi là tới gần hơn đến Đức ngài, đến Đấng Tạo hóa. Nhưng đổi lại, tất cả họ đều run sợ trước thời khắc khiếp đảm, thời khắc họ chưa từng có, từ lúc lưỡi dao tiến kề tới cổ họ, cho tới khi đầu họ lìa ra khỏi cơ thể.
Trong số những con người “chờ đến lượt” ấy, có khá nhiều người thích đọc. Và, trong số những người thích đọc, có những người đã kịp gài dây ruy băng đánh dấu sách vào trang sách họ bỏ dở, ngay trước khi được đao phủ dìu lên đoạn đầu đài. Điều này đã được nhiều người chứng kiến kể lại. Tất cả sách vào thời đó đều có dải ruy băng đánh dấu sách.
Trong tình cảnh như vậy thì việc gài dây đánh dấu sách có ý nghĩa gì?
Nó chỉ có thể nói lên một điều, rằng thời điểm mà họ đọc, người đọc được đắm chìm vào trong cuốn sách, họ được cắt đứt hoàn toàn với thế gian xung quanh dầu chỉ trong một vài phút.
Ngoại trừ một cuốn tiểu thuyết hay, còn điều gì khác có thể tạo nên tác động như vậy? Không thứ gì hết.
Có lẽ trong tương lai sẽ chẳng có cuộc Cách mạng Pháp nào mới được tạo ra.
Nhưng có một tình cảnh khác cũng khủng khiếp không kém, lại càng đáng gờm hơn từ một thế kỷ qua và vẫn đang trên đà thăng tiến: những xét nghiệm y khoa. Một thế kỷ trước, con người chỉ có máy chụp X-quang. Giờ đây chúng ta có máy chụp cộng hưởng từ MRI và nhiều thiết bị hiện đại khác. Điều đó tốt chứ, y khoa đang phát triển không ngừng. Song, những con người cá nhân khi càng có tuổi càng dễ bị rơi vào tình cảnh là họ phải chờ đợi kết quả chẩn đoán sẽ quyết định vận mệnh mình trong vài tháng tới, hay may mắn là vài năm. Nó là thứ sẽ quyết định khoảng thời gian họ còn tồn tại trên quãng đời.
Ta thấy mình ở trong phòng đợi của bệnh viện, có thể là một giờ hay hai giờ – đó là chuyện bình thường vì các bác sĩ cần thời gian để đọc kết quả.
Ta phải làm gì trong hoàn cảnh đó? Cũng giống y như những gì các nhà quý tộc thời xưa bị đẩy lên đoạn đầu đài đã làm: ta đọc.
Âm nhạc không giúp ích được gì, vì âm nhạc can thiệp quá nhiều vào cơ thể, cái ta đang tìm cách quên đi. Mỹ thuật hay nghệ thuật thị giác, vì thế, càng không giúp ích. Hay như điện ảnh, ngay cả một bộ phim kinh dị giật gân cũng không đủ giúp ta dứt ra khỏi tình cảnh.
Ta cần một cuốn sách, nhưng điểm cốt yếu hơn là: không phải cuốn sách nào cũng phù hợp. Dĩ nhiên không phải sách triết học hay thi ca. Một cuốn kịch, cũng tạm được; nhưng tốt hơn hết, hãy đặt vào tay mình một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn. Ta sẽ nhất thiết cần một câu chuyện kể, và do đó tốt nhất là một tác phẩm hư cấu; một cuốn sách tiểu sử dĩ nhiên không thể mạnh ngang bằng cuốn tiểu thuyết.
Khi còn trẻ, tôi từng nghĩ thi ca là thể loại văn chương vượt trội hơn tất thảy; tới giờ, đôi lúc tôi vẫn nghĩ như thế. Đúng thực là sự kết nối của thanh âm và của ngữ nghĩa, thêm vào đó là những hình ảnh nào đó phóng hiện ra trong tâm trí, chúng đem lại những hiệu ứng mà không hình thức sáng tạo văn chương nào tạo ra được.
Và đúng, tôi vẫn nghĩ rằng thi ca là thứ đẹp đẽ hơn, nhưng đồng thời, tôi cũng bắt đầu nghĩ rằng tiểu thuyết mới lại là thứ cần thiết hơn.
Trong cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi, Anéantir (Tiêu diệt), nhân vật chính cuối cùng gặp phải tình cảnh rất bi đát. Anh ta mắc bệnh ung thư và mặc dù vẫn còn cơ hội sống, anh ta sẽ buộc phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật cắt bỏ, bi đát đến mức đến cả chính những bác sĩ phẫu thuật cũng do dự khi đề xuất với bệnh nhân.
Song, có một khía cạnh trong cuộc chữa trị ấy, không đặc biệt đau đớn nhưng khá bất tiện về mặt thể xác, đẩy nhân vật ấy phát hiện ra ích lợi của tiểu thuyết. Anh ta phải chịu đựng những lần tiêm truyền kéo dài từ bốn đến sáu giờ, và để quên đi cái đau và nỗi khó chịu, để gột bỏ mong muốn thường trực là giật tung mớ dây nhợ, anh ta tìm thấy một việc để làm, đó là đọc Conan Doyle.
Tôi muốn nhắc ngắn gọn rằng Conan Doyle là một tác giả Anh, và theo tôi, ông ta viết ra rất nhiều thứ hấp dẫn, nhưng tác phẩm nổi tiếng nhất mà không ai có thể phản bác chính là những câu chuyện về Sherlock Holmes.
Ở đây, tôi muốn hướng sự chú ý của các bạn tới một điểm, vì rằng lựa chọn Conan Doyle có thể dẫn tới sự mơ hồ nhất định. Chúng ta có thể tin rằng phẩm chất quan trọng nhất của một cuốn tiểu thuyết giúp ta thoát khỏi tình trạng đau đớn và vật lộn của tâm trí – chẳng hạn, khoảng thời gian tiêm kéo dài vài tiếng, hay đợi kết quả chẩn đoán – chính là thứ mà người Anh gọi là “page turner”: một quyển sách mê ly, một thứ thực sự níu giữ khiến ta phải bực mình khi bỏ ngang việc đọc.
Đó là phẩm chất quan trọng, đích thực quan trọng, nhưng tôi tin đó chính là điều quan trọng nhất.
Tôi muốn mời bạn làm một thử nghiệm đơn giản. Nằm ra bãi biển đẹp một chiều hè. Cầm lên một cuốn truyện Sherlock Holmes. Chỉ trong chưa đầy một trang, nếu như Conan Doyle có chủ đích, bạn sẽ thấy mình đang hiện diện ở giữa London, trong một đêm đông giá lạnh và ướt át vì mưa, sương mù tỏa vây những con phố, hoặc có thể bạn hiện diện trong một căn hộ phố Baker, ở gần lò sưởi đang kêu rù rù. Conan Doyle có thể chuyển ta đến bất cứ nơi nào và khi nào ông muốn, đặt ta ở bên cạnh bất cứ nhân vật nào ông chọn. Và ông có thể làm điều đó, thực sự, chỉ trong chưa đầy một trang sách.
Các bạn có thể đợi tôi thuyết giảng rằng ông ấy làm điều đó như thế nào, những chi tiết nào giúp ông di chuyển độc giả vào bên trong thế giới mà tác giả tạo nên. Nhưng chẳng ích gì. Mỗi nhà văn đều có phương thức của riêng họ, đơn giản vì mỗi vũ trụ nhận thức, mỗi nhân sinh quan của họ là khác nhau.
Hay ta có thể đưa cho từng nhà văn một bài tập là họ thể hiện hết vốn liếng của mình ra mỗi trang giấy, xem cái cách họ lao động ra sao. Nhưng chẳng ích gì. Họ không thể làm được, vì viết từ sự phản tư có ý thức là cái lá chắn. Nhà văn có thể cảm giác được vào thời khắc họ viết, rằng điều gì là quan trọng, nhưng họ sẽ quên béng đi ngay vào lúc họ bước sang một trang khác. Thỉnh thoảng khi đọc lại, nhiều năm sau, họ sẽ nói: đây và đây này, chi tiết này hay đấy; nhưng đó chính xác là cách một cuốn sách được đọc bởi một người khác.
Bởi thế nhìn chung là vô ích khi ta tự hỏi, hay yêu cầu tác giả giải thích vì sao có những trang sách lại hấp dẫn tới như vậy; họ không biết được đâu. Tốt hơn là ta nên đợi các học giả chỉ ra các chi tiết quan trọng, những nét riêng, hay các phương pháp hữu ích cho việc neo giữ độc giả.
Tôi là một nhà văn, nhưng trên hết, cả đời tôi là một độc giả. Tôi dành nhiều thời gian để đọc hơn để viết. Và cuộc đời độc giả của tôi, khác với cuộc đời tác giả, dẫn tôi tới một vài kết luận cốt yếu, như điều tôi trình bày ở bài diễn thuyết ngắn này.
Lý do tồn tại cốt yếu của tiểu thuyết nằm ở chỗ con người nhìn chung là một bộ não quá phức tạp, quá trù phú cho sự tồn tại mà nó dẫn dắt. Tiểu thuyết, với con người, không phải là một lạc thú. Nó là sự cần thiết. Sự cần thiết của những cuộc đời khác, khác với cuộc đời của mỗi người đọc, đơn giản là bởi chỉ riêng cuộc đời anh ta là không đủ. Những cuộc đời khác đó không nhất thiết phải hấp dẫn, chúng có thể hoàn toàn buồn tẻ. Những cuộc đời đó có thể trải qua nhiều sự kiện trọng đại, hoặc không trải qua gì hết. Chúng không nhất thiết phải lạ: chúng có thể xuất hiện 5 thế kỷ trước, ở một lục địa khác; chúng có thể hiện diện ở ngay căn hộ kế bên. Điều quan trọng là chúng khác.
Việc cần những cuộc đời khác, xét rộng ra, cũng mang tính chính trị, bởi dường như cho đến nay không ai có thể nói một giải pháp chính trị nào cho mỗi cuộc đời riêng là tuyệt đối hợp lý và xác đáng.
Tôi nghĩ rằng một giải pháp như thế cho cuộc đời chúng ta, trên hết cả, cần phải gần gũi bản thân ta cả về mặt thể xác lẫn tình cảm; nhưng, ở đó, dường như không có giải pháp phù hợp nào xuất hiện.
Tôi không tin chút nào rằng giải pháp ấy cần viện tới cái gọi là thực tế ảo hay một vũ trụ ảo (metaverse); tất cả đều là bánh vẽ.
Sự thật là cho đến nay, văn học vẫn là thứ duy nhất làm được công việc ấy, đem lại chính thứ chúng ta cần. Tất nhiên, đòi hỏi về những cuộc đời khác sẽ càng gia tăng, càng bức thiết khi hoàn cảnh của chính cuộc sống chúng ta càng trở nên đau đớn và ác nghiệt. Đó là lý do tại sao, bất chấp mọi điều tôi đã nói ở phần đầu, có lẽ việc tôn vinh các tiểu thuyết gia là chính đáng.
Chú thích:
(*) Bài diễn từ của Michel Houellebecq tại Đại học Kore ở Enna, Sicily (Ý) ngày 16.6.2022 khi tác giả nhận bằng tiến sĩ danh dự.
7/11/2022
Michel Houellebecq
Trần Quốc Tân dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thế Lữ - Người khai sáng phong trào Thơ mới

Thế Lữ - Người khai sáng
phong trào Thơ mới

Thế Lữ trước sau vẫn được coi là người cách tân số một của thơ Việt Nam thế kỷ XX. Có ông, thơ Việt yên tâm khép lại cổ điển mà mở vào lãng mạn.
Tròn trăm năm tính từ năm 1907, đầu năm (20.1) Tú Xương tạ thế (theo ngày âm là rằm tháng chạp Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18) và gần cuối năm (6.10)  Thế Lữ ra đời. Lúc ấy không ai nghĩ rằng hai con người có năm mất năm sinh kế nhau ấy lại là mối giao nhau tiêu biểu của hai thời đại thơ ca dân tộc. (Khoảng giữa bài thơ cuối của Tú Xương và bài thơ đầu của Thế Lữ có thể kể đến các bài thơ của Tản Đà. Tản Đà có 18 năm thở chung khí quyển với Tú Xương và 32 năm chung với thế Lữ).
Thế Lữ (1907-1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Thứ Lễ đọc lái đi thì thành Thế Lữ và có nghĩa là cái quán trọ của đời người (coi đời người như quán trọ?). Sinh ra ở Hà Nội, trải qua tuổi thơ ở Lạng Sơn, nơi cho ông những ấn tượng thâm u của truyện đường rừng và của thơ nhớ rừng sau này. 9 tuổi về Hải Phòng học trung học. Năm 23 tuổi thi vào trường Mỹ thuật nhưng thôi học ngay năm đầu. Sau đó viết truyện và làm thơ. Truyện của ông hấp dẫn vì tính chất bí ẩn và suy luận trinh thám. Từ năm 1942 ông sang kịch và ở lại đó cho đến khi mất. Đóng góp của ông cho sân khấu kịch nói là tư cách khai sáng cho bộ môn này.Về thơ, trong khoảng 7 năm sáng tác (1933-1941) chỉ in có hai tập, đúng ra là một tập, Mấy vần thơ (1935) sau bổ sung thành Mấy vần thơ Tập mới (1941) nhưng lại có ý nghĩa khai sinh một chặng phát triển mới cho cả nền thơ Việt. Ông là người khởi xướng thành công phong trào Thơ Mới. Đầu những năm 30, thơ cũ theo luật Đường không còn đủ sức phô diễn những tình cảm mới. Ngay Tản Đà cũng đã phải có những yếu tố cách tân. Đến năm 1932 thì một loạt thi sĩ mang vào thơ những thay đổi cả vể nội dung lẫn hình thức. Những cuộc tranh luận giữa mới cũ diễn ra sôi nổi. Thế Lữ không tham gia tranh luận mà lặng lẽ làm thơ theo lối mới. Khi tập Mấy vần thơ của ông ra đời thì phái thơ cũ không còn lý lẽ để công kích thơ mới nữa. Với Thế Lữ, lần đầu công chúng thơ được nếm một thi vị hoàn toàn mới mẻ, một dạng xúc động mới, một chất tâm hồn mới. Ngôi thứ đầu bảng của Thế Lữ đã được công nhận ngay từ những năm ấy và thể hiện khá rõ khi nhìn lại trình tự xuất hiện các tập thơ tiêu biểu:– Năm 1935: Mấy vần thơ của Thế Lữ– Năm 1937: Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Điêu tàn của Chế Lan Viên và bốn bài của TTKh trên Tiểu thuyết thứ bảy
– Năm 1938: Thơ thơ của Xuân Diệu
– Năm 1940: Lửa thiêng của Huy Cận và Thơ say của Vũ Hoàng Chương
Điều có ý nghĩa với hôm nay, khi thơ đương thời cũng đang có nhu cầu đổi mới, đổi mới trong nội dung và cả cách làm ra nội dung ấy, là thấy rõ hơn cái khoảng cảm xúc mà Thế Lữ đã mở ra, cái cách ông nới rộng thêm hồn thơ và từ đó mà thay đổi bút pháp. Cảm hứng của thơ cổ điển, tạm lấy cụ thể một Tú Xương khi ấy, thường phát sinh từ những chuyện đời, việc người của cuộc sống vật chất cụ thể bao quanh tác giả. Một cảnh “Bức sốt mà mình vẫn áo bông”, một nỗi lòng thương vợ dội lên từ tình cảnh “Quanh năm buôn bán ở mom sông”… Ngay với những đề tài tưởng đã là tâm trạng lắm, hư ảo lắm như tiếng gọi đò ban đêm bên con sông đã lấp thì vẫn cứ tựa vào sự kiện thực là con sông Lấp và rộng hơn, là một cõi lòng công dân vừa mất nước. Thơ cứ phải “Có tích mới dịch nên tuồng”. Và từ tích nên tuồng, thơ hình thành qua một hệ thống thao tác tư duy hợp lôgíc, hợp quy luật tâm lý, hướng tới ý tưởng toàn cục, giữ tính nhất quán trên dưới, cân đối trước sau. Tính quy phạm của bút pháp dù tự nhiên, hồn nhiên vẫn luôn luôn được tôn trọng. Mà đấy chính là tài năng của các nhà thơ cổ điển. Tú Xương dù đã là một cá tính phóng túng, một tính cách đã gần lắm với người thị thành hiện đại, thế mà ngay cả trong những bài thơ bỡn cợt, hóm hỉnh ví dụ như bài Ngày xuân bỡn làng thơ:
Ngày ba tháng tám thấy đâu mà
Sao đến ngày xuân lắm thế a
Ý hẳn thịt xôi lèn chặt dạ
Cho nên con tự mới thòi ra
vẫn giữ đầy đủ những quy luật của tư duy thơ quy phạm với cách biểu hiện tung hứng nhân quả, đối ứng tề chỉnh.
Cảm hứng thơ Thế Lữ không còn như thế nữa. Ông không phản ánh hiện thực, ông chỉ phản ánh tâm hồn mình. Mà cái cõi tâm hồn ấy không phải lúc nào cũng cứ phải liên hệ chằng chằng với hiện thực, như bóng với hình. Nó có những so le, những trái khoáy rất không quy luật với cái hiện thực cụ thể của khoảnh khắc ấy như thuộc tính vốn có của tâm hồn con người. Bài thơ cất lên tự một cõi riêng, nhiều khi không dính trực tiếp một – một với thời sự cơm áo gạo tiền, hay với cõi rộng xa vận nước. Mối liên hệ của tâm và sự trong Thế Lữ, nếu có cũng cách bức hơn nhiều, biện chứng phức tạp hơn nhiều. Nhiều lúc ngỡ như chuyện trên giời, xa đời, xa mặt đất, bất ngờ và đầy biến hoá. Do vậy ở vào thời kỳ nhu cầu dùng thơ làm nhiệm vụ thông tin, cổ động, tổ chức công chúng thành cấp bách, thì người đời không ưa lắm, thậm chí chế giễu tính vô dụng của thứ thơ lơ mơ này. Xin đơn cử một ví dụ ngẫu nhiên, bài Tiếng trúc tuyệt vời. Nghe tiếng sáo trúc tác giả cảm nhận “như khua động nỗi nhớ nhung, thương tiếc”. Thơ phát triển đến đây thì cả cổ điển lẫn lãng mạn như nhau. Nhưng khi tác giả “buộc” nỗi nhớ nhung thương tiếc vào cái cô vu vơ nào đứng bên hồ kia, ông đoán chắc cô đang nghĩ ngày vui sẽ mất, sắc đẹp sẽ tàn phai. Rồi cô man mác, cô bâng khuâng, cô tê tái, cô thổn thức. Ông tác giả lại muốn nâng “tấm khăn hồng lau mắt lệ” cho cô. Lau mắt lệ mà không chỉ vì nước mắt, mà chính “vì ta sợ má đào kia phai” thì đa sự quá, chiếu vào đời thực thì nó là hành động của anh dở người. Nó phi thực. Đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa lãng mạn chính là phi thực, phóng túng theo cơn tưởng tượng của tình cảm, không còn lý trí kiểm tra. Nghe tiếng sáo, thấy buồn thì khóc, thấy người đẹp khóc thì phải xông vào mà lau nước mắt cho người ta mà khăn tay cứ phải màu hồng (“Khóc như em mấy khăn hồng chả phai” – Nguyễn Bính). Lau nước mắt cho người rồi mình cũng mưa gió khóc theo. Những tâm hồn kiểu ấy trước Thế Lữ không có trong thơ Việt. Thế sao bây giờ lại xuất hiện? Ai đặt hàng những mẫu tâm hồn ấy mà thơ lại chế tác ra và được xã hội tiếp nhận?
Tiếng súng xâm lược đầu tiên bắn vào Đà Nẵng 1858. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai 1883. Hoà ước mất nước, triều đình Huế kí năm 1884. Kẻ xâm lược bắt tay vào giai đoạn khai thác. Ở thành thị, phố chợ, nhịp sống tao loạn chuyển dần sang cuộc sống đời thường lo ăn lo làm, phát triển, lo thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Để cải thiện cuộc sống tinh thần của chính mình, con người tìm mọi cách. Có tôn giáo và có cả mê tín. Có nghệ thuật và đặc biệt là nghệ thuật mơ mộng. Hình thành nhu cầu mơ mộng để chí ít hưởng thụ trong cõi tinh thần. Đó cũng là kinh nghiệm của nhân loại. Xã hội Việt Nam ta lúc đó, hình thành lớp người có nhu cầu đó thì kinh nghiệm đó nhập vào, tự phát lẫn tự giác nhập vào mà hình thành chủ nghĩa lãng mạn cho thơ. Tác động của hiện thực tới thơ là tác động qua tâm trạng và đấy là tác động qua tâm trạng và đấy chính là cái cách đê thơ trở nên nhân văn hơn, thương xót con người hơn.
Thưởng thức Thế Lữ và cũng để thấy những khai phá của Thế Lữ trong thơ lãng mạn Việt Nam, chúng ta nên hình dung lại những đòi hỏi tinh thần của lớp người có học trong các nơi đô hội thời ấy. Một đòi hỏi mơ hồ nhưng bức thiết. Trong tình cảnh ấy, sự đáp ứng của chủ nghĩa lãng mạn là có ý nghĩa. Nó có sức giải toả những ngột ngạt bức bách, nó nâng cấp tâm hồn con người. Không nên coi lãng mạn là bài ca đánh lừa, ru ngủ cơn đói cơn đau. Lãng mạn làm người ta bớt đau và mở rộng lòng yêu. Yêu cái đẹp của thiên nhiên, đất nước, lòng người. Cụ Hồ Chí Minh năm 1942-1943 trên đường tội tù xiềng xích cũng đã vận dụng chủ nghĩa lãng mạn để tự vui đời, bài Trên đường (Lộ thượng), bản dịch:
Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta dừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu.
Chân tay bị trói thì hãy tìm chỗ kẻ thù không trói được (ở đây là thính giác, khứu giác, ở chủ nghĩa lãng mạn là mơ mộng) mà hưởng thụ tinh hoa cuộc sống, mà tự diệt khổ. Thơ Cụ Hồ ở bài này là cổ điển nhưng lại ca ngợi chủ nghĩa lãng mạn trong cuộc sống, coi nó như một cánh cửa mở vào tự do.
Thế Lữ đã có cách lắng nghe kỳ diệu những tiếng vọng mơ hồ đầy gợi cảm trong tâm hồn lớp người tuổi trẻ, những tiếng vọng hình thành từ những đổi thay của lối sống, của lối nghĩ, cách vui buồn. Mà những đổi thay này bắt nguồn từ những đổi thay của thời thế, không cưỡng được. Thế Lữ đã phát hiện và diễn tả được cái tâm trạng bâng khuâng man mác (cụm từ này xuất hiện trong nhiều câu thơ của Thế Lữ và Xuân Diệu đã tách nó ra để chỉ thuộc tính của thơ Thế Lữ) của những người vừa tách ra khỏi cái tập thể chung chung mù mờ cảm giác của chế độ phong kiến già nua để tìm lại cá tính thiên nhiên, tìm lại cảm xúc riêng tư của con người. Tâm trạng phổ biến của những con người ấy là nỗi bâng khuâng khi đối diện mình với khoảng xa rộng của không gian, của đời người, của hạnh phúc lứa đôi. Đó là đòi quyền tồn tại của cái cá thể dưới mặt trời. Thế Lữ thường kí thác niềm bâng khuâng mơ hồ ấy vào cuộc sống trôi dạt một khách chinh phu “mũ lợt bốn trời sương nắng gội”, hoặc vào đời một nghệ sĩ “tìm mộng vàng trên cảnh lộng trời mây” cao quý và đói khổ. Đừng tìm nguyên nhân những đau khổ trong thơ lãng mạn trực tiếp từ xã hội. Đau khổ sầu muộn sinh ra từ tâm trạng và nương tựa vào những nhân tố rất vu vơ bất ngờ, không quy luật: “Hay đâu cơn gió lạ đâu đâu/ Thổi lại cho em những mối sầu”. Sự lắng nghe những gợn nhỏ bé của tâm trạng ấy chính là dấu hiệu to lớn của một thời đại thi ca mới.
Thế Lữ đắm say trong những cảm xúc lãng mạn, ông tạo dựng bồng lai và tự kinh ngạc trước vẻ đẹp thần thoại do chính hồn mình tạo dựng:
Trời cao xanh ngắt – Ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai.
(Tiếng sáo Thiên Thai)
Và:
Ái ân bờ cỏ ôm chân trúc
Sau trúc, ô kìa! Xiêm áo ai?
(Vẻ đẹp thoáng qua)
Trời xanh hạc trắng ấy là phi thực. Xiêm áo trút sau tre ấy cũng chỉ trong cõi mộng. Hãy lấy mơ và mộng, càng hư ảo càng dễ cảm thụ cõi tinh vi huyền diệu của thơ Thế Lữ. Thói quen cảm nhận phẩm chất thơ quá câu nệ vào hiện thực, có thể dẫn đến những suy diễn lệch lạc về thơ Thế Lữ. Tôi xin phép mạnh dạn thú nhận một băn khoăn của riêng mình về cách hiểu bài thơ vào loại hay nhất của Thế Lữ, bài Nhớ rừng.
Bài thơ mượn lời con hổ ở vườn Bách thú “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt” nằm nhớ cảnh rừng xưa, thuở hổ tự do tung hoành giữa cõi “sơn lâm bóng cả cây già/ Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”. Hình bóng chúa sơn lâm được đặc tả, đẹp và oai, rất tạo hình, bắt đầu là bàn chân chắc nặng móng vuốt dũng mãnh, sau là tấm thân sóng cuộn đường hoàng. Cảnh sống oai hùng và thơ mộng của chúa sơn lâm đầy chi tiết tráng lệ, phi thường trong hơi thơ anh hùng ca âm vang hào sảng. Nghệ thuật của thi pháp Thơ mới như ở đoạn giữa bài thơ này thì không một tài năng cổ điển nào bài xích nổi. Say đắm thơ, say đắm tâm hồn yêu tự do của loài hổ, không ít nhà nghiên cứu khẳng định mối tương quan của thân phận con hổ trong chuồng sắt với thân phận mất độc lập tự do của dân tộc ta: “Vận vào những cái “Thời oanh liệt” đầy những chiến công chói lọi của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thì lại càng thấy hùng tráng và tự hào. Càng nhớ đến “thời oanh liệt” càng thấy uất ức phải bị tù hãm, xung quanh toàn là những cái tầm thường nhỏ nhen ngang trái của người dân mất nước, và nhiều nhà nghiên cứu đã có lí khi xếp nó (tức bài Nhớ rừng- VQP) vào xu hướng lãng mạn cách mạng rất hiếm hoi trước Cách mạng tháng Tám”.
Hãy đọc bài thơ, nếu con hổ nhớ rừng là biểu hiện khát vọng tự do của dân ta trong cảnh bị người đô hộ, thì giải thích ra sao tính thống nhất của hình tượng, khi chính con hổ ấy lại đầy tham vọng thống trị khắc nghiệt tàn bạo cả muôn loài:
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài.
Bài Nhớ rừng thực chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn, không chấp nhận cái tầm thường (“Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng/ Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng/ Len dưới nách những mô gò thấp kém…”) để đòi cái phi thường, phi thực (“Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi” hoặc với “những đêm vàng bên bờ suối/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan” và “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn/ Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”…). Thế giới lãng mạn của Thế Lữ gần với tiên cảnh, gần với Thiên Thai, với “Tiên nga xoã tóc bên nguồn”, với “Ngọc nữ uốn mình trong không”. Tạng lãng mạn của ông là vậy. Người đọc nên nhập gia tuỳ tục, đừng ép ông phải chặt cánh phóng túng của cơn mơ để vừa với cái khuôn thực dụng của thời mình.
Trong cách kết cấu bài thơ, cách làm câu, Thế Lữ xuất phát từ nhiều điệu thơ dân tộc lăn lóc trong văn học dân gian, kết hợp với kỹ thuật thơ Pháp mà dấu tích khá rõ trong lối thơ vắt dòng để tạo nên thể thơ uyển chuyển biến hoá không cùng theo tâm trạng, đáp ứng được mong ước của Tản Đà hồi nào “phá cách vứt điệu luật”.
Nghệ thuật ngôn ngữ, âm điệu, hình ảnh… ở Thế Lữ đã đạt tới độ tinh xảo đủ để chuyên chở cái cõi mộng của hồn ông. Hơn hai phần ba thế kỷ đi qua, nay đọc lại vẫn còn nguyên mới mẻ.
Tả âm thanh:
Êm như hơi gió thoảng cung tiên
Cao như thông vút, buồn như liễu
Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên
(Tiếng gọi bên sông)
Lưu khoảnh khắc:
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi
(Tiếng sáo Thiên Thai)
Thế Lữ không đi tận cùng với thơ. Những nhà thơ xuất hiện sau ông, được ông giới thiệu, nâng đỡ đã có những thành tựu vượt qua ông. Xuân Diệu mơ mộng, say đắm nhưng không cần lên tiên, cứ gắn vào mặt đất mà nồng nàn, càng nồng. Huy Cận vừa thâm trầm vừa rộng xa, từ hoa đại lãng mạn mà nhập vào triết học, lấy cảm xúc đo kích thước của hư vô… Nhưng Thế Lữ trước sau vẫn được coi là người cách tân số một của thơ Việt Nam thế kỷ XX. Có ông, thơ Việt yên tâm khép lại cổ điển mà mở vào lãng mạn. Kinh nghiệm cách tân thành công của ông xuất phát từ đáp ứng yêu cầu đích thực của tâm hồn con người thời ông và kết thúc bằng sức thuyết phục của tài năng ông.
7/11/2022
Vũ Quần Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/

  “Bước gió truyền kỳ” thổi hồn đất nước Có dân tộc nào tồn tại, phát triển mà không chất chứa trong nó những nhọc nhằn, thăng trầm cay đắ...