Bầu trời cảnh Bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kià non non, nưóc nước mây mây
"Đệ nhất động" hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim
cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải
giật mình trong giấc mộng!
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng.
Mỗi lần tôi trở về quê đi tới đâu tôi
luôn luôn có ý niệm tìm hiểu các di tích lịch sử để chiêm ngưỡng, học hỏi hầu mở
rộng tầm mắt nhìn về những danh lam thắng cảnh, nơi quê hương ngàn năm văn vật
mà bao đời của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và chính bản thân mình đã sinh ra, trưởng
thành trong thời thanh bình cũng như lúc chinh chiến, nơi quê nhà.
Tôi sẽ lần lượt cống hiến quý độc giả bốn phương các nơi tôi
đã đến với cảm nghĩ của mình, riêng bài này tôi mời quý vị cùng tôi đến thăm
Chùa Hương Tích "Đệ nhất danh lam thắng cảnh của Việt Nam" Trong tác
phẩm "Trở Về Cội Nguồn". Tôi xuất bản vào đầu thiên niên kỷ mới năm
2000, và nhà sách Văn Nghệ Tổng Phát Hành, hiện có bán tại các tiệm sách, tôi
có nói về: "Những kỷ niệm khó quên với cảm nghĩ của lúc thiếu thời về Trẩy
hội Chùa Hương, nhưng bài này tôi viết Chùa Hương với cảm nghĩ của tuổi đời
trên thất thập cổ lai hy". Đặc biệt, tôi đã dầy công sưu khảo, tìm hiểu với
nhiều tư liệu giá trị để phong phú hoá bài ký sự này hầu lưu truyền lại cho các
thế hệ mai sau biết về một thắng tích tuyệt vời mà mỗi năm có cả hàng triệu người
từ bốn phương trên khắp thế giới đổ về chiêm bái, tham quan và lễ Phật
trong suốt 3 tháng, giêng, hai, ba đó là mùa "Trẩy hội Chùa Hương".
- ĐỊA THẾ HƯƠNG SƠN:
Dẫy núi Hương Sơn ở bên sườn đông của dẫy núi đá vôi chạy từ
Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La, Mộc Châu xuống đến Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình,
Thanh Hóa, hang động bao bọc Hương Sơn ở phía tây Nam sông Đáy (một phụ lưu cấp
1 của sông Hồng) chạy theo hướng Bắc - Đông. Giữa sông núi (sơn thủy) là cả một
hệ khe, nối suối ngầm (Suối Tuyết, Suối Yến) dẫn nước qua lại cung cấp cho
Thung Dâu, Thung Mơ… phơi trải nước của các hang động. Những khe núi này là nguồn
cung cấp nước cho sông Đáy thuộc miền Bắc Việt Nam.
Bên trong dãy núi nuớc chảy xói mòn khoét thành nhiều hang động,
có một ngọn núi nối liền là thắng cảnh lâu đời - Động núi Hương Tích - Theo
tương truyền rằng: Đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát trước ngày tu hành rồi thành
Phật tại đây. (Xin xem bài sự tích Quan Thế Âm).
Động Hương Tích còn gọi là Động Hương Sơn, ở vào địa phận Huyện
Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây tiếp giáp với tỉnh Hà Nam, miền Bắc Việt Nam. Người ta thường
nói:
"Đường vào Hương Tích lượn quanh,
Nước non gấm dệt, mầu xanh phủ màn.
Người niệm Phật khách tham quan.
Suối thanh tịnh, rửa nhẹ nhàng trần duyên"
"Đường vào Hương Tích lượn quanh,
Nước non gấm dệt, mầu xanh phủ màn.
Người niệm Phật khách tham quan.
Suối thanh tịnh, rửa nhẹ nhàng trần duyên"
Trước khi vào vãng cảnh Chùa Hương, mọi
du khách đều phải đến bến Đục và từ đây mọi người mới xuống đò (ba lá), hàng
trăm chiếc (ghe) thuyền nho nhỏ bằng thiếc vỏ dầy 2 ly, hoặc bằng gỗ, mỗi chiếc
chở chỉ được 5 hoặc 7 người, quang cảnh bến đò lúc này thật là nhộn nhịp, từng
đoàn, lại từng đoàn người đi xuống các thuyền này, mỗi thuyền (ghe) có một cô
lái đò chèo thuyền ra đi dọc theo suối Yến. (có người gọi là suối Mơ). Trong cảnh
đẹp Hương Sơn, những dòng suối có một vai trò hết sức quan trọng nó lôi cuốn du
khách một cách vô cùng hấp dẫn. Chính vì thế mà từ thời xa xưa chúa Trịnh
Sâm đã khắc trên tấm bia đá bốn chữ "Sơn Thủy Hữu Tình".
Sau đây tôi xin mô tả những cảnh đẹp của dòng suối Yến: Suối
Yến có những nét đặc thù riêng ở một địa danh vô cùng hấp dẫn nó không đẹp ở sự
mênh mông, mà đẹp ở sự buông thả hiền hòa giữa hai triền núi, đường suối không
xa lắm nhưng trông như không có chỗ tận cùng, quanh co lượn qua lượn lại chạy
theo các dẫy núi hai bên bờ suối còn có những ruộng lúa nước bao la, ban ngày,
ban đêm lúc nào cũng đẹp như mơ, cho nên còn có tên là Suối Mơ, những chiếc
thuyền thoi của các cô gái làng Yến, vừa xinh đẹp vừa khoẻ mạnh ngày thường chở
lúa, chở gạch, chở củi, chở cá… đến mùa Xuân lại chở khách thập phượng đến vãng
cảnh chùa.
Trong cái trạng thái vui say ấy, các du khách thường gặp nhau
trong những ánh mắt lời thơ với những tiếng cười dòn như pháo trên các con thuyền
du Xuân dọc theo Suối Yến, Ta đồng hành với những vạt lúa xanh viền hai mép suối,
trên dòng nước xanh trong veo, những đám rong mềm mại lay động dưới lòng suối,
với những con le, con cốc thỉnh thoảng bay vù từ mặt
nước…
Bây giờ tôi cùng quí độc giả ta hãy nhìn lên trên hai dãy
núi, phía bên trái, kìa núi Đụn, cao cao và nây tròn như một hột thóc.
Núi Đụn còn là đuôi của một con rồng, dãy núi Hàm Rồng, gần núi
Đụn là núi Soi, giống như con Kỳ Lân, còn gọi là núi Lân, gần núi Soi là núi
Ái, là núi Phượng đang rộng cánh. Chỗ đầu và mỏ Phượng là động - chùa Thanh
Sơn, hai cánh nó là hai chỏm núi, quá chút nữa là đến núi Đổi Chèo. Ghe (đò)
ra, ghe vào đến quãng này nhất thiết các cô gái phải đổi tay chèo cho nhau, đỡ
mỏi. Núi đổi chèo giống như một con trăn lớn đang bò trên mặt nước. Gần
núi Đổi Chèo là núi Bưng. Gần núi Bưng là núi Voi. Núi Voi còn có một câu chuyện
kể rằng:
Hương Sơn có một trăm ngọn núi thì 99 ngọn nghiêng đầu về
phía động Hương Tích để tỏ lòng ngưỡng mộ. Đúng như câu thơ: "Núi xô về cửa
động." Chỉ riêng một tên Voi bướng bỉnh, vô lễ quay đầu ra, quay mông vào.
Ông Hộ Pháp giận quá lấy gươm phạt một mảng mông của tên voi. Bây giờ tên Voi vẫn
mất một mảng mông.
LỊCH SỬ CHÙA HƯƠNG:
Tôi mời quý độc giả hãy cùng tôi tìm hiểu sơ qua về lịch sử của
Hương Sơn, để có một khái niệm tổng quát về địa danh, thắng cảnh tuyệt đẹp mà
nay đã được gắn liền với 5 chữ "Nam Thiên Đệ Nhất Động". Non sông đất
nước Việt Nam có biết bao nhiêu danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tạo thành và
cũng không ít những thắng cảnh do nhân tạo. Tuy nhiên, Chúa Trịnh Sâm là người
đã nổi tiếng hay chữ và sành sỏi các thú du ngoạn xưa kia đã không
phẩm bình Hương Sơn là một chốn "Sơn thuỷ hữu tình" (chữ đề bên suối
Yến). Hay "Kỳ sơn tú thủy" (chữ đề bên suối Tuyết) mà còn phong cho
Hương Sơn là "Nam Thiên Đệ Nhất Động". Hàm "đệ nhất" mà
Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm dành cho Hương Tích vừa là sự so sánh, vừa là một sự khẳng
định một chốn cảnh đẹp tuyệt vời mà không đâu sánh nổi trên đất nước ta.
Đã trải qua hàng chục thế kỷ trước đây cho đến ngày nay, các
nhà khảo cổ vẫn chưa tìm hiểu nhiều về vùng đất Hương Sơn, nhưng những cảnh
quan sinh thái và di tích đã phát hiện trên đất Hà Tây được biết, trên đất
Hương Sơn xưa kia đã sớm có dấu tích của con người. Nhưng nhận biết ra Hương
Sơn như một cảnh quan thẩm mỹ và tâm linh, người ta nói nhiều đến truyền thuyết
về một bộ tướng của Vua Hùng đời thứ 16 (Hiển Quan) đến xây Hương Tích, Bếp Trời
(thiên Trù). Hay truyền thuyết bên bờ Suối Yến về một chàng trai tên Hùng Lang
cùng thời với Ông Gióng cũng tham gia đánh giặc Ân, có công diệt được tướng giặc
Thạch Linh, khi chết được phong làm phúc thần làng Yến Vĩ.
Nhưng cứ theo sách "Hương Sơn
Ký" của Nguyễn Uông người làng Thanh Oai (Hà Tây) làm đốc học Nam Định thì
đến (Khoảng đời Hồng Đức (1470-1496) con đường vào Hương Sơn mới được mở…Nhờ
đó mà phong cảnh kỳ thú của núi rừng mới lộ ra, rồi trở thành một kỳ quan lớn
trong vũ trụ. Chính sức hấp dẫn của cảnh quan thiên nhiên Hương Sơn đã bồi đắp
cho danh thắng này một giá trị lịch sử và đã trở thành nơi hội tụ của những
danh nhân lịch sử về văn hoá dân tộc của những bậc đế vương còn lưu lại nơi các
bia đá với những nét chữ để đời và những bài thơ Nôm hay Hán của Tĩnh Đô Vương
Trịnh Sâm vào năm Canh Dần (1770) người ta đã biết đến dấu tích của các bà
Chúa, vợ của Trịnh Căn đã góp công, của để xây dựng các Chùa.
Các tao nhân mặc khách đến với Hương Sơn thường có những bài
thơ còn để lưu truyền lại cho các thế hệ kế tục am hiểu được những cảnh quan
tuyệt vời của Hương Sơn như: Chu Mạnh Trinh, Ngô Thi Sĩ, Nguyễn Thượng Hiền,
Nguyễn Cao, Cao Bá Quát, Bùi Di, Bùi Kỷ… rồi đến thế hệ Tản Đà, Xuân Diệu, Chế
Lan Viên... Không kể đến những huyền tích về thời các Vua Hùng mà những chiếc
trống đồng còn lưu lại nơi đây, trong đó có chiếc trống đồng tìm được ở Thượng
Lâm (Mỹ Đức năm 1934) mang truyền thuyết là món quà của Đinh Tiên Hoàng tăïng
cho dân làng cùng với dấu tích của con đường mang tên Vua Đinh.
Cả một vùng thiên nhiên hùng vĩ và
tuyệt đẹp của Hương Sơn kể từ khi được vua Lê Thánh Tông, vị vua sáng chói của
Triều Lê phát hiện, đến nay đã trải qua đúng nửa thiên niên kỷ. Thời gian ấy,
bên cạnh những huyền thoại, những truyền thuyết trải qua của một thời lịch sử
xa xưa, cũng đã đủ để tạo dựng lên một bề dầy truyền thống với những giá trị lịch
sử. Không những giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, đó là món quà của đất Mẹ trao
cho hiện hữu, mà còn cả những di sản tinh thần đã được hun đúc từ khí thiêng
sông núi, khí phách của các bậc tiền bối để lại cho cảnh quan Hương Sơn có cả bề
rộng của không gian và bề dầy của lịch sử.
Đến chùa Hương tất cả các du khách từ bốn phương đổ về gặp
nhau trong một trái tim. Cảnh sơn núi hữu tình, nên thơ. Trai gái trẻ già dập
dìu dắt nhau lên chùa lễ Phật thật là "Bầu Trời Cảnh Bụt" bao la với
những đoàn thiện nam, tín nữ từ khắp nơi đổ về hành hương chiêm bái, như thơ Tản
Đà đã diễn tả:
Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, Xuân đi bao dấu vết
Ai về, ai nhớ vẫn thơm tho.
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, Xuân đi bao dấu vết
Ai về, ai nhớ vẫn thơm tho.
Phong cảnh chùa Hương thật hữu tình, thơ mộng nhớ đến Bến Đục,
Suối Yến, với giòng nước chảy nhẹ nhàng trên sông, in bóng những dãy núi
chập chờn tô điểm cảnh thiên nhiên.
Theo tôi, những người Việt Nam cần phải tìm hiểu về các danh
lam thắng cảnh ở quê nhà để mở rộng kiến thức và tầm hiểu biết về quê hương của
mình, nhất là "Nam Thiên Đệ Nhất Động". Đời người ít nhất cũng phải
du xuân chùa Hương một lần để chiêm ngưỡng phong cảnh tuyệt đẹp của Hương Sơn
mà Chu Mạnh Trinh đã diễn tả với những giòng thơ như:
Kìa non non, nước nước mây mây
"Đệ nhất động" hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình(1)
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng!
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng
Này am Phật Tích, này động Tuyết Kinh
Nhác trông lên ai khéo vẽ hình.
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây
Chừng giang sơn còn đợi ai đây
Hay tạo hoá khéo ra tay xếp đặt
Lần hạt tràng niệm: Nam mô Phật
Cửa từ bi công đức biết là bao
Càng trông phong cảnh càng yêu.
(1) Chày kình: Cái chày đánh chuông, làm theo hình con cá kình.
"Đệ nhất động" hỏi là đây có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình(1)
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng!
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng
Này am Phật Tích, này động Tuyết Kinh
Nhác trông lên ai khéo vẽ hình.
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây
Chừng giang sơn còn đợi ai đây
Hay tạo hoá khéo ra tay xếp đặt
Lần hạt tràng niệm: Nam mô Phật
Cửa từ bi công đức biết là bao
Càng trông phong cảnh càng yêu.
(1) Chày kình: Cái chày đánh chuông, làm theo hình con cá kình.
Hay là chơi động Hương Tích của Trịnh Sâm đã diễn tả như sau:
Trời vừa hé sáng, bước lên thuyềnKhoan mái chèo lan, ghé bến tiên
Phong nguyệt thờ ơ bầu ngọc đúc
Giang Sơn bỡ ngỡ, bức tranh in
Kìa kìa qui phượng ngong kinh bối (1)
Nọ lân lòng lắng gió thiền (2)
Cảnh lạ thú màu khôn xiết kể
Thanh kỳ đệ nhất chốn Nam thiên.
(Tâm thanh tồn duy thi tập)
(1)Kinh bối: Kinh Phật viết trên lá bối
(2)Thiền: Nhà chùa, giáo thiền tức là giáo lý của nhà chùa.
(2)Thiền: Nhà chùa, giáo thiền tức là giáo lý của nhà chùa.
Sau đây tôi xin mời quí độc giả hãy cùng tôi đi tìm hiểu một
số di tích, lịch sử và những đặc tính tiêu biểu của Phật Giáo tại Hương Sơn để
cùng nhau suy ngẫm về cảnh tích tuyệt vời, có một không hai của quê nhà:
- Phật Giáo đã đến với Hương Sơn từ bao giờ?
Nơi đây đạo Phật được truyền vào ngay từ khi phát hiện ra
hang động Hương Sơn. Theo một số tài liệu chúng tôi khảo cứu thì vào đời Lê
Thánh Tông thế kỷ thứ XV, có 3 vị Hòa Thượng chống tích Trượng tới đây tu hành,
hàng ngày vào động Hương Tích lễ tụng, toạ thiền, tối lại ra khu vực Thiên Trù
ngủ nghỉ. Hồi đó, Thiên Trù là một thung lũng hoang vu, 3 vị Hòa Thượng lần lượt
dựng lên một thảo am để trú ngụ tránh mưa nắng, sau một thời gian 3 vị Hòa Thượng
viên tịch thì nơi đây gián đoạn trụ trì. Tên tuổi các ngài cũng không ai nhớ
rõ. Di tích của các ngài để lại đến nay chỉ còn lại là 2 ngôi mộ cổ bằng đá
xanh, được đục đẽo thô sơ trong vườn tháp Thiên Trù. Ngày khoa cúng cổ ở Hương
Sơn cũng chỉ gọi là "Kị Tổ Bồ Tát" và các ngài thuộc dòng phái nào
cho đến nay vẫn chưa ai biết rõ.
Đến năm 1687 - niên hiệu Chính Hoà mới có Hòa Thượng Trần Đạo
Viên Quang ở Ty Tăng Lục (thời Lê lập ra Ty Tăng Lục để coi sóc và quản lý các
vị tu hành) chống thiền trượng tới đây mới lập cảnh Phật ở Hương Sơn, tiếp theo
là các vị Hòa Thượng Viên Quang, trụ trì khoảng 20 năm, Đaị Sư Thông Lâm thuộc
giòng Thiền Lâm Tế, Hòa Thượng Thanh Quyết, HT Thanh Hữu… HT Thanh Quyết là một
vị danh tăng đương thời, học thức uyên bác, phẩm hạnh thanh cao. Các nho sĩ bấy
giờ đã tôn là "Tăng Trung Hào Kiệt".
Tiếp theo là các vị HT Thích Thanh Tích, Đại Sư Thanh Tích tu
tập Đại bi Chân Ngôn và trì tụng Đại bi Bát Nhã, hoàng truyền Phật Pháp đồng thời
đã đào tạo hàng trăm đệ tử danh tăng như các HT Tố Liên, Thanh Chân, Thanh Uẩn,
Thanh Khánh, Thanh Nga, Thanh Châu…
Lịch sử đất nước cũng có lúc thăng trầm, nhưng không thể bị
huỷ diệt, con người cũng có lúc lên lúc xuống, đường đời thật là chông gai,
nhưng rồi cũng vượt qua.
Phật Giáo cũng vậy, đã trải qua 2000 năm trên đất nước VN là
một chứng tích, đất nước thăng trầm thì Phật Giáo cũng nổi trôi theo sự tiến
hóa của một dân tộc. Do đó, văn hóa Phật Giáo đã gán liền với văn hóa dân tộc
Việt Nam vậy.
Khi các Thiền Sư chống tích trượng, dựng
thảo am ở Hương Sơn là xây dựng nơi qui ngưỡng các du khách thập phương vân tập
về chiêm bái ngôi Tam Bảo, tô bồi nơi danh lam của đất nước cho thế nhân du ngoạn.
Có như vậy là đã làm tròn trọng trách giữa Đạo Phật và Dân Tộc. Giáo lý Phật
Giáo đã tùy duyên bất biến ăn sâu vào lòng dân Việt từ thế hệ này đến thế
hệ khác. Nền văn hóa Phật Giáo ở Hương Sơn đã được bản địa hóa nhận thức của
con người đương thời. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvaha Boddhisattva) đã
thành Phật Bà Chùa Hương, hình ảnh một người mẹ với tình thương bao la trong
lòng người dân Việt.
Mỗi độ Xuân về thì lòng người lại thao thức rủ nhau đi
"Trẩy Hội Chùa Hương" các du khách khi đến đây mới thấy "Bầu trời
cảnh Bụt". Sau đây tôi xin mượn 4 câu thơ của Tản Đà để kết thúc bài Ký Sự
này:
Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, Xuân đi bao dấu vết
Ai về, ai nhớ vẫn thơm tho.
Một bức tranh tình trải mấy thu
Xuân lại, Xuân đi bao dấu vết
Ai về, ai nhớ vẫn thơm tho.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét