Miếng thịt trôi vào
những cái miệng đói khát
Tập thơ đã làm cho bạn đọc càng thêm phấn khích. Khi Mai Văn Phấn miêu tả sự việc, vật thể, những dữ liệu của ký ức trình hiện một cách rõ ràng, thì thế giới vô tri ấy vẫn gợi nhắc sống động về một thế giới khác: “Miếng thịt sống được cạo da, rửa sạch. Người đầu bếp cố thái cho vuông vắn, nhưng đa phần chẳng ra hình dáng gì. Chúng được ngâm tẩm gia vị, quyện lấy nhau bằng hành khô, tỏi, tiêu, đường, ớt, nước mắm, kẹo đắng. Một đống bầy nhầy reo trong lửa. Co lại. Vật vã. Nổ lốp bốp. Chúng cùng chung giấc mơ được tái sinh trong thân xác khác, nhưng hiện thời phải gắng sức chảy mỡ, co rúm, nát nhừ. Đợi chui qua những cái miệng hôi hám, tham lam”.
Thơ Mai Văn Phấn gợi nhắc những điều gai ương về một thế giới
khác
Trong trường ca Thời tái chế*, nhà thơ Mai Văn Phấn đã tạo
được sự cân bằng kỳ lạ giữa tính tất yếu và trạng thái tự do. Tôi nghĩ, điều ấy
liên quan tới sự kết chéo kỳ diệu giữa câu chuyện kể và nhân vật đối thoại
trong thơ của ông.
Về họ: gã đồ tể, người diễn viên, ông chủ nhiệm hợp tác xã
nông nghiệp thời thơ ấu của tác giả, thầy giáo dậy môn chính trị về tinh thần
làm chủ tập thể, những người từng là lính trận…
Về bạn và tôi: người đọc bài thơ luôn hiển hiện và không bao
giờ ẩn giấu. Vì vậy, chúng ta đồng thời có thể như vậy hay thực sự đã từng như
vậy… Chúng ta có thể biến thành chính những điều như thế.
Với vòng cung hiện sinh, nhà thơ đã thành công trong việc hợp
nhất trải nghiệm cụ thể của mình với cõi nhân gian ở khắp mọi nơi, giống như một
món ăn đặc sản gia truyền tại nhà: “Mâm cơm dọn ra đón các anh không phải những
đồ tế lễ trong ngày cúng giỗ, mà thức ăn đạm bạc quê nhà, có canh cua rau đay
và đĩa cà pháo”.
Tập thơ đã làm cho bạn đọc càng thêm phấn khích. Khi Mai Văn
Phấn miêu tả sự việc, vật thể, những dữ liệu của ký ức trình hiện một cách rõ
ràng, thì thế giới vô tri ấy vẫn gợi nhắc sống động về một thế giới khác: “Miếng
thịt sống được cạo da, rửa sạch. Người đầu bếp cố thái cho vuông vắn, nhưng đa
phần chẳng ra hình dáng gì. Chúng được ngâm tẩm gia vị, quyện lấy nhau bằng
hành khô, tỏi, tiêu, đường, ớt, nước mắm, kẹo đắng. Một đống bầy nhầy reo trong
lửa. Co lại. Vật vã. Nổ lốp bốp. Chúng cùng chung giấc mơ được tái sinh trong
thân xác khác, nhưng hiện thời phải gắng sức chảy mỡ, co rúm, nát nhừ. Đợi chui
qua những cái miệng hôi hám, tham lam”.
Bản dịch của Tobias Theander hết sức sắc nét đến từng chi tiết
nhưng vẫn giữ được chất thơ, đúng như những gì người ta mong đợi ở một nhà thơ
bén nhậy, giàu trí tưởng tượng như Mai Văn Phấn. Với ông, ngay cả máu cũng
không phải là biểu tượng gây nên sự chết chóc hay hiệu ứng kinh dị thông thường.
Máu ở đây là cảnh tượng mà những bài thơ không bao giờ thoát khỏi, điều mà Mai
Văn Phấn đã cố gắng hết sức để hóa giải chúng. Cũng như tự do sẽ không bao giờ ở
chính xác nơi chúng ta mong đợi, mà nó chỉ tồn tại ở đâu đó ngoài kia. “Máu điềm
nhiên từng bước khoan dung, bình an tựa hơi thở của bé thơ đang ngủ. Máu chạm
vào khoảng không, vào địa danh lịch sử, như con trăn khổng lồ nhẹ nhàng trườn
qua phiến đá. Tựa trái bóng tròn lăn trên sân cỏ. Hạt mưa gọi nhau tụ lại chảy
vào đất trũng”.
(Nguồn: Báo Aftonbladet, mục Văn hóa – Phê bình văn học)
Tiểu sử Göran Arne Sommardal
Göran Arne Sommardal, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1947 tại
Gävle. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học, bình luận viên đài phát thanh Thụy
Điển và là dịch giả tiếng Trung. Ông có bằng tiến sỹ ngôn ngữ Trung hoa tại trường
Đại học Stockholm, làm luận án về thơ Trung Hoa cổ điển. Sommardal sống ở đảo
Södermalm thuộc thành phố Stockholm.
Tiểu sử thư mục:
1974 – Lời thú tội của một tiểu tư sản (thơ, nhà xuất
bản Rabén & Sjögren)
1976 – Ở giữa (thơ, Rabens & Sjögren)
1978 – Bài hát sau cuộc bạo loạn (thơ, Rabens &
Sjögren)
1982 – Bản thảo về sự thiếu sót trên thiên trần (thơ,
Rabens & Sjögren)
1992 – Cung điện trống rỗng: Khảo cổ về các vết xe (dấu ấn)
và tàn tích từ tâm thức văn học Trung Hoa (Trường Đại học Stockholm)
2001 – Bàn chân được giải phóng: nỗ lực của Trung quốc
khi nói về văn học (phần nhỏ về chính trị) (hội nghị chuyên đề)
2011 – Sự trùng lặp của Trung quốc: 6 chương về kinh
nghiệm bằng văn bản (hội nghị chuyên đề)
2013 – Thơ 75 năm ngày nay: siêu tuyển tập (hiệu đính
Göran Sommarland, Ellerström)
2016 – Vì sao chúng ta có mặt ở Afghanistan (Nhà xuất
bản Atlas)
Dịch thuật:
Ba Jin: Thu Xuân (Gidlund 1972)
Li Bai: Say ngà (Câu lạc bộ ca – lời FIB, 1977)
Lu Xun: Trong vết máu mờ nhạt: tiểu luận và các đoạn văn
xuôi 1918-36 (tuyển chọn và bản dịch cộng tác với Britta Kinnemark, Cavefors,
1978)
Lu Xun: Cỏ dại (Yecao) (Câu lạc bộ ca – lời 1988)
KÖTTET GLIDER IN I DE HUNGRIGA MUNNARNA
Mai Văn Phấns dikter är sinneshårda påminnelser om en annan
värld
Av: Göran Sommardal
Det uppstår en besynnerlig balans mellan nödvändighet och
befrielse i den vietnamesiske poeten Mai Văn Phấns diktsamling Skrottid. Jag
tror att det har att göra med den magiska kortslutningen mellan dem han
berättar om och den han tilltalar i sin poesi.
Om dem: slaktaren, skådespelaren, Chefen för min barndoms
kooperativ, läraren i det kollektiva ägandets etik, alla som någon gång i tiden
varit soldater.
Till dig, och mig: den alltid synlige och aldrig hemlighållne
läsaren av dikten. Alltså samtidigt vad vi kunde vara, vad vi faktiskt har
varit. Vad vi kunde bli.
Med den existentiella ljusbågen lyckas han förena sin egen
särskilda erfarenhet med den mänskliga myllan varsomhelst, som en säregen
husmanskost: ”Ni får riktig mat att äta / inga offergåvor utan husmanskost som
soppa på krabba och aubergine”.
Det skapar en uppfordrande läsning. Också när Mai Văn Phấn så
uppenbart beskriver föremål, materia, minnesfakta så utsöndrar deras
sinneshårda värld påminnelsen om en annan värld: ”Ett stycke rått kött, flått
och sköljt. Kocken försökte så gott han kunde hacka det i prydliga tärningar,
men de flesta blev rätt formlösa. Han marinerade dem i lök, vitlök, peppar,
socker, chili, fisksås och bränt socker. Den slemmiga massan pep på spisen.
Krympte. Vred sig. Knäppte. Köttbitarnas gemensamma dröm var att återfödas i en
annan kropp, men för ögonblicket var de helt upptagna med att avge fett, dra
sig samman, gröta sig. De väntade på att glida in i glupska stinkande munnar”.
Tobias Teanders översättning är detaljskarp och ändå poetiskt
återhållen, precis vad man önskar när det gäller en poet som är så skarpskuret
fantasifull som Mai Văn Phấn. Hos honom är inte ens blodet en ödesdiger symbol
eller gängse skräckeffekt. Blodet är en syn, som dikterna aldrig befriar sig
från, och som Mai gör sitt allra bästa för att försonas med. Precis som
friheten aldrig kommer att finnas precis där vi förväntar oss att den ska vara,
bara där någonstans.
”Sävligt stiger blodet, avslappnat och fridfullt som ett
sovande barns andetag. Det sväller, berör historiska platser, krälar smidigt
som en jättelik pytonorm över en stenläggning. Som en rullande boll.
Regndroppar som ropar åt varann att samla sig i sänkorna”.
FAKTA
https://www.aftonbladet.se/kultur/bokrecensioner/a/onkpOR/recension-av-mai-van-phans-skrottid
GÖRAN ARNE SOMMARDAL
Göran Arne Sommardal, född 25 juni 1947 i Gävle, är en svensk
poet, kritiker, radioproducent och översättare från kinesiska. Han har
doktorerat i sinologi vid Stockholms universitet, på en avhandling om klassisk
kinesisk poetik. Sommardal är bosatt på Södermalm i Stockholm.
Bibliografi
1974 – En småborgares bekännelser (dikter, Rabén &
Sjögren)
1976 – I mitten (dikter, Rabén & Sjögren)
1978 – Sång efter uppror (dikter, Rabén & Sjögren)
1982 – Utkast till en brist på himmel (dikter, Rabén &
Sjögren)
1992 – Det tomma palatset: en arkeologi över ruiner och
rutiner i kinesisk litteraturtradition (Symposion)
1998 – The Empty Palace: an Archaeology of Ruts and Ruins
from the Chinese Literary Mind (Stockholms universitet) [Diss. Stockholms
universitet]
2001 – Den befriade foten: ett kinesiskt försök att tala om
litteratur (och mindre om politik) (Symposion)
2011 – Kinesiska samtidigheter: sju kapitel om den skrivna
erfarenheten (Symposion)
2013 – Dagens dikt 75 år: en meta-antologi (redigerad av
Göran Sommardal, Ellerström)
2016 – Varför var vi i Afghanistan? (Atlas)
Översättningar
Ba Jin: Vårens höst (Gidlund, 1972)
Li Bai: Det långa ruset (FIB: s lyrikklubb, 1977)
Lu Xun: I de matta spåren av blod: essäer och prosastycken
1918-36 (urval och översättning tillsammans med Britta Kinnemark, Cavefors,
1978)
Lu Xun: Vildgräs (Yecao) (FIB:s lyrikklubb, 1988)
Tadeusz Różewicz: Regio ; Relief (FIB:s lyrikklubb, 1996)
[Innehåll: Regio (översättning från polska… av Göran Sommardal) ; Relief
(översättning från polska av Anders Bodegård)]
En tunga ska växa ut: ny kinesisk dikt (översatt tillsammans
med Li Li, Föreningen Karavan, 2007)
Yin Jianling: Den inramade katten = Huakuang li de mao (JH
Publishers, 2012)
Yin Jianling: Flykten (Chu tao) (JH Publishers, 2013)
Chú thích:
* “Skrottid” (“Thời tái chế”. Thơ tiếng Thụy Điển. Nhà xuất bản Tranan, Thụy Điển, 2022). Dịch giả: Tobias Theander. Biên tập: Erik Bergkvist.
10/1/2023
MIMMI DIỆU HƯỜNG BERGSTRÖM dịch
Theo https://vanvn.vn/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét