Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

Điệu hồn của "Giấc hoa"

Điệu hồn của "Giấc hoa"

Đọc Giấc hoa của Lê Hà Ngân, bất chợt trong tôi vọng về câu thơ: “Lẵng xuân/ Bờ giũ trái xuân xa/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” trong bài thơ Buồn xưa (1942) của Nguyễn Xuân Sanh. Đọc Giấc hoa thấy mùa đi không phải chỉ có “nhịp hải hà”, mà còn có cả “nhịp tâm hồn”, ai đó gọi là “điệu hồn”. Vũ trụ hiển hiện qua mùa. Mỗi mùa mang trong mình một màu sắc, âm thanh, hương vị riêng.
Tâm hồn người viết phải là nhạy cảm, tinh tế đến mức nào mới run bật và cảm thấu hết những bước đi của thiên nhiên: “Cứ mỗi đận chuẩn bị Tết, con lại nghe trong không gian, dư ba mùa xuân năm cũ còn vương trên những búp đào, trái quýt ương xanh trong vườn, cảm giác heo may đang giã biệt” (Mẹ-Mùa xuân).
Không sai khi người ta nói mùa xuân là đẹp nhất trong bốn mùa của năm. Hàn Mặc Tử đã có một Mùa xuân chín trường tồn trong lòng độc giả mấy chục năm nay. Mùa xuân là vĩnh viễn, là không của riêng ai, nên vì thế nó ào vào tản văn Lê Hà Ngân: “Mùa xuân. Ấy là khi nhà mình hoa cải đã nở vàng những ô ruộng. Và bên hố vôi, một vài vạt rau muống trái mùa đâm hoa tím, tung tẩy trong gió” (Mùa xuân… Mùa xuân). Hình như mùa xuân thường khơi gợi những tình cảm mến yêu đời, người và cảnh: “Một sáng mùa xuân thức giấc, chân chầm chậm lành lạnh mon men ra ngoài sân giếng” (Hoa thì là).
Tôi có cảm giác tâm hồn Lê Hà Ngân giống như một giây đàn đang căng, một làn gió lướt qua cũng có thể dâng lên âm thanh. Lại nghĩ cái nội tâm của người văn này như một phong vũ biểu đo gió, đo nắng: “Bây giời đã hết tháng ba. Những cơn mưa phùn như một lời tạm biệt, cứ lai vãng dần rồi mất hẳn. Hoa xoan cũng lười rơi. Thời khắc chuyển mùa cứ như một chiếc khăn ấm dần rời xa bờ vai để trôi vào mùa đông quên lãng” (Mong manh sắc đỏ). Nương theo “nhịp hải hà” và cũng nương theo “điệu hồn” mà nội tâm của người văn mở ra vô cùng vôn tận với thiên nhiên: “Trong ánh sáng rực rỡ đầu hè, một sắc trắng tinh khôi, mỏng manh vươn lên trong nắng, làm cho bao nhiêu người đi qua phải ngoái lại. Mùa hoa trắng như một cánh rừng hư ảo” (Màu hoa trắng trong nắng chiều tha thiết).
Với thi nhân dường như mùa thu gợi nhiều thi tứ hơn cả. Nguyễn Khuyến có một chùm thơ thu nức tiếng. Các thi sĩ Thơ mới viết về mùa thu như là một ký thác tâm sự. Bằng tản văn, Lê Hà Ngân cũng đã chạm đến mùa thu theo cách riêng của mình: ‘Cuối thu mặt nước mềm như lụa, cây điền thanh thiu ngủ ở góc ao cuối vườn. Đâu đây thoảng nhẹ hương ngọc lan, ngọt dịu hoa muống rồng. Nắng đã phai trên nhành hoa lựu” (Nửa đêm túi gấm phơi màu nhớ). Mùa thu hẳn gây men nhiều cảm xúc cho người văn Lê Hà Ngân, nên ngòi bút có vẻ như “thiên vị” hơn: “Trời vào thu. Mơn man gió trên những đồi cát dài vô tận. Hoa muống biển tím nhạt run run trong những đợt gió heo may. Ruộng đã ngả vàng chân lúa, nắng như mật ong rắc nhẹ xuống cảnh vật xung quanh” (Hoa muống biển).
Và rồi cũng đến lúc cái rét ập tới ngoài mong muốn của muôn người: “Chiều nay đông sang. Tím khăn san và nước hoa dìu dịu. Chị ngắm ảnh cưới của mình và mỉm cười hát vu vơ…”. (Ớt ngọt). Một thiếu phụ có chồng mà vẫn còn hát vu vơ như cô bé tuổi cập kê, mộng mơ. Ắt hẳn phải có một niềm vui nào đó lớn lắm.
Tôi có cái cảm giác tản văn và tùy bút của Lê Hà Ngân như là nhịp cầu nối con người và tự nhiên. Một nhịp cầu thông linh. Là bởi đọc văn chương đương đại, nhất là của những cây bút trẻ, đôi khi bùi ngùi vì thấy con người vừa bị xé nát, vừa bị cách li khỏi tự nhiên, vừa biến thành những NƠI GỪ (chữ NGƯỜI bị xé nhỏ ra) như cách diễn đạt của nhà thơ Việt Phương. Con người trở nên cô đơn hơn giữa một thế giới của văn minh công nghiệp, sống với chiều “ảo” từ khi có internet, nhất là các trang mạng xã hội đang rầm rập tiến quân vào cướp đoạt thời gian vàng ngọc của mỗi người. Con người mà “thông linh” được với trời đất, không phải nhờ vào sự đầy ắp tri thức của khoa học tự nhiên và kỹ thuật tân kì. Những cái đó tất nhiên cần thiết. Cần nhưng chưa đủ. Muốn đủ phải bằng tâm linh. Mấy ai có cái diễm phúc có được một “giấc hoa” như cô gái trong bài tản văn cùng tên. Người con trai đã về kịp. Cái khoảnh khắc ấy ngời lên một điều may mắn hiếm có trong một đời người: “Giật mình thảng thốt như bước qua một khoảng nắng mơ hồ. Rẽ giậu tầm xuân anh chạy sang nhà bên. Mọi người vây quanh giường em rất đông, khi thấy anh họ đều lặng lẽ ra về. Em xanh xao như một nụ tầm xuân héo úa, mắt nhắm nghiền ứa lệ. Anh nâng bàn tay em nhè nhẹ áp vào má mình. Xót xa và thương cảm khiến giọt nước mắt nóng hổi cũng ập òa. Em rùng mình như mầm cây ngủ đông chợt gặp nắng. Má thoáng phớt hồng…” (Giấc hoa).
Người biết xây đắp cái cầu thông linh giữa con người và tự nhiên, tôi suy ra, phải là người biết lắng nghe, biết thổn thức, biết chia sẻ không chỉ niềm vui mà cả nỗi buồn; không chỉ trong từng khoảnh khắc mà cả trong cái vĩnh hằng của sự vận hành vũ trụ. Văn xuôi Lê Hà Ngân chớm vào cái địa hạt của cảm xúc vũ trụ theo nguyên tắc của cái Đẹp – giản dị, cân đối, hài hòa. Một thứ văn xuôi thanh sạch, có tác dụng di dưỡng tâm hồn và đem lại cho độc giả một nhã thú văn chương tươi mới.
Đọc Giấc hoa thấy tiếng Việt – vẫn được gọi trìu mến, thân thương là tiếng mẹ đẻ – được nâng niu, săn sóc. Lấy làm mừng vô hạn! Là bởi vì trên văn đàn cũng như trong đời sống, tiếng Việt đang bị “tàn sát” không thương tiếc. Nhưng để bảo vệ tiếng mẹ đẻ lại cần, không chỉ tri thức, mà còn cần hơn đến tấm lòng. Mẹ ta nghèo nhưng thanh sạch. Mẹ ta có thể còn ít chữ nhưng ứng xử có văn hóa. Mẹ ta giản dị như chính đời sống, mẹ ta sẵn sàng vắt kiệt mình để mỗi đứa con khôn lớn. Cũng không còn nhớ chính xác ai đã nói về tiếng Việt như một “lợi khí” trong tay nhà văn có tài. Người ta vẫn thường nói “thơ ca”, hàm ý bài thơ này có thể “ca” (hát) lên được. Không hiểu có đúng như thế? Tôi nghĩ, đúng vì tiếng Việt giàu nhạc tính.
Đọc văn tản văn và tùy bút của Lê Hà Ngân, thấy trội lên cái nhịp điệu (rythme) của văn xuôi hiện đại. Tôi nghĩ, chính cái “điệu tâm hồn” sẽ quy định cái “nhịp” của văn chương. Một câu văn như một ô của sổ nhỏ để nhìn vào nội tâm nhà văn: “Ven thị tứ những ngày áp Tết xôn xao lời mời chào” (Hơi ấm mùa xuân). Có cái gì đó sôi động nhưng không ầm ỹ, vẫn trong trật tự của tập quán, của thuần phong mỹ tục. Viết được những câu văn như thế, không phải dễ khi người người đang đua với tân kỳ, lai căng, cố chế tác ra một thứ tiếng Việt mất gốc. Đọc nhẩn nha tản văn và tùy bút của Lê Hà Ngân, đôi khi chợt thấy thích thú vì câu chữ lúc nào cũng sáng rõ, trong trẻo, gây ấn tượng về màu, mùi, đường nét: “Chiều dịu dàng trên từng góc phố, cây bàng cuối đường đã thay áo đỏ. Đông vừa sang với khăn san lả lướt và nước hoa mộc” (Dấu khói vườn xưa). Riêng tôi cảm nhận văn của Lê Hà Ngân được “ủ men” rất kỹ lưỡng và được nuôi dưỡng dài lâu trong tâm khảm, rồi một lúc nào đó như là bất chợt trào ra một cách tự nhiên, hồn nhiên.
Người ta đang hô hào giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhưng lại ít ai quan tâm đến ngôn ngữ văn chương như là một chuẩn mực đầu tiên và cuối cùng. Đầu thế kỷ, có một nhà trí thức lớn đã nói về Truyện Kiều từ góc độ tiếng mẹ đẻ: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn; tiếng ta còn nước ta còn”. Đôi khi ai đó đọc văn xuôi, cứ thích biết chuyện và việc. Cũng chẳng sai. Nhưng nhiều hơn, tôi nghĩ, cái nhã thú văn chương còn để lại dư âm, dư vị lại là cái đẹp của chữ. Không phải là chữ của thánh hiền. Mà là chữ của một người yêu tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt. Những ai vô tình với tiếng Việt có khác nào một người vô tình với vẻ đẹp của thiên nhiên trong câu ca dao: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”.
Chú thích:
“Giấc hoa”, tập tản văn – tùy bút của Lê Hà Ngân, Nxb Hội Nhà văn, 2015.
15/7/2022
Bùi Việt Thắng
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...