Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026
Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức "Dốc im lặng''
Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức
“Dốc im lặng” là tập thơ thứ hai của nhà thơ, họa sĩ Trần Thắng. Cùng với thơ, trong tập này, anh in nhiều bức tranh nổi tiếng của mình. Thơ Trần Thắng ở “Dốc im lặng” không dễ đọc. Không phải nó phức tạp hay quá thâm hậu, cao siêu mà thực ra là rất khó nắm bắt tâm thế của thi sĩ. Trần Thắng là một nhà thơ có sinh quyển thơ riêng biệt. Vì thế, không dễ gì bước vào thế giới thơ anh. Bởi trong đó có quá nhiều trầm tích, bí mật và ẩn ức. Ở đây chỉ thử truy tìm một khía cạnh nhỏ – những ẩn ức nào đó chi phối nhà thơ Trần Thắng được hé lộ trong “Dốc im lặng”.
Văn Cao - Một lối thơ riêng
Văn Cao - Một lối thơ riêng
Văn Cao mong muốn thơ không chỉ phục vụ cho hôm nay,
mà thơ phải hướng đến “ngày sau”, phải lo đến tương lai. “ Người thành công nhất
ngày nay là phải lo đến cái thất bại ngày sau và người lo thất bại ngày nay
cũng phải lo đến cái thất bại ngày sau. Nếu không có sự lo lắng đó, một nhà thơ
không nghĩ tới trách nhiệm của mình khi viết, hoặc chỉ viết cho người bây giờ
mà không có trách nhiệm đến người sau”.
Chúng ta đều biết Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Trong tư
cách nhạc sĩ, Trịnh Công Sơn đã coi ông “sang trọng như một ông hoàng” * với những
ca khúc trữ tình như Thiên thai, Suối mơ, Làng tôi, Mùa xuân đầu tiên,… những
ca khúc hùng tráng như Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam, Tiến về Hà Nội,…
và bản nhạc lớn Trường ca sông Lô. Trong tư cách họa sĩ, Văn Cao đã vẽ
tranh, minh họa báo và làm bìa sách. Nhà nghiên cứu nghệ thuật Thái Bá Vân khẳng
định “cái nhìn hội họa” của Văn Cao “có địa vị dẫn đường và chi phối” , “ Có thể
nói Văn Cao đã lập được trường phái minh họa và bìa sách”. Trong tư cách nhà
thơ, Văn Cao có 64 bài thơ trong tập “Văn Cao tác phẩm thơ”. Nhiều người đã
đánh giá rất cao thơ ông. Thái Bá Vân cho rằng “ Có nhiều người sành, nhận xét
rằng trong ba thứ đó ( thơ, nhạc, họa-VN), thơ Văn Cao là hay nhất”. Chúng tôi
không muốn so sánh nhạc với thơ, nhưng chắc chắn thơ Văn Cao là một lối thơ
riêng. Nhận xét của nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo về thơ Văn Cao là xác
đáng : “Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ ông thật đến siêu thực. Thơ ông mới
bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên”.
Đọc bài viết “Mấy ý nghĩ về thơ” do Văn Cao viết
năm 1957, thấy rõ khuynh hướng thơ của ông nhất quán từ khi viết bài thơ đầu
tiên 1939 cho đến bài thơ viết tháng 8 năm 1994 trước ngày ông đi vào cõi Thiên
thai một năm. Văn Cao thừa nhận và khuyến khích sự đa dạng của phong cách thơ :
“Có người nói thẳng tới cái vô cùng tận của trời xanh qua cái rộng của biển,
cũng có người thấy trời xanh vô cùng tận qua bát nước và cũng có người chỉ nói
tới một giọt ánh sáng để tìm thấy cái vô cùng tận của trời xanh. Có người phải
tìm con đường lớn mới thấy dấu xe mà có người tìm thấy dấu xe trong một hạt bụi”.
Nhưng dù khác nhau, các nhà thơ cũng đều phải “tìm riêng lấy một cách thể hiện”.
Tìm riêng lấy một cách thể hiện đó là mong muốn của Văn Cao trong bất cứ hoạt động
trong lĩnh vực nào dù là nhạc, họa hay thơ. Chúng ta đã thấy tinh thần cách tân
của Văn Cao. Tuy nhiên, có thể thấy ông không cực đoan như nhiều người trẻ bây
giờ. Văn Cao mong muốn thơ phải có tư tưởng mới: Chúng ta đã qua một thời kì
dài thiên về cảm xúc và một thời kì cảm giác. Cái thời kì thiên về tư tưởng có
phải đang bắt đầu không?”. Nhà thơ chỉ yêu cầu thiên về tư tưởng thôi. Nghĩa là
thơ vẫn cần phải có cảm xúc, cảm giác, và phải có tư tưởng, đậm nhiều hơn tư tưởng.
Và không chỉ có thế, Văn Cao mong muốn thơ không chỉ phục vụ cho hôm nay, mà
thơ phải hướng đến “ngày sau”, phải lo đến tương lai. “ Người thành công nhất
ngày nay là phải lo đến cái thất bại ngày sau và người lo thất bại ngày nay
cũng phải lo đến cái thất bại ngày sau. Nếu không có sự lo lắng đó, một nhà thơ
không nghĩ tới trách nhiệm của mình khi viết, hoặc chỉ viết cho người bây giờ
mà không có trách nhiệm đến người sau”. Viết lời giới thiệu cho tập thơ Lá
Chín của họa sĩ Văn Hải, nhà thơ Văn Cao cũng đòi hỏi “Với bạn trẻ làm
thơ, tôi muốn tìm một phong cách mới”.
Để tìm một lối thơ cho riêng mình, Văn Cao không hầu
như rất ít viết thơ lục bát. Bởi vì nhà thơ biết rất rõ lục bát : “một thể
thơ dễ làm và cũng khó làm”, rất dễ bị “nhàm tai” ( Giới thiệu tập thơ Lá
chín của Văn Hải, Nxb Văn Học, 1993). Những dòng lục bát ít ỏi của
Văn Cao trong hai bài Đêm ngàn và Đêm mưa rất mới mẻ
và hiện đại:
Vi vu… Rừng lại sang rừng
Xa xôi tiếng đáp cũng ngừng xa xôi
Nương nương qua tiếng đồi đồi
Áo chàm nàng thổ pha phôi sắc chàm – Đêm ngàn
Thuyền vào nằm ngủ trong mưa
Trên con sông vắng lập lờ bóng trăng- Đêm mưa
Ngay từ những bài thơ đầu tiên xuất hiện trên Thi đàn,
Văn Cao đã thể hiện một lối thơ tinh tế, hiện đại như các chủ soái thơ mới bằng
cách đem “con mắt của một người hội họa” (chữ của Văn Cao) nhìn cảnh vật và thấu
thị sự vật bằng cảm nhận :
Trông qua song cửa : trời vàng úa
Mấy lá bàng rơi nhắc nhở thu!
Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống
Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa – Ai về Kinh Bắc, 1941
Thơ làm hoa lá rung rinh thở
Nhựa ở thân cây se sẽ dâng
Sương ở đầu cành thâm thấm lá
Và dần dần thấm đất vươn xuân – Ngâm thơ, 1942
Nhà văn Vũ Bằng đã rất công tâm và chính xác khi đánh
giá rằng :“ Văn Cao quả là một người tài hoa có một. Đến lúc Văn Cao nổi
tiếng về nhạc và vụ ám sát Đỗ Đức Phin, người ta mới giở lại những bài thơ anh
đăng tải trên Tiểu thuyết thứ bảy và một loạt tờ báo khác, và đến lúc ấy người
ta mới thấy thơ Văn Cao cũng hay như nhạc của anh. Chẳng qua chỉ vì Văn Cao
không quan niệm cái gì là quan trọng, không kéo bè kéo đảng để đưa nhau lên,
suy tôn nhau là thi hào “lớn”, văn sĩ “lớn” nên lúc bước vào làng văn nghệ
anh không được quảng cáo nhiều, do đó thơ anh bị chìm”.
Văn Cao đã viết trường ca “ Những người trên cửa biển”
năm 1956. Sau này trên thi đàn của ta một độ nở rộ những trường ca. Nhưng có thể
thấy Văn Cao đã sớm là một người khai sơn phá thạch ở thể loại này. Nhà nghiên
cứu Đặng Tiến cho rằng tất cả các bài thơ sau này của Văn Cao, dù đặc sắc, vẫn
là “ những mảnh vỡ” của Hải Phòng.
Những bài thơ đặc sắc của Văn Cao được mọi người nhắc đến, phẩm
bình là Năm buổi sáng không có trong sự thật, Những bó hoa,
Nguyệt thực, Sự sống thật, Khuôn mặt em, Quy Nhơn, Thời gian, Khúc biến tấu tuổi
65,…
Có biết bao người làm thơ về tháp Chàm, nhưng chỉ đến khi Văn
Cao đem con mắt nhìn hội họa thì chúng ta mới có một tháp Chàm độc đáo về kiến
trúc trong thơ:
Từ trời xanh
rơi
vài giọt tháp Chàm
quanh Quy Nhơn
Thơ cần thiên về tư tưởng, thì những bài thơ như Những
bó hoa, Nguyệt thực, Chọn, Về một người bạn, Trôi,…chứa đầy tư tưởng
trong hình thức cô đúc, ngắn gọn.
Văn Cao mong muốn “Qua một bài thơ, người ta thấy ngay con
người của nhà thơ đang sống thực” ( Mấy ý nghĩ về thơ). Không ít các bài thơ
dài, ngắn của Văn Cao cho người đọc thấy điều đó.
Bài thơ Có lúc là một ví dụ:
Có lúc
một mình một dao trong rừng không sợ hổ
Có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
Có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được(1963)
Và bài thơ Khúc biến tấu tuổi 65 là một ví dụ khác
về cuộc sống của nhà thơ sau những biến cố.
Có thể nói rằng toàn bộ sáng tác thơ của Văn Cao là những tìm
tòi không mỏi mệt cho một lối thơ riêng, in đậm dấu ấn cá nhân của người nghệ
sĩ đa tài. Giữa những lời tuyên ngôn và hành động sáng tạo của nhà thơ luôn nhất
quán. Văn Cao viết thơ cho hôm nay nhưng cũng luôn ý thức viết cho “ngày sau”.
Thơ của ông sẽ đồng hành cùng bạn đọc đến tương lai, vì ông đã “tìm riêng lấy một
cách thể hiện”, đã “can đảm biết làm nổ để mở đường”.
Chú thích:
* Các trích dẫn trong bài viết đều từ cuốn “Văn Cao tác phẩm
thơ”, NXB Hội Nhà Văn, 2013.
17/12/2023
Vũ Nho
Theo https://vanvn.vn/
Theo một lịch sử trốn lính trong tiểu thuyết ''Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín''
Theo một lịch sử trốn lính
trong tiểu thuyết "Từ giờ
thứ sáu
đến giờ thứ chín"
Tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của nhà
văn Nguyễn Một (NXB Hội Nhà văn, 2023) là sự quy chiếu vào bản thân nó, cả
trong cách viết và trong các cách đọc khả thể, rất nhiều văn bản.
Ngay cái nhan đề của tiểu thuyết đã là một liên văn bản, liên
văn bản quan trọng nhất, theo cách trích dẫn trực tiếp Kinh Thánh mà nhà văn đặt
ở những dòng cuối cùng của tác phẩm: “Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền
bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền
thờ bị xé ra làm đôi ngay chính giữa” (Kinh Thánh Lc 23, 1 – 49). Cái khoảng thời
gian tối tăm trường dạ từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín ấy, chính là biểu tượng
của thời gian hủy diệt. Và sự hủy diệt mà Kinh Thánh tiên tri ấy, có thể nói
như vậy, đã được Nguyễn Một tìm thấy hồi đáp từ những hình ảnh đau thương điêu
tàn trên quê hương đất nước mình, từ những gia đình và những cuộc đời bị vùi dập
tan nát của đồng bào mình trong cuộc chiến dai dẳng nhất thế kỷ XX, cuộc chiến
mà báo chí phương Tây vẫn thường gọi là chiến tranh Việt Nam.
“Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” là một tiểu thuyết chiến
tranh. Nguyễn Một đã kiến thiết sự “viết chiến tranh” của mình chủ yếu dựa trên
cái trục là cuộc chạy trốn của nhân vật chính, một chàng trai mới lớn người xứ
Quảng tên Sơn, Trần Viết Sơn. Để trốn phải đi lính, trốn phải cầm súng chiến đấu
cho cả quân lực Việt Nam cộng hòa lẫn quân đội của Mặt trận giải phóng miền Nam
Việt Nam, từ quê hương Quảng Nam, Sơn đã chạy đến Thủ Biên, thị xã ven đô Sài
Gòn. Từ Thủ Biên, Sơn chạy tiếp vào Tây Ninh. Từ Tây Ninh, Sơn quay trở lại Thủ
Biên rồi chạy đến Sài Gòn và kết thúc cuộc chạy trốn đúng lúc chính quyền Sài
Gòn hoàn toàn sụp đổ. Chính từ việc dựng lên cái lịch sử trốn lính kéo dài vài
năm với đầy những vòng vo này, Nguyễn Một đã tạo được một “viết chiến tranh” rất
riêng và ít thấy ở các nhà văn khác. Ví như Bảo Ninh với tiểu thuyết “Nỗi buồn
chiến tranh”, hay Vĩnh Quyền với tiểu thuyết “Mảnh vỡ của mảnh vỡ”, chẳng hạn:
hai tác giả này, cũng như nhiều người khác nữa, chỉ có thể nói được điều gì đó
về chiến tranh bằng cách tung nhân vật của mình vào chiến tranh, đẩy họ ra chiến
trường, bắt họ cầm súng chiến đấu cho phía bên này hoặc phía bên kia. Còn Nguyễn
Một lại nỗ lực để nhân vật chính không can dự chiến tranh, và từ cái tình thế
không can dự nhưng vẫn bị chiến tranh làm cho khốc hại của chàng trai Trần Viết
Sơn, nhà văn đã bộc lộ những hình dung ngổn ngang và sự suy ngẫm nhức nhối của
mình về cuộc chiến. Hoặc có thể nói, ông cố gắng tìm kiếm những đáp án cho một
câu hỏi: chiến tranh là gì?
Chiến tranh là tàn sát, là hủy diệt cuộc sống ở mọi cấp độ. Từ
cuộc sống bình yên của các làng mạc, các gia đình đến sự sống ở trên đời của mỗi
cá nhân; từ tình yêu đầy thơ mộng của những lứa đôi đầu xanh tuổi trẻ đến ước
mơ tươi sáng về những con đường phía trước của một lớp người lớn lên trong thời
chiến, tất cả đều bị chiến tranh chém phập xuống, đứt lìa, hoặc cho nổ tung, vỡ
vụn. “Mỗi lòng người một lý lẽ bất an/ Mỗi cái chết có một hình thức khác…”, thi
sỹ miền Nam Nguyễn Tất Nhiên từng viết những câu thơ như vậy. Nhưng trong tiểu
thuyết của Nguyễn Một thì tuyệt đại đa số các cái chết đều chỉ có một hình thức,
đó là chết vì bom đạn. Bom đạn do quân lính hai bên nã vào nhau trong các trận
đánh. Nhưng pháo rớt và đạn bay vu vơ, không biết của bên nào, gây nên những
cái chết oan khuất bất thình lình của dân thường, cũng có. Đạn bắn ra để trừng
phạt hoặc trả thù những người bị coi là “chiêu hồi”, “chỉ điểm” với bên này,
hay “che giấu, tiếp tay cho Việt cộng” với bên kia, cũng có. Duy nhất chết sung
sướng ở tiểu thuyết này có lẽ chỉ có một người, được nhắc tới khi hồi ức xa xôi
dội về, đó là cái chết của ông tú Mại, cụ tổ họ Trần Viết của Sơn: chết gục
trên chiếu xóc đĩa ngay khi vừa thua tiếng bạc mất trắng cả ruộng vườn lẫn cô vợ
bé xinh đẹp.
Sự sống của tình yêu tuổi trẻ trong chiến tranh cũng mong
manh chẳng kém gì mạng người trước bom đạn. Mối tình học trò của Sơn và Diễm –
bản thân hai cái tên này đã làm thành liên văn bản với một văn bản “kinh điển”
của văn hóa xã hội miền Nam suốt những năm 1960, đầu những năm 1970: nhạc sỹ Trịnh
Công Sơn với tình khúc mê đắm trong “Diễm tuyệt hư ảo của những ngày xưa” bất hủ
– là như thế. Mối tình của Tâm, sỹ quan quân lực Việt Nam cộng hòa, anh trai của
Diễm, với Trang, cũng là như thế. Những tình nhân ấy đã yêu nhau đắm đuối mà
không ngờ rằng: “Mỗi đắm đuối chứa một mầm gian ác/ Mỗi đời tình có một thú
chia tay…” (thơ Nguyễn Tất Nhiên). Những tình nhân ấy đã không có được
nhau trọn vẹn, và những gì mà rốt cuộc họ có được với nhau thì đều phải trả giá
bằng một tuổi trẻ đầy nước mắt, bằng những quăng quật bầm dập với đời, bằng những
cú đòn chí mạng mà chiến tranh và những dư chấn quá nặng nề của nó giáng xuống
trên thân thể và trong tâm hồn họ. Riêng với mối tình của Sơn và Diễm, dường
như Nguyễn Một đã dựng lên bằng toàn bộ sức mạnh của phẩm tính lãng mạn trong
mình. Ông ướp đôi tình nhân trong những làn gió mát của sông Đồng Nai, trong tiếng
chuông và tiếng kinh cầu của ngôi nhà thờ cổ, và nhất là trong hương hoa bưởi nồng
nàn mà thanh khiết của đất Thủ Biên. Chính cái mùi hương ấy đã lưu giữ những ký
ức đẹp đẽ trong Sơn, để về sau này, trước khi tiểu thuyết khép lại, nó trở nên
hóa thiêng với anh. “Sự hóa thiêng của nỗi buồn sương khói”, hay là sự thanh lọc
tâm hồn sau bao mất mát, bao biến động mà chiến tranh đã tạo trên đời người.
Chiến tranh là vô lý, vô nghĩa và đầy những lọc lừa, dối trá.
Trong chiến tranh Việt Nam, tuy không nhiều, nhưng cũng không quá hiếm những
trường hợp mà cha con hoặc anh em trong một gia đình mỗi người lại cầm súng chiến
đấu cho một bên. Những oái oăm này từng được nói đến trong tiểu thuyết “Mảnh vỡ
của mảnh vỡ” của nhà văn Vĩnh Quyền, hay truyện vừa “Nhiệt đới gió mùa” của nhà
văn Lê Minh Khuê. Và ở tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn
Một, nó ứng ngay vào gia đình Sơn: bốn anh trai của anh, thì hai người theo cộng
sản, hai người theo cộng hòa. Và dù về bản chất chỉ là những người nông dân ngẫu
nhiên bị cuốn vào sự đối kháng chứ không phải theo tự do lựa chọn của lý trí, bốn
người họ cũng đã nã đạn vào nhau trong một trận đánh lúc nửa đêm. Kết cục thật
bi thảm, cái bi thảm của sự vô nghĩa: hai người lính Việt Nam cộng hòa đã thành
tử sỹ “tận nghĩa với quốc gia”, một chiến sỹ quân giải phóng thành liệt sỹ “hy
sinh vì tổ quốc”; chiến sỹ còn lại thì, như sau này anh tự tiết lộ với Sơn, đã
bị mảnh đạn cắt phăng bộ phận sinh dục. Điều kỳ lạ là cái kết cục bi thảm vô
nghĩa, cái ngày tàn nghiệt ấy đã được người cha của họ, ông Ruộng, dự đoán ngay
từ khi bốn đứa con rẽ theo hai phe đối địch. Chính vì thế mà ông ra lệnh, và đã
sắp xếp để Sơn, thằng út, bằng mọi giá phải chạy trốn, có chết cũng không cầm
súng chiến đấu cho bên nào. Một lịch sử trốn lính được bắt đầu như thế.
Nhân vật ông Ruộng, có thể nói, là hiện thể cho nhận thức của
Nguyễn Một về sự tỉnh táo, trải đời của người nông dân, nhất là người nông dân
xứ Quảng, cái mảnh đất mà bên này bên kia cứ ngày đêm cài vào nhau như răng lược,
và bên nào cũng có lý lẽ cho quyền được xả súng giết chết kẻ địch của mình. Đọc
“Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” ta sẽ thấy ông Ruộng cứng cỏi đến thế nào khi
bẻ gãy những nỗ lực thuyết phục của anh con trai cả, chiến sỹ quân giải phóng,
khi anh xin cha cho Sơn “theo anh em vào rừng”. Và cũng trong tiểu thuyết này,
với một nhân vật gốc nông dân xứ Quảng khác – ông Trần Văn Duy, thiếu tá tiếp vụ
của quân lực Việt Nam cộng hòa, anh em kết nghĩa của ông Ruộng – cái tinh thần
cứng cỏi ấy còn trở nên thẳng tuột đến phũ phàng. Ấy là khi ông Duy phủ nhận lý
tưởng “chiến đấu cho miền Nam Việt Nam tự do” của Tâm, con trai ông: “Chiến
tranh là gian trá mà. Dân tộc ngu ngốc mới để chiến tranh xảy ra. Chiến đấu cái
gì, quê hương cái gì? Vô nghĩa hết. Sự sống quan trọng nhất!”. Sau này, khi nhà
văn mượn lời nhân vật Hùng Hippie kể với Sơn: ông Duy vốn làm giàu bằng việc lợi
dụng chức vụ để tuồn hàng viện trợ của Mỹ bán cho “những người ở trong rừng”,
thì cái quan điểm “chiến tranh là gian trá” mà ông nói ra miệng ấy, vô tình đã
tạo thành liên văn bản với một mảng rất rộng các quan điểm tương tự trong văn
chương thế giới. Ví như văn hào Pháp Anatole France, với kết luận thản nhiên:
“Chiến tranh là một cú áp-phe lớn”. Hay nhà văn Mỹ Joseph Heller, với nhân vật
gã sỹ quan hậu cần Milo trong tiểu thuyết “Bẫy 22” nổi tiếng, kẻ chuyên chỉ đạo
những chuyến buôn liên lục địa bằng đội máy bay chiến đấu, kẻ sẵn sàng ném bom
quân mình và làm ăn với quân địch, miễn là có lời.
“Viết chiến tranh” của Nguyễn Một trong tiểu thuyết “Từ giờ
thứ sáu đến giờ thứ chín” là một cái viết mang đậm âm hưởng bi, song cũng có những
lúc hài. Cái hài ẩn lẫn trong cái bi. Đó là khi Sơn, trong cuộc chạy trốn lệnh
tổng động viên bắt lính của chính quyền Việt Nam cộng hòa đã từ thị xã Thủ Biên
vào đất Tây Ninh, bị quân giải phóng bắt, và sau ba tháng huấn luyện trong rừng
anh chuẩn bị được bổ sung vào trung đoàn bộ binh Đông Nam bộ thuộc Trung ương cục
miền Nam. Trốn thoát được quân giải phóng, Sơn lại bị cảnh sát Việt Nam cộng
hòa bắt khi anh chạy vào Sài Gòn tá túc tại phòng trọ của một người bạn cũ,
Hoàng thi sỹ, với tội danh tham gia biểu tình chống chế độ, dù anh chẳng liên
quan gì đến việc này. Nỗi trớ trêu đầy hài hước của một người anh hùng nhất định
không cầm súng, không chọn phe trong thời chiến có thể là như thế. Và nó càng
trở nên trớ trêu và hài hước hơn khi về sau, chỉ cần bằng một lời khai bịa đặt,
thì cái quá khứ giải phóng quân và sinh viên biểu tình chống chế độ Sài Gòn lại
là điểm cộng để Sơn được thăng tiến nhanh chóng trong chế độ mới. Ở phương diện
này, có lẽ Nguyễn Một là một trong số rất ít nhà văn Việt Nam đã bóc trần được
cái yếu tính gian trá mập mờ, trắng đen bất định của chiến tranh. Và không chỉ
trong thời chiến, nó còn lan sang cả thời hậu chiến, như một hệ lụy tất yếu
trên đất nước mà con người đã phải gồng mình chịu đựng biết bao đau thương vì đạn
bom và chia cắt.
Bình luận về tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của
Nguyễn Một, nhiều người cho rằng ông đã từ bỏ lối viết hiện thực huyền ảo – như
từng thể hiện ở hai tiểu thuyết “Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” trước đó
– để viết một tác phẩm hoàn toàn hiện thực, trần trụi hiện thực. Tuy nhiên từ
“Đất trời vần vũ” và “Ngược mặt trời” đến “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, có
một yếu tố mà Nguyễn Một luôn kiên định, thậm chí nhấn mạnh như một niềm tin
xác quyết, đó là khả năng nhìn thấu và xoa dịu những nỗi đau con người của tư
tưởng Thiên Chúa giáo. Có thể nói, tư tưởng Thiên Chúa giáo đã thấm ở phần lõi
của cuốn tiểu thuyết chiến tranh buồn này. Nó đọng lại ở nhiều hình ảnh, nhiều
phát ngôn, mà sâu sắc nhất, có lẽ là lời than trách mang chức năng cắt nghĩa đến
nguyên ủy chiến tranh của nhân vật bà xơ/ dì Thục Hạnh: “Con người chúng ta đã
đuổi Chúa ra khỏi cuộc đời. Chúng ta đọc báo hàng ngày, nhưng mấy ai đọc Kinh
Thánh. Chúng ta nghe lời những nhà chính trị mà vì tham vọng đẩy mọi người vào
cuộc chiến, chứ mấy ai nghe lời Chúa: “Hãy yêu người như yêu mình ta vậy”,
chúng ta đòi hỏi phải để chúng ta tự quyết về cuộc đời của mình như con cái đòi
rời bỏ cha mẹ, nhưng khi gặp khổ đau thì gào lên trách cha mắng mẹ”.
Không gian chiến tranh trong tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến
giờ thứ chín” nằm trọn ở Nam phần của đất nước thời kỳ còn chia cắt hai miền.
Trong không gian chiến tranh ấy, Nguyễn Một đã nỗ lực tái hiện và tái kiến tạo
diện mạo đời sống xã hội một thời. Ngoài bom đạn, chết chóc, ly tán, trốn chạy,
trong không gian chiến tranh ấy, nhà văn vẫn chừa chỗ, rất rộng, cho thơ và nhạc
của hai mươi năm văn nghệ miền Nam Việt Nam, như một sự quy chiếu liên văn bản
giàu tính thẩm mỹ. Rải suốt tác phẩm là những trích dẫn thơ của Nguyên Sa, Nguyễn
Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn…, những ca từ trong nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công
Sơn, Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nhật Ngân, Đinh Miên Vũ… Tất cả vang lên, khi
thì như sự tương hỗ, có lúc lại như tiếng đồng vọng với hoàn cảnh hoặc nỗi niềm
của con người thời chiến. Hoặc, từ một phía khác, có thể xem đó như phần nhạc nền
đầy ấn tượng của “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín”, một tiểu thuyết chiến tranh
xuất sắc của văn chương Việt Nam trong khoảng hai mươi lăm năm đầu thế kỷ XXI.
17/12/2023
Hoài Nam
Theo https://vanvn.vn/
Nhà văn Như Bình: Sa và đường tới cuộc hẹn với chính mình
Nhà văn Như Bình: Sa và đường
tới cuộc hẹn với chính mình
Khi Như Bình chia sẻ cho tôi về những nhận xét của nhà
văn Ma Văn Kháng sau khi đọc xong “Rượu hoa mất trí” của chị, tôi càng
tò mò để đọc kỹ truyện ngắn này. Và tôi đã bị chị chuốc cho đến say mèm với
truyện ngắn “Rượu hoa mất
trí” dự thi trên Báo Văn Nghệ số 48, ra ngày 2.12.2023 rồi, mà rượu chữ
của chị vẫn vấn vít tôi không ra khỏi được cơn say.
Thiên truyện đẹp về miền núi. “Rượu hoa mất trí” được
xây dựng trên nền không gian núi rừng kì vĩ. Núi Fansipan chạm đỉnh trời và con
sông Mường Hoa tuôn dài như áng tóc dày mềm nhưng nhức của Sa. Vẫn là một đề
tài cũ muôn thuở: Chuyện tình và tình tay ba. Thế nhưng phải cao tay và giỏi
về thủ pháp, Như Bình mới ung dung tự tại, rủi rải một cách tự tin để kể câu
chuyện “xưa như trái đất”. Chị tự tin để mà đi vào lòng người, đánh thức mọi
giác quan của người đọc bằng những ám gợi và thao thức hoà quyện trong ngôn ngữ
và không khí truyện của chị. Hoa, rượu, váy thêu, khèn, trống, sông, thác, núi,
đá, sương ngún… là những “nhân vật” có cá tính đắt trong thiên truyện của chị,
đậm đặc tập tục văn hoá vùng cao, là tấm phông nâng đỡ đời sống con người. Mối
tình của Sa và hai người đàn ông, hai biểu tượng văn hoá kỳ vĩ của người
Mông “khèn” và “trống” mở ra những thông điệp nhân văn sâu
sắc. Truyện như một bức tranh thổ cẩm đẹp thấm đẫm những tinh tuý văn hoá của
người Mông nơi cổng trời.
1. Chất sử thi: “Rượu hoa mất trí” mang hơi hướng sử
thi, vượt trào khỏi khuôn khổ của một truyện ngắn thông thường. Bầu khí quyển
vùng cao trong vắt, ngân nga dài như một tiếng chiêng đồng đã cho tôi thoảng giọng
kể khan trong ngôi nhà bên bếp lửa của già làng. Truyện mở ra núi đồi sừng sững,
vách đá cheo leo, bầu trời trong xanh, suối sâu thăm thẳm và khói lam tuyền như
một áng mây màu thiên thanh quấn quýt mỗi nếp nhà vào những khoảnh khắc chiều
rơi. Giữa đại ngàn tráng lệ, âm vang, khát vọng tâm hồn con người gửi qua
tiếng khèn, tiếng trống điêu luyện, kì tài; sự việc chết đi, sống dậy rồi lại
trở về với đất của Sa đã điền đầy vào sự man ru, phủ một tấm màn bí ẩn, khiến
câu chuyện càng có tính sử thi, mang vẻ đẹp huyền bí.
Đặc biệt là cách tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh và
điệp ngữ để khắc họa nhân vật, đậm đặc văn hóa vùng cao: “Mày ngu như con
chó rừng, mày si như con nhím đầy gai, mày gan như con cóc núi, mày
chậm như con sên hang, mày đần như con bò rừng”, “mày nhảy sung như
bò tót, mày lắc lư đầu như sư tử, mày múa trống như con công múa điệu tìm
bạn tình. Mày uống rượu hoa bà Sa ủ, tay mày khoẻ như cánh tay con vượn trong rừng
già, chân mày nhanh như chân con hoẵng tơ”. “Tiếng trống như thác trên đỉnh
Fansipan đổ ào xuống. Như con vực ngầm cuộn trào mùa lũ ống, như dòng Mường
Hoa rì rào buổi chợ xuân”. Màn đánh trống và thổi khèn trong “Rươụ hoa mất trí”
của Như Bình được mô tả bằng những phút xuất thần. Văn Như Bình giàu hình ảnh,
chất thơ. Độc giả như lạc vào không khí cổ xưa, thuở bình minh của loài người.
Tạo ra sự lạ lẫm, cách ngắt nhịp, giọng điệu sử thi đặc trưng, đem đến cho nhân
vật và thiên nhiên chiều kích phi thường.
2. Âm hưởng dân gian: Văn đẹp như thơ, truyện đầy chất dân
gian, cho dù là người đàn bà xứ cát trắng, nhưng Như Bình lại cho tôi cảm giác
chị là đứa con của núi đá, của mù sương. Không thế tại sao chị nhập nhuyễn vào
không gian văn hóa vùng cao đến vậy. Nơi con người sống giữa hoang vu, thanh sạch,
yêu ánh sáng, thích tự do và mượn tiếng hát để bộc bày tâm trạng. Lời của Sa
khi xuống chợ tình đã cho người đọc hình dung một câu chuyện:
“Con hoẵng trốn sương
Con hoẵng trốn trăng
Con hoẵng trốn nắng
Con hoẵng nhớ bạn
Xuống thung tìm ai”
Và lời của Si – chồng Sa khi xuống chợ đón vợ trở về cũng mở
ra một biển mênh mông bi kịch tình yêu, buồn mà đẹp.
“Núi vắt dải mây hồng
Móng ngựa gõ mông lung
Thung buông tấm lụa lam
Gập ghềnh núi gọi núi
Hoa tớ dày như mưa
Phủ hồng khắp mọi lối
Hoa Lềnh si đỏ chói
Giăng đèn lồng trên cây
Người cũ anh không có
Lủi thủi đi trong mây”
Lẽ ra, người đàn ông giữ tiết như Si, tài hoa và thuỷ chung
như Si, yêu vợ đến tận tuỵ, quên bản thân như Si, xứng đáng có một người vợ
cũng yêu mình đẹp như Sa, tận tuỵ với chồng như cách Sa đi hái hoa ủ rượu, và nồng
nã với mình như khi Sa giã lanh dệt vải, thêu váy. Nhưng lẽ đời, tình yêu đi liền
với nỗi đau. Vì thế khúc tình tự của Si cũng mang giá trị của một vết thương
tâm. Cái tài tình của Như Bình là dựng nhân vật qua một ít ngôn ngữ, nhưng các
nhân vật sống động và gây ám ảnh lâu dài, họ có thể không rõ mặt nhưng rõ trái
tim, rõ tâm hồn, tính cách. Cả nhân vật chồng Sa là ông Si, và nhân vật người
yêu cũ của Sa là Thào Mông thấp thoáng với màn đánh trống gây bừng thức mọi
giác quan của người đọc đều đặc sắc, đủ để độc giả phải thốt lên rằng họ xuất
hiện trong đời Sa hay thế, lạ lùng thế. Như Bình để cho hai người đàn ông xuất
hiện trong đời Sa gặp nhau cuối thiên truyện thật bất ngờ. Cuối cùng cái thứ rượu
hoa một đời Sa ủ để tìm Thào Mông trao cho người đàn ông trong mộng của Sa
nhưng không gặp. Khi người Thào Mông chạm môi vào rượu hoa của Sa thì hồn Sa
cũng đã về trời. Rươụ Hoa lúc này vừa đắng vừa đau, muốn uống quên hoá ra lại uống
nhớ:
“Rượu vò đã chín
Ủ mấy mùa trăng
Rượu vò đã thơm
Ủ mùa sương ngấu
Mày uống càng nhớ
Mày uống càng quên
Rượu như tình cũ
Uống vào nhớ thêm”
Đưa những đoạn thơ đầy tính dân gian, sử thi vào truyện, Như
Bình đã dựng nên một không gian văn hoá miền núi vùng cao Tây Bắc đẹp thấm đẫm
hồn người.
3. Sương, Hoa và Rượu cũng là những nhân vật sống động:
Ba chi tiết nghệ thuật trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm, đẹp đến ám ảnh
là: Sương, Hoa và Rượu là những nhân vật điển hình của người Mông.
Như Bình đã nhân hóa, khiến chúng cũng là những nhân vật rõ tính cách mang đầy
tâm trạng. Trong sự liên tưởng của tôi, sương và hoa đó là nước mắt và nhan sắc
đàn bà. Rượu là tình yêu. Tác giả đã trao sinh mệnh cho sương, hoa, rượu, trao
cho họ đời sống phập phồng. Sa bước vào tác phẩm cùng với làn sương thiên di. Bắt
đầu là “nắng xé sương rắc bụi vàng trên đám lá cây rừng”- thiếu phụ Sa trong
cơn “no tình”. Khi bước chân trên nẻo đàn bà chênh vênh, sương sa xuống đời Sa
“đêm đã ngún sương khắp lối đi. Sương thập thò từng mảng như bông gòn rơi lơ lửng
trước mặt, ngỡ thò tay vốc được từng nắm. Sương đã bò kín lổm ngổm lên bậc cầu
thang”. “Sương trắng trời đêm, sương sà từng đụn, từng đụn bay la đà bâu kín lấy
căn nhà sàn. Sương bay vào bếp đòi dụi tắt nốt những ngún than hồng”. Đời
Sương cũng như đời Sa, rực rỡ thiếu nữ rồi già và tàn lụi. Qua một phiên
tình, “Sa nhẹ như dải sương héo”. Sa chết “nỗi đau theo sương mà rớt xuống chân”
Si.
Hoa là thứ cùng với nước mắt của núi Fansipan chưng cất thứ “rượu
hoa mất trí”. Dưới ngòi bút huyền ảo của Như Bình, những đóa hoa rừng thi nhau
tỏa hương: hoa hồng, hoa tớ dày, hoa lềnh si buồn thổn thức … mỗi loài mỗi vẻ,
vẽ trọn vẹn nhan sắc Sa và vẻ đẹp miền núi cao Tây Bắc. Hoa là khuôn mặt, vóc
hình và tâm hồn Sa. Đóa hoa ấy đi qua bao cơn vọng tưởng, tận tụy với gia đình,
mê mải theo đường thêu nếp váy rập rờn, đến nỗi bướm ong tìm đến hút nhụy. Hoa
táp sương trên nẻo đến phiên chợ tìm người tình mong đợi. Để rồi đường về năm
nào của Sa cũng là cơn say đến héo mòn, vắt ngang lưng ngựa như một dải hoa kiệt
cùng. “Cái mỏm đá bằng phẳng dưới cây lềnh si, bên dòng sông Mường Hoa
mòn vẹt lõm đúng một chỗ ngồi. Gốc cây tớ dày bên cạnh cây lềnh si cũng bóng sờn
lên một đường thẳng đứng chỗ bà Sa buộc ngựa. Bà ngồi cho đến khi hoa tớ dày phủ
hồng lên trên người như phủ một nấm mồ hoa”. Vừa câm nín, khát thèm, lại giữ
gìn, u uẩn. Cả trong cơn say ngủ hay khi sinh mệnh đã bị số phận rút cạn kiệt,
Như Bình đều “chôn” Sa trong ngôi mộ hoa. Người đàn bà đẹp, đến cả khi chết đi
rồi vẫn lộng lẫy trong tàn phai rực rỡ. Một bóng hoa đi vào tình yêu, tạ từ cõi
nhân gian vẫn mang vẻ đẹp mà tạo hóa trổ bằng “nét mong manh thấp thoáng cánh
hoa bay”.
Rượu cũng chính là Sa. Sa là một vò rượu mà “Trai gái ngày hợp
cẩn, uống rượu hoa bà Sa ủ, như uống mật ngọt hạnh phúc. Rượu hoa làm cho tình
yêu lên hương, trai gái bện hơi, sinh con đẻ cái, thương nhau, trọng nhau, tri
kỉ suốt đời. Nhưng người nào đau tình, uống được một ngụm rượu hoa của bà Sa
thì sẽ quên hết mọi kí ức phiền muộn. Uống được một chén rượu hoa của bà
Sa thì cả gương mặt và hình hài người mình muốn quên đi bỗng dưng tan biến mất
như là một hơi rượu. Uống thêm chén nữa, thấy trong trẻo tâm hồn, yêu đời, yêu
người, yêu cuộc sống mến thương”.
Sương, rượu, hoa hay là Sa thì họ đều là những tinh tuý trong
đời sống của người Mông, yêu tự do, sống mãnh liệt đầy khao khát, dù đôi khi họ
cũng lầm lạc, ảo tưởng trong tình yêu. Sa hiện thân của những người phụ nữ
Mông, sống chỉn chu với thân phận, tôn trọng gia đình nhưng vẫn đề cao tự do,
quyền được tôn trọng bản thân. Sa đàn bà hơn tất cả những người đàn bà. Tuổi trẻ
phập phồng và cũng ngây thơ lầm tưởng. Những vương vấn ảo diệu với tình đầu sau
tà áo mỏng đã mãi nhịp thổn thức trong trái tim Sa. Để thảng hoặc trong
những chợ phiên tình tự, Sa vẫn dốc hết thẫn thờ cho miền tuổi trẻ trong veo ấy.
Nhưng ra khỏi phiên chợ, tình cũ chôn cất tận đáy huyệt đàn bà.
Sa chết như bi kịch tình yêu, tưởng thế mà không phải thế. Biểu
tượng cho nét văn hoá phụ nữ Á Đông: thủy chung, khát vọng, cuồng nhiệt, mất
mát, gìn giữ đấy lại muốn bứt phá đấy. Thân đàn bà, dù đến tận cùng vẫn co tròn
trong bổn phận. Chỉ dám khóc niềm khao khát cháy hết mình chỉ bằng một cơn say
mà thôi. Sa đẹp cả hồn lẫn xác, như một thứ rượu quý cất bằng muôn loài hoa giữa
vách đá cheo leo, chưng bằng phẩm hạnh đàn bà. Tình yêu hay cái đẹp đều mong
manh, sinh mệnh ngắn ngủi vô thường. Vì quá đẹp, đã đầy luyến ái, Sa như một kiểu
nhân vật vẽ bởi hiện thực và hư ảo. Hai thứ đó nhập nhòa làm một, khiến Sa của
Như Bình như một làn sương, một hương thơm. Thứ vưu vật ấy chỉ có thể cảm nhận
được bằng sự tinh tế. Vì thế Sa chính là rượu nhân gian, thứ men lử để khi nhấp,
bất kì ai cũng tưởng ra một thế giới đẹp như chiêm bao, lại xót đau như dao cứa.
Dưới ngòi bút Như Bình, Sa được khai sinh, được sống và yêu, được lầm tưởng và
đau nhớ. Âu cũng là lẽ hạnh phúc đương nhiên rất đỗi đàn bà. Sa cho tôi uống
say từng giọt chữ Như Bình.
4. Chất liêu trai của bút pháp hiện thực huyền ảo: Con chữ
Như Bình đã phủ một lớp mơ màng, đem đến cho thiên truyện chút phảng phất liêu
trai. Bước ra từ đó, Sa rất vùng cao, lại thật đồng bằng, ngợp hương rừng lại
nao nức phố phường. Sa là cơn cớ, thân phận đàn bà. Khi đọc, tôi như thấy giọt
lệ Sa đang cay trong khoé mắt mình. Sa sống thơm như hoa khai, “chết đẹp” như
hoa rũ, giữa váy áo, hương hoa và giọt lệ đàn ông của Si, trong tập tục cúng lễ
của văn hóa vùng cao. Nhưng dường như Sa chưa dứt khỏi sinh mệnh, vì tình yêu với
người xưa như một sợi dây, neo Sa lại bến trần gian. Chỉ khi người Thào Mông xuất
hiện, dưới cánh tay săn đầy, tiếng trống lật tung kí ức, Sa đã đi cơn rực rỡ cuối
cùng của tuổi trẻ, nàng nhảy múa như chưa hề sống trong thân phận hôn nhân, tựa
hồ tuổi trẻ đang phập phồng bừng thức dưới vòm ngực căng. Khoảnh khắc như là đầu
tiên, tựa hồ cuối cùng, duy nhất ấy đã cho Sa thỏa cơn khát mộng. Nhưng cuối
cùng, trong cuộc hẹn với chính mình, Sa mới nhận ra người đáng cho Sa yêu cả cuộc
đời chính là chồng Sa. Người Sa tưởng đã yêu cả cuộc đời là Thào Mông hoá ra lại
không phải. Sa yêu chồng mà quên mất mình yêu. Sa yêu chồng mà lầm tưởng là vẫn
yêu người cũ. Như Bình cao tay khi viết nên câu chuyện tình muôn thuở của ba
người, tưởng đấy mà không phải đấy, thực mà hoá ra mộng…và tỉnh cơn mộng mới nhận
ra mình thuộc về ai. Viết đến đây tôi liên tưởng tới tựa đề cuốn sách mới ra mắt
của diễn giả Từ Huy: “Sống là đang trên đường tới cuộc hẹn với chính mình. Điểm
hẹn chính là đường chân trời, là ranh giới của các mảnh không thể hợp nhất của
bản ngã”.
“Rượu hoa mất trí”, đã đưa độc giả nhập vào lô xô núi đá,
thăm thẳm đại ngàn, một bức vẽ về văn hoá vùng cao mà nhân vật trung tâm là người
phụ nữ. Truyện đẹp như một đoá hoa trổ trên vách đá, ngôn từ chắt ra từ những mảng
màu của đời sống, thơ ca, hội họa, cảm hứng nhân văn và âm hưởng vùng cao, chất
liệu hiện thực ngồn ngộn. “Rượu hoa mất trí” của Như Bình là yêu thương, cảm
thông của người đàn bà viết với vẻ đẹp và thân phận đàn bà, lại như một sự trân
trọng và xót tiếc, thông điệp bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần vùng cao.
Không hề quá lời khi nói rằng, truyện của nhà văn Như Bình, dù chỉ dăm trang giấy
nhưng tựa như một bảo tàng về nhịp sống văn hoá và con người, thiên nhiên vùng
cao. Giữa thời buổi, có quá nhiều thực đơn ăn nhanh, đó là một điều đáng để độc
giả trân trọng.
Viết đến đây tôi lại nhớ lại lời của nhà văn Ma Văn Kháng khi
ông đọc truyện ngắn “Rượu hoa mất trí” và nhắn cho Như Bình: “Trời! Một chuyện
tình thấm đẫm hương hoa, mùi rượu, tiếng trống, tiếng khèn run rẩy và da
diết, xốc xáo cả tim gan con người. Yêu quá con người chưa phân thân còn
nguyên khối chân tình giữa không gian nguyên thuỷ ngát hương mộc mạc tinh khiết
đến cùng. Truyện hay từng chi tiết câu văn. Tài tình quá Như Bình ơi”. Xin
phép nhà văn Ma Văn Kháng cho tôi được trích dẫn nhận xét này thay cho lời kết
của bài viết như một tặng thưởng cho truyện ngắn mới của chị, dẫu khi ra đời, mỗi
truyện ngắn dù đời sống dài hay ngắn, thì bản thân nó đã có một định mệnh riêng
rồi.
6/12/2023
Hoa Đỗ Quyên
Theo https://vanvn.vn/
Bàn thêm về truyền thuyết cội nguồn dân tộc
Bàn thêm về truyền
thuyết cội nguồn dân tộc
Bài viết tập trung làm rõ thêm về truyền thuyết cội
nguồn dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở nguồn tư liệu khai thác được, tác giả lý giải
một số nội dung, góc độ về cội nguồn dân tộc ta từ câu chuyện kể về vua Kinh
Dương Vương, Lạc Long Quân với Âu Cơ đến các Vua Hùng. Từ đó, đề cập đến vùng đất
Tổ ở Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) với tục thờ cúng Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các vua
Hùng nơi đây.
Theo huyền sử, dã sử, các truyền thuyết, thần thoại, và truyện
kể dân gian thì con cháu người Việt có nguồn gốc tổ tiên họ Hồng Bàng. Người Việt
xưa lưu truyền nhau nối đời câu chuyện về mối tình lịch sử đầy lãng mạn giữa Lạc
Long Quân với nàng Âu Cơ. Từ cuộc hôn nhân lịch sử này đã tạo ra nói giống người
Việt gắn mới mối liên hệ con cháu Lạc Hồng. Từ đó, các thế hệ về sau suy
tôn Hùng Vương – người con trai trưởng của Lạc Long Quân với Âu Cơ làm Quốc Tổ.
Cũng từ đây, vùng đất Phú Thọ được xem là đất Tổ của dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, khi chúng ta lùi xa hơn về thời gian lịch sử, nhiều
quan niệm nhắc đến vị thủy Tổ đầu tiên của người Việt là Kinh Dương Vương. Đồng
thời, vùng đất Hà Tĩnh ngày nay được xem là nơi lưu giữ dấu tích tổ tiên Lạc
Hồng.
1. Hiểu thêm về truyền thuyết cội nguồn dân tộc
Nguồn tài liệu thư tịch sớm nhất của nước ta ghi chép về họ Hồng
Bàng và Kinh Dương Vương là cuốn Lĩnh Nam chích quái. Ở phần Tiểu truyện
sách này có viết: “Đế Minh, cháu ba đời họ Viêm đế Thần Nông sinh ra Đế
Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, lấy con gái bà Vụ Tiên rồi
trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh, phúc hậu, Đế Minh
rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường ngôi cho anh.
Đế Minh liền lập Minh làm kẻ nối ngôi để trị đất Bắc. Lại phong Lộc Tục làm
Kinh Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ”(1).
Câu chuyện này được nhiều nhà sử học như Phan Huy Chú, Ngô Sỹ
Liên, Ngô Thì Sỹ, các sử thần nhà Lê, Quốc sử quán triều Nguyễn… chấp thuận và
ghi chép tương tự ở nhiều công trình sử học quốc gia như: Đại Việt sử ký
toàn thư, Việt sử lược, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Đại Việt sử ký
tiền biên, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục… Nhiều nhà sử
học và người xưa đều xem Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước ta.
Như vậy, Kinh Dương Vương là tên hiệu của Lộc Tục khi được
vua cha Đế Minh cho cai quản đất phương Nam. Ở đây, Vua ngoài sự đoan chính, đức
tính thông minh, phúc hậu thì còn là con người biết khiêm nhường, lễ độ, không
tham lam. Bởi vì khi được vua cha tỏ ý nhường ngôi thì Lộc Tục liền từ chối, cố
nhường cho anh cả là Đế Nghi.
Trên cơ sở nguồn tư liệu cổ và dấu tích khảo cổ học thì nước
Xích Quỷ do Kinh Dương Vương cai quản ban đầu bắt nguồn từ hồ Động Đình (vùng
Lưỡng Quảng Trung Quốc ngày nay) đến Hà Tĩnh tiếp giáp với Quảng Bình. Trong
quá trình cai quản vùng đất phương Nam, Kinh Dương Vương lựa chọn vùng đất Hà
Tĩnh làm kinh đô quốc gia mới. Phần này tác giả sẽ viết thêm ở mục sau.
2. Hiểu thêm về câu chuyện tình giữa Lạc Long Quân với Âu Cơ
Tư liệu cổ có viết rằng: “Kinh Dương Vương có tài đi dưới
Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc
Long Quân, cho nối ngôi trị nước”(2). Như vậy, Lạc Long Quân là con trai đầu của
mối tình giữa Kinh Dương Vương với con gái Long Vương ở hồ Động Đình.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên thì bà tên hiệu là Thần
Long(3).
Theo các truyền thuyết, thần thoại, huyền sử cũng như cuốn Lĩnh
Nam chích quái và nhiều bộ quốc sử sau này đều nhận định Lạc Long Quân đã
lấy nàng Âu Cơ. Kết quả cuộc hôn nhân lịch sử mang tính quyết định này là nàng
Âu Cơ mang thai một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra một người con: “Lạc
Long Quân kế tiếp họ Hồng Bàng, lấy con gái họ Âu Lạc có điềm lành sinh ra trăm
con trai, tổ của Bách Việt thực sự bắt đầu từ đấy, hưởng nước lâu dài, giàu có
sống lâu và nhiều con trai, từ xưa tới nay chưa từng có vậy”(4).
Cùng chung sống với nhau ở nước Xích Quỷ một thời gian, bỗng
nhiên một hôm vua bảo với Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống
tiên, thủy hỏa khắc nhau, khó lòng đoàn tụ. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo
mẹ về núi, 50 con theo cha về biển Nam Hải”(5). Theo logic của truyền thuyết
thì điều này là hợp lý. Bởi vì tiên từ trên trời xuống núi, còn rồng thì chỉ có
đủ sức mạnh và quyền uy khi ở dưới nước.
Sau cuộc chia tay quyết định đó, mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con
lên ở đất Phong Châu (thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay). Họ đã “cùng tôn người
con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang”(6). Điều này
cho thấy ngay từ đầu, trong tâm thức và văn hóa, văn minh của người Việt thì
người phụ nữ đã là một nửa giang sơn. Vì vậy, không thể nói ngày xưa thân phận
người phụ nữ không được xem trọng. Bởi ngày xưa ấy là ngày xưa ở thời điểm này!
Sử gia Ngô Thì Sỹ có viết: “Hùng Vương nối nghiệp Lạc
Long, chăm ban đức ban ơn vỗ về dân chúng, chuyên nghề làm ruộng nuôi tằm,
không lo tới việc binh đao chinh chiến”(7). Tương truyền các vua Hùng truyền
ngôi nối nhau được 18 đời, sau đó thì bị mất nước vào tay Triệu Đà.
Công cuộc dựng nước và giữ nước suốt 18 đời vua Hùng được đề
cập khá nhiều trong các truyện kể dân gian, truyền thuyết như Bánh chưng bánh dầy,
Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, Trầu cau, Dưa hấu… Những câu chuyện này giống
như bộ sử dân gian, vừa đượm màu sắc huyền thoại vừa chứa đựng những cốt lõi lịch
sử. Sau này, nhiều công trình sử học nước ta có đề cập cụ thể, thuyết phục hơn
về thời các vua Hùng. Tiêu biểu có các sách như Việt điện u linh, Lĩnh Nam
chích quái, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…
Trên cơ sở đó, vùng đất Châu Phong được xem là đất Tổ của các
vua Hùng. Nhiều quan niệm dân gian, tín ngưỡng bản địa cũng như tín ngưỡng dân
tộc đều xem Hùng Vương – người con trai cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ là Quốc Tổ
dân tộc ta.
3. Hà Tĩnh với tục thờ cúng Vua Hùng và các Thủy Tổ dân tộc
Ngược dòng thời gian trước thời các vua Hùng dựng nước, chúng
ta thấy cội nguồn dân tộc bắt đầu từ cha rồng Lạc Long Quân với mẹ tiên Âu Cơ
và xa hơn là Kinh Dương Vương. Theo nhiều tư liệu cổ sử thì cả 3 vị Thuỷ Tổ này
từng ở vùng đất Hà Tĩnh và lập kinh đô tại đây. Sau cuộc chia tay giữa Lạc Long
Quân với Âu Cơ thì 50 người con mới cùng mẹ lên vùng núi Phong Châu (Phú Thọ).
Bởi vậy, trong tâm thức người Việt cổ cũng như quan niệm dân
gian vẫn xem Hà Tĩnh cũng là vùng đất Tổ của dân tộc hay là cái nôi của tổ tiên
Hồng Lạc. Nơi đây, vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương đã cho dựng kinh đô của
đất nước thuở đó.
Tương truyền, từ buổi đầu dựng nước, phải tìm đất định đô,
Kinh Dương Vương đã hướng vào vùng đất Hồng Lĩnh. Từ trên đỉnh núi cao nhìn xuống,
nhà vua nhìn thấy nơi đây núi dăng thành lũy, khe chảy thành hào. Non thì đủ
cao, sông cũng đủ sâu, đồng điền đủ rộng. Con người khả dĩ có thể tự làm lụng để
nuôi sống lâu dài. Phóng tầm mắt ra xa, phía đông có đại dương muôn trùng sóng
cả, phía tây lại có núi non điệp trùng, khi tiến có thế công, khi thoái có thế
thủ. Đây là điều lợi thế bậc nhất cho một vương triều khi mới sơ khai định đô.
Với tầm nhìn bao quát càn khôn đó, Kinh Dương Vương đã chọn đây làm nơi dựng
đô. Sau đó, để định chính đô giữ vững giang sơn, cơ nghiệp rộng lớn, Kinh Dương
Vương đã thiên di ra vũng núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) rồi cử Lạc Long Quân trấn giữ
kinh thành. Từ đó, Ngàn Hống không còn là kinh đô của đất nước. Tuy nhiên, những
dấu tích về một thiên truyện thần kỳ trên dãy núi Hồng 99 ngọn vẫn còn lưu mãi
trong tâm thức dân gian.
Trong cuốn Đại Việt sử ký tiền biên, tác giả Ngô Thì Sĩ có nhận
định rằng: “Kể từ khi Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng nối dòng dõi vua Thần
Nông, lấy con gái vua ở Động Đình đã làm sáng rõ đạo vợ chồng, làm đúng đắn nguồn
gốc phong hoá. Vua thì lấy đức cảm hoá dân, chỉ rủ áo chắp tay; dân thì cày ruộng
đào giếng, sớm làm tối nghỉ, đấy là phong thái cổ thời Viêm đế chăng?”(8)
Trải qua hàng trăm ngàn năm với sự khắc nghiệt của tạo hóa, sự
biến động của lịch sử mà đa số các di tích, dấu tích thời Kinh Dương Vương dựng
nước ở dãy Hồng Lĩnh dần bị phai mờ, thậm chí còn phế tích và biến mất. Song, với
đạo lý Uống nước nhớ nguồn, ý thức về văn hóa tâm linh, cội nguồn bằng tinh thần
bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa, chính quyền và nhân dân địa phương đã
đóng góp công sức để khôi phục, tôn tạo lại dấu tích tổ tiên. Nhờ đó, ngôi cổ tự
chùa Đại Hùng được dựng lại khang trang trên dãy Hồng Lĩnh.
Điểm khác biệt lớn nhất của chùa Đại Hùng so với các chùa
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh là chùa không chỉ là nơi để mọi người dâng hương niệm
Phật vào các ngày lễ trọng của nhà Phật, mà hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 âm
lịch là ngày giỗ Tổ Hùng Vương, toàn thể nhân dân địa phương và vùng phụ cận
như Can Lộc, Nghi Xuân, Đức Thọ, tỉnh Nghệ An… đều đến đây để dâng hương tưởng
niệm vị Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các vua Hùng. Theo thống kê chưa đầy đủ thì
chùa Đại Hùng là một trong 1.417 di tích có thờ cúng các vua Hùng trên cả nước
và là điểm thờ các vua Hùng duy nhất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Một nét khác biệt nữa là chùa Đại Hùng ngoài thờ cúng các vua
Hùng thì đây còn là nơi hiếm có thờ cả Quốc Phụ Lạc Long Quân, Quốc Mẫu Âu Cơ
và Thủy Tổ Kinh Dương Vương. Mặc dù đây là một thiết chế Phật giáo nhưng Nhân
dân quanh vùng đã cộng hưởng huyền sử Kinh Dương Vương định đô trên dãy Hồng
Lĩnh kết hợp quan niệm “đất của vua, chùa của làng” nên họ đã gắn tín ngưỡng
dân gian thuần Việt thờ cúng Tổ tiên với đạo Phật. Đây cũng chính là một nét độc
đáo, là sự khẳng định giáo lý nhà Phật có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Việt
Nam.
Điều này cũng cho thấy tổ tiên luôn có một vị trí quan trọng
trong đời sống tâm linh và tình cảm của Nhân dân, bất kể là người theo tôn giáo
hay không. Những hoạt động tâm linh, tình cảm của người dân nơi đây đối với vị
Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các vua Hùng luôn có sức sống mãnh liệt, bền bỉ, vượt
cả không gian và thời gian.
Những ngày đầu tháng 3 âm lịch hàng năm, các gia đình quanh
vùng đã tập trung về chùa dọn dẹp, sơn quét, tu sửa các hạng mục thờ tự để chuẩn
bị cho ngày dâng lễ. Vào các ngày từ mùng 5 đến đúng ngày mùng 10 tháng 3, mỗi
ngày đều có hàng trăm nghìn lượt khách từ các huyện, tỉnh bạn đến chùa dâng
hương. Đến lễ giỗ chính thức, có đến hàng vạn người tham gia rất trang nghiêm.
Lễ vật mọi người đến dâng chủ yếu các sản phẩm nông nghiệp như bánh chưng, bánh
tét, hoa quả…
Tuy là nơi thờ Phật nhưng không chỉ có tín đồ, phật tử mà bà
con không theo Phật cũng đến để dự lễ giỗ Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các bậc
vua Hùng. Họ dâng nén tâm hương hướng về cội nguồn dân tộc, hướng về vùng đất Tổ
Phú Thọ bằng tất cả tấm lòng tri ân, thành kính và cầu mong cho đất nước được
thanh bình, thịnh vượng.
Điều hành chính lễ đều do các sư tăng, đại đức thực hiện. Bài
văn tế ca ngợi công lao dựng nước của vị Thuỷ tổ Kinh Dương Vương và các bậc
vua Hùng được các bậc túc Nho trong vùng soạn thảo rất trau chuốt, thể hiện sự
trân trọng và tri ân đối với các bậc tiền nhân có công dựng nước.
Hiện nay, lễ giỗ Thủy Tổ Kinh Dương Vương và các bậc vua Hùng
đang được chính quyền địa phương tập trung nghiên cứu và khôi phục các giá trị
truyền thống của cha ông. Quá trình này được thực hiện với phương châm “gạn
đục khơi trong” để lễ hội truyền thống này thực sự là sản phẩm sáng tạo của
Nhân dân và do Nhân dân tổ chức thực hiện.
Vượt ra khỏi không gian tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, bên kia dòng
Sông Lam thì Nhân dân Nghệ An cũng thực hiện lễ giỗ Tổ Hùng Vương đều đặn hàng
năm. Có lẽ từ thuở trước, Hà Tĩnh với Nghệ An từng là một vùng đất chung thuộc
bộ Cửu Đức, rồi trấn tỉnh Nghệ An. Mãi đến năm 1831, cuộc cải cách của vua Minh
Mệnh mới cắt đất Hà Tĩnh ra hẳn làm một tỉnh với tên gọi như hiện nay.
Trong không gian địa lý, hành chính chung suốt hàng trăm ngàn
năm đó, một số địa điểm trên đất Nghệ An cũng thờ cúng và làm lễ Giỗ các Vua
Hùng rất chu đáo. Tiêu biểu là chùa Đại Tuệ ở Nam Đàn, cứ đến ngày 10 tháng 3
âm lịch hàng năm, đông đảo nhân dân quanh vùng thường về chùa để dự lễ rất
trang nghiêm. Vào dịp đầu xuân, một số ngôi chùa trong tỉnh làm lễ cầu Quốc
thái dân an, xin mưa thuận gió hòa đều có nghi lễ thờ cúng Quốc Tổ riêng
được chuẩn bị rất công phu và do các bậc cao tăng thực hiện.
Chú thích:
(1) Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb
Văn hoá, H. 1960, Tr. 21 – 23.
(2) Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb
Văn hoá, H. 1960, Tr. 21 – 23.
(3) Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử
ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013, Tr. 44 – 45.
(4) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa
học Xã hội, H. 1997, Tr. 29.
(5) Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử
ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013, Tr. 45.
(6) Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb
Văn hoá, H. 1960, Tr. 21 – 23.
(7) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa
học Xã hội, H. 1997, Tr. 29.
(8) Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa
học Xã hội, H. 1997, Tr. 29.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Giáo trình Lịch sử Việt
Nam cổ – trung đại, Nxb Đại học Vinh, 2019.
2. Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử
ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013.
3. Ngô Thì Sĩ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã
hội, H. 1997.
4. Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn
hóa, H. 1960.
5. Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Nxb Khai trí, 1961.
20/12/2023
Nguyễn Tài
Nguồn: Văn hóa Nghệ An
Theo https://vanvn.vn/
Trịnh Hoài Đức công thần nhiều công đức
Trịnh Hoài Đức
công thần nhiều công đức
Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Trịnh
Hoài Đức, phần lớn viết về thời hiển đạt, ít có tài liệu nêu rõ về nguyên quán,
tuổi thơ của ông. Trịnh Hoài Đức (có tên khác gọi là An, tên tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn
Trai), tuổi “con gà”, sinh năm Ất Dậu (năm 1765), mất cũng năm Ất Dậu (năm
1825), nguyên quán ở làng quê nghèo Phúc Hồ, thuộc quận Trường Lạc (nay thuộc
TP. Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến), nơi nhìn ra eo biển Đài Loan.
Cuộc đời của Trịnh Hoài Đức có thể chia thành hai chặng: Tuổi
thơ bình dân và trưởng thành vinh hiển.
Thân phận bình dân
Thế kỷ XVIII, ông nội Trịnh Hoài Đức là Trịnh Hội theo đoàn
người Hoa phản Thanh phục Minh vượt biển vào Đàng Trong, ngụ cư tại vùng đất mới
(do Nguyễn Cảnh định danh là xã Thanh Hà, thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long,
trấn Biên Hòa); lúc đầu thử làm gốm da chu, sau làm nghề buôn bán, dần trở nên
khá giả.
Cha Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh ham học, nổi tiếng là chữ đẹp
và cao cờ; lúc nhỏ học thi thư, lớn lên thông lục nghệ, bỏ tiền của mua được chức
quan nhỏ trông coi việc thu thóc; vì để thóc chìm nên bị quan trên chuyển xuống
cho làm lại tốt ở đội Tả phùng dực, rồi đến kinh đô Phú Xuân nộp tiền để nhận
áo mũ hàng lục phẩm và nhận việc ở phủ Tân Bình, mang gia quyến đi theo.
Riêng Gia định Thành thông chí, Trịnh Hoài Đức biên soạn
trong thời gian đương nhiệm tại Gia Định (không rõ cụ thể từ năm nào) gồm 6 quyển: Quyển
I: Tinh dã chí; Quyển II: Sơn Xuyên chí; Quyển III: Cương vực chí; Quyển IV:
Phong tục chí; Quyển V: Sản vật chí; Quyển VI: Thành trì chí. Đây được xem
là bộ sách kinh điển về địa phương Nam bộ, hiện đã có nhiều bản dịch; những người
nghiên cứu lịch sử văn hóa Nam bộ đều có căn cứ từ đấy với lòng tin phục về tài
năng, tâm huyết và phương pháp khoa học của học giả Trịnh Hoài Đức.
Thời gian ở phủ Tân Bình với cha, Trịnh Hoài Đức học hành
trong vòng tay mẹ và chỉ dẫn của thầy giáo làng dạy ấu học trong vùng.
Đến năm lên mười tuổi, Trịnh Hoài Đức mồ côi cha, theo mẹ và
anh chị về chỗ ở cũ tại xã Thanh Hà để phụng dưỡng bà nội. Nhiều tài liệu có
khác nhau sau sự cố này. Lê Quang Trường cho rằng Trịnh Hoài Đức theo mẹ về lại
Biên Hòa, sống đời dân dã. Từ năm 1776, quân Tây Sơn đánh chiếm Trấn Biên, mẹ
Trịnh Hoài Đức lại đưa cả nhà đến trấn Phiên An, lưu ngụ tại huyện Tân Long, sống
nhờ nghề canh cửi của người mẹ quả phụ. Dù nghèo khó, kiếm sống vất vả trong loạn
lạc, mẹ Trịnh Hoài Đức vẫn luôn nghiêm nghị, khuyên dạy và dồn sức cho Trịnh
Hoài Đức theo thầy học tập.
Trong thôn xóm, trẻ thiếu thầy dạy, phần lớn chỉ biết tự học,
tự giảng. Trịnh Hoài Đức cùng người bạn cùng cảnh ngộ lớn hơn 3 tuổi là Ngô
Nhân Tĩnh tìm đến thọ học thầy Xử sĩ Võ Trường Toản; cùng học còn có Lê Quang Định,
Ngô Tùng Châu, sau đều trở thành công thần triều Nguyễn Gia Long. Khi quân Tây
Sơn tiến Gia Định lần nữa (khoảng năm 1783), Trịnh Hoài Đức cùng gia đình chạy
loạn, có lúc đến Cao Miên, có lúc về Mỗi Suy (Bà Rịa).
Như vậy, từ thơ ấu đến tuổi ba mươi ba “tam thập nhi lập”, cuộc
đời của Trịnh Hoài Đức luôn trong bối cảnh gia đình “gánh mẹ” neo đơn, chạy loạn,
vượt khó học hành.
Công thần đầu triều
Đến năm 1788, khi Nguyễn Ánh thu phục Gia Định, dựng phủ
Soái, mở khoa thi, chiêu mộ nhân tài thì Trịnh Hoài Đức ứng thí, được tuyển dụng.
Cuộc đời vinh hiển mở ra từ đây.
Trịnh Hoài Đức bắt đầu công vụ bằng chức vụ Hàn Lâm chế cáo
ngay khi trúng tuyển; sau đó được bổ làm Tri huyện Tân Bình (năm 1789), rồi được
kiêm Điền Tuấn coi việc khai khẩn đất Gia Định; nhậm chức Đông cung Thị giảng
(năm 1793); Ký lục dinh Trấn Dinh, Hộ bộ Hữu tham tri (năm 1794), Tiếp vận quân
lương (năm 1801); Thượng thư Bộ Hộ, Chánh sứ sang Đại Thanh (năm 1802); hai lần
Hiệp trấn Gia Định thành phụ tá Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân (các năm 1808, 1816);
Thượng thư Bộ Lễ kiêm quản Khâm thiên giám (năm 1812); hai lần Thượng thư Bộ Lại
(năm 1811, và từ năm 1814-1820); Quyền Tổng trấn Gia Định thành (năm 1820);
Binh bộ Thượng thư sung chức Phó tổng tài Quốc tử giám, thăng Hiệp biện Đại học
sĩ (từ năm 1820); Giám khảo Kỳ thi Ân khoa (năm 1822).
Năm 1823, ở tuổi 58, nghĩ mình đã già yếu, Trịnh Hoài Đức
dâng sớ từ quan, nhưng ông chỉ được vua phê chuẩn nghỉ dưỡng 3 tháng; sau đó về
Phú Xuân tiếp tục công việc, cho đến khi qua đời.
Trịnh Hoài Đức là một khai quốc công thần của Nguyễn vương
Phúc Ánh, công thần đầu triều Nguyễn được giao nhiều việc hệ trọng, việc nào
cũng hoàn thành tốt, được vua tin cậy, ban nhiều đặc ân: Ban tiền để xây nhà ở
do thanh liêm không có dinh thự riêng; ban thuốc quý khi dưỡng bệnh. Khi ông mất,
vua truy tặng hàm “Thái bảo, Cần chánh điện Đại học sĩ”, tên thụy là Văn Khắc;
ban lệnh làm tang lễ trọng thể, an táng tại quê nhà theo nguyện vọng; cử hoàng
tử Miên Hoằng đến viếng tang, danh thần Lê Văn Duyệt phúng viếng và di quan an
táng tại làng Bình Trước (nay thuộc P. Trung Dũng, TP. Biên Hòa).
Linh vị của Trịnh Hoài Đức được đưa vào điện thờ tại miếu
Trung hưng Công thần (năm 1852) và đền Hiền Lương (năm 1858).
Đa tài, đa năng
Hiếm có vị đại quan công thần nào như Trịnh Hoài Đức: Xuất
thân bình dân, vinh hiển tột bậc, thăng tiến thực tài, tâm đức rạng ngời, lập
công thời trung hưng, tận tụy phụng sự hai đời vua (Gia Long, Minh Mạng).
Thân là quan đầu triều, nhưng Trịnh Hoài Đức không có gia sản
đáng kể, không dinh thự riêng, đến cuối đời mới được vua ban 2 ngàn quan tiền để
xây nhà ở. Năm Đinh Sửu 1817, ông về quê tham gia việc trùng tu Thất phủ cổ miếu,
phát hiện dấu hiệu ông nội là Trịnh Hội tham gia việc khởi dựng, cha là Trịnh
Khánh góp phần trùng tu năm 1743, nỗi niềm người con của xứ sở Trấn Biên rưng
rưng nước mắt.
Xét việc Trịnh Hoài Đức đã thực hiện tốt các việc được giao ở
nhiều lĩnh vực, ông là người đa tài, đa năng lực: Quản lý việc khai khẩn ruộng
đất (quan Điền Tuấn); quản lý hành chánh địa phương (Tri huyện Tân Bình, hai lần
Hiệp Tổng trấn và một lần Quyền Tổng trấn Gia Định thành); đại thần trọng trách
điều hành các nhiệm vụ quốc gia về hành chính, lễ nghi, tài nguyên, văn hóa, quốc
phòng (Thượng thư 4 bộ); mẫu mực trong giáo dục tạo nguồn nhân lực (Đông cung
Thị giảng, Phó tổng tài Quốc tử giám, Giám khảo Kỳ thi Ân khoa), giỏi việc quân
lương hậu cần (Tiếp vận quân lương); nhà ngoại giao thực tài (Chánh sứ đi sứ
sang Đại Thanh)…
Công đức của Trịnh Hoài Đức được người đời sau ghi nhớ nhiều
nhất có lẽ là tri thức văn hóa. Ông là người hiến kế vua Minh Mạng ban “Chiếu cầu
sách cũ” (năm 1820) và chính ông là người thực hiện công đầu, dâng lên vua những
bộ sách quý: Gia Định Thành thông chí (chính ông biên soạn), Bột di ngư văn thảo
(của Mạc Thiên Tứ), Lịch đại kỷ nguyên và Khang tế lục; khuyến khích người bạn
Lê Quang Định dâng lên vua Hoàng Việt nhất thống dư địa chí. Đó là những bộ
sách kinh điển mang giá trị văn hóa muôn đời.
Trịnh Hoài Đức còn để lại cho đời di sản thơ văn giàu cảm
xúc, nhiều tâm sự: Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập, Gia Định tam gia thi tập,
Đi sứ cảm tác. Qua các thi tập của ông, có thể thấy một thi nhân tài hoa,
đa tình, đa cảm; có lẽ vậy mà ông được thi hữu yêu quý, xem ông là cốt lõi
trong “Gia Định Tam gia”, hạt nhân trong văn đàn “Bình Dương Thi xã”.
Cấn Trai trước hết là một thi sĩ đi nhiều, quan sát kỹ, cảm
nhận ở tự nhiên những vẻ đẹp tinh tế, đầy nhân tính. Trịnh Hoài Đức là người
con chí hiếu, luôn biết ơn mẹ, luôn nghĩ về mẹ. Khi chuẩn bị đi sứ xa mẹ lâu
ngày, quan Chánh sứ trăn trở với trái tim thơ…
* Đa tâm sự
Trong “Gia Định tam thập cảnh”, Chỉ Sơn tiên sinh cảm nhận ba
mươi cảnh đẹp của xứ Gia Định, mỗi cảnh có sắc thái riêng, đều lấp lánh hình
bóng của con người: Đất đỏ ở Long Đất như có người bừa mây “Chu thổ sừ vân”; bến
quê Tân Triều như chiếc thuyền lẻ nằm ngang, lòng khách tha thiết gửi vào nước
sông trong “Tân Triều đãi độ”; Ông Tiều ở Hố Nai gió thổi tung mái tóc trắng
phau, tiếng hát hồn nhiên vang trong núi, hòa điệu tiếng nhịp chặt cây và tiếng
suối chảy “Lộc động tiều ca”. Trước vẻ đẹp của sen và cô gái hái sen, tác giả
tưởng như có chuyện hẹn hò, sợ làm kinh động:
遊 女 採 蓮 休 亂 動
Du nữ thái liên hưu loạn động,
舊 盟 猶 待 逐 來 潮
Cựu minh do đãi trục lai triều.
Dịch nghĩa
(Các cô gái đến hái sen đừng làm kinh động,
Hẹn cũ còn chờ theo nước triều lên).
Hoặc như, viết về cây bần ở Nam bộ, bài thơ ví thân cây như
lưng cô gái nho nhỏ, thướt tha yếu đuối, vẫn nhờ làn gió nâng niu ở bờ sông đất
Việt, hoa nở từng chùm đỏ ối, cành quả hàng chuỗi xanh rì, ban đêm đom đóm lập
lòe như cây lửa “Thủy liễu”… Không yêu quý thiên nhiên thì không cảm nhận tinh
tế đến vậy.
Trịnh Hoài Đức là người con chí hiếu, luôn biết ơn mẹ, luôn
nghĩ về mẹ. Khi chuẩn bị đi sứ xa mẹ lâu ngày, quan Chánh sứ trăn trở với trái
tim thơ:
Dịch nghĩa
Lìa hiệp tang thương kể mấy hồi
Ân tình ai cũng khéo phanh phui
Trăng lòa ải bắc nhàn chinh bóng
Thu quạnh trời nam quạ đút mồi
Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt
Công danh nghĩ lại đổ mồ hôi
Quân thân tuy cách lòng đâu cách
Trọn đạo con là trọn đạo tôi.
Ở Trịnh Hoài Đức, tình bạn thắm thiết, thủy chung chiếm vị
trí trang trọng trong thơ. Rất nhiều bài thơ với nhiều cung bậc cảm xúc dành
cho những người bạn thân thiết lấy chữ Sơn làm nhân hiệu như Nhữ Sơn Ngô Nhân
Tĩnh, Chỉ Sơn Lê Quang Định, Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn. Bài thơ “Khốc Hộ bộ Thượng
thư Mẫn Chính hầu Lê Quang Định” đau thắt ruột gan: Bạn thân ở Gia Định đã một
nửa héo lụi, Lê khanh nay lại cưỡi sao Vĩ mà đi, cởi áo cừu đã làm lễ nhập
quan, vẫn còn khóc như mưa phải nâng vạt áo lau.
Gặp lại người bạn cũ tại một ngôi chùa ở Biên Hòa, Trịnh Hoài
Đức có thơ “Tặng Giác Lâm Viên Quang thiền sư” với lời lẽ chân tình, ấm tình bạn,
đậm màu thiền;
Dịch nghĩa:
Nhớ thuở thái bình xưa
Đồng Nai vừa thịnh mỹ
Đạo Thích được tôn sùng
Nhà ngoại còn phú quý
Ta làm trẻ dâng hương
Sư là người giữ giới
Áo tuy chia xanh vàng
Lòng vẫn chung ý khí
Bạn giỏi xót phong trần
Quỷ đói ngập thế giới
Bọt nước chuyện mất còn
Bèo hoang phận chìm nổi
Trải hơn bốn mươi năm
Mà như không mấy đổi
Đồng tây rảnh dạo quanh
Cửa núi chợt gặp lại
Ta Hiệp trấn thành này
Sư Hòa thượng ngôi ấy
Cầm tay tựa mơ mòng
Mở lòng còn run rẩy
Chuyện xưa nói làm gì
Đạo lớn thảy như vậy
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
90 năm sau khi “Cấn Trai thi tập” được ấn hành, Nguyễn Liên
Phong phổ biến bài thơ nêu trên, kèm theo mấy dòng cảm tác trong Nam Kỳ phong tục
nhơn vật diễn ca:
Giác Lâm chùa tổ sơ khai,
Tục kêu Cẩm Đệm lâu dài thạnh sung.
Thuở xưa Hoài Đức Trịnh công,
Viên Quang Hòa thượng cũng đồng bạn chơi.
Kẻ Vương người Phật theo đời.
Khi sau hội ngộ có lời tặng ngôn.
Một bài cổ điệu ngũ ngôn,
Trịnh công thủ bút thuyền môn rõ ràng.
Tâm sự trung quân ái quốc của Trịnh Hoài Đức rõ nhất trong “Bắc
sứ thi tập” và “Đi sứ cảm tác”. Ở đó, Trịnh Hoài Đức làm thơ ghi chép gần như
là nhật ký cảm xúc về mọi sự, bàng bạc trong thơ là tấm lòng trung trinh với
vua, thương nhớ quê nhà.
Hành trình đi sứ kéo dài khiến cho Trịnh Hoài Đức thêm lo lắng,
lòng trĩu nặng ơn vua nợ nước. Bài Đông nguyệt do Quảng Đông thủy trình vãng Quảng
Tây tỉnh có đoạn được dịch nghĩa:
Ơn vua ơn nước còn mang nặng chưa đền đáp,
Năm tháng xa cách còn dần dà chưa về.
Đẩy cửa cao giọng gọi lái đò,
Nhổ neo giương buồm gấp gấp vượt sông.
Có lúc ông cảm thấy thẹn lòng vì không lo được việc nhà:
Cờ sứ cách trở lần lữa nơi dịch quán,
Người vợ thuở hàn vi lại bị bệnh ở phương trời xa.
Chí trẻ mưu sự kinh luân tế thế của ta thật lầm lẫn,
Cung tên treo lên thuở mới sinh, chợt cười đã thành chuyện
hão.
Lữ thứ hoa triêu
Nghe tiếng sáo như tiếng thổi bùng ngọn lửa trong lòng:
Tha hương làm khách mãi,
Chiết liễu điệu xui lòng.
Chín khúc sông sầu nhớ,
Quanh thành sông lượn vòng.
Tương hành tạp vịnh văn địch
Tương tự, khi lên lầu ở Trường Sa, trông những cánh buồm, dừng
chén rượu, nhớ mùa thu quê hương “Đăng Trường Sa Củng Cực lâu lưu đề”. Khi
nằm bệnh, giấc mộng mơ màng theo tiếng chuông bay về cõi quê hương; trời thu
như gió mát để đưa tiễn đưa về quê sớm “Khai Phong phủ hành quán lập thu bệnh
trung ngâm”.
* Tự tình, tự trào
Trịnh Hoài Đức ít nói về mình, nhưng có thể tìm thấy tính
cách của ông trong thơ. Bài thơ Cấn Trai đề bích, có ý nghĩa tự sự, như khắc họa
một con người kết tinh của Trời Đất, thừa hưởng tinh hoa của con người, sống có
nguyên tắc vì xã hội và quốc gia, biết kiềm giữ, dù đã thành danh nhưng luôn
vươn tới cái mới, uống rượu nhiều, khổ luyện làm thơ, có tâm hồn nhân văn “Không
bẻ hoa trước sân, dành để thưởng xuân tự nhiên”:
Phiên âm
Thiên địa chung nhân tú,
Nhân thừa thiên địa chân.
Tửu đa giới đãng tính,
Thi khổ cảnh lao thần.
Lý du cương duy lập,
Danh thành đức nghiệp tân.
Đình hoa khai bất chiết,
Lưu thưởng tu nhiên xuân.
Dịch nghĩa
Trời đất chung đúc khí linh tú nên người,
Người thừa hưởng cái chân của trời đất.
Uống rượu nhiều, tự răn về tính khoáng đãng,
Khổ công làm thơ, cảnh giác về chuyện mệt mỏi tinh thần.
Lý đầy đủ, nguyên tắc để ràng buộc xã hội và quốc gia được lập,
Đã thành danh, đạo đức, sự nghiệp phải có cái mới.
Hoa trước sân nở không bẻ,
Dành để thưởng cái xuân tự nhiên.
Bài thơ Tự trào tự kiểm, tự đùa vui với mình, thể hiện tâm
tình lạc quan, hài lòng với cuộc sống, ngạo với đàn thơ, vui với nước đẹp, núi
lạ:
Phiên âm
Thiên nhược ư dư hống tiếu đoan,
Sinh phùng loạn thế cưỡng danh an.
Nhân nhưng mang tuế thâu nhàn nhật,
Tàm quý vi tài bác hảo quan.
Nê tuý nhất bôi kiêu tửu bá,
Nha đồ ngũ vận ngạo thi đàn.
Cận lai kiêu hãnh càn khôn lượng,
Thuỷ tú sơn kỳ túc ngã hoan.
Dịch nghĩa
Trời dường như trêu cợt ta,
Sinh gặp đời loạn mà vẫn gượng giữ vẹn được danh.
Bởi vẫn năm bận rộn trộm rút lấy ngày nhàn,
Thẹn mình tài nhỏ mà lại được chức quan kha khá.
Say nhà một chén kiêu căng với tửu bá,
Bôi lem nhem năm vận ngạo với đàn thơ.
Gần đây đánh cuộc may rủi đo lường trời đất,
Nước đẹp núi lạ đủ cho ta vui.
Muốn hiểu thêm về Trịnh Hoài Đức, có thể tìm hiểu hai cặp đối
ở di tích mộ ông. Hai cặp đối ấy hoặc làm theo di nguyện của Trịnh Hoài Đức, hoặc
của bạn tâm giao, thấu hiểu tâm đức của người quá cố.
Cặp đối 1, mỗi vế 7 chữ thể hiện triết lý đượm màu thiền về
con người với tự nhiên:
山 水 有 情 成 眷 属
Sơn thủy hữu tình thành quyến thuộc
(Núi sông hữu tình thành người thân trong nhà)
乹 坤 無 域 是 家
Càn khôn vô vực thị gia hương
(Trời, Đất không có ranh giới chính là quê nhà).
Cặp đối 2 mỗi vế 5 chữ về đạo lý ứng xử ở đời mang tính giáo
huấn:
各 人 正 走 馬
Các nhân chính tẩu mã
(Người sống ở đời chính là đang cưỡi ngựa)
舉 世 堅 行 舟
Cử thế kiên hành chu
(Việc xử thế ở đời như là kiên trì chèo thuyền)
Muốn hiểu thâm ý cặp đối 5 chữ này, phải thuộc lời giáo huấn
của cổ nhân, cũng qua câu đối:
Tâm như bình nguyên mục mã, dị phóng nan thu
Học như nghịch thủy hành chu, bất tiến tất thoái
(Lòng người như cưỡi ngựa trên bình nguyên, phóng đi thì dễ,
ghìm giữ mới khó.
Việc học như chèo thuyền ngược nước, không tiến tới được, ắt
sẽ tụt lùi).
Hai cặp đối ấy có ý nghĩa triết lý nhân sinh như là bài học từ
cuộc đời của Trịnh Hoài Đức để lại cho đời. Có thể lấy chữ Đức để diễn đạt về
Trịnh Hoài Đức: Công đức, tâm đức và nhơn đức.
19/12/2023
Huỳnh Văn Tới
Nguồn: Báo Đồng Nai 12.2023
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức "Dốc im lặng''
Nhà thơ Trần Thắng ẩn ức "Dốc im lặng'' “Dốc im lặng” là tập thơ thứ hai của nhà thơ, họa sĩ Trần Thắng. Cùng với thơ, trong ...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...




