Trần Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân
Nguyễn Công Lý
Trần Nhân Tông (1258-1308), là một vị vua
anh minh, một vị anh hùng dân tộc, một nhà tư tưởng, một vị tổ, một Đức Phật
sống, một nhà văn hóa, một nhà văn lớn đời Trần.
Trong lĩnh vực thơ văn,
ông có nhiều bài thơ đạt đến trình độ kiệt tác, mà Thiên Trường vãn vọng (Buổi
chiều ở Thiên Trường nhìn ra xa); Nguyệt (Trăng) là những ví dụ tiêu biểu. Bài
thơ Thiên Trường vãn vọng với bút pháp vừa thực vừa hư, vừa tĩnh vừa động đã
giúp cho người đọc vừa hiểu được cái cụ thể, lại vừa cảm nhận sâu xa hơn cái cụ
thể. Trong khung cảnh trời chiều nơi hành cung Thiên Trường, nhà vua - thiền sư
nhìn ra xa thấy cảnh quê hương với đồng ruộng, xóm thôn yên ả thanh bình. Trên
con đường làng, chú mục đồng ngồi vắt vẻo trên lưng trâu đang thổi sáo dẫn trâu
về chuồng; dưới cánh đồng, có đôi cò trắng bay song song đáp xuống. Tác giả tự
hỏi những thôn xóm trong màn sương mờ ảo kia là có hay không? Cuối cùng là cái
không lời tan biến vào cõi hư không tịch mịch trong buổi chiều tàn. Bài thơ đạt
đến mức “thi trung hữu họa” được viết dưới ánh sáng của Mỹ học Thiền tông, bởi
trạng thái chập chờn giữa hư và thực; giữa tĩnh với động; giữa hữu và vô. Còn
bài thơ Nguyệt như thi đề cho biết sẽ tả cảnh trăng, nhưng ba câu đầu không nói
về trăng, mà là cảnh đêm tịch tĩnh. Chỉ có giọt sương rơi khẽ khàng trước sân
cùng âm thanh của tiếng chày đập vải vang lên từ nơi nào, như là tiếng đồng
vọng, âm hưởng trong đêm. Đây là cảnh thực. Đến câu cuối cảnh trăng mới xuất
hiện, vừa thực lại vừa hư, tạo nên vẻ đẹp bừng sáng lung linh bởi ánh trăng hội
tụ trên chùm hoa mộc tê vừa hé nở: Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ (Trên chùm
hoa mộc nguyệt lồng gương). Nhưng rất tiếc, đây không phải là những thi phẩm
viết về mùa xuân. Mười lăm bài thơ trang nhã, diễm lệ trực tiếp tả cảnh mùa
xuân bộc lộ tình xuân như: Xuân nhật yết Chiêu Lăng; Xuân hiểu; Xuân cảnh; Xuân
vãn; Mai; Tảo mai; Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính; Nhị nguyệt thập nhất dạ;
hoặc gián tiếp vì có nhắc đến ý xuân, cảnh xuân, cảm xuân dù chỉ là bất chợt
thoáng qua như: Khuê oán; Đăng Bảo Đài sơn; Động Thiên hồ thượng; Thiên Trường
phủ; Sơn phòng mạn hứng; Đề Cổ Châu hương thôn tự; Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân,
Tiêu Phương Nhai. (Để không phải chú thích dưới các trích dẫn, tất cả những thi
phẩm nguyên tác và bản dịch được trích trong bài viết này, chúng tôi rút từ Thơ
văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng, do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 1989 từ trang 451 đến trang 472).
Trước hết, xin điểm qua
những ý xuân, cảm xuân bất chợt trong thơ Trần Nhân Tông. Bài Khuê oán (Niềm
oán hận của khuê phụ) là lời tâm sự của thiếu phụ trong phòng khuê nuối tiếc
bâng quơ về thời gian sau khi thức giấc:
Thụy khởi câu liêm khán
trụỵ hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán
Đông phong.
Vô đoan lạc nhất tây lâu
ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tận
hướng Đông.
(Tỉnh giấc, rèm nâng,
ngó rụng hồng,
Hoàng oanh im tiếng giận
Đông phong.
Lầu Tây vô cớ, vầng
dương lặn,
Cả bóng hoa cành ngả
hướng Đông).
Sau một giấc dài, thiếu
phụ thức dậy, cuốn rèm mở cửa ngắm nhìn những cánh hồng rụng rơi; trong khi
chim hoàng oanh im bặt tiếng vì oán hận mùa xuân đã qua, gió xuân không tới
nữa. Chim hoàng oanh là biểu tượng của mùa xuân; Đông phong là gió thổi từ
phương Đông, theo Dịch học thì trong Ngũ hành, phương Đông thuộc Mộc, mà Mộc
chỉ mùa xuân, nên Đông phong là gió xuân. Không có tiếng chim, chẳng có gió
xuân, có lẽ lúc này tiết trời đã cuối xuân hoặc mới sang hè. Tuổi trẻ bao giờ
cũng gắn với mùa xuân, nên nàng mới nuối tiếc thời gian chóng qua, đời người
chóng già. Một cảm thức đầy tính triết lý của tác giả về thời gian, nêu lên quy
luật khắc nghiệt của tuần hoàn, qua mấy vần thơ hàm súc, ý tại ngôn ngoại.
Không hiểu sao trong
nhiều bài thơ, Trần Nhân Tông hay nhắc đến gió xuân (Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân,
Tiêu Phương Nhai; Khuê oán; Mai; Tảo mai) hoặc cảnh xuân muộn, xuân tàn (Xuân
vãn; Sơn phòng mạn hứng; Nhị nguyệt thập nhất dạ…), có lẽ là bắt nguồn từ cảm
thức về thời gian như trên. Nhìn cảnh hoa rụng, mưa tạnh, thấy núi non tịch
mịch, lại nghe một tiếng chim kêu nơi biên cương, nhà thơ - thiền sư mới biết
mùa xuân đã qua: Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch; Nhất thanh đề điểu, hựu xuân
tàn - Sơn phòng mạn hứng, bài 2 (Hoa tàn, mưa tạnh, non im lắng; Xuân cỗi
còn dư một tiếng chim). Cảnh xuân tàn ở đây có thể là hình ảnh biểu trưng cho
tuổi già, cho con người đã sang bên kia dốc của cuộc đời? Có lần, tác giả lên
chơi núi Bảo Đài, thấy cảnh núi mây như xa như gần; ngõ hoa nửa rợp nửa nắng,
nhà thơ cảm thức về thời gian cứ tuần hoàn trôi nên không cất lời mà chỉ tựa
lan can thổi sáo dưới ánh trăng sáng chan hòa trước ngực (Đăng Bảo Đài sơn).
Cuối cùng là cái vô ngôn. Bài thơ mang cảm thức Thiền, và có lẽ lúc này nhà vua
- thiền sư đang tu trên Yên Tử, bởi Bảo Đài là một ngọn núi thuộc dãy Yên Tử ở
Đông Triều, Quảng Ninh.
Tiếp theo là những vần
thơ trực tiếp tả cảnh mùa xuân bộc lộ tình xuân. Ngày xuân, nhà vua về quê
hương Thiên Trường viếng lăng mộ ông nội là Trần Thái Tông, lại nghĩ đến một
thời hào hùng oanh liệt với chiến tích chống Nguyên Mông lần thứ nhất của dân
tộc, làm nên hào khí Đông A bất diệt (1258), vì thế mà người lính già đầu bạc
tham gia kháng chiến ngày nào giờ đang coi giữ lăng mộ vẫn mãi mãi kể chuyện về
đời Nguyên Phong với niềm tự hào lớn (Nguyên Phong là niên hiệu lần thứ ba (từ
1251 đến 1258) của Trần Thái Tông (lên ngôi 1225 - nhường ngôi 1258) khi còn
trị vì): Bạch đầu quân sĩ tại; Vãng vãng thuyết Nguyên Phong. (Lính bạc đầu còn
đó; Chuyện Nguyên Phong kể hoài - Bài Xuân nhật yết Chiêu Lăng). Hay như ngày
cuối xuân trong tiết hàn thực mùng ba tháng ba, sau khi thưởng thức các điệu
múa cùng với sứ giả phương Bắc, nhà vua tặng bánh trôi, bánh chay, bánh rau cho
sứ giả và bảo rằng đây là phong tục riêng của nước Nam. Lời thơ nói ít mà ý
nhiều, thể hiện bản lĩnh vị hoàng đế nước Nam cùng bộc lộ niềm tự hào về văn
hóa, văn hiến phương Nam trước sứ thần phương Bắc (Quỹ Trương Hiển Khanh xuân
bính - Tặng bánh ngày xuân cho Trương Hiển Khanh). Hai bài thơ Mai và Tảo mai
ngợi ca vẻ đẹp thanh cao, cốt cách chịu đựng sương tuyết của loài hoa đứng đầu
trăm hoa, để trước gió xuân khoe sắc vàng rực rỡ, sắc trắng tinh khôi và tỏa
hương làm cho lòng người ngây ngất. Có khi tả hoa mai nở sớm trong buổi đông
tàn, để khi xuân sang chỉ còn loáng thoáng vài cánh thơm nhẹ mà nhà thơ lại
nghĩ đến chị Hằng. Ý thơ thật lạ, giàu liên tưởng và sáng tạo: Hằng (Thường)
Nga nhược thức hoa giai xứ; Quế lãnh, Thiềm hàn chỉ má hưu. (Hằng Nga như biết
đây hoa đẹp; Quế lạnh, cung Thiềm há muốn ưa? - Tảo mai, bài 2). Vì thế mà Hồ
Nguyên Trừng trong tác phẩm Nam ông mộng lục viết vào đầu thế kỷ XV, tại câu
chuyện thứ 19 có nhan đề Thi ý thanh tân đã hạ bút khen rằng: “Kỳ thanh tân
hùng kiện quýnh xuất nhân biểu. Thiên thặng chi quân thú hứng như thử, thùy vị
nhân cùng thi nãi công hồ?” (Cái thanh tân hùng tráng vượt quá người thường.
Thi hứng của vị vua một nước có nghìn cỗ xe như vậy, ai dám bảo người ta khi
khốn cùng thì mới có thơ hay?).
Tôi xin giới thiệu ở đây
ba bài thơ đặc sắc về mùa xuân: Xuân hiểu; Xuân cảnh và Xuân vãn.
Xuân hiểu là một bài thơ
ngũ ngôn tứ tuyệt xinh xắn, trong trẻo, hồn nhiên, thuần túy tả cảnh buổi sớm
mùa xuân thật thơ mộng. Bài thơ có lẽ được viết khi Trần Nhân Tông còn trẻ, rất
trẻ, đang yêu đời, lòng tràn trề lạc quan nên ý tứ trong bài dạt dào sức xuân,
đầy tình yêu cuộc sống thông qua hình ảnh đôi bướm trắng tung tăng bay tới cành
hoa mơn mởn tỏa nhụy thơm hương:
Xuân hiểu
(Buổi sớm mùa
xuân)
Thụy khởi khải song
phi,
Bất tri xuân dĩ
quy.
Nhất song bạch hồ
điệp,
Phách phách sấn hoa phi.
(Ngủ dậy, ngỏ song mây,
Xuân về, vẫn chửa hay.
Song song đôi bướm
trắng,
Còn bài Xuân cảnh có lẽ
được viết khi Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho con là Trần Thuyên - Trần Anh
Tông (1293 - 1314) để lên núi Yên Tử tu Thiền và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tả cảnh mùa xuân nơi am thanh chiều vắng, có
hoa dương liễu trổ dày, có tiếng chim kêu nhẩn nha chậm rãi; trên bầu trời thì
có áng mây chiều đang lướt bay nhẹ nhàng. Trong cảnh tịch tĩnh yên ắng ấy, có
vị khách đến thăm, chẳng hỏi chuyện nhân gian, thế sự, cũng không tham vấn về
Thiền mà chỉ đứng tựa lan can bên thềm hoa cùng với Thiền sư nhìn ngắm màu xanh
nhạt nhòa mờ mịt ở nơi chân trời xa. Cảnh hiện thực trong buổi tà dương đến đây
đã biến thành tâm cảnh. Chủ và khách cùng im lặng. Cảnh vật và lòng người như
hòa làm một. Chủ cũng thế mà khách cũng thế. Cái vô ngôn ở cuối bài thơ như thể
hiện ý vị Thiền đạo, đạt đến chỗ giải thoát:
Xuân cảnh
(Cảnh mùa xuân)
Dương liễu hoa thâm điểu
ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh, mộ
vân phi.
Khách lai bất vấn nhân
gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thuý
vi.
(Chim nhẩn nha kêu, liễu
trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp, bóng
mây bay.
Khách vào chẳng hỏi
chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can ngắm
núi mây).
Và bài thơ Xuân vãn có
lẽ cũng được viết khi Trần Nhân Tông đã là vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Lúc
này tuổi đã cao, công phu Thiền định đạt chỗ liễu ngộ giải thoát, rõ lẽ “sắc”
và “không” của kinh văn Bát nhã nên thiền sư nhìn cuộc đời như như tự tại, thản
nhiên. Thiền sư có dịp hồi tưởng một thời tuổi trẻ của mình, lúc ấy mỗi khi
xuân về thì lòng rộn ràng gởi ở trăm hoa. Còn bây giờ đã hiểu được, ngộ ra, tức
khám phá được bộ mặt của chúa xuân (Đông hoàng diện), tức cũng có thể là thấy
rõ chân như, tự tính, bản tâm thanh tịnh, bản lai diện mục nên dù đang ngồi
Thiền, ngắm cảnh hoa rụng mà lòng vẫn nhất như, không xao động. Cái tâm thanh
tịnh tuyệt đối. Tâm và Pháp đến đây nhất như, hòa làm một, không phân biệt nội
giới với ngoại cảnh. Bài thơ thể hiện tư tưởng Thiền học uyên áo, uyên nguyên,
uẩn súc, chỉ có thể cảm nhận bằng trực cảm tâm linh chứ không thể luận bình:
Xuân vãn
(Xuân muộn)
Niên thiếu hà tằng liễu
sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách
hoa trung.
Như kim khám phá Đông
hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán
trụỵ hồng.
(Tuổi trẻ chưa tường lẽ
sắc không,
Xuân sang, hoa nở, rộn
tơ lòng.
Chúa xuân nay đã thành
quen mặt,
Nệm cỏ ngồi Thiền ngó
rụng hồng).
Thơ là tiếng lòng, là
tiếng nói cảm xúc của thi nhân trước hiện thực. Phan Phu Tiên trong lời tựa
Việt âm thi tập (1433) có viết: “Tâm hữu sở chi, tất hình ư ngôn. Cố thi dĩ
ngôn chí dã”. (Trong lòng có điều gì, tất thể hiện ra lời nói. Cho nên, thơ là
để nói cái chí vậy). Chí ở đây cũng là tâm, là cảm xúc, là tấm lòng. Cảm hứng
mùa xuân trong thơ của nhà vua - thi nhân - thiền sư - vị Phật hoàng Trần Nhân
Tông là như thế. Do khuôn khổ của một bài báo, tôi không thể viết dài và có thể
chưa nói được, nói hết cái hay, cái sâu sắc trong thơ mùa xuân của vị thi nhân
- thiền sư này. Nhưng thiết nghĩ, đây cũng là cách góp vui cho quý vị lúc nhàn
rỗi trong buổi xuân về tết đến.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét