Cầu quan được địa vị, xuất hành tốt, đi xa nhiều tài lộc.
Mưu việc thành đạt, kiện tụng nên hòa. Tìm người thì gặp, của thất lạc tìm lại được, hôn nhơn thành tựu, có thai sinh trai, gia trạch yên ổn.
Kiên Giang lại xoa bụng tôi, tôi xô anh ra, cằn nhằn: “Làm gì xoa bụng tôi? ”
Kiên Giang cười hề hề, nói:
– Ông thầy bói nói là có thai sinh trai, tôi rờ thử bụng anh coi anh có thai hay không vậy mà.
Ông thầy bói nói:
– Quẻ bói là chung cho Nam lẫn Nữ. Ông không có thai thì bà có thai. Hai ông bà già hết rồi, không thai nghén được nữa thì con dâu, con gái có thai, nghĩa là không có con thì thôi mà hễ có con thì là con trai, cháu nội trai. Thôi, các ông có vẻ không tin quẻ Khổng Minh. Vậy thì các ông viết cho tôi mỗi ông một chữ, tôi sẽ chiết tự, đoán vận mạng cho các ông.
“Vậy thì tôi viết trước!” Kiên Giang lấy viết và giấy trên bàn của ông thầy bói, viết một chữ NỢ, rồi anh ta gạch tréo trên chữ Nợ và nói: “Tôi muốn xóa nợ. Đó ông thầy bói đi.”
Ông thầy bói ngồi rung đùi cười ruồi, tôi hiểu ý ông ta nên nói:
– Ông đoán đi, tôi đặt tiền quẻ luôn cho ông đoán ba chữ ký đây.
Tôi lấy ra thêm ba tờ năm chục đồng đặt trên đĩa trước mặt, ông thầy bói lấy một trăm đồng thôi, ông trả lại cho tôi năm chục:
– Phần của ông, tôi đã lấy lúc nãy, tôi đoán chữ ký cho ông, miễn phí. Hai ông viết luôn cho hai chữ rồi tôi đoán luôn một thể.
Hà Triều lấy giấy viết, suy nghĩ hơi lâu để tìm một chữ gì đó để hy vọng làm khó dễ ông thầy bói nhưng rồi Hà Triều cũng viết một chữ NỢ xong khoanh tròn chữ Nợ chứ không gạch tréo như chữ Nợ của Kiên Giang. Hà Triều cười, nói: “Tôi khoanh vùng, không cho nợ nữa.”
Đến phiên tôi, tôi gò chữ viết một chữ NỢ thật đẹp, không gạch, không khoanh tròn, không cả dấu chấm sau chữ nợ.
Ông thầy bói cầm ba chữ Nợ, ngó ngang, ngó dọc của từng chữ, rồi lấy thước đo chiều cao của nét chữ, chiều ngang, lấy tay mằn mằn theo từng nét chữ, rất trịnh trọng.
Tôi theo dõi và thầm nghĩ là thằng cha nầy đang tìm cách nói dóc sao cho thật hay đây.
Hà Triều cười:
– Ông chiết tự mà đoán trúng tương lai hậu vận của tôi, tôi xin bái ông làm sư phụ để xin theo học nghề bói toán.
Ông thầy bói lấy ngón tay trỏ, gõ nhẹ nhẹ lên chữ Nợ có gạch tréo ngang của Kiên Giang rồi nói:
– Ông gạch tréo để xóa chữ Nợ, ý muốn xóa nợ, hết mang nợ, nhưng theo nét chữ và cách gạch tréo của ông thì cái gạch tréo nầy là cái dấu Nhơn, y như dấu nhơn trong bốn phép tính. Vậy có nghĩa là đời của ông sẽ không bao giờ dư dã, ông sẽ nhơn lên số nợ của ông hoài cho đến ngày cuối đời. Lúc nào cũng mang nợ. Nợ sanh lời, đẻ ra nợ, hết chuyện tai nạn nầy tới chuyện trục trặc khác làm cho ông phải mang nợ và nợ, nợ sẽ nhơn lên thành nhiều nợ…
Kiên Giang không phản đối, thở ra một hơi dài như cam chịu cái phần số long đong, nghèo mạt rệp của anh.
Không khí của cuộc bói toán trở thành nghiêm trang, Hà Triều cũng lo lắng ra mặt, không còn có giọng cợt đùa không tin tưởng ông thầy bói như lúc nãy.
Ông thầy bói lại lấy ngón tay trỏ khỏ khỏ lên chữ Nợ có khoanh tròn của Hà Triều, ông có vẻ do dự chưa muốn nói thật ra nhưng Hà Triều thúc dục: “Ông đoán đi, cứ nói đi, tôi không phiền giận gì nếu ông đoán là vận mạng của tôi xấu ”
– Vậy thì tôi cho ông biết là ông khoanh tròn cái chữ Nợ nầy, không phải là ông ngăn không cho cái nợ nó lan tràn ra nữa mà là chữ nợ khoanh tròn nầy báo hiệu là ông sẽ hết Nợ Văn Chương. Tôi chưa đoán được chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng ông sẽ không viết tuồng được nữa, hoặc tuồng của ông viết ra thì không được xử dụng, số mạng của những tác phẩm sau nầy của ông bị khoanh vùng rồi, và tôi nói ông đừng buồn, sanh mạng của ông cũng không thọ, có nghĩa là ông cũng hết Nợ Đời sớm hơn hai ông nầy.
Hà Triều lúc nầy mới thật sự lo sợ, anh ta ngập ngừng hỏi: “Ông thầy coi có cách nào để giúp tôi xóa đi cái vận hạn xấu nầy không? Hay là để tôi viết chữ khác để ông thầy đoán lại, coi tôi có một cơ may nào không? ”
Ông thầy bói lắc đầu: “Mỗi người có một phần số, đâu phải muốn thay đổi là thay đổi được dễ dàng. Tôi hy vọng là tôi coi chưa tới, tôi đoán sai, không thấy được Triệt đóng ngay khung tiểu hạn của ông để mà hóa giải những tai nạn vận đen cho ông. Phải coi tử vi, đúng ngày sanh, giờ sanh thì mới dám quyết đoán.”
Ông thầy bói lại lấy chữ Nợ của tôi gò viết chữ cho đẹp lúc nãy, ông cũng lấy ngón tay trỏ gõ gõ lên chữ Nợ, nhìn kỹ, đưa lên nghiêng qua nghiêng lại trước ánh đèn cóc mù mờ, tôi nghe tim tôi đập mạnh như bị ông thầy bói khỏ khỏ lên trái tim của tôi, tôi nói:
– Dạ thưa thầy, thôi đi, tại tôi thấy hai anh nầy viết chữ Nợ, tôi bèn viết theo, chứ thật trong thâm tâm của tôi, tôi không hề nghĩ tới việc viết một chữ Nợ. Thầy khỏi đoán nữa…
Ông thầy bói dường như không nghe lời nói của tôi, ông tiếp tục nói theo dòng suy tư của ông: “Viết cái chữ Nợ một cách gò gẫm như vầy, đẹp như vầy là nói lên cái số của ông còn nặng nợ văn chương, như con tằm phải trả nợ dâu, ông còn phải trả nợ văn chương cho tới quá chín mươi tuổi, ông còn nợ cháu nội, cháu ngoại, còn nặng nợ giúp đỡ bạn bè. Viết gò gẫm một chữ Nợ có nghĩa là ông tự nguyện mang cái nợ văn chương, mang cái nợ nuôi con cháu và giúp đỡ bạn bè và cái số của ông là về già ông được sung sướng, thong dong và có lẽ nhờ cái vận số của ông lúc nào cũng được may mắn, phong lưu nên ông giúp người ta một cách dễ dàng. Ống trả nợ nhưng thật ra là ông cho người ta mượn nợ kiếp nầy để kiếp sau họ trả lại cho ông.”
Ông ta nói tốt cho tôi, trong bụng tôi cũng vui vui nhưng tôi nghĩ là vì tôi mau chóng đặt tiền quẻ, ông bói tốt cho tôi, còn Hà Triều và Kiên Giang thì cợt đùa, có vẻ không tin việc bói toán nên ông ta bày đặt chuyện, nói dọa hù cho hai anh chàng lo sợ.
Trước khi đi chợ Bà Chiểu, tôi chợt nhớ một thắc mắc nên hỏi ông thầy bói:
– Tại sao chúng tôi chưa nói tên tuổi của mình mà ông đoán biết trúng ngay phong phóc vậy?
Ông thầy bói cười nói:
– Vì các ông khi nói chuyện với nhau trước khi xem bói, người nầy gọi tên người kia. Ba cái tên Nguyễn Phương, Kiên Giang, Hà Triều thì tôi nghe các tuồng dĩa cải lương của các ông soạn, tôi nghe giới thiệu hoài, tuy tôi chưa biết mặt nhưng tôi đã nghe danh ba ông. Vậy nên khi các ông tới bói, vô tình gọi tên nhau là tôi biết, chớ có gì là lạ?
À ra là vậy! Chúng tôi tiếp tục đi chợ Tết, mua bông mai, ít trà mứt mà trong lòng không mấy vui. Tôi được bói tốt nên an ủi hai bạn:
– Chúng mình là soạn giả, chuyên môn đặt chuyện nói dóc thành ra tuồng tích, vậy mà nghe một ông thầy bói bói mò, lại tin tới nỗi lo sợ mất vui. Bói ra ma, quét nhà ra rác, tụi mình quên chuyện nầy đi.
Hà Triều và Kiên Giang bỗng phá ra cười to lên, Hà Triều nói:
– Hồi nãy có một thằng nhỏ đốt một phong pháo, quăng vô gần cái bàn của ông thầy bói. Nguyễn Phương có thấy là Kiên Giang thì chúi đầu vô né, tôi thì chới với, vói tay chụp cái bàn. Nguyễn Phương đá phong pháo ra ngoài xa, còn ông thây bói thì cầm cái đèn cóc lên vì ổng sợ ngã cái đèn, dầu chảy ra, cháy đồ nghề bói toán của ông ta. Nhớ chưa?
– Nhớ! Rồi sao?
– Lúc đó tôi nhanh tay chớp cuốn sách bói, ông ta không hay biết là đã mất cuốn sách kiếm cơm nầy. Qua mùng ba, mình đem lại trả cho ổng, nói là khi pháo nổ, bàn bói của ổng bị xô lệch, sách rớt xuống đất, mình lượm, coi lại thì mới biết là sách bói.. (Hà Triều đưa ra cuốn sách bói mỏng, nhỏ như loại sách bỏ túi) cuốn Bói quẻ Khổng Minh, Tết nầy tụi mình vô thăm bà Bầu Thơ trong rạp hát Thủ Đô, tôi mở một cái quán lốc cốc tử, coi bói cho Thanh Nga, cho Bà Bầu và mấy bạn nghệ sĩ chơi.
Tôi bảo đem trả đi vì đồ nghề kiếm cơm của người ta, lấy đi rồi người ta làm sao làm ăn? Nhưng Kiên Giang nói ông ta đã thuộc nằm lòng, có sách bói hay mất sách cũng chẳng có ảnh hưởng gì hết
Ngày mùng ba Tết năm đó, tôi vô rạp hát Thủ Đô, chúc Tết bà Bầu Thơ, thăm các bạn nghệ sĩ đoàn Dạ Minh Châu (tức Thanh Minh 2 ), tôi thấy Hà Triều ngồi bịt khăn đỏ ngang trán, vẽ râu ngạnh trê, Kiên Giang mặc áo thụng xanh (mượn trong đồ hát của bà giữ đồ hội của đoàn). Cả hai giả hai ông hầy bói lốc cốc tử, một cái nắp hộp phấn có dán hình một con rùa, úp trên đĩa thay cho cái mu rùa, các nghệ sĩ bu lại coi bói thiệt là vui.
Tôi nghe Hà Triều ê a đọc lớn:
– Quẻ của cô Thanh Nga… Phúc Lộc, Thượng Thượng:
Phúc Lộc đắc an khang,
Vinh hoa bảo tiến xương
Bách sự toại tâm ý
Thiên lý cộng hình hương.
Gia môn an thái sinh hân khí
Xuất ngoại kinh doanh lợi tức tăng
Tai khứ phúc lai quang thái ánh,
Cầu mưu tất sự vĩ cao thăng.
Hà Triều giải nghĩa bài quẻ bói kể trên chắc là đúng theo ý của cô Thanh Nga nên tôi thấy cô gật đầu dạ, dạ, vẻ mặt rất vui.
Nghệ sĩ Minh Điển xưa nay không tin dị đoan, thấy vui vui cũng cầm mu rùa dỏm lên xá xá, rồi xổ mấy đồng bạc cắc, thầy rùa Hà Triều xếp xếp mấy đồng sấp, ngửa, hô to:
– Quẻ An Tĩnh, Hạ Trung.
Nói xong, ông thầy bói dởm mở sách ra ngâm nga:
Tâm tư đa bất định,
Cầu mưu vị đắc thánh
Nhẫn nại phương vi phúc
Thủ phận miễn tại tinh
Khuyến quân vi thiện mạc hành tà
Vạn khoảnh tâm điền thường tự ma
Phụ mẫu đường từ tu hiếu kính
Chiêu nhiên thiên lý phúc nguyên ha.
Minh Điển hỏi:
– Ông thầy rùa giải nghĩa mấy câu chữ nho coi nói gì. Ống đọc khơi khơi như vậy thì làm sao mà tôi hiểu?
Hà Triều nói lớn: “Thiên cơ bất khả lậu. (xong anh ta rỉ tai Minh Điển) Tôi còn không hiểu thì anh biểu tôi giải nghĩa làm sao được mà giải?”
Bên hành lang hậu trường sân khấu trang trí đón Xuân rất đẹp, cũng có hoa mai, nhiều chậu cúc… một bàn dài để nước ngọt, rượu bia, bánh mứt và trái cây đãi khách và nghệ sĩ các đoàn khác đến chơi, không khí rất là vui; các nghệ sĩ của đoàn, ai có vai hát, tới lớp thì chạy ra sân khấu hát, ai chưa tới lớp vô chúc tết, coi bói, binh xập xám.
Viễn Châu và Nguyễn Ang Ca tới chúc Tết bà Bầu Thơ, thấy Kiên Giang và Hà Triều hóa trang làm mấy ông thầy bói, Viễn Châu cũng cao hứng, vô bà Sáu đồ hội, mượn một áo thụng xanh, khăn đóng, ra ngồi coi bói cho nghệ sĩ.
Nữ nghệ sĩ Lệ Thủy tới coi bói, đặt tiền quẻ đàng hoàng. Viễn Châu đốt nhang, hô úm ba la một hồi, thần bút xuống cơ cho mấy câu thơ:
“Cô bán trầu xanh” thật dễ thương
Giọng ca lảnh lót ngọt như đường
Thanh thanh dáng nhỏ, người tha thướt
Xuân đến càng thêm đượm sắc hương.
Nữ nghệ sĩ Hồng Nga lại vái chào ông thầy bói, Kiên Giang vội nói:“Lần nầy để cho tôi bói. Hồng Nga, lại rờ cái mu…cái mu..” Kiên Giang cười tới té sặc, cà lăm không nói được.
Hồng Nga tức: “Ông thầy nói tầm bậy, tôi cắt cái lưỡi của ông đó”.
– Xin lỗi… Tại tụi nó chọc, tao cà lăm… tao là tía của mầy, tao nói bậy cho Tổ vật tao chết đi.
Hồng Nga lại bụm họng Kiên Giang: “Nói chơi với ông thầy, đừng có thề, Tổ vật ông thiệt à nghen!”
Kiên Giang viết mấy câu thơ, ngâm lớn cho mọi người nghe:
– Hồng Nga cười cũng giỏi mà khóc cũng hay. Bi, Hài đều số một. Bộc trực, ngay thẳng, tánh tình sòng phẳng. Nhưng cũng có đôi lúc bốc đồng cũng dám giở ngón Ka ra tê giằn mặt đối phương. Vậy có thơ rằng:
Khán giả khen em sắc vẫn tươi,
Dạ thưa:
Em mới quá năm mươi!
Quà xuân xin tặng người tri kỷ,
Nhận ở Hồng Nga một tiếng cười.
Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc tròn như hột mít, từ ngoài chạy vô la: “Tới phiên em… Tới em…”
Ông thầy bói Viễn Châu đọc to lên:
– Kim Ngọc, Vàng và ngọc.
Cuộc sống có được hai thứ đó đúng là quá lý tưởng.
Chưa thấy mặt đã nghe tiếng cười, vậy có thơ rằng:
Hồi Dạ Lý Hương vẫn ốm teo,
Mai Đình cô gái ở quê nghèo
Từ ngày đi tấu hài đây đó,
Nặng ký nhưng mà hổng có eo!.
Cái Tết năm Nhâm Tý đó vui thật là vui, đầu năm thì gánh hát nào cũng đông nghẹt khách, nhưng khi có chiến dịch Hạ Lào xảy ra thì cuộc sống của giới nghệ sĩ sân khấu trở nên khó khăn hơn; các gánh hát làm ăn thất bát, nghệ sĩ túng thiếu, vay nợ như chúa chổm.
Kiên Giang thì năm nầy mắc nợ cho tới phải bán nhà, đi ở nhờ hết ở nhà của người bạn nầy rồi dời đi ở nhờ với người bạn khác.
Hà Triều thì bặt vô âm tín, anh không viết được tuồng nào nữa. Mãi cho tới sau 1975…, đến năm 2003, anh Hà Triều cũng không có được một vở tuồng nào cho ra hồn. Phải chăng là lời bói chiết tự của ông thầy bói quá đúng?
Mùa Xuân Ât Dậu 2005 nầy, tôi bỗng nhớ lại chuyện ngày Tết đi Lăng Ông, bói quẻ đầu xuân. Lời tiên tri của ông thầy bói ám ảnh tôi nhiều năm dài. Bây giờ tôi bỗng nhiên tin là ông ta đoán trúng, vì cho tới mãi năm 2004 vừa qua, tôi vẫn được tin của Kiên Giang là gần ba mươi năm qua, lúc nào anh ta cũng mắc nợ. Và Hà Triều thì đúng là hết nợ văn chương, hết nợ đời. Và riêng Nguyễn Phương tôi thì đã đi quá cái ngưỡng cửa tám mươi tuổi, tôi vẫn còn nặng nợ văn chương.
Bạn bè ở Mộng Lệ An năm nay rủ tôi đi bói quẻ đầu Xuân, tôi không dám đi. Thà như không biết, thà như không nghe nói trước, vì có câu tục ngữ:
Thừa tiền thì đem mà cho,
Đừng có xem bói thêm lo vào mình.
CUỘC SỐNG SAU BỨC MÀN NHUNG
Nghệ sĩ sân khấu cải lương trong nửa thế kỷ trước đã từng phải sống trong tình trạng nghèo khó, ăn quán ngủ đình.
Trong những thập niên 60, 70, 80, một thời kỳ vàng son của cải lương, đa số nghệ sĩ đều có xe hơi, nhà cao cửa rộng, có tài xế riêng và người giúp việc trong nhà. Những đào kép dàn bao, bực trung cũng ở nhà lô, chung cư và phương tiện di chuyển thông thường là xe Honda, Vespa, Lambretta hay xe mô-tô BMW.
Thời kỳ này, tuy trong giới nghệ sĩ vẫn có sự giàu nghèo cách biệt, đồng lương chênh lệch rất nhiều nếu so sánh giữa đào, kép chánh và kép phụ hay công nhân sân khấu, nhưng nói chung mọi nghệ sĩ vẫn được “no cơm ấm áo”, không có cảnh chạy ăn từng bữa, nay ở gầm cầu, mai lang thang không nơi trú ngụ.
Sau 1975, một cuộc đổi đời bi thảm, mọi giá trị trên đời đều bị đánh giá lại theo quan điểm của những chủ nhân ông mới của đất nước, mọi nếp sống đều bị đảo lộn, nghệ sĩ cải lương cũng không thoát khỏi cái vòng xoáy đó của thời cuộc.
Sự phân chia giai cấp trong giới nghệ sĩ càng lúc càng rõ nét.
Có những nghệ sĩ được chế độ ưu đãi thì tiếp tục cuộc sống của những ông hoàng, bà chúa tân thời, tuy số người này ít, có thể đếm được trên đầu ngón tay, nhưng họ được thổi phồng lên, được quảng cáo rầm rộ, thành ra nếu khán giả không thật sự theo dõi, tìm hiểu một cách sâu xa, thì có thể lầm tưởng là sân khấu cải lương được đổi mới, hưng thịnh hơn xưa và nghệ sĩ cải lương hiện nay được sống cao sang hơn trước.
Sự thật thì hoàn toàn khác. Người ta được biết Bạch Tuyết vẫn ở biệt thự sang trọng, xe hơi có tài xế riêng, có con đi học bên Mỹ trong 12 năm liên tục. Kim Cương cũng sang giàu, con trai học và tốt nghiệp HEC của Montréal. Hồng Nga có con ở nước Áo. Lệ Thủy có con đi học ở Úc. Các nghệ sĩ như Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Hoài Thanh, Diệp Lang, Ngọc Giàu, Hồng Nga, Minh Vương, Bảo Quốc được nhiều lần đi biểu diễn ở Úc, Pháp, Nga, và Canada.
Lần biểu diễn ở Toronto và Montréal của Minh Vương và Bảo Quốc bị người Việt định cư Canada kịch liệt phản đối, không hát được, nhưng báo chí trong nước vẫn quảng cáo là đồng bào nước ngoài sắp hàng, dành mua vé xem hát.
Hỏi ra những lần đi diễn ở Úc, Pháp, Nga thì phần lớn là diễn ở các quán ăn có chương trình ca nhạc, một hình thức giống quán nhậu có ca nhạc của Thanh Tú, Trang Bích Liễu hay Hoài Thanh, Đỗ Quyên. Dầu sao thì cũng được gọi là đi biểu diễn ở nước ngoài.
Cái giàu sang của Bạch Tuyết, Kim Cương, Lệ Thủy, Hồng Nga, Minh Vương không phải do thu hoạch trong khi hành nghề cải lương, mà là do một nguồn lợi khác.
Ở trong nước, từ những năm 1990, sân khấu cải lương đã bị sa sút trầm trọng. Nhiều đoàn tan rã. Có những đoàn chỉ còn cái tên của bảng hiệu như đoàn Thanh Nga, đoàn cải lương Sàigòn 1, đoàn Phước Chung. Nghệ sĩ Thanh Điền, Thanh Kim Huệ. Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Ngân Huệ nếu muốn hát cải lưong thì bỏ một số vốn riêng để quy tụ đào kép, mượn bảng hiệu đoàn Saigon l để hát. Thanh Điền – Thanh Kim Huệ khi thua lỗ thì trả đoàn lại cho Sở Văn Hoá Thông Tin, quay về với cái nghề tay trái là chụp ảnh nghệ thuật để sinh sống, chờ cơ hội khác.
Đoàn cải lương Sàigòn 2, đoàn Sàigòn 3, đoàn Huỳnh Long, Minh Tơ, Hương Mùa Thu, Kịch nói Bông Hồng, Kịch nói Kim Cương, phải chịu rã gánh.
Phía sau cung điện vàng son
Dịp Tết, tôi về thăm quê hương, đêm mùng 1, mùng 2, mùng 3 Tết, đêm nào tôi cũng theo các bạn đồng nghiệp ra rạp Hưng Đạo coi hát cải lương. Khán giả mỗi đêm chỉ được độ gần hai trăm người. Chỉ hơn một phần ba khán phòng dưới đất, còn từng lầu 2, lầu 3 vắng tanh.
Tôi vô hậu trường, thăm hỏi Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn thì các bạn cho biết là đoàn kéo màn hát được là may rồi, vấn đề lương thì mấy năm nay chỉ lãnh bồi dưỡng, một số tiền tượng trưng thôi, cốt làm sao cho sân khấu cải lương được sáng đèn hàng đêm.
Toàn thành phố Sàigòn chỉ có một rạp duy nhứt hát cải lương là rạp Hưng Đạo.
Rạp Đại Đồng quận 3 thì mấy ngày Tết có nhóm nghệ sĩ Bạch Mai, Ngọc Đáng hát Hồ Quảng. Rạp Thủ Đô, Hào Huê, công viên Đầm Sen, Hồ Kỳ Hòa có diễn trích đoạn cải lương, xen với các màn trình diễn tạp kỹ, ca tân nhạc, tấu hài, ảo thuật, xiếc…
Tôi nghĩ là nếu muốn biết cuộc sống thật sự của giới nghệ sĩ cải lương trong tình hình sân khấu sa sút như vậy thì phải tìm đến nhà của các anh chị em đó, chính mắt mình quan sát, tai nghe chính những người trong cuộc kể về mình. Như vậy, rõ ràng và thực tế, và chắc chắn là sẽ khác hơn những gì nghe được ở Hội Sân Khấu.
Xóm nghệ sĩ đình Cầu Quan.
Đình Cầu Quan, còn gọi là đình Thái Hưng, ở kế rạp hát bóng Diên Hồng (rạp Thành Xương cũ) đường Yersin, quận nhì. Nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều thế hệ nghệ sĩ mà tên tuổi bây giờ và mai sau được nhiều người ái mộ sân khấu nhắc nhở, như: Xuân Yến, Hữu Cảnh, Thanh Tòng, Thanh Loan, Trường Sơn, Công Minh, Minh Tâm trong gia đình của Bầu Thắng, Minh Tơ, Khánh Hồng, Đức Phú, Bạch Cúc, Hoàng Nuôi... gia đình nghệ sĩ Thành Tôn, Huỳnh Mai với các con Bạch Liên, Bạch Lê, Thanh Bạch, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc và những nghệ sĩ trẻ thế hệ thứ tư: Tú Sương, Thanh Thảo, Ngọc Trinh, Chấn Cường...
Tôi đến đình Cầu Quan khi lớp học ca diễn của Bạch Long đang hoạt động. Tiếng đàn, câu ca của các học viên đồng ấu làm cho tôi vô cùng xúc động, tình hình sân khấu sa sút, mất khán giả, đời sống nghệ sĩ đói nghèo, thu nhập thất thường, vậy mà cũng còn có người cho con em đi học nghề ca hát nữa kia!
Tôi ngỡ ngàng nhìn quanh mình khung cảnh quá hoang tàn, đổ nát. Trên những mảnh vụn vỡ của gạch ngói rêu phong, trong những miếng băng-rôn, những miếng tôn rỉ sét, chính là nơi nương náu của biết bao gia đình nghệ sĩ.
Chánh điện và sân đình còn lát gạch tàu khá tươm tất, ngoài ra mọi chỗ đều chấp vá, tạm bợ. Gia đình nghệ sĩ Chấn Đạt ở trên sàn sân khấu, xung quanh được che chắn bằng tất cả những gì có thể che chắn được.
Sàn bê-tông bị xói mòn theo năm tháng, tôi bước trên sàn nhà không dám mạnh chân, sợ vô ý sẽ làm vụn vỡ. Vậy mà, dưới sàn sân khấu này có những căn phòng: căn phòng dưới gầm sân khấu, chiều cao không quá một thước, chiếc xe đạp dắt vô không lọt.
Dưới gầm sân khấu đó có “căn nhà” của nghệ sĩ Trường Quang. Từ khi đoàn Minh Tơ giải tán, anh Trường Quang ở đây và chuyển nghề làm đạo cụ sân khấu. Khi cần diễn viên phụ hoặc công nhân hậu đài, anh cũng nhận làm để kiếm lương sống qua ngày. “Nhà” có 3 vách tường: một là của nhà hàng xóm, hai tường kia là của đình, phía trước trống trơn, mặc cho gió lùa mưa tạt...Mái là một mảnh nylon kéo dài.
Cũng trong khu nhà này, gia đình nghệ sĩ Trường Sơn trú ngụ. Trường Sơn, Thanh Loan (con gái của nghệ sĩ Minh Tơ), là cha mẹ của Trinh Trinh và Tú Sương, hai nghệ sĩ huy chương vàng Trần Hữu Trang. Hai cô gái trẻ này gắn bó với sân đình, sàn diễn và những mái nhà hết sức chênh vênh ấy từ thuở còn bập bẹ đánh vần, rồi đóng quân, chạy cờ, đóng thế nữ, kép con cho tới khi thành danh, đoạt huy chương vàng.
Dù chẳng phải là những mái nhà đúng nghĩa, nhưng dẫu sao kỷ niệm vẫn còn đầy ấp, thói ăn nếp ở đã quá thân quen. Bạch Long nói với tôi:
“Dù cháu biết là căn nhà cháu đang ngụ đây, gió lùa mưa tạt, ướt lênh láng trong ngoài, cháu vẫn không thể nào rời đây để mà kiếm nơi khác trú ngụ.”
Tôi hỏi “Tại sao? ”
Bạch Long cười, cái miệng méo xệ:
“Sân khấu cải lương và tuồng cổ đang sống dở, chết dở. Kiếm cái ăn còn không đủ no, tiền đâu mà mướn một chỗ ở khác? Chỉ mướn không, cũng không có tiền. Mua nhà là chuyện chiêm bao. Mà nói thiệt với chú, cháu cũng muốn nằm chiêm bao thấy mua được nhà, nhưng trong giấc chiêm bao cũng không bao giờ thấy có tiền. Chiêm bao, cứ thấy chủ nợ rượt chạy trối chết, không chiêm bao được cái gì khác hơn là Đói với Nợ”.
Xóm Nghệ Sĩ Sân Khấu Ma.
Ở Sàigòn có 2 xóm “nghệ sĩ sân khấu ma ”:
Một là ở khu mả lạng, đường Nguyễn Cư Trinh, chen lẫn trong những chòm mả, mấy mái tranh che lụp xụp, nơi đó có chỗ tạm trú của anh Tình Thiệt, xếp dàn cảnh của đoàn Thanh Nga. Có mái nhà của hề Nguyên Hạnh, diễn viên cải lương và kịch nói. Có những chỗ ở chung của các anh dàn cảnh đoàn Huỳnh Long như anh Xạc Ne, anh Sáu Chương, dàn cảnh đoàn Sàigòn 1.
Ban ngày các anh chạy xe ôm, có người làm phu khuân vác ở chợ Cầu Muối. Nếu có đoàn hát kêu thì các anh đi làm dàn cảnh ban đêm, ban ngày vẫn theo nghề tay trái.
Những ngôi nhà (nếu có thể gọi các chỗ che nylon, che mái tranh sát chòm mả là nhà) sắp bị giải tỏa. Đã có lịnh giải tỏa, nhưng các anh chưa kiếm được chỗ ở, nên dời đi loanh quanh đâu đó, yên thì lại trở về chòm mả.
Xóm thứ hai của nghệ sĩ sân khấu ma là ở vùng ven đô, thuộc tổ 44, ấp Thuận Quang, phường Tân Thới Nhất, quận 12.
Khác với xóm nghệ sĩ sân khấu ma vùng mả lạng Nguyễn Cư Trinh, chật hẹp, dựa theo các mái che của các ngôi mả, xóm mả khu Thuận Quang có những ngôi nhà của các gia đình nghệ sĩ chen chúc với những ngôi mộ trắng toát, chen trong những đám cỏ dại rợn người của bãi tha ma.
Nghệ sĩ Vương Phụng đã ở đây khoảng 20 năm rồi. Sau khi đoàn Kim Chung không còn hoạt động sau năm 75, anh về đây ở, buôn bán lặt vặt kiếm sống. Nhờ quen biết với anh, một số nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn cũng xin về đây tá túc.
Hiện tại, xóm ma có 11 hộ gia đình của các nghệ sĩ Vương Phụng, Thanh Kim Hồng, Thanh Kim Của, Linh Cảnh, Bảo Trân, Ngọc Hải, Hoài Hận, Ngọc Thạch, Hoàng Liêm, Hiếu Châu...
Những nghệ sĩ này không còn hát hàng đêm vì các gánh hát các anh đi, đã rã. Các anh sống bằng đủ thứ nghề tay trái như chạy xe ôm, bán vé số, bán bánh trái, phu khuân vác hay làm công nhân các xí nghiệp…
Cuộc đời cứ lặng lẽ trôi đi, ngoảnh qua ngoảnh lại, tuổi đã ngoài bốn mươi. Làm nghề gì khác rồi cũng cứ nhớ sân khấu. Những khi có dịp là họ theo các đám hát chầu, hát đám hoặc tụ họp nhau đờn ca trong những đêm khuya vắng.
Một người bạn soạn giả chở tôi bằng xe Honda, tới thăm các bạn nghệ sĩ ở đình Cầu Quan, đình Cầu Muối, khu mả lạng Nguyễn Cư Trinh và khu xóm mả ở chòm mả Thuận Quang. Chúng tôi đến gầm cầu chữ Y, nơi này trước đây nghệ sĩ Văn Sa (cựu kép chánh của đoàn Kim Thoa), bà Ba Vân (vợ quái kiệt Ba Vân), vì bị lường gạt, mất nhà, phải sống dưới gầm cầu chữ Y. Bà Ba Vân đã được ở khu dưỡng lão và cũng đã chết ở nơi này.
Nghệ sĩ Văn Sa, các cô nữ diễn viên thinh sắc một thời như Thu Ba (đoàn Tiếng Chuông và Thanh Minh), Sáu Ngọc Sương, Đoàn Thiên Kim ( đoàn Kim Thoa ), Lệ Thắm, các trưởng đoàn hát đã giải thể: Hoàng Nở (đoàn Huỳnh Long), Thanh Hùng (đoàn Phước Chung), bầu Hiếu, soạn giả Thành Phát (Sàigòn 3), Đặng Lợi (đoàn Múa rối), Hoài Nam (họa sĩ),… đều ở nhà dưỡng lão nghệ sĩ ở đường Âu Dương Lân, Quận 8. Các anh, các cô tự an ủi mình, bây giờ không hát hò gì được vì sân khấu xuống cấp quá rồi, mình còn được ở nhà dưỡng lão, cơm có mà ăn, đau yếu đi y tế phường, chết được chôn ở nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp. Vậy là quá hạnh phúc rồi!
Họ là những Ông Hoàng, Bà Chúa, những vị tướng lãnh tài ba trên sân khấu. Đêm đêm, họ sống trong vai tuồng trong những cung đình sơn son phết vàng, thướt tha nhung lụa, một cái phất tay người người khiếp sợ, lời ca tiếng hát ru hồn biết bao khán giả…
Khi cánh màn nhung khép lại, khi tuổi đời chồng chất, họ chỉ còn lại cho mình sự nghèo đói, cô đơn và sự quên lãng của người đời.
Tôi hỏi người bạn đồng nghiệp của tôi
– Trong số các diễn viên và các anh hậu đài thất nghiệp đó, nhiều người có thể đổi nghề để kiếm cuộc sống khá hơn. Tại sao họ vẫn bám sân khấu, khi có hát, khi không?
Anh bạn của tôi nói:
– Họ mướn những căn phòng trong các hậu cứ của các đoàn hay chung cư hoặc hậu trường sân khấu, các đình mà trước đây có hợp đồng với các đoàn tuồng cổ, nếu họ không còn là nghệ sĩ nữa thì họ phải dời đi chỗ khác, mà dời đi đâu? Tiền mướn nhà, mướn phòng không phải rẻ. Vậy nên họ vẫn mang tiếng là người của đoàn hát để có chỗ ở, khi đoàn hát có hát thì họ làm việc ban đêm, ban ngày đi bán vé số, chạy xích lô, đi xe ôm hay khuân vác ở chợ Cầu Muối. Biết làm sao bây giờ? Cơ chế thị trường mà!
Tôi nói:
– Cơ chế thị trường là cái gì? Anh nói danh từ chánh trị, tôi không hiểu. Nếu ” Cơ chế thị trường ” là làm lời ăn lỗ chịu, tư nhân làm chủ thì hồi đó các ông bà bầu gánh cũng làm lời ăn lỗ chịu. Sao họ làm cho sân khấu cải lương huy hoàng. Bây giờ vô tay nhà nước, sao mà tan hoang hết trơn vậy?
Anh bạn của tôi nhìn trước nhìn sau rồi nói nhỏ: “Thôi, đừng nói chuyện này nữa, được hông? Hồi đó thì chuyện tình yêu, chuyện dã sử, soạn giả nào muốn viết sao cho ăn khách được thì viết. Bây giờ: ngày 3 tháng 2 phải viết những ngày thành lập Đảng; ngày 8 tháng 3 ngày phụ nữ; ngày 30 tháng 4 ngày giải phóng; ngày 19 tháng 5 sinh nhật cụ; ngày 27 tháng 7 ngày thương binh liệt sĩ;, ngày 19 tháng 8 cách mạng tháng Tám; ngày 2 tháng 9 ngày tuyên bố độc lập; ngày 23 tháng 9 Nam kỳ khởi nghĩa; ngày 1 tháng 10 kỷ niệm cách mạng Trung Hoa; ngày 17 tháng 10 kỷ niệm cách mạng Nga; ngày 19 tháng 12 kỷ niệm toàn quốc kháng chiến; rồi Tết thì viết về Tết Mậu Thân Tổng tấn công… v.v…
Vậy đó! Ở Phường, Quận, Thành Phố hay Tỉnh nào cũng phải sáng tác và biểu diễn như vậy, hỏi sao khán giả không coi nữa?”
Những cuộc gặp gỡ, những điều vô tình biết được về thực trạng sân khấu cải lương ở Việt Nam, về cuộc sống quá kham khổ và những nghề tay trái bất đắc dĩ của nghệ sĩ thất nhiệp đã làm cho tôi bất ngờ và bất nhẫn!
Đến bao giờ thì Cải Lương mới tìm lại được cái thuở hoàng kim, để nghệ sĩ trở về sân khấu, được sống đúng với nghề nghiệp và nỗi đam mê của mình?
NỮ NGHỆ SĨ PHƯỢNG MAI:
40 năm hát Hồ quảng
Trong lịch sử Sân Khấu Việt Nam, ngành nghệ thuật Hát Bội và Cải Lương có một thời gian dài hoạt động, có nhiều nghệ nhân tài danh, nhiều soạn giả xuất sắc, nhiều vở tuồng đã đi vào lòng khán giả nên các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật và báo chí kịch trường có viết bài phê bình, giới thiệu, tổng kết, nâng lên thành lý luận nghệ thuật Hát Bội và nghệ thuật Cải Lương. Có một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu, con đẻ trực tiếp của nghệ thuật Hát Bội và Cải Lương phối hợp tạo nên, từ hơn bốn mươi năm nay được khán, thính giả say mê, ủng hộ, nhưng không được công nhận là một loại hình nghệ thuật đứng đắn: Đó là nghệ thuật Hát Hồ Quảng.
Hát Hồ Quảng còn được gọi là Cải Lương Hồ Quảng được khai sanh trong trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào và hình thức ca, diễn của Hồ Quảng ra sao mà bị một số công luận chống đối? (Tôi chỉ nói có sự chống dối của một số nghệ sĩ hay các nhà nghiên cứu thuần túy về nghệ thuật hát bội truyền thống nhưng về phía dân chúng bình dân và khán giả thì sự thích thú có lẽ không kém so với nghệ thuật hát cải lương).
Còn nhớ năm 1948, tôi được mời cộng tác với anh Thành Tôn, anh Hữu Thoại và chú Sáu Vững, chép ra các vở tuồng hát bội do các anh ấy hát, để có kịch bản văn học nạp cho Đài Phát Thanh Sàigòn kiểm duyệt, dùng cho các buổi diễn hát bội thu thanh của Ban hát bội Vân Hạc, chú Sáu Vững, trưởng Ban Vân Hạc có nói với anh Thành Tôn:“Mầy hát sao mà tao thấy Tiều Quảng quá. E khán giả không thích “.
Anh Thành Tôn là người luôn luôn muốn canh tân nghệ thuật hát bội vì anh thấy nếu giữ nghệ thuật hát bội thuần túy như xưa, sẽ mất hết khán giả. Vì vậy anh đi coi hát Tiều, hát Quảng rồi học lóm những cái hay của hát Tiều và hát Quảng, đem áp dụng cho hát bội pha cải lương do anh và một số nghê sĩ hát bội ở Tấn Thành Ban đề xướng.
Anh nói
“Tôi học các gánh hát Tiều, hát Quảng là học cái nghê thuật tạo hình, diễn xuất, vũ đạo. Về y phục, cảnh trí, cách ca hát canh tân là để cho khán giả dễ hiểu. Người ta coi hát mà không hiểu mình hát gì thì họ sẽ không coi nữa.”
Hồi xưa, sân khấu hát bội của ta và sân khấu hát Tiều có nhiều điểm giống nhau: Trang trí sân khấu ước lệ, có màn trướng thêu rồng phụng, ngăn cách nơi biểu diễn với chỗ sắm tuồng, bàn ghế đơn sơ, y phục không loè loẹt, mang râu bít miệng. Phong cách biểu diễn tượng trưngười: đi ngựa bằng cách múa roi, lên xe giữa hai tấm vải vẽ hình bánh xe, nhảy lên ghế là thăng thiên, chui xuống bàn là độn thổ…
Trong những thập niên 1930, 1940, 1950, 1960 nhiều đoàn hát Quảng từ Quảng Châu, Thượng Hải, Hương Cản sang biểu diễn ở Chợ Lớn và các tỉnh có nhiều Hoa kiều, sân khấu màu sắc lộng lẫy, trang phục sang trọng rực rỡ, tranh cảnh thay đổi từng lớp, từng hồi, coi rất bắt mắt. Dàn nhạc có trống kèn, chập chỏa, đồng lố, hầu củn nên rất xôm, hấp dẫn. Khán giả Hoa, Việt đều thích coi hát Quảng vì trang phục đẹp, lối hát lôi cuốn, điệu múa rất huê dạng.
Các đoàn Bầu Thắng, Tấn Thành ban Bầu Cung (Sàigòn), Bầu Luông (Vĩnh Long), Bầu Bòn (Cần Thơ), Bầu Hiền (Sa Đéc) là những đoàn đi tiên phong trong việc canh tân hoá hát bội, đổi bảng hiệu thành đoàn Hát Bội Pha Cải Lương.
Họ vào Chợ Lớn đặt may y phục theo lối hát Quảng, có thêu kim kim tuyến, mắt gà, mua sắm mũ mão Thượng Hải, Hồng Kông.
Trang trí phong cảnh như đền vua, vườn hoa thật là tráng lệ, giống như các đoàn hát Thượng Hải.
Hàm râu bít miệng được thay thế bằng những hàm râu liên tu, 5 chòm, 3 chòm để khán giả thấy miệng diễn viên khi ca, hát.
Dàn nhạc cũng được mô phỏng theo nhạc Quảng.
Về sân khấu có một nguyên lý mà người theo nghề hát phải tuân thủ theo: Khi chất liệu dùng trên sân khấu thay đổi thì nghệ thuật sân khấu ca, ngâm, diễn xuất, trang trí cũng bị ảnh hưởng mà phải thay đổi theo cho phù hợp.
Ngày xưa, may áo giáp hát bội bằng vải bố, vải viền màu bằng vải ta, vải tám, đóng ngọc lộ bằng thiếc, bộ áo giáp cồng kềnh, thô cứng nên kép võ cũng phải dùng điệu múa thô cứng, động tác mạnh bạo.
Khi các đoàn hát bội của ta mua trang phục của các đoàn hát Quảng ở Hồng Kông, Thượng Hải qua Sàigòn hát, các bộ giáp may bằng hàng tơ lụa, viền bằng chỉ kim tuyến, thêu mắt gà, vừa rực rỡ sáng chói, vừa có màu sắc hài hòa, diễn viên ta mặc áo giáp hay mảng bào tơ lụa, vải mềm tha thướt tự nhiên giáng đi điệu múa của diễn viên cũng phải tha thướt dịu mềm.
Về nhạc cũng vậy, khi có trống, bạt, chập chỏa, đồng lố và kèn lá của dàn nhạc Quảng vô sân khấu thì vũ đạo hát bội phải theo trình thức của hát Quảng thì mới phù hợp. Hát Bội tuy mang danh nghĩa là pha cải lương nhưng trong các thập niên 1940, 1950, vì hát phần lớn là tuồng theo tích truyện Tàu, nên dù muốn hay không cũng bị lai theo hát Tiều và hát Quảng.
Một số diễn viên lớn tuổi, cao tay nghề không chịu theo lối hát “Lai Căng” này, cho là hát Tiều Quảng, làm mất giá trị nghề nghiệp truyền thống. Nhóm này có các nghệ nhân tên tuổi như Tám Tri, Mười Hiếu, Biện Dực, Tám Văn, Mười Sự, Chín Luông, Chín Tài, Minh Biện, Tám Hiển, Năm Còn…
Danh từ hát Tiều, hát Quảng là để chỉ lối hát lai căng do xuất xứ này. Thành ngữ trong giới cải lương, hát bội: Nói Tiều, nói Quảng là nói bậy nói bạ.
Những nghệ nhân hát bội giỏi múa Quảng, áp dụng một số vũ đạo Quảng vào tuồng ta và làm thành căn bản cho vũ đạo hát Hồ Quảng là các anh Thành Tôn, Hai Thắng, Mười Vàng, Minh Tơ, Khánh Hồng, Công Chấn, Công Minh…
Năm 1960, một số phim ảnh Hồng Kông, Đài Loan du nhập, loại sân khấu kinh kịch của Tàu được đưa vào điện ảnh với những vở tuồng trữ tình do các tài tử trứ danh Lý Lệ Hoa, Lâm Đại, Nghiêm Tuấn, La Duy, Lăng Ba, Lạc Đế, đã chinh phục khán giả Việt, Hoa bằng những bài hát du dương tươi mát, có nhạc khí cổ truyền hòa điệu, hợp với cảm quan của người Việt Nam và người Á Đông nói chung.
Lập tức các nghệ sĩ hát cải lương pha Quảng đua nhau học hát, rước thầy Tàu dạy ca các bản nhạc Đài Loan.
Người có công lớn nhất trong việc đưa các bản nhạc Đài Loan vô làm thành điệu ca Hồ Quảng, theo tôi biết đó là nhạc sĩ Đức Phú.
Đức Phú là em ruột của Minh Tơ. Anh giỏi về tuồng cổ, hát bội pha Quảng và giỏi về đàn Piano, guitare tân nhạc. Khi tôi quen biết anh là lúc anh làm nhạc trưởng vũ trường Kim Sơn, gần đình Cầu Quan. Thời gian này anh chung sống vợ chồng với danh ca Hồng Loan, ca sĩ các vũ trường Kim Sơn, Paramount, Arc en Ciel.
Đức Phú ghi âm các bản nhạc Đài Loan trong các film Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Thanh Xà Bạch Xà, Hoa Mộc Lan Tùng Chinh rồi viết lời Việt, dùng trong tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài do anh sáng tác và dàn dựng trên sân khấu Minh Tơ.
Có hai nhạc công Tàu: Há Thầu và Chú Long, viết nhạc Hồ Quảng (tức là nhạc trong phim Đài Loan) cho đoàn cải lương Hồ Quảng Huỳnh Long-Bạch Mai.
Há Thầu đặt tên các bản nhạc Hồ Quảng đó là Bài Ly Hận, Xáng Xáng Lu, Chiêu Quân Hội, Phụng Hoàng San, Hoàng Mai 5, Hoàng Mai 15…(không rõ là do ngẫu hứng hay Há Thầu dịch từ bài Đài Loan ra các tựa bài ca Hồ Quảng kể trên). Há Thầu tên thật là gì không ai biết, chỉ biết gọi anh là Há Thầu. Há Thầu là đầu bự, có nghĩa là người thông minh.
Các tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Hoa Mộc Lan Tùng Chinh, Tra án Quách Hoè, Na Tra Đại Náo Long Cung, Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê, Thanh Xà Bạch Xà lần lượt ra mắt khán giả. Vẫn ca cải lương, múa bộ Quảng, nay thêm ca nhạc Đài Loan, mặc đồ Quảng Đông, loại hình nghệ thuật này nghiễm nhiên thành danh: Cải Lương Hồ Quảng.
Các đoàn Thanh Minh, Huỳnh Long – Bạch Mai, Minh Tơ, Khánh Hồng, Phụng Hảo đều có tuồng cải lương Hồ Quảng hát ở các rạp hát, đài Phát Thanh và sau 1965 ở Đài Truyền Hình.
Các ngôi sao trẻ chuyên hát Hồ Quảng có Thanh Nga, Bạch Mai, Ngọc Đáng, Thanh Bạch, Bạch Lê, Thanh Tòng, Thanh Thế, Bửu Truyện, Mộng Lành, Thanh Loan, Trường Sơn, Bo Bo Hoàng, Mỹ Tuyết, Kim Ngà, Kim Thanh, Hữu Lợi, Đức Lợi, Đức Phú, Vũ Đức…
Thần đồng – Phượng Mai, 7 tuổi nổi danh Tiểu Lăng Ba.
Nữ nghệ sĩ Phượng Mai, sanh ngày 29 /10/1956, con của một gia đình đông con. Cha mẹ của Phượng Mai có tất cả 13 người con mà Phượng Mai là con gái thứ 7, vì nhà nghèo, không thể nuôi một đàn con đông như vậy nên cha mẹ của Phượng Mai cho cô làm con nuôi của bà cô ngoại là nữ nghệ sĩ tiền phong Cao Long Ngà.
Gia đình của Phượng Mai bên nội, ngoại đều là những nghệ sĩ nổi đanh trong sân khấu tuồng cổ. Phượng Mai thuộc về thế hệ thứ 5 trong gia đình nghệ sĩ này. Ông Ngoại là nghệ sĩ tài danh Cao Tùng Châu, bầu gánh hát bội Phước Tường. Nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà, em gái của ông Cao Tùng Châu là một diễn viên hát bội tài danh được Hội Khuyến Lệ Cổ Ca liệt vào danh sách Ngũ Trân Châu của ngành hát bội, gồm có các viên ngọc quí Cô Năm Nhỏ, Năm Đồ, Cao Long Ngà, Năm Sa Đéc và Ba Út
Tuy vai vế của nghệ sĩ Cao Long Ngà ngang hàng với bà nội, bà ngoại của Phượng Mai, nhưng bà cho Phượng Mai gọi bà bằng Má và gọi chồng bà, ông Sáu Xường bằng Cha. (Sáu Xường là cầu thủ nổi danh của đội banh Etoile Gia Định, cùng với thủ môn Tịnh, đấu ngang ngửa với đội banh Hương Cảng mà trung phong Lý Huệ Đường của đội banh quốc Tế này đã thán phục hậu vệ Xường và thủ môn Tịnh của Việt Nam).
Ông cậu của Phượng Mai là em vợ của ông bầu Nguyễn Phước Cương, cha ruột của nữ nghệ sĩ Kim Cương; do quan hệ gia đình nên lúc Phượng Mai được 5 tuổi, Kim Cương đã đưa Phượng Mai đi đóng phim, một vai con trong phim Ảo Ảnh của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.
Phượng Mai hát vai con trong vở “Thiếu Phụ Nam Xương” trong Ban kịch Kim Cương, diễn mỗi sáng chúa nhựt tại rạp Thanh Bình Sàigòn. Cô còn được Kim Cương tập cho các vai đào con trong các vở kịch:Tôi Là Mẹ, Cuối Đường Hạnh Phúc, Sắc Hoa Màu Nhớ.
Neoài việc đớng phim, đóng kich, hàng đêm Phượng Mai đều theo bà mẹ nuôi (Cao Long Ngà) đến rạp hát, xem bà hát nên từ nhỏ đến lớn, tiếng đàn, giọng ca, trống, phách và các điệu múa hát của các nghệ sĩ trên sân khấu tiêm nhiễm vào tiềm thức nên Phượng Mai tuy không chánh thức được truyền nghề, cô vẫn múa hát rất có duyên.
Phượng Mai học trường tiểu học Phan Văn Trị, ngang rạp hát bóng Đại Nam đường Trần Hưng Đạo.
Trong những năm 1960, 1961, rạp hát bóng Đại Nam chiếu phim Đài Loan Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Thanh Xà Bạch Xà, nhân viên gác cửa rạp chiếu bóng quen biết các nghệ sĩ đoàn hát Bầu Thắng và Bầu Cung nên cho các nghệ sĩ vào xem hát bóng mà khỏi mua vé. Phượng Mai nhân đó được xem phim Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài. Cô mê hai diễn viên tài danh Trung Quốc: Lăng Ba và Lạc Đế trong hai vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài nên trốn học, xem liền cả tuần lễ, nhập tâm học cách ca cách diễn của hai diễn viên tài danh Đài Loan đó.
Nhà trường gởi thơ cho bà Cao Long Ngà, báo tin Phượng Mai thường trốn học, bà giận lắm, bắt Phượng Mai cúi xuống cho bà đánh, răn dạy. Phượng Mai mới bị một roi, mếu máo khóc, nói:
“Má ơi, đừng đánh con đau. Để con hát bội làm đào má coi. ”
Bà Cao Long Ngà và ông Sáu Xường tức cười, nói:
– Được! Má không đánh nữa, con nói làm đào, hát cho má coi, không hát được thì ăn năm roi về tội nói láo đó.
Phượng Mai dạ một tiếng thật lớn rồi chạy kiếm tấm khăn lông, choàng vào vai, cầm cây quạt, múa, ca, diễn lớp Lương Sơn Bá gặp Chúc Anh Đài lần đầu tiên gặp nhau nơi trường đình. Cô đóng cả hai vai và nhại ca theo tiếng Tàu trong phim (dĩ nhiên là không thật đúng), nhưng nghe ra tiếng Tàu và điệu hát Đài Loan, điệu hát đang rất thịnh hành trong giới ca cổ.
Bà Cao Long Ngà sửng sốt, gọi chồng:
– Anh Sáu! Con Mai nó hát giống Lăng Ba quá.
Ông Sáu cũng mừng, bảo bà đi vô Chợ Lớn đặt may cho Phượng Mai mấy bộ đồ Tàu để Phượng Mai thủ diễn hai vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài vì nét diễn, giọng ca, cách hát của Phượng Mai rất giống Lăng Ba và Lạc Đế, hai danh tài phim ảnh Đài Loan.
Giỗ Tổ năm đó, bà Cao Long Ngà dẫn Phượng Mai tới nhà Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ đường Cô Bắc, cho Phượng Mai lạy Tổ và hát vai Lương Sơn Bá nơi trường đình để hầu Tổ. Các nghệ sĩ tiền phong, các ký giả kịch trường đều khen hay, khen giống Lăng Ba. Ký giả Nguyễn Ang Ca tặng cho Phượng Mai danh hiệu “Thần đồng Tiểu Lăng Ba”.
Mới 7 tuổi, Phượng Mai nổi đanh thần đồng Tiểu Lăng Ba, cô đã hát trong các xuất Đại Nhạc Hội trong hai vai của Lăng Ba và Lạc Đế và được khán giả hoan nghinh nhiệt liệt.
Phượng Mai, Ngọc Bất Trác, bất Thành Khí, 7 năm rèn luyện nghiệp Tổ:
Cha nuôi của Phượng Mai, ông Sáu Xường, cầu thủ bóng đá, phó Hội trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ (vì ông cũng là kép hát bội lừng danh) muốn đào luyện cho Phượng Mai trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp nên ngăn cấm không cho Phượng Mai đi học lóm như trước nay vì học lóm rất dễ “hư nghề “.
Ông nói:” Phượng Mai là viên ngọc quí chưa được dũa mài, nếu để tự phát sẽ không có giá trị lớn mà phải nhờ những tay thợ chuyên môn dũa mài, đào luyện một cách quy mô và căn bản “.
Ông gởi Phượng Mai vào học lớp Đồng Ấu Minh Tơ, do chính danh sư Minh Tơ dạy ca, hát, múa theo đúng căn bản của ngành hát Bội. Về cổ nhạc cải lương, học với nhạc sĩ Tư Tần, nhạc trưởng dàn nhạc cổ Minh Tơ. Học tân nhạc với nhạc sĩ Bảo Thu. Học múa lân với nghệ sĩ Mười Vàng, Học ca Hồ Quảng với nhạc sĩ Há Thầu Chợ Lớn. Học tổng hợp, (tức diễn một vai tuồng đã được định hình trên sân khấu như vai Lữ Bố, vai Điêu Thuyền, vai Lưu Kim Đính…v.v…) thì học trực tiếp với nữ nghệ sĩ Phùng Há. Học các vai đào trong tuồng Biến Báo Phu Cừu, học vai Giả Thị trong tuồng Hoàng Phi Hổ Quy Châu thì học nơi bà Cao Long Ngà và bà Năm Đồ. Ngoài ra, Phượng Mai vẫn phải tiếp tục học văn hóa ở trường Tiểu học Phan Văn Trị.
Trong thời gian học nghệ, nếu có biểu diễn ở các Đại Nhạc Hội thì Phượng Mai diễn những trích đoạn học được nơi danh sư kể trên, coi như làm bài kiểm hay học ôn.
7 năm khổ luyện, mỗi năm học nghệ, Phượng Mai đều những thành tựu xuất sắc.
Năm 9 tuổi, Phượng Mai đã nổi tiếng với Vũ Đức ở nhóm Đồng Ấu Minh Tơ qua nhiều vở tuồng như Na Tra, Ngũ Biến, Hoa Mộc Lan, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài…
Năm 1970, Phượng Mai 14 tuổi đã vững vàng trong các vai đào chánh ở Ban Cải Lương Hoa Thế Hệ, Phụng Hảo và nhiều Ban kịch, cải lương trên Đài Truyền Hình, đóng cặp với Thanh Tòng, La Thoại Tân, Vũ Đức, Thanh Bạch, Đức Lợi, Hùng Cường…
Các chương trình cải lương Hồ Quảng có Phượng Mai làm đào chánh, được Đài Truyền Hình phát đi vào các tối thứ bảy, thu hút đông đảo khán giả ở Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định và các vùng phụ cận.
Thời gian này, tôi vừa là soạn giả thường trực của đoàn Dạ Lý Hương, vừa là chuyên viên phụ trách phòng thu âm của hãng đĩa Capitol và phòng chuyển âm phim của hãng phim Mỹ Ánh của ông Trương Dĩ Nhiên ở gần chợ Hòa Bình, Chợ Lớn. Anh của ông Trương Dĩ Nhiên là ông Trương Dĩ Đại, bang trưởng Bang Triều Châu, Giám Đốc Tài Chánh của bệnh viện An Bình. Ông Trương Dĩ Đại muốn khuếch trương hoạt động của đoàn hát Tiều mà ông là Mạnh Thường Quân chi tiền nhiều nhất nên nhờ tôi kiếm nghệ sĩ có tay nghề hướng dẫn cho các bạn hát Tiều nghiệp dư đó.
Tôi giới thiệu Phượng Mai và phải bỏ ra mấy ngày thuyết phục các nghệ sĩ đoàn hát Tiều: Lâm Gia Ngọc, Đào Chí Hoa, Liên Cẩm Hồng, Dương Bội Thuyên cùng với Phượng Mai canh tân lối hát Tiều, bớt động tác ước lệ, hát vẫn là giọng Tiều, bài hát Tiều, y phục và vũ đạo canh tân, múa gần như loại hát Quảng là sở trường của Phượng Mai.
Tôi soạn vở Dương Gia Tướng, nghệ nhân người Triều, ông Huỳnh Khắc Minh dịch lại thành tiếng Tiều, thêm bài ca và Phượng Mai trở thành Đạo diễn, dạy cho các nghệ nhân nghiệp dư hát vở tuồng Dương Gia Tướng.
Hai nhạc sĩ sư phụ của Phượng Mai là Há Thầu và Chú Long cũng được mời đến chỉ dạy ca. Năm đó đoàn hát Tiều hát trên sân khấu ngoài trời ở chùa ông, đường Cây Mai (rue des Marins cũ), đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính hát ở sân Tinh Võ, hát ba đêm liên tục.
Đêm đầu đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính thu hút đông khách, nhưng gần 12 giờ khuya thì khán giả tràn qua chùa ông xem đoàn hát Tiều. Với y trang phong cảnh lạ hơn các năm trước, lối hát cũng hay hơn, vũ đạo, các màn đấu võ thì tuyệt vời.
Phượng Mai chỉ xuất hiện trong vai Dương Tôn Bảo đánh thương, đánh kiếm, màn ca hát có lời thì cô Lâm Gia Ngọc đóng. Vì vóc dáng giống nhau. y phục giống nhau, vũ đạo cùng học một lò với nhau nên hai người thủ một vai mà khán giả không biết.
Hai đêm sau, khán giả kéo gần hết qua xem đoàn hát Tiều của nhà thương An Bình.
Đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính không có khán giả, phải ngưng hát.
Năm đó nhờ có Phượng Mai mà Ban hát Tiều thắng cuộc.
Ông Trương Dĩ Đại rất hài lòng, ông lì xì cho tôi, Phượng Mai, Chú Long và Há Thầu một phong bì khá nặng.
15 tuổi, Phượng Mai ký contrat hát chánh cho đoàn Hà Triều – Hoa Phượng, lưu diễn miền Trung 6 tháng. Sau đó cô ký hợp đồng hát cho đoàn Dạ Lý Hương Bầu Xuân, hát chung với Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm…,
Lại thêm một giai thoại về tài năng thiên phú của Phượng Mai:
Đầu năm 1974, nhân dịp Tết Giáp Dần, thành phố Chợ Lớn được dịp tiếp một đoàn Kinh Kịch Đài Loan sang trình diễn một tháng. Đây là một đoàn Kịch lớn của nhà nước Trung Hoa Dân Quốc, thuộc trường sân khấu Phục Hưng tại Đài Bắc (Quốc Lập Phục Hưng hý kịch thực nghiệm học hiệu).
Đoàn diễn tại rạp Đại Quang đường Tổng Đốc Phương, với một chương trình kịch mục như: Phụng Nghi Đình, Tình Trung Báo Quốc (Nhạc Phi ), Hoa Mộc Lan, Trương Phi Thủ Cổ Thành… và các nghệ sĩ Vương Phục Dung (vai Điêu Thuyền, Bạch Xà Nương, Dương Qui Phi ), Trình Yên Linh (Kép chánh vai Lữ Bố), Lý Kim Đường (vai lão )…
Đoàn đã thành công tốt đẹp qua diễn xuất điêu luyện của dàn nghệ sĩ trẻ đẹp, những màn vũ thuật đẹp mắt, những điệu múa truyền thống hấp dẫn.
Các Bang Trưởng Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ, Hiệp hội Hoa Kiều Tương Tế, Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Việt Nam, Hội Khuyến Lệ Cổ Ca và nhiều nghệ sĩ tài danh Việt, Hoa, tổ chức khoản đãi các nghệ nhân Trung Hoa Dân Quốc tại nhà hàng Đồng Khánh. Trong buổi tiệc, các nghệ sĩ Đài Loan hát tặng vài bài ca cho các ông Bang Trưởng, diễn một vài trích đoạn tuồng tặng cho các nghệ sĩ Việt Nam và có đoàn lân của Hội Sân Tinh Võ múa khai mạc dạ tiệc.
Đoàn Lân múa điệu “Lân Mẫu Sinh Lân Nhi”, nhưng vào giờ chót người múa vai lân con đau bụng, không múa được. Trưởng đoàn Lân lên micro cáo lỗi, nhưng bà Bảy Phùng Há biểu Phượng Mai lên múa lân con giúp cho đoàn bạn.
Bà Cao Long Ngà thấy Phượng Mai còn do dự, bèn ra hiệu cho Phượng Mai và Kim Thanh nhận lời đề nghị của bà Bảy Phùng Há.
Phượng Mai và Kim Thanh (diễn viên đoàn hát bội bầu Cung, Cầu Muối) mặc áo dài Việt Nam nên cột hai vạt trước sau lại, mượn đôi giày bố thay cho giày cao gót, hai cô diễn viên trẻ, Phượng Mai thủ đầu lân, Kim Thanh dũ đuôi, cả hai cô cùng với đoàn lân sân Tinh Võ múa tiếp vũ khúc Lân Mẫu Sinh Lân Nhi.
Phải nói là lân con do Phượng Mai và Kim Thanh múa còn hay hơn lân râu bạc của sân Tinh Võ. Cả hai diễn viên trẻ tài danh này là học trò của ông Mười Vàng, tổ sư đoàn múa lân râu đen Cầu Muối. Tết nào đoàn lân Cầu Muối cũng được các tiệm, quán ở Sàigòn, Chợ Lớn mời đến múa khai trương cửa hiệu hoặc chúc thọ cho người già trong gia đình.
Phượng Mai và Kim Thanh múa đến đoạn Sư Tử Hí Cầu, ông Mười Vàng lại đánh trống, các nhạc sĩ Tấn Thành Ban đánh chập chỏa.
Trống thúc từng cơn, khi thì rụp rụp nhịp thật nhẹ, lân con gậm trái cầu, dùng chân đùa giỡn, trái cầu văng xa, trống đánh thúc, lân như bừng tỉnh, cất cao đầu múa rồi lăn vòng, chụp, gậm trái cầu thật đẹp.
Tất cả học sinh trường Quốc Lập Phục Hưng Hý kịch Đài Bắc đồng loạt đứng lên vỗ tay hoan hô. Đội Tinh Võ để đầu lân xuống đất, ngẩn ngơ nhìn lân con Phượng Mai và Kim Thanh lạy tạ sự tán thưởng của đoàn bạn. Ông chủ nhà hàng Đồng Khánh lấy hai lượng vàng, gói trong giấy đỏ, cột chung với một cây cải sà lách, cho người đứng trên ghế, giương cao lên thưởng cho lân con.
Trống múa lân lại nổi lên rộn rã, lân con Phượng Mai và Kim Thanh múa điệu múa vui tươi, hí hửng, vờn cây cải, múa thêm một chập rồi gậm cây cải lẫn hai lượng vàng. Theo tiếng trống đánh thúc, lân con lạy tạ ông chủ Đồng Khánh, xong lân con quay lại lay tạ lân mẹ của Đội sân Tinh Võ. Điều không ai nghĩ tới là lân con nhã hai lượng vàng trong gói giấy đỏ trước mặt lân mẹ Tinh Võ. lấy chân khều khều đầu lân mẹ, vờn vờn trước lân mẹ khiến cho đội Tinh Võ phải cầm đầu lân lên múa tiếp với lân con sau khi nuốt bao lì xì. Lúc này thì ngoài tiếng vỗ tay như sấm còn nhiều tiếng Tàu hô lớn, hoan hô hành động quá đẹp của lân con Phượng Mai và Kim Thanh.
Dứt điệu múa. đội trưởng đội Tinh Võ trả hai lượng vàng cho Phượng Mai, nhưng Phượng Mai không nhận và nói ông chủ tặng thưởng chung cho đoàn lân Tinh Võ mà cô chỉ là lân con của Tinh Võ. Nhờ sự tinh tế khéo léo của Phượng Mai mà Đoàn lân Tinh Võ không bị mất mặt.
Trưởng đoàn kịch Đài Bắc cũng là hiệu trưởng trường Quốc Lập Phục Hưng Hý Khúc và cô đào chánh Vương Phục Linh mời Phượng Mai và Kim Thanh ngồi chung bàn trò chuyện. Khách nói tiếng Quan Thoại nên cuộc mạn đàm phải qua thông dịch viên. Sau đó theo yêu cầu của đoàn khách, Phượng Mai và Kim Thanh diễn hai trích đoạn tại sân khấu Đồng Khánh: “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” và “Lữ Bố thất Bạch Mã Thành”.
Phượng Mai Lữ Bố, Kim Thanh Điêu Thuyền. Phượng Mai trong vai Lữ Bố khi tròng ghẹo Điêu Thuyền tại Phụng Nghi Đình thì tình tứ hết chỗ nói. Khi giả biệt Điêu Thuyền lúc thất trận ở Bạch Mã Thành thì vừa oai dũng lồng lộn lên như con sư tử bị thương, vừa bi lụy phải xa rời người ngọc trước khi chết, Phượng Mai không hổ danh là cao đồ của các danh sư Phùng Há, Cao Long Ngà, Minh Tơ, Mười Vàng, đã làm cho các sinh viên trường kịch nghệ Đài Bắc thán phục sát đất.
Ông Trưởng Đoàn kịch Đài Bắc đề nghị nếu Phượng Mai và Kim Thanh đồng ý, họ sẽ nhờ Đại Sứ quán Trung Hoa Dân Quốc đạt thư mời và xin mọi thủ tục xuất, nhập cảnh cho Phượng Mai và Kim Thanh đi Đài Bắc, biểu diễn ở trường sân khấu Đài Bắc và một số nơi ở Đài Trung, Đài Nam, coi như là một cuộc giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Phượng Mai và Kim Thanh rất vui mừng vì được dịp xuất ngoại học tập, nhưng có lẽ vì tình hình chiến sự ở Việt Nam, Phượng Mai và Kim Thanh không được phép xuất ngoại đi Đài Bắc.
Sau năm 1975, Phượng Mai hát vai đào chánh ở Đoàn Minh Tơ với Thanh Tòng qua các tuồng Dưới Cờ Tây Sơn, Xuân Về Trên Đỉnh Mã Phi, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài.
Năm 1977 hát trên sân khấu Huỳnh Long với Thanh Bạch và Đức Lợi qua các tuồng Con Tấm Con Cám, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Về Đất Kinh Châu, Đường về núi Lam…
Đầu năm 1979, hát cho đoàn Dạ Lý Hương Sông Bé thay vai Mộng Tuyền trong tuồng Bao Công Xử Án Trần Thế Mỹ. Cuối năm 1979, Phượng Mai theo chồng định cư ở Tây Đức trong 15 năm.
Năm 1982 bà Cao Long Ngà, bà cô mà cũng là má nuôi của Phượng Mai mất. Cô không về thọ tang được, chỉ biết hướng về Việt Nam van vái, và đến chùa cầu siêu cho vong hồn bà được siêu thăng.
Từ năm 1994, gia đình đổ vỡ, cô sang qua California định cư, sống với hai con. Ở hải ngoại suốt 19 năm, Phượng Mai vẫn sống bằng nghề hát vì cô giỏi về mọi mặt. Trong lãnh vực Tân nhạc, cô được các trung tâm băng nhạc lớn mời thu thanh thu hình (Thúy Nga, Làng Văn) được mời đi show tân nhạc, cải lương và Hồ Quảng, hát chung với Hương Lan các vở tuồng:
– Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài,
– Cho Trọn Cuộc Tình,
– Tấm Lòng Của Biển,
– Áo Cưới Trước Cổng Chùa,
– Khi Hoa Anh Đào Nở,
– Người Đẹp Bạch Hoa Thôn,
– Hoa Đồng Cỏ Nội,
– Dương Quí Phi…
Từ năm 1991, Phượng Mai có về Việt Nam thực hiện băng Hồ Quảng, kỷ niệm 40 năm hát Hồ Quảng, đóng chung với các diễn viên Vũ Linh, Thanh Hằng, Kim Tử Long, Chí Linh, Minh Vương, Thanh Sang, Tuấn Châu.
Trong những năm 77, 78, tôi cùng ở chung đoàn Huỳnh Long với Phượng Mai. Trước đó cũng từng cộng tác trong đoàn Dạ Lý Hương và các chương trình cải lương Đài Truyền Hình, nên hiểu biết khá nhiều về khả năng nghệ thuật và tánh tình của Phượng Mai.
Số đông nghệ sĩ tuồng cổ (hát bội, hát bội pha cải lương, Hồ Quảng) thường giỏi về vũ đạo mà yếu về ca, hơi khàn hoặc tiếng hát rè rè, riêng Phượng Mai là cô đào hiếm hoi hội đủ hai yếu tố: ca và diễn xuất sắc.
Giọng Phượng Mai ấm áp, ngọt ngào, truyền cảm, có hơi thổ như giọng ca của Thanh Nga, Mỹ Châu. Phượng Mai ca nhạc theo điệu cải lương rất chuẩn mực, đúng bài bản, điệu, theo đúng chân truyền, ca Hồ Quảng cũng rất hay, rõ lời.
Phượng Mai diễn xuất đằm thắm, tinh tế, biết tiết chế hành động tối đa để các động tác vũ đạo dịu dàng, nhuần nhuyễn. Trong vai Văn cũng như vai Võ, Phượng Mai đều có bước đi, vung tay đẹp, đúng cách, chỉ cần nhìn từng bước điệu bộ của Phượng Mai, người xem khẳng định đây là nghệ sĩ nhà nghề.
Còn nhớ khi độc diễn màn cuối của vở Chúc Anh Đài than khóc trước mộ của Lương Sơn Bá, Phượng Mai đã diễn xuất thần, kết hợp nhuần nhuyễn giữa vũ đạo đẹp mắt, giọng ca điêu luyện và nét mặt bi thương, trong lớp diễn này, Phượng Mai chứng tỏ khả năng khắc họa hình tượng nghệ thuật cho nhân vật mà cô thủ diễn, có thể dùng làm mẫu mực cho các thế hệ đàn em học theo kỹ thuật ca diễn đó. Trước Phượng Mai, một thời đã có Bo Bo Hoàng diễn xuất thần trong vai Chúc Anh Đài, cùng với Đức Phú trong vai Lương Sơn Bá.
Bo Bo Hoàng được khán giả ái mộ một thời gian dài, nhưng từ khi có Phượng Mai xuất hiện, Phượng Mai trẻ đẹp hơn, ca múa đều tươi mát hơn nên phải nói là Phượng Mai kế thừa, thay thế Bo Bo Hoàng trong vai Chúc Anh Đài mà đến nay vẫn chưa có nữ nghệ sĩ trẻ nào có thể thay thế được Phượng Mai.
Chỉ tiếc một điều, hiện nay hoàn cảnh đất nước không được như trước 75, nhiều tài năng nghệ thuật sân khấu không có môi trường thuận lợi để hành nghề, để cống hiến những tác phẩm sân khấu nhiều hơn nữa cho khán giả thưởng thức. Có nhiều nghệ sĩ bỏ nghề. Phượng Mai còn sống được bằng nghề ca hát cũng là điều quý hiếm. Mong rằng Phượng Mai có cơ hội và phương tiện để truyền dạy lại cho các nghệ sĩ đàn em những gì cô đã học được và đã phát triển đến mức mẫu mực như hiện nay.
HÁT CHẦU
Nhân lễ hội Kỳ Yên
Năm 2000, tôi về thăm quê hương, tôi muốn gặp lại những người bạn đồng nghiệp để tìm hiểu cuộc sống của các bạn cũ có khấm khá hơn trước không, và cũng để coi nghệ thuật sân khấu cải lương và hát bội sau một phần tư thế kỷ đổi đời, có thay đổi gì hay không?
Vì là dịp Tết nên các rạp ở Sàigòn có các đoàn hát cải lương, không khí cũng khá rộn rịp. Có một chuyện lạ là ngày Tết bây giờ, các đoàn hát không còn giữ lệ kiêng cữ như ngày trước. Hồi đó, tuồng hát trong những ngày Tết phải là tuồng vui, kết cuộc có hậu, sum họp, hạnh phúc. Các đoàn hát và khán giả rất kỵ các vở tuồng có chết chóc, chia ly và những màn lớp đau thương mà diễn viên ca, diễn lâm ly để “lấy nước mắt” của khán giả. Tại rạp Hưng Đạo, đoàn cải lương Trần Hữu Trang hát tuồng Tần Nương Thất, sau đó nối tiếp các tuồng Đèn Đêm Nhỏ Lệ và Nước Mắt Kẻ Sang Tần.
Tuy xa quê hương đã lâu nhưng những tập tục cải lương có lẽ đã ăn sâu trong huyết quản của tôi nên tôi nhứt định không đi coi các tuồng hát có cốt chuyện và cái tựa “không hên” như kể trên. Thời may tôi gặp anh Đinh Bằng Phi, cô Kim Thanh, Ngọc Dung, Ngọc Đáng và anh Xuân Quan (các nghệ sĩ hát bội tài danh) rủ tôi đi Vũng Tàu, đến đình Thắng Tam, coi hát bội nhân dịp Lễ Hội Kỳ Yên.
Vũng Tàu ngày Tết cũng quá đông du khách vì bây giờ đường giao thông mở rộng, lại có tàu cao tốc, người Sàigòn đi Vũng Tàu sáng sớm, chiều tà là có thể trở về Sàigòn. Nhưng ngày Tết, không tiếng pháo, không có cái không khí Tết như ngày trước. Chỗ nào cũng treo cờ, bắt buộc treo trước mỗi nhà, mỗi tiệm, và không biết cơ man nào là biểu ngữ và cờ, tôi có cảm giác là cuộc lễ gì đó chớ không phải là ngày Tết. Cô Ngọc Đáng nhìn nét mặt của tôi, đoán ra là tôi không vui trước cái không khí Tết nầy, cô nói:
– Chú biết hông, bữa nay là Tết nhưng là cái Tết 25 năm sau cái năm 75, nên người ta tổ chức như vậy đó. Mấy năm trước, Tết ở Vũng Tàu buồn lắm, không pháo, chợ Tết bán èo uột bánh mứt, vài chục chậu hoa cúc, hoa vạn thọ rồi tan chợ. Tết mà không có pháo giống như ăn mắm kho mà không có rau, không ớt, không có thịt ba rọi, không tôm, không cá!
Tôi phì cười, nghĩ là cái con nhỏ nầy cũng quên tuốt các món ăn ngày Tết, bánh tét thịt kho tàu, dưa giá cá kho….Anh Đinh Bằng Phi cắt đứt dòng suy nghĩ lang bang của tôi bằng một câu nói với giọng thật là buồn: “Tôi sợ chầu hát năm nay có sự cố”.
Sự cố?… Sự cố gì? Gánh hát đã dọn tới trước hai bữa, đã bông rạp, dựng cảnh xong xuôi. Khi đoàn hát tới, Ban Trị Sự của Đình tổ chức rước Trang Ông trọng thể, đúng với tập tục xưa nay mỗi khi Đình tổ chức cúng và hát bội trong cuộc lễ hội Kỳ Yên. Diễn viên cũng là những diễn viên thượng thặng của ngành Hát Bội hiện nay.
Anh Đinh Bằng Phi, một diễn viên, kiêm tác giả, kiêm đạo diễn và cũng là một nhà nghiên cứu nghệ thuật hát bội, chỉ có đứng sau nhà nghiên cứu đốc phủ Đỗ Văn Rỡ thôi, anh Đinh Bằng Phi là một diễn viên tài ba, khi anh thủ diễn vai Quan Công trong tuồng Quan Công Đơn Đao Phó Hội thì khán giả trầm trồ khen anh như ngày xưa người ta đã trầm trồ khen anh Minh Tơ trong vai nầy. Lần nầy hát ba thứ San Hậu, anh Đinh Bằng Phi sẽ thủ vai Phàn Định Công. Khán giả chỉ nghe giới thiệu tên Đinh Bằng Phi và vai Phàn Định Công là đã nô nức rủ nhau đến đình Thắng Tam để coi anh hát.
Còn các vai nữ thì sao?. Trước hết cần kể đến tên đào Ngọc Đáng. Trước năm 1975, Ngọc Đáng được khán giả ái mộ tặng cho danh hiệu là một trong ngũ nữ tướng của sân khấu tuồng cổ:
– Xuân Yến,
– Thanh Loan,
– Thanh Thế,
– Bạch Lê,
– và Ngọc Đáng.
Ngọc Đáng là con nhà nòi, cha mẹ của cô là đôi nghệ sĩ tài danh Tư Minh và Ngọc Xứng trên sân khấu tuồng Tàu Phụng Hảo. Năm 13 tuổi Ngọc Đáng đã nổi danh trên sân khấu Kim Mai – Thanh Bình. Lúc đoàn nầy hát trên sân khấu đình Cầu Muối thì khán giả đến xem Ngọc Đáng trong các vai Mạnh Lệ Quân, Bàng Quí Phi, Lý Thần Phi, Tiêu Anh Phụng, Lưu Kim Đính. Khán giả ái mộ Ngọc Đáng đến mức là đêm nào không có Ngọc Đáng hát là khán giả ồn ào phản đối, trả vé đòi tiền lại, có khi còn muốn xông lên sân khấu xé phông, màn. Bầu Gánh phải cho khiêng Ngọc Đáng trên ghế bố ra sân khấu, chứng tỏ là cô đau thật, không thể hát thì khán giả mới yên. Hôm sau họ mang cam, hột gà, thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, đủ thứ thuốc trị bịnh tới cho Ngọc Đáng. Cô phải tiếp xúc, cám ơn không ngớt lời và chờ cho khán giả ái mộ ra về, cô dẹp hết các thứ thuốc đó qua một bên vì sợ thuốc nầy kỵ với thuốc kia, mà không nhận thuốc của khán giả mang tới cho thì sợ khán giả giận. Sau 75, Ngọc Đáng là đào chánh đoàn Minh Giang – Khánh Hồng. Cô cũng từng là đào chánh đoàn Minh Tơ, đoàn Huỳnh Long, đoàn Sàigòn 1, cùng với Bạch Mai đào luyện các diễn viên trẻ. Ngọc Đáng lần nầy thủ vai Đổng Mẫu trong vở San Hậu thứ ba.
Đào Kim Thanh, một nữ diễn viên xuất sắc mà giới phê bình sân khấu thường ví cô như cô Năm Đồ tái sinh. Kim Thanh cũng thuộc về con nhà nòi. Cha cô là nhạc sĩ Văn Long, chuyên đánh trống trong dàn nhạc hát bội của đoàn hát bội Vĩnh Xuân Ban, rồi sau thành đoàn Minh Tơ, đoàn Hồ Quảng Minh Tơ; mẹ cô là nữ nghệ sĩ Kim Bông. Ông Cố của Kim Thanh là ông Bầu Tân, ông Nội là kép hát bội tên Hai Bảng và bà nội là đào Kim Nương.
Kim Thanh được sanh ra và lớn lên ngay trong đoàn hát Vĩnh Xuân Ban – Minh Tơ tại đình Cầu Quan nên ngay khi còn thơ ấu, đêm ngày nghe tiếng đờn giọng hát, lên sáu, lên bảy đã theo học hát lớp đồng ấu Minh Tơ nên về phương diện ca, diễn, Kim Thanh được sự chân truyền của minh sư Minh Tơ và được chính cha mẹ cô chỉ dạy thêm. Khi nhận huy chương vàng giải hội diễn hát bội toàn quốc, Kim Thanh đã cho biết chính tiếng trống của cha cô đã giúp cho cô thành đạt trong vũ đạo trên sân khấu. Ký giả báo Sân Khấu yêu cầu cô giải thích rõ hơn, cô nói:
“Hồi nhỏ, tôi thường theo Ba tôi, ngồi trong cánh gà coi hát, tôi nghe tiếng trống của ba tôi đánh thiệt là hay, tôi định hỏi ổng vài câu, khi nhìn lại, tôi thấy ba tôi vừa đánh trống vừa nhìn chăm bẳm ra sân khấu. Ba tôi làm việc rất căng thẳng suốt buổi diễn, tai nghe, mắt nhìn, chăm bẳm theo dõi từng diễn biến: người bước ra, kẻ bước vô, từng động tác, chấm dứt lời ca… mọi thứ đều phải qua tay đánh trống của Ba tôi. Ba tôi cầm hai chiếc roi trống, thoăn thoắt trên mặt trống chiến, khi đánh vào giữa, lúc lại ra sát vành ngoài, rồi điểm mỏ, gõ dăm, tiếng đục, tiếng trong. Với biệt tài điêu luyện, Ba tôi đã gây không khí cho từng lớp diễn, cho từng diễn viên, từng điệu hát bằng tiếng trống để cùng dàn nhạc đi vào những tấu khúc hùng tráng hay bi cảm. Khi tôi diễn vai Bàng Quí Phi, lúc chạy gối xin tội với vua Tống thì chính là tiếng trống giúp tôi chạy gối nhuyễn hơn, khi thủ vai Lưu Kim Đính sát tứ môn, đến cửa thành thứ tư, con tuấn mã kiệt sức chết thì tiếng trống vuốt nhẹ và rung đều, khiến cho tôi cảm giác đôi chân run rẩy của con tuấn mã bị kiệt sức, vậy nên tôi mới thật sự xúc động mà diễn lớp đó thật hay…”
Đó, Kim Thanh nức tiếng nữ diễn viên thinh sắc lưỡng toàn, lần nầy thủ diễn vai Tạ Nguyệt Kiểu thì bảo đảm khó có ai diễn hay hơn được.
Còn Xuân Quan, anh kép trẻ nổi danh trong vai Triệu Tử Long trong tuồng Triệu Tử Long Nhập Cam Lộ Tự, cũng là một kép hát bội tài ba. Năm 1972, mới 11 tuổi, Trần Văn Quan, sau nầy lấy nghệ danh là Xuân Quan đã được Giám Đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, đặc cách thu nhận em là học viên chánh thức trong phân khoa Hát Bội mà không cần qua khóa thi tuyển sinh. Nguyên do là khi hát chầu ở Lăng Ông Bà Chiểu, vì thiếu một vai quân báo, em Quan là khán giả nhí, tình nguyện ra làm vai quân báo và đã được anh Thành Tôn dạy từng câu báo trong đêm diễn chầu đó. Em thông minh, sáng dạ, học mau thuộc và dạn sân khấu nên tuy là thế vai bất ngờ mà em Quan đã diễn rất xuất sắc. Sau nầy chỉ mới hai năm học nghệ trong trường, Xuân Quan đã thủ diễn nhiều vai kép võ mặt trắng rất hay. Xuân Quan thành danh từ năm 1980, được nghệ nhân Công Chấn thương tài, gả cho con gái là nữ diễn viên tài sắc tên Thanh Trang. Xuân Quan lần nầy thủ vai Khương Linh Tá.
Và Ngọc Dung, nữ diễn viên hai lần được huy chương hội diễn hát bội ở Bình Định và Sàigòn, Ngọc Dung sẽ thủ vai Phàn Phụng Cơ…
Điểm qua tài năng của các ngôi sao sân khấu hát bội trong lần hát chầu nầy để thấy rằng “sự cố ” mà anh Đinh Bằng Phi lo sợ không phải là do diễn viên không đủ tài đảm đương các xuất hát chầu nầy, mà là do người của địa phương Vũng Tàu. Khi đi tàu cao tốc ra đây, anh nghe phong phanh là trong Quí Tế cúng đình lần nầy, ông Chấp sự Hai Điểm là người chầu trong các xuất hát. Anh Đinh Bằng Phi biết tôi đã mười mấy năm xa quê hương nên có lẽ không hiểu những phiền toái giữa người cầm chầu và diễn viên hát chầu, anh giải bày nỗi lo lắng của anh. Tôi trấn an anh rằng dù người cầm chầu khó tánh tới mức nào, ắt là cũng khó lòng bắt bẻ nghệ thuật ca diễn của các nghệ sĩ có tay nghề bậc thầy các anh, các cô đây. Tôi mời các bạn ra bãi sau dùng cơm rồi trở lại võ ca, nơi đoàn hát đang chờ. Kim Thanh đề nghị ăn cơm gần đình vì quanh chỗ làm lễ hội Kỳ Yên có rất nhiều hàng quán, đông vui hơn ở bãi sau.
Đình Thắng Tam được trang trí lộng lẫy, nơi đây “người ta” cho gìn giữ cái “không khí” cúng đình ngày xưa nên tha cho cái rừng cờ và biểu ngữ như ở bãi trước và nơi phố, chợ. Đình được sơn son, phết vàng, các câu liễn trên các cột đình cũng được tô vẽ như mới. Bên trong bàn thờ khói hương nghi ngút. Nhiều người dân địa phương đã vào thắp nhang lễ bái.
Đến tối, khi lễ cúng Kỳ Yên bắt đầu thì chỉ có Ban Quí Tế, mặc áo thụng xanh, đầu chít khăn đóng mới được thắp nhang, cúng Thần, làm lễ khai chầu.
Quanh đình, hàng quán mọc san sát như hội chợ, vừa là dịp Tết, vừa lễ hội cúng đình nên ngoài những hàng bán nhang đèn, vàng mã, còn có nhiều quán cơm chay, mặn, có nơi bán nước giải khát, có cả những quán bán trái cây, nhiều nhứt là nhãn, đặc sản nổi tiếng của Vũng Tàu. Tôi mua một kí nhãn rồi kéo vô quán cơm có một tấm bảng quảng cáo: “Rừng Cá, Núi Tôm”, mọi người đều “bắt mắt” vì tấm quảng cáo kỳ khôi nầy. Người ta thường nói Rừng cây, Núi đá, còn cá thì biển cá thì cá mới có nước để mà lội mà sống, chớ cá lên rừng thì chết khô ngay, sống gì nổi.
Các cô đã đói, vào quán là gọi cơm phần, nhưng tôi ngăn lại, đã ra tới biển thì ăn cua, ghẹ, sò, ốc trước rồi mới tính cơm, cá sau, vô quán Rừng Cá Núi Tôm mà ăn cơm phần thì quê chết. Chủ quán biết mặt các nghệ sĩ như Ngọc Đáng, Kim Thanh, Ngọc Dung, Xuân Quan nên tiếp đãi vui vẻ, nồng hậu. Ghẹ, cua được luộc tức tốc, bia Tiger cũng được khui ra…Ngọc Đáng nhìn tôi cười cười, tôi ngơ ngác, hỏi: “Bộ có gì không ổn sao?” Ngọc Đáng nói:
– Nhìn bộ dạng của chú, người ta biết là Việt Kiều mới về nước lần đầu nên mới mắc bẫy vì cái tấm quảng cáo Rừng Cá Núi Tôm đó. Nói chú đừng giận con! Người ta đi biển, ăn cua, ghẹ, đồ hải sản là ra bãi sau, các quán Thùy Vân, quán Thùy Trang của Bà Ba Lệ, vân vân…vừa ăn hải sản khoái khẩu, vừa nhậu ruợu bia ngoại hạng, hóng gió biển, nhìn sóng ào ạt xô đuổi nhau chạy vô bờ, lại được xem trai xinh gái lịch trong những bộ quần áo tắm thời trang, chớ ai đi đến đình Thần mà ăn hải sản?.
Tôi biết mình hố rồi, nhưng không sao, nay mai còn ở Vũng Tàu, ra bãi sau, bãi trước hay đi vòng núi lớn, núi nhỏ gì rồi cũng sẽ tuần tự nhi tiến mà. Chúng tôi chưa hết chai bia đầu tiên thì anh Năm Nhi, kép hát trong đoàn đến, nói ông Hai Chấp sự mời anh Đinh Bằng Phi đến bàn việc quan trọng. Anh ĐBP nói với tôi: “Sự cố mà tôi nói là đây rồi. Anh Nguyễn Phương đi với tôi nhe. Các cô ở lại dùng cơm rồi vô đình nghỉ, tối hát. Khi nào diễn chầu xong xuôi, chúng ta sẽ ở thêm hai ngày, đi tắm biển, dạo núi rồi về Sàigòn”.
Tôi kêu Xuân Quan ra riêng, đưa cho 100 đô, nhờ Xuân Quan thay mặt tôi khoản đãi các cô ăn uống thoải mái. Chúng tôi vô đình thì được người trong đình mời ra xe ngựa đã chuẩn bị sẵn, đưa chúng tôi ra bãi sau, nơi nhà riêng của ông Hai Chấp sự.
Đinh Bằng Phi cho tôi biết ông Hai Chấp sự tên thật là Sáu Quắn, trước kia là kép hát bội, con cháu của bà Ba Ngoạn, tay nghề rất giỏi nhưng nhà giàu, về Vũng Tàu kế nghiệp ông cha làm chủ ghe cá và một hãng làm khô, mắm, chủ quán nhậu nổi tiếng. Vì vậy ông không theo ghe hát nữa và vì là con nhà giàu, tánh hào phóng, được coi là nhân sĩ ở địa phương nên được bầu vô Ban Quí Tế, Ban Trị Sự Đình. Hễ khi có cúng đình, xây chầu hát bội thì ông cầm chầu và hát hay cỡ nào cũng chỉ thưởng cho đào kép hai cái đánh “thùng” thôi chớ không hơn, mà đánh nghe nhỏ rí nên người ta tặng ông danh là Hai Điểm. Tới quán nhậu của ông, người ta kêu ông là Sáu Quắn, tới lễ cúng Kỳ Yên thì người ta gọi ông là ông Điểm!
Chúng tôi đã đến nhà Hai Điểm, một villa nhỏ ở Hàng Dương, mặt tiền hướng ra biển. Ông Hai Chấp sự đang ngồi bên một cái bàn đá cẩm thạch, đặt trước sân, trước mặt có bình trà. Ông có vẻ đăm chiêu, suy nghĩ điều gì lung lắm. Nhìn bộ dạng của ông, tôi và Đinh Bằng Phi trao nhau một cái nhìn ngầm than với nhau: ” Chỉ ngó cái bộ mặt cau có của ông nầy cũng đủ biết là sự đời đang rắc rối đây.”
Ông Hai Điểm thấy chúng tôi, tươi cười, mời ngồi, mời uống trà rồi vô câu chuyện ngay:
– Tôi chờ các anh đã lâu. Mình ngồi đây uống trà, bàn chuyện, Trẻ nhỏ lo cơm nước xong thì mình vừa ăn vừa tiếp tục câu chuyện. Vậy có gì phiền hai anh không?
Đinh Bằng Phi nóng ruột muốn biết vì chuyện gì mà ông có vẻ trịnh trọng như vậy? Tôi nói ngay, tôi cũng là một nghệ sĩ nhưng đi định cư ở Canada lâu quá rồi, nhớ quê hương, nhớ gánh hát và không khí cúng đình ngày xưa nên theo gánh hát ra Vũng Tàu, nếu là chuyện nội bộ của Ban Trị Sự Đình và đoàn hát, tôi xin ra trước sân nhà, ngắm bãi biển cho hai anh bàn chuyện thoải mái hơn. Hai Điểm nói không cần, vì anh ở nước ngoài, còn nhớ quê hương, nhớ nghiệp Tổ thì ngồi đây bàn chuyện cũng hay lắm chớ.
Và sau đây là câu chuyện mà Đinh Bằng Phi có dự cảm là “sự cố” buổi hát chầu 25 năm sau cái năm 75 đổi đời:
Ông Hai Điểm:
– Lần nầy các anh hát chầu mấy thứ?
– Thì hát San Hậu, ba thứ như Ban Trị Sự đã bàn với chúng tôi.
– Ba thứ, có nghĩa là San Hậu thứ ba, có lễ Tôn Vương, Phong Soái.
– Dạ, đúng vậy, mình không thể hát thiếu. Với lại lễ Tôn Vương, Phong Soái thì mới kết thúc tuồng, vừa xôm, vừa có hậu. Khán giả khoái nhứt là cái Lễ Tôn Vương nầy.
– Tôi mời anh ra riêng đây là để bàn với anh: hát San Hậu Thứ Ba mà không có Lễ Tôn Vương.
Anh Đinh Bằng Phi ngỡ là lâu quá ông Hai Điểm không theo gánh hát, quên tuồng tích nên nhắc lại, tuồng San Hậu thứ ba có 4 lớp hát rất hay như:
– Lớp bà Nguyệt Kiểu xuống tóc đi tu giữa một đám em họ Tạ gian thần cướp ngôi vua Tề, một người chị trung chính, vứt bỏ phú quí vô chùa nương cửa Phật để rồi phải sa vào tay lũ ác tăng.
– Trận chiến giữa Tạ Ôn Đình và tướng trẻ Phàn Diệm và bị thua Phàn Diệm.
– Lớp treo Đổng Mẫu buộc Kim Lân qui hàng.
– Kết thúc có hậu, bà Nguyệt Kiểu tự trói mình, đề nghị Tề Ấu quân giao bà cho họ Tạ để đổi lấy bà Đổng Mẫu. Sau đó quân tướng thành San Hậu đánh thắng họ Tạ, chém chết Tạ Ôn Đình, đưa Ấu quân lên ngôi tức vị. Đó là làm lễ Tôn Vương, Phong tướng.
Ông Hai Điểm để cho Đinh Bằng Phi kể chuyện tuồng, rồi mới từ tốn nói:
“Chuyện tuồng thì là vậy. Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương, phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có một ngày quân tham ác, cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái TỰ DO hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương…mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy nên tôi muốn xuất hát San Hậu thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…”
Đinh Bằng Phi ngồi gãi đầu, gãi tai, kêu khổ, kêu khó:
– Ông không bị ai ràng buộc, muốn làm sao cũng được, tụi tui khó à nghen. Mà nói cho cùng, hồi xưa đất nước mình lọt vô tay quân Pháp, vua Annam bị đày đi Phi Châu thì hát bội tuồng San Hậu cũng có lễ Tôn Vương kia mà…
– Hồi đó tụi Tây cho dân mình ăn bánh vẽ, nên hát bội nó khuyến khích mình hát lớp Tôn Vương. Bây giờ hỏng lẽ mình ru ngủ bà con mình bằng cái lớp Tôn Vương giả tạo đó sao?
Tôi nghĩ là ông Hai Điểm có cái lý của ổng, mà đoàn hát bội thì có cái hoàn cảnh bất khả kháng của đoàn, thôi thì cứ ăn cơm, no bụng rồi mới tính tới.
Bữa đó ăn cơm nhà của ông Hai Điểm cũng có cá, có tôm, nấu ăn rất ngon, nhưng Đinh Bằng Phi như ngồi nuốt từng cục đá, nghẹn cổ họng, nuốt không trôi. Ông Hai Điểm nói cho Đinh Bằng Phi và tôi yên tâm:
– Mà nói cho hai anh nghe vậy thôi. Hát xướng là phận sự của các anh, còn cầm chầu là quyền thưởng phạt do tôi. Tối nay mình gặp lại nhau. Nói thiệt, tôi đau dạ dày, nghĩ ngợi lung tung càng đau nhiều hơn, tôi muốn quên hết, quên cái sân khấu và sự đời, quên luôn cái lớp tuồng soán ngôi và giết phản thần, Tôn Vương…Phải, quên hết đi, để mà ăn một bữa cơm ngon lành.
Đêm hát thứ ba ở Đình Thắng Tam làm cho tôi nhớ đời.
Ông Hai Chấp sự trong hai đêm trước cầm chầu, đánh trống chầu thưởng giọng hát, điệu bộ của các diễn viên thiệt là hào phóng, đánh trống thật lớn, chụp tay đè mặt trống vừa phải, anh em có lỡ hát cương cũng không bị gõ dăm trống. Tôi và Đinh Bằng Phi rất cảm kích ông. Ông dám đem tâm sự thầm kín ra nói với mình và thông cảm hoàn cảnh của anh em để tránh cho anh em gặp rắc rối.
Ngoài sân khấu Tạ Ôn Đình đã bị chém đầu, trống chiến đánh dồn dập, sắp tới lễ Tôn Vương, Ấu quân hát:
Bá quan, truyền văn võ bá quan.
Nhập triều nội tôn vương tức vị.
Xuân Quan (vai Phàn Diệm) nhập triều nội Tôn Vương tức vị.
Đến lớp hát nầy thì trống đổ, các tướng trung theo ngôi thứ, múa giáp bước vô triều, chót hết Ấu Vương ra…Tôi thở ra một hơi khoan khoái, không còn bị ám ảnh về câu chuyện không cho hát lớp Tôn Vương, bỗng tôi nghe một tiếng “Thùng” thật lớn, rồi tiếng trống tắt nghẹn ngay vì bị bịt mặt trống. Ông Hai Điểm đánh trống thật mạnh, bịt mặt trống xong quăng đôi dùi trống lên sân khấu, vẻ mặt giận dữ, bỏ ra khỏi đình ngay tức khắc.Thông thường khi ông Chấp sự cầm chầu quăng dùi trống là để trừng phạt toàn Ban đã hát bậy, làm ô uế khán trường, nhục mạ, xúc phạm linh thần. Trên sân khấu toàn Ban ngơ ngác. Khán giả cũng ngơ ngác. Đoàn bỏ màn hát, chấm dứt tuồng không có lớp Tôn Vương. Không ai hiểu lý do vì sao mà ông Chấp sự quăng dùi trống phạt toàn Ban, chỉ có Đinh Bằng Phi là ngầm hiểu vì sao tới lớp Tôn Vương lại xảy ra “sự cố”.
Mặc cho anh em bàn tán, mặc cho khán giả phàn nàn, chúng tôi chạy đuổi theo ông Hai Điểm: Ông thổ huyết trầm trọng sau cái đêm ngăn không cho hát lớp Tôn Vương. Cả đoàn hát đi tiễn linh hồn người quá cố, anh em có người dị đoan cho là ông Hai Điểm cầm chầu, thưởng phạt sai nên Thần Hoàng Bổn Cảnh trừng phạt. Tôi hiểu là ông bị đau dạ dày tới mức trầm trọng.
Cái đêm cầm chầu sau cuối cuộc đời của ông, ông đã đánh trống và quăng roi trống một cách hào hùng và thổ huyết vì quá xúc động.
Ngày nay, sau cái chết của ông Hai Điểm ở Vũng Tàu trong cái lễ cúng Hội Kỳ Yên đó, tôi mới nghiệm ra rằng Cuộc Đời và Sân Khấu không giống nhau. Những kẻ gian ác còn giàu sang phây phây ra đó, những kẻ có lòng trung chính, thật thà cứ phải chịu gian nan. Bao giờ mà Ông Trời, Thượng Đế làm soạn giả, soạn tuồng thì hy vọng ổng viết việc thưởng phạt công minh và cho mau lẹ một chút, để người hàm oan thấy lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt, ân oán phân minh.
LỜI BẠT
Xin được chia sớt buồn vui đời nghệ sĩ
cùng soạn giả Nguyễn Phương
(Hồ Trường An)
Tôi chỉ là một ký giả kịch ảnh tân nhạc tài tử, tuổi nghề bắt đầu từ năm 1971 cho tới năm 1973. Nhưng từ 11 tuổi, tôi đã theo dõi sinh hoạt của giới nghệ sĩ sân khấu, tân nhạc, và nhất là điện ảnh thuộc cây nhà lá vườn rồi. Cho nên khi còn đeo đuổi việc học hành, mỗi ngày tôi có dịp đến phòng Thông Tin tỉnh nhà (tỉnh Vĩnh Long) theo dõi trang kịch trường, tân nhạc đăng trên hàng chục tờ nhật báo để bồi bổ kiến thức của mình. Và khi bước vào đời lính, nhờ làm việc trong ban ThôngTin Báo Chí, thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu 3, tôi cũng được tiếp tục theo dõi sinh hoạt các bộ môn trình diễn trên sân khấu đăng trên hằng chục tờ nhật báo.
Ngành ca kịch cải lương đã thu hút tâm hồn tôi vào lứa tuổi hoa niên, kéo lôi giấc mơ hoa mộng ảo của tôi trải dài hơn nửa thế kỷ. Và cho mãi tới nay, niềm say mê ngưỡng mộ của tôi đối với bộ môn nghệ thuật trình diễn ấy vẫn còn chưa phai nhạt lu mờ.
Dĩ nhiên tôi vẫn biết soạn giả Nguyễn Phương.
Nguyễn Phương là một soạn giả cùng một thế hệ với cặp soạn giả Hà Triều & Hoa Phượng, cặp soạn giả Thiếu Linh & Thành Phát, cặp soạn giả Bạch Diệp & Mình Nguyên, soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà, soạn giả Mộc Linh, soạn giả Lê Khanh, soạn giả Thu An, soạn giả Quy Sắc, soạn giả Điêu Huyền… Lúc đó những soạn giả nổi danh từ thuở tiền chiến như Năm Châu, Năm Nở, Tư Trang, Giáo Út, Duy Lân… đã thấm mệt. Lớp soạn giả Vạn Lý, Viễn Châu, Vân Sinh, Trần văn May, Ba Khuê, Mộng Vân tuy vẫn còn phong độ, nhưng trừ hai anh Vạn Lý và Viễn Châu ra, tất cả lại hình như hơi thiếu thiếu cái không khí mới mẻ, thấm nhuần chất văn chương và thần trí sáng tạo khi họ soạn bất cứ vở tuồng nào. Câu đối thoại của các nhân vật không bày tỏ một quan niệm sống; chúng đơn giản đến độ trơn tuột. Cho nên Nguyễn Phương với lớp soạn giả cùng thế hệ và cùng trang lứa với anh có thể đem lại cho sân khấu cải lương đôi chút sinh khí ở những câu đối thoại rất luyện đạt tình người, ở cách dàn dựng diễn biến và sắp xếp tình tiết công phu hơn.
Ở đây, tôi không cần phải nói về sự nghiệp soạn tuồng và cái tuyệt đỉnh danh vọng của Nguyễn Phương trong giới ca kịch cải lương nói chung, trong giới soạn tuồng nói riêng. Từ năm 1948, anh lao vào cuộc lưu diễn qua các đoàn ca kịch Ánh Sáng, Tiếng Chuông, Việt Kịch Năm Châu cho tới ngày miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm thì cũng đã được một phần tư thế kỷ rồi. Ai trót mê ca kịch cải lương mà không biết anh? Đã vậy anh còn viết kịch bản (scénario) cho nhiều cuốn phim hài hước nổi danh. Anh là một nghệ sĩ lớn, dù tôi có tán mỹ ngợi ca anh cũng bằng thừa.
Ở đây, tôi xin đề cập tới hai quyển nửa biên khảo nửa hồi ký của anh là “Ngũ Đại Gia Của Sân Khấu Cải Lương” và “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”. Anh không có ý định viết về lịch sử của ngành ca kịch cải lương. Anh chỉ viết những biến cố trong giới ca kịch mà anh đã trải qua, những nhân vật trong giới cải lương mà anh tiếp xúc. Đôi lúc anh cũng xen vào đó những điều mà bạn bè anh kể lại, song ít thôi. Thế có nghĩa là anh viết sách bằng nhiều kinh nghiệm sống thực chứ không thuần túy bằng tài liệu. Tài liệu thì khô khan, còn kinh nghiệm sống thực mới tươi rói, mới sống động, dễ lôi cuốn độc giả từ trang đầu tới trang cuối quyển sách.
Đọc quyển “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”, tôi bàng hoàng khi nghe Nguyễn Phương nhắc lại các nghệ sĩ Thanh Cao, Tuấn Sĩ, Văn Sa, Kim Anh, Ngọc An, Nguyệt Yến…
Làm sao chúng ta lại quên được Kim Anh hát 20 câu Vọng Cổ trong cặp dĩa “Phàn Lê Huê” của hãng Asia bằng giọng thổ khao khao trầm thống?
Làm sao chúng ta lại quên được Ngọc An với dáng dấp cao sang và đẹp sáng mát như vầng trăng rằm qua các đoàn Tiếng Chuông, Hương Hoa, Ngọc An & Bích Sơn, Thanh Hương & Hùng Minh?
Làm sao chúng ta quên mất Nguyệt Yến trong vở tuồng “Nữ Thần Trong Động Lửa” và là đào chánh của gánh Phát Thanh?
Làm sao chúng ta quên được nghệ sĩ Văn Sa, kép nhì rất hùng dũng bên cạnh kép chánh tao nhã Năm Phồi trong gánh Phát Thanh?
Ôi, nếu không có Nguyễn Phương thì họ sẽ lặn sâu trong niềm quên lãng tận dưới đáy tiềm thức của lớp khán giả từ lục tuần trở lên, trong đó có tôi đây.
Nguyễn Phương không phải là nhà kể chuyện (chroniqueur) thuần túy. Chúng ta có thể cười phơi phới qua các giai thoại về cuộc đời về nghề nghiệp của Tám Vân, Trường Xuân, Thanh Việt, Hùng Cường, Hồng Nga cùng ông bầu Cang, ông bầu Tám Kiết. Chúng ta còn được nghe anh kể chuyện anh đi coi vợ bị bên đàng gái chê vì họ lầm tưởng anh theo gánh cải lương của danh sĩ Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh; nghe anh kể quãng thời gian anh theo gánh Ánh Sáng, Tiếng Chuông, Việt Kịch Năm Châu trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh.
Ở đây, chúng ta mới rõ thân phận của giới cải lương trong thời chiến, họ bị chèn ép, giam giữ, húng hiếp bởi những lãnh chúa dùng tôn giáo để hùng cứ một phương trời, một vùng bao la trên đất nước Nam Kỳ trong thời khói lửa. Chúng ta có thể chạnh niềm trắc ẩn xót xa trước cảnh ngộ của nghệ sĩ sân khấu sau cuộc đổi đời qua chương “Nữ Nghệ Sĩ Diệu Hiền Trong Biển Lửa”‘ và qua chương “Cuộc Sống Sau Bức Màn Nhung”‘. Thế có nghĩa là Nguyễn Phương đâu phải bắt chúng ta nghe anh kể những chuyện suông đuột và rỗng tuếch để cười sặc sụa rồi lòng rổn rang, trí óc bình thản. Anh chọc cho chúng ta cười để rồi chúng ta ray rứt trước bao cảnh ngộ thương tâm, để chúng ta suy nghĩ về cuộc đời dâu bể, thế sự vô thường. Anh bông phèo giễu cợt qua lối kể chuyện rất điềm đạm, không tía lia hời hợt, nhưng câu chuyện do anh kể vẫn mặn nồng. Chúng ta vẫn được anh chỉ vẽ qua các tập tuồng của các diễn viên hát bội, của các diễn viên cải lương. Anh còn chú trọng tới phần kiến thức nghề nghiệp để độc giả lãnh hội nhiều điều bổ ích về ca kịch cải lương, một bộ môn nghệ thuật cao quý của dân tộc. Do đó chúng ta biết tại sao nghệ sĩ Tám Danh thành công qua vai Hà Công Yên nghiện ngập trong vở “Tứ Đổ Tường”, vì sao Quái kiệt Ba Vân thành công trong vai anh chàng Phê điên loạn trong vở “Người Điên Khi Biết Yêu”. Đó chẳng qua là ông Tám Danh phải đến tiệm hút mà thời Pháp thuộc gọi là công quản nha phiến (R.O/ Regis d’Opium) và ông Ba Vân đến dưỡng trí viện Biên Hòa, kẻ quan sát bợm ghiền, người học lóm cử chỉ và thần sắc của người điên. Rồi qua chương “Nghệ Sĩ Phượng Mai”, chúng ta mới rõ vì sao nữ nghệ sĩ này thành công trên sân khấu Hồ Quảng và trong phạm vi hát tân nhạc. Đó có phải chăng ngoài năng khiếu thiên bẩm còn có tấm lòng tươi son bền sắt với nghề nghiệp, sự cầu tiến và sự tinh luyện tài năng của mình không nhàm mỏi?
Và còn nghệ sĩ Văn Ngà nữa chớ. Anh là kép phụ đòan Thanh Minh Thanh Nga. Nhưng mà, tuy là kép phụ nhưng cùng với Minh Điển, Chí Hiếu, Vinh Sang nếu anh không là nghệ sĩ lớn thì cũng là nghệ sĩ tài nghệ điêu luyện không kém các kép phụ bên gánh Việt Kịch Năm Châu như Ba Sanh, Hoàng Kinh, Văn Lắm (nam), Hai Nữ, Kim Đặng, Tố Nữ (nữ). Văn Ngà vốn là dân Bắc Ninh, cách phát âm trong giọng nói anh phảng phất cách phát âm giọng Bắc Ninh. Anh theo gánh miền Nam, hát cải lương miền Nam nên anh muốn cách phát âm của anh phải đặc sệt cách phát âm của miền Nam. Soạn giả Nguyễn Phương bắt anh đọc nhiều lần bài vè “Gái Lỡ Thời” bằng lối phát âm miền Nam cho tới thuần thục nhu nhuyễn mới thôi. Và nhờ đó, Văn Ngà bỏ được cách phát âm miền Bắc khi đóng tuồng trên sân khấu.
Ở chương “Người Trồng Cây Si Gia Long” nhắc lại thưở Nguyễn Phương si tình cô nữ sinh trường Gia Long. Cuộc tình chẳng ra cái ra nước gì cả. Sau đó, anh theo cộng tác các gánh hát bị các cô đào đặt cho cái hỗn danh Si Gia Long.
Rồi một hôm, đoàn Tiếng Chuông mà anh đang cộng tác đến điễn ở Cần Giờ. Ông Chấp sự trong Hội Đồng Xã vốn không rành truyện Tàu nên muốn đoàn diễn tuồng “Gia Long Tẩu Quốc”. Nghe nói trong gánh có chàng Si Gia Long nên ông nhờ chàng soạn tuồng có cái tựa và cái chủ đề nầy. Ông Ách Một, trưởng đồn lính bạc-ti-dăng cũng đốc xúi cây si như vậy. Nhưng…“Dạ, mang tiếng si Gia Long mà hỏng biết gì về lịch sử Gia Long hết, cái nầy người ta nghe người ta cười tôi. Còn cái tuồng mà quan lớn vẽ ra đó, dạ khó lắm. Tuồng Tàu, tuồng Tây mình có viết sai thì dân coi hát cũng bỏ qua cho, sai là sai cái sử của thằng Tây, thằng Tàu không quan trọng gì tới người Việt mình. Còn như sử Việt Nam mà mình viết sai thì a… thì…Dạ bẩm quan, kỳ nầy về Saigon, tôi nhứt định sẽ nghiên cứu sử Việt Nam, tôi sẽ viết những tuồng sử Việt Nam cho đàng hoàng. Còn kỳ nầy, thì xin quan tha cho.”
Ông Chấp sự cười hề hà: “Thôi, thử bụng mấy chú thôi! Được rồi. Chuyện cả ngàn năm của người Tàu, mấy chú rành ông này mặt mày ra sao, tánh tình như thế nào, chuyện tình yêu gì của họ, mấy chú rành rẽ quá. Vậy thì mấy chú cũng nên rán mà hiểu chút đỉnh lịch sử của nước mình. Dân mình biết rành chuyện Tàu vì mấy chú hát tuồng Tàu. Nếu mấy chú hát tuồng sử Việt thì dân mình cũng hiểu chuyện sử của mình. Phải vậy không? “.
Thật là một bài học chẳng những thấm thía cho tác giả mà còn cho các văn nghệ sĩ của các bộ môn nghệ thuật sáng tác khác.
Ở chương “Hát Chầu Nhân Lễ Hội Kỳ Yên”‘, Nguyễn Phương gây một cái “choc” mạnh vào ấn tượng người đọc. Chuyện kể: vào dịp Tết Canh Thìn (năm 2000), tác giả cùng anh Đinh Bằng Phi, học giả môn hát bội ra cùng nhóm nghệ sĩ ra Vũng Tàu để xem hát bội vào dịp Lễ Hội Kỳ Yên. Ông Hai Chấp sự mà dân địa phương gọi là ông Hai Điểm giữ phần cầm chầu. Ông đề nghị với Đinh học giả nên bỏ lớp Tôn Vương trong tuồng “San Hậu”. Lý do của ông như sau:
…Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có ngày quân tham ác, kẻ cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái Tự Do hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương… mà cũng chẳng biết bao giờ có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy tôi muốn xuất hát ‘San Hậu” thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…
Hôm tuồng trình diễn tại đình Thắng Tam, ông Hai Điểm cầm chầu. Tới lớp Tôn Vương ông đánh dằn mạnh vào trống, rồi quăng dùi trống và bỏ đi. Hôm sau, ông chết vì chứng thổ huyết trầm trọng. Xem tới chương này, đố ai mà không bần thần suy nghĩ? Và cảm giác sần sượng cứ bám riết vào tim óc chúng ta chắc chắn cũng khá lâu, có phải?
Chương lảng vảng bóng u linh là chương “Chuyện Dị Đoan Trong Giới Nghệ Sĩ Cải Lương”‘. Chuyện kể rằng: hai bức tượng phụ nữ Pháp trên nóc rạp Thủ Dầu Một bị ma nữ dựa vào để khuấy phá nghệ sĩ trong gánh hát Việt Kịch Năm Châu vào lúc họ ngủ. Chúng còn cản trở khán giả không đến xem đông đúc tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” vốn là tuồng hốt bạc của đoàn… Ông Tám Kiết phải lấy sơn đen bôi lên tượng thì khán giả tới ùn ùn mua vé xem tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” được trình diễn lại. Rồi trong thời gian còn trụ diễn ở Thủ Dầu Một, nghệ sĩ và công nhân được yên ổn cho tới ngày họ dọn đi lưu diễn ở địa danh khác. Bút giả nghĩ rằng đây chưa hẳn là chuyện hoang đường. Khoa học huyền bí chưa đủ khả năng giải thích hiện tượng kỳ quái này nên kẻ hồ đồ cho là điều mê tín dị đoan. Nhưng sự thực là đâu, khi nó nằm ngoài vòng hiểu biết của nhân loại? Lại nữa, trong chương “Ngày Xuân Nghệ Sĩ Đi Xem Bói”‘, chúng ta phải tự hỏi vì sao thầy bói quẻ Khổng Minh ở Lăng Ông Bà Chiểu lại đoán trúng vận mệnh tương lai của ba soạn giả Hà Triều, Nguyễn Phương và Kiên Giang Hà Huy Hà không sai một mảy lông sợi tóc? Nếu không dựa vào chuyện thần linh ma quỷ trong cõi âm hồn thì làm sao chúng ta giải thích cho trôi được, hả các bạn?
Chương “Ngậm Ngải Tìm Trầm” là chương tác giả cùng nhóm nghệ sĩ công nhân đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi trình diễn ở Ninh Hòa sau cuộc đảo chánh lật đổ chánh thể Đệ nhứt Cộng Hòa. Trong thời gian còn trụ diễn ở đây, đoàn hát nhân một ngày thong thả đi tắm suối nước nóng thì gặp mưa bão. Nguyễn Phương, Kiên Giang Hà Huy Hà, Hà Triều, Phượng và ba nghệ sĩ Chí Hiếu, Văn Ngà, Vinh Sang cùng 4 cô nữ vũ công không về được thành phố đành ngủ đêm trong gian nhà sàn của ông chủ phum. Nửa đêm, trong cơn mưa gió có tiếng hú ghê rợn của ngưòi rừng. Ông phum cho mọi người khách biết đó là người đi tìm trầm hương mà quên ngậm ngải nên bị sơn thần và ma rừng làm mất trí nhớ và tiếng nói nên lạc đường về buôn bản. Đương sự lại ăn nhằm thứ ngải linh mọc xung quanh gốc trầm nên biến thành người rừng. Nghe câu chuyện kể, Hà Triều và Hoa Phượng sanh cảm hứng nên khi về Sài Gòn, cả hai cùng chung soạn tuồng “Mưa Rừng” trong đó có nhân vật điên (trưởng nam ông chủ đồn điền) vì ăn nhằm ngải độc.
Đây là một câu chuyện lý thú không thua chuyện đường rừng của Tchya hoặc của Lan Khai vào thời tiền chiến.
Đọc quyển sách của Nguyễn Phương viết về kỷ niệm quãng đời anh tham gia sinh hoạt của sân khấu, chúng ta có cảm tưởng như đọc văn chương của Sơn Nam. Chúng ta phải suy nghĩ triền miên theo hành trình cây bút của anh. Chúng ta yêu cái cao quý của giới sàn gỗ màn nhung đã đành, chúng ta còn bắt gặp cái thối nát trong thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. Có cái khía cạnh tiêu cực của thời cuộc ấy, tác giả mới làm hiển lộ niềm gắn bó của kẻ sống đời gạo chợ nước sông, của kẻ ăn cơm quán ngủ đình hà rầm để đem tất cả tài hoa của mình cống hiến cho khách thưởng ngoạn. Trong giới ca kịch cải lương vẫn có người tốt kẻ xấu. Nhưng Nguyễn Phương chỉ nhìn cái tốt của họ bằng tấm lòng nhân hậu và bằng cặp mắt bao dung. Đối với anh, chỉ có tấm lòng yêu nghệ thuật và sự nghiệp lẫy lừng của họ mới đáng để anh đưa vào tác phẩm của mình. Không bao giờ anh phanh phui chuyện thay vợ đổi chồng hoặc sự tương tranh bất chính và hèn mạt của họ.
Đọc “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”, chúng ta gặp được nhiều cái để học hỏi: yêu bộ môn ca kịch cải lương vốn là tinh hoa lưu truyền của dân tộc, biết tha thứ những cá tính không đẹp và đời tư đồi trụy của một vài nghệ sĩ để giữ mỹ cảm cho khán giả và khách ái mộ tài năng của họ được nguyên vẹn và tốt đẹp, trước sao sau vậy.
Ông Chấp sự ở Cần Giờ trong chương “Người Si Gia Long” không đáng để chúng ta suy tư về tâm hồn ái quốc rất đơn sơ mộc mạc của những kẻ chất phác ở một địa danh khiêm tốn tại miền duyên hải hay sao? Còn ông Hai Điểm trong chương “Hát Chầu Nhân Lễ Hội Kỳ Yên” không đáng để cho tấm lòng chúng ta nức nở trước một nhân vật ái quốc qua một khía cạnh quá đặc biệt. Nó không biến chương sách này thành một truyện ngắn có giá cao độ để chúng ta xếp vào nền văn chương hải ngoại hay sao?
Cho nên “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ” là một tác phẩm nhuần thấm tình người, tình nước, tình yêu nghệ thuật, ngoài những giai thoại lý thú lấp lánh ánh sáng lạc quan luôn cả những vận sự cười ra nước mắt.
Cổ Nguyệt Đường, mùa Hè năm 2005
Nguyễn Phương
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét