A/ Văn học dân gian Cơ Ho
1. Huyền thoại
“Trời với đất do Brah Yàng sắp xếp, chim với cá, anh và em do
ngài đặt tên. Yàng Nđu (Yàng Ndu) dựng nên trời đất. Nthưp Nthưr và Lưn Đưn
(Lưn Dưn) rèn trời: trời còn thấp, đất còn non, người ta dẫm bên này thì rung
bên kia, đạp bên kia lại lún bên này. Trời đất dính vào nhau như vợ chồng, Yàng
Nđu lấy cây tơnăng brài chống trời lên, phía trên trời không còn non nữa, phía
dưới đất mới hết mềm.
Rèn xong trời đất, Yàng Nđu còn rèn mặt trời để soi sáng ban
ngày, rèn thêm mặt trăng để thắp sáng ban đêm. Nhờ làm vậy mà con người mới biết
mỗi tháng, mỗi năm…Ngài còn rèn tiếp các vì sao trên trời làm cho bầu trời
thêm rực rỡ: có ngôi sao tên là sao Bing theo sát mặt trăng, một ngôi sao khác
tên là Tơrwing có hàng tháng để cho mọi người theo đó mà trồng tỉa, ba là ngôi
sao chổi lâu lâu mới có một lần, bốn là Rhai Lề làm cho bầu trời thêm đẹp…
Rèn xong các thứ trên trời, đất còn dư K’Chiêng nặn thêm chim
mía, đất còn thừa K’Chiêng nặn cọp, beo, rắn rết,…”
Các cư dân bản địa Lâm Đồng nói riêng, Tây Nguyên nói chung,
có tín ngưỡng đa thần. Họ thờ phụng Thần Núi (Yàng Bnơm), Thần Nước (Yàng Dà),
Thần Rừng (Yàng Bri), Thần Đất (Yàng Ù) mà chức năng, trú sở của thần không phải
bao giờ cũng phân định rạch ròi. Có những vị thần ngày nay cư dân ít hoặc không
thờ cúng, nhưng vai trò của thần linh trong tín ngưỡng và nghi lễ còn lưu giữ một
phần nơi kho tàng huyền thoại. Dưới Thần Nđu có Thần Mặt Trời (Yàng Tơngai), Mặt
Trăng (Yàng Kơnhai), Mặt Đất (Yàng Tiah), Bầu Trời (Yàng Trồ) và Sấm Sét (Yàng
Dong Rong, Yàng Tơrnaih). Vô số thần linh ngự trị trong thiên nhiên: các ngọn
núi, khu rừng, dòng suối, tảng đá, động vật như con cọp, các đồ vật trong buôn
hay trong nhà: cổng buôn, dụng cụ, ché rượu,... Ngoài các vị thần (Yàng) còn có
ma quỷ (cà) gây ra tai nạn, bệnh tật và chết chóc. Hai vị thần quan trọng nhất
là Thần Núi và Thần Nước. Thần Cây Cối giàu lòng từ thiện chịu trách nhiệm về
lúa, bông cải và các vật liệu xây dựng. Theo truyền thuyết của người Cơ Ho, núi
Lang Biang do một con heo rừng tạo nên:
“Khởi thuỷ có địa ngục (Brà Ting hay Brah Ting). Ở địa ngục,
K’Bùng tạo ra tất cả: đất, đá, động vật, con người. Thế rồi K’Bùng và những
nhân vật do K’Bùng tạo nên đi ra khỏi địa ngục để làm nên trời và đất. K’Bùng lấy
một cái búa nhỏ rèn thành trái đất, lấy một cái búa ngắn rèn thành trời. Trời đất
cưới nhau sinh ra con đàn cháu đống về sau. K’Bùng lấy từ địa ngục lên một trái
bầu đựng đất màu mỡ và bảy gùi lớn đựng đất khô khan, đất màu mỡ cho lúa, đất
khô khan chỉ là đất hoang sau này. K’Bùng không những tạo ra mặt trời, trăng,
sao mà còn làm lục lạc cho ngựa, làm chuông cho trâu... K’Bùng tạo ra con
kiến, con rắn, con chim sẻ trắng. K’Bùng cột sợi chỉ vào chân con chim rồi cho
bay đi khắp nơi để đánh dấu đất. Chim dừng lại trên một ngọn núi K’Bùng muốn tạo
ra. K’Bùng đánh dấu nơi này và tạo ra đỉnh núi Lang Biang. K’Bùng tạo ra con
heo rừng giúp mình đắp đất. Heo rừng dùng mõm ủi đất nhiều và khéo đến nỗi Lang
Biang trở thành một ngọn núi lớn. K’Bùng tạo nên người khổng lồ ép đất núi tạo
ra thác và rắn nước. K’Bùng mang từ địa ngục một gùi nhỏ đựng hạt chuối rừng, một
gùi có nắp đựng hạt tre, một gùi có quai đựng hạt cỏ tranh. Ông cũng mang cả hạt
của cây mây, cây dứa, các loài thực vật khác. K’Bùng tạo ra con nai. Trở lại mặt
đất, ông mang đất sét đỏ tạo ra những con chim sẻ, con ó từ đất đá, con cọp từ
bùn lầy, con heo từ lúa khô, con thỏ từ lúa lạnh. K’Bùng tạo ra tất cả, tạo cả
con người.
Ngày xưa, cây tre không có mắt và chân tay của con người chỉ
là một khối cứng đơ, không cử động được, không khom lưng được. Con của K’Bùng rất
mạnh đã điều chỉnh lại chân tay giúp con người đi lại được”.
Người Chil cũng có một truyền thuyết về công trình đắp núi
Lang Biang và nguồn gốc của các dân tộc ở Việt Nam:
“Thuở xưa, hai vị thần Nthưp Nthưr và Lưn Đưn đã rèn nên trái
đất và dùng phép mầu tạo ra mặt trời, mặt trăng cùng những ngôi sao soi sáng
trái đất cả ngày đêm, lấy đất nặn ra một người đàn ông và một người đàn bà, đặt
tên là Ha Nghê và K’Nghe để cai quản trái đất. Hai người này kết duyên với
nhau, sinh được một đôi trai gái, con trai đặt tên là Ha Đỏ, con gái tên là
K’Dong. Lớn lên hai người lấy nhau và sinh rất nhiều con cháu.
Ban đầu, tổ tiên loài người chưa biết làm nhà và sống trong
hang đá. Cây cỏ, đất cát, nước nôi chưa xuất hiện, họ sống bằng một thứ thuốc đặc
biệt và uống nước của con vẹt. Một hôm, nghe thấy có những tiếng động lạ dưới một
hòn đá, họ hè nhau lăn hòn đá sang một bên. Một con cua từ dưới hòn đá bò lên,
theo sau là một dòng nước trong suốt chảy ra. Sau đó có rất nhiều vật lạ như lươn
cá, tôm,... cùng theo dòng nước bơi ra. Dòng nước ấy chảy suốt ngày đêm, năm
này sang năm khác, không bao giờ ngừng. Nước chảy đến đâu xói mòn đá tạo nên đất
cát, đồng bằng và sông ngòi, hồ ao, biển cả. Từ ấy có mưa, cây cối mọc lên xanh
tốt và muôn loài khác tự nhiên sinh ra.
Loài người rất sung sướng, họp nhau ca hát, nhảy múa bên dòng
nước lạ. Về sau, họ biết trồng tỉa để có lương thực và biết nuôi súc vật để
cúng tế thần linh. Thời gian sau, loài người quá đông đúc, đất đai trồng tỉa
không còn đủ để nuôi sống tất cả, họ phải phân tán đi kiếm các vùng đất mới.
Trước khi chia tay đi bốn phương trời, họ họp bàn cùng nhau làm một cái gì thật
cao để con cháu dù đi xa đến đâu cũng trông thấy và có thể tìm đường về quê
hương cũ. Mọi người đồng ý bắt chước loài mối tha đất đắp ụ để đắp một quả núi
thật cao. Công trình đắp núi vô cùng vật vả, đất mềm càng lên cao càng bị lở, họ
phải làm giàn giữ đất và đặt ra tục lệ mỗi khi người con gái lấy chồng phải nộp
cho nhà trai một chiêng.
Chiêng này úp vào quả núi cho thêm vững chắc. Đắp núi xong, họ đặt tên là Lang Biang rồi phiêu bạt khắp bốn phương trời.
Chiêng này úp vào quả núi cho thêm vững chắc. Đắp núi xong, họ đặt tên là Lang Biang rồi phiêu bạt khắp bốn phương trời.
Địa danh Lang Biang trong tiếng Lạch đọc là Lơ Mbiêng ( người
Pháp ghi là Lang Biang hay Lang Bian), vốn là đất của dòng họ người Lạch cùng
tên. Trong một truyện cổ khác của người Cơ Ho còn cho biết về sự tích K’Lang và
Ha Biang, núi Voi và sông Đa Nhim:
“Ngày xưa, ở buôn Kon Đố (xã Đưng K’Nớ, huyện Lạc Dương) có một
đôi vợ chồng: người chồng tên là Ha Biang, người vợ tên là K’Lang. Một năm nọ,
toàn vùng bị hạn hán, Ha Biang lên đường đi kiện trời, nhưng khi đến núi
Găng-reo ở huyện Đức Trọng hiện nay thì bị chết đói. K’Lang lần theo vết cây
con do Ha Biang đã bẻ đi tìm chồng. Nhìn thấy xác chồng, K’Lang khóc lóc thảm
thiết, vang xa khắp “tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối” và bay đến tận trời.
Trời liền sai thần mưa trút nước xuống trần gian nhưng K’Lang vẫn tiếp tục khóc
cho đến chết. Tiếng khóc của K’Lang làm xúc động con voi đầu đàn. Nó đến che
mưa cho K’Lang và Ha Biang, đứng khóc và chết theo Ha Biang và K’Lang. Nước mưa
hoà cùng nước mắt của K’Lang và con voi chảy thành sông gọi là sông Đa Nhim
(dà: nước; nhim: khóc). Các già làng đặt tên cho ngọn núi ở Kon Đố là Lang
Biang và núi Găng-reo là núi Voi”.
Phổ biến ở trong các truyện cổ là hình ảnh bầu nước thiêng. Bầu
nước thiêng tự chảy hoặc bị người đi săn bắn thủng, nước ào ra, chảy thành suối,
thác, sông nhỏ, sông lớn.
Người Lạch cũng có thêm một số truyện về sự thành lập núi
Lang Biang:
“Ngày xưa, đất trên cao nguyên và vùng đồng bằng đều bằng phẳng,
chưa có núi cao như bây giờ. Khi mùa lũ đến, nước biển và nước sông tràn ngập cả
đất đai, cây xanh không mọc, đất đai bạc màu. Thần Nđu thấy vậy đã làm phép
nâng đất cao thành cao nguyên. Nước biển vẫn tràn lên, thần Nđu liền tạo ra
thành nhiều ngọn núi cao thấp nằm gần nhau làm bờ ngăn cản nước, trong đó có
hai ngọn núi Lang Biang. Ngăn chặn được nước sông và nước biển, cây cỏ xanh
tươi, đất đai màu mỡ, Thần Nđu giao cho Thần Rừng tạo ra loài vật để cho cuộc sống
thêm vui.”
Có thể thấy đây đó trong huyền thoại một quan niệm về bảy hay
nhiều tầng lớp vũ trụ, về các không gian khác nhau (người Cơ Ho có câu: bảy
tầng trên, ba tầng dưới), nhưng trong huyền thoại của họ tựu trung lại có ba thế
giới: thế giới người đang sống, của người chết và của các lực lương siêu nhiên
khác. Cư dân hình dung đó là những vùng/cõi khác nhau được xem như những bon đặc
biệt, tuy có thể xa nhau nhưng vẫn liên hệ với nhau, bao gồm bon người thường,
bon người thần, bon người chết, bon ma quỷ, đôi khi trong nhiều chuyện kể các
bon làng này ở lẫn với nhau.
Mảnh đất rừng thưa này là kết quả của một cơn giận dữ của
chàng Srài - người thần. Vốn là một chàng mồ côi, đi ở đợ, bị trẻ em Lạch chọc
ghẹo và xem thường, Srài tức giận nhổ hết cây cối trồng lộn ngược lại, đốt
cháy bảy ngày bảy đêm. Đất Lạch từ đó hết phì nhiêu và chỉ còn lại cỏ và lau
lách mọc được. Từ bỏ làng Lạch, Srài đã để lại cho người Lạch chiếc cày giúp
cho họ tiếp tục sống lại trên quê cha đất tổ bằng một nghề mới: trồng lúa nước.
Truyện cổ kể rằng Nđu ăn cắp một hạt lúa từ địa ngục đem lên
cho mọi người nhưng lúa lại trở về tảng đá, nơi ngự trị của Mẹ Lúa (Me
Kòi). Nđu mời Mẹ Lúa cùng đi nhưng bị chặn lối, Mẹ Lúa không lên được. Nđu ra lệnh
cho con kiến đào đất để ăn cắp hạt lúa nằm dưới tảng đá. Bảy con kiến làm việc
và mang được các giống lúa lên mặt đất. Nđu và Mẹ Lúa dạy con người biết trồng
lúa và ăn cơm với thịt nai, heo, trâu, gà, cá.
Thần Lúa (Yàng Kòi) giữ một vị trí đặt biệt là vị thần nuôi
dưỡng con người. Thần lúa thường liên kết với thần đất. Thần đất cũng được nhân
cách hoá và sánh với người mẹ nên người Lạch thường gọi là Mẹ Đất (Me Ù).
Trong lời khấn trong lễ nghi nông nghiệp, người Lạch còn nhắc đến thần Alac
Alan
“tạo ra đất, trời, con người và muôn vật
tạo ra lợn nái, thóc lúa
tạo ra ché nhỏ
tạo ra ché lớn
tạo ra con bò
tạo ra con trâu
tạo ra chiêng lớn và con trâu nhỏ
tạo ra chiêng lớn và con trâu tơ ”.
Tuy vay mượn, nhưng thần Alac Alan cũng được nhắc nhiều trong
truyện cổ và bài cúng của các cư dân Cơ Ho.
Thần K’Bùng được Nđu sai phái đã dùng đất thần nặn nên người
khổng lồ K’Yut. K’Yut làm nhiệm vụ chống trời, đẩy trời xa đất. Cột chống trời
được xây tại núi Lang Biang, vốn xưa có thể theo đó mà leo lên làng trời. Nhưng
vì sợ loài người lên quấy rầy, nên khi nền trời khô cứng nó mới bị các thần đập
phá đi. Các mảnh vỡ văng ra xung quanh tạo nên núi đồi như ngày nay. Lúc đang
xây cột trụ trời, thần Bi Đúp đến chọc phá bị thần K’Yut đánh té chết thành núi
Bi Đúp. Các con vật cùng tham gia tạo nên cảnh vật trên mặt đất: đàn mối bò từ
đồng bằng lên Lang Biang để xây cột trụ trời, nhưng khi gặp con đại bàng để hỏi
đường lại bị lừa ở lại Định An, nên từ đó trên cao nguyên Lang Biang không có mối.
Mặt đất vốn bằng phẳng được cày xới và xây dựng bởi lợn rừng, thành cao thấp,
trồi sụt do con lươn, từ đó sông suối không thể chảy thẳng…Xong công việc, Thần
K’Yut uống một bữa thật say, nôn mửa lung tung, dựa vào cột trụ trời và chết tại
đó. Ngày nay du khách lên núi K’Yut (đồi Radar) cạnh núi Lang Biang vẫn
còn thấy từng tảng đá lổn nhổn trên sườn đồi, mà không biết những thức ăn hoá
đá tự ngày nào còn đó. Theo huyền thoại, mặt trăng (kơnhai) và mặt trời (mat
tơngai) là anh em. Huyền thoại tìm cách lý giải tính nóng nảy hay dịu dàng, sức
nóng hay sự mát mẻ của hai vị thần này liên quan đến việc hình thành ngày và
đêm. Sự gặp gỡ của hai vị này tạo ra nhật thực (mang ling mang ta) khiến trời đất
tối tăm. Cũng có cách lý giải khác về nhật thực rằng đó là mặt trời và mặt
trăng tự tình hay trời đất tối tăm, lạnh lẽo là thời kỳ băng giá. Có nhiều chi
tiết đáng chú ý của huyền thoại này, trong đó phải kể tới sự hóa thân của các vị
thần ban đầu để sáng tạo các vật dụng cần thiết như muối, sắt, cá. Cùng với sự
hóa thân hủy diệt cái cũ cho cái mới ra đời là hành động sáng tạo ra các động
thực vật của K’Bùng.
Các vật ban sơ này lại tiếp tục làm công việc sáng tạo như thần thánh để làm ra các thứ khác. Cũng có nhiều dị bản nói tới mẹ Ka Jong - mẹ đầu tiên của loài người và mẹ Ka Grun – mẹ trực tiếp của cư dân bản địa đã phát hiện ra lúa, bắp, cà, ớt hay ba chàng trai khổng lồ con của mẹ đã hóa thân thành muối, sắt, cá.
Các vật ban sơ này lại tiếp tục làm công việc sáng tạo như thần thánh để làm ra các thứ khác. Cũng có nhiều dị bản nói tới mẹ Ka Jong - mẹ đầu tiên của loài người và mẹ Ka Grun – mẹ trực tiếp của cư dân bản địa đã phát hiện ra lúa, bắp, cà, ớt hay ba chàng trai khổng lồ con của mẹ đã hóa thân thành muối, sắt, cá.
Trong sự hóa thân có chi tiết người hóa động vật (khỉ, vượn,
voi) như người hóa voi trong truyện cổ Cơ Ho, Chu Ru. Người không chỉ hóa vật
mà còn lấy vật để sinh ra người hoặc vật. Và nhiều khi, vật lại là thầy của người
với sự phổ biến của việc khỉ dạy người sinh nở mà hầu như truyện cổ dân tộc nào
ở Tây Nguyên cũng có.
Huyền thoại về loài người đầu tiên còn bảo lưu ít nhiều trong
kho tàng văn hóa bản địa là sản phẩm do K’Bùng tạo ra, sống trong đất rồi chui
lên mặt đất trong một cái hang. Chúng ta được giải thích nguồn gốc của tổ tiên
loài người vốn từ một thế giới lộn ngược như cách nói của người Cơ Ho và Mạ
(Brah Ting) nằm sâu trong lòng đất mà trong huyền thoại người Mnông, Cơ Ho vẫn
kể, khi trời đất còn là một, mềm và nhão. Theo niềm tin của cư dân địa phương,
loài người ban đầu này đã bị hủy diệt hầu hết. Gần đây, đã sưu tầm được và công
bố 7 dị bản huyền thoại của dân tộc bản địa Lâm Đồng về nguồn gốc tộc người bổ
sung cho hàng trăm dị bản mà giới khoa học công bố ở Việt Nam.
“Trong số những gia đình phân tán đi có sáu chị em gia đình nọ
tên là K'Grup, K'Grum, K'Grau, K'Grô, K'Pac, K'Nghê – K'Nga. Con cháu cô K'Grup
sinh ra người Chăm, con cháu cô K'Grum sinh ra người Chu Ru, con cháu cô K'Grau
sinh ra người Chil, con cháu cô K'Grô sinh ra người Cơ Ho, con cháu cô K'Pac
sinh ra người Mạ, còn con cháu cô K'Nghê – K'Nga sinh ra người Kinh. Vì vậy,
người Chăm, người Chu Ru, người Chil, người Mạ, người Cơ Ho và người Kinh đều
là anh em”.
Các dị bản đều thống nhất khẳng định có ba chị em được sinh
ra để về sau phối hợp, sinh thành ba nhóm dân tộc chủ yếu: Kon Prum
(Chăm), Kon Cau (Mạ, Cơ Ho, hoặc thêm Chu Ru, Rắc Lây), Kon Yoan (Kinh).
Khả năng huyền thoại tộc người đã có từ lâu, khi tiếp xúc với
người Chăm và người Việt, nó được bồi đắp lớp văn hóa mới. Huyền thoại sinh nở
con người ở đây không phải là con người nói chung mà là tộc người cụ thể. Đó là
câu chuyện về ba người mẹ K'Grup, K'Grum, K'Grau, gọi rút gọn là Rup – Rum –
Rau rất phổ biến trên địa bàn Lâm Đồng.
Huyền thoại tộc người liên quan tới huyền thoại đại hồng thủy.
Cặp anh em, chị em ruột sống sót được nhờ nấp trong trống, trong thuyền, trên
núi ít nhiều nhắc ta nhớ đến hình ảnh bầu – thuyền trong kiểu truyện quả bầu
Lào và chung cho Đông Nam Á; thế nhưng, qua thần thoại Lạch, Chil về ông Phy bà
Păn chúng ta kiểm chứng được môtíp trống, như nhiều thần thoại của các dân tộc
Tây Nguyên vẫn kể. Nguyên nhân nạn đại hồng thuỷ theo người Chil kể lại là do
trời nổi giận vì tội loạn luân (anh em lấy nhau), còn theo người Mạ thì do cô
gái phơi lúa không được vì mưa, nên kéo váy và vỗ mông lên trời mà gây ra hoạ.
Đặc biệt thần thoại Lạch còn nhắc lại một thời kỳ giá rét khủng
khiếp - mang ling mang ta (thời kỳ tối tăm và giá lạnh), đã làm cho một
gia đình trên đường trở về nhà bị hóa đá và dấu vết còn để lại không xa làng
Măng Lin (phường 7, Đà Lạt).
Trong huyền thoại chúng ta còn được nghe kể về cây đa, con đại
bàng khổng lồ và sự đánh mất tài năng của con người (hai anh em Tồng và Tàng)
do bị đánh cắp mất nước thần đựng trong sừng trâu.
2. Truyện cổ tích
Truyện cổ tích bao gồm nhiều loại nhưng đáng chú ý là cổ tích
về nhân vật mang lốt, nhân vật mồ côi, nhân vật ma lai và về các loài vật.
Hạnh phúc của mồ côi đa phần là nhờ có sự giúp đỡ của yếu tố
thần kỳ. Các Yàng, nhất là Yàng Mặt Trời đã ban cho nhân vật mồ côi các vũ khí
thiêng, hạt giống thần, công cụ sản xuất linh nghiệm, thậm chí nhân vật mồ côi
vốn là người – thần, như K’Brài. Mặt Trời trong tự nhiên chỉ có một, trong huyền
thoại cũng chỉ có một vị thần, nhưng trong cổ tích, thế giới Mặt Trời là một tập
hợp nhiều cá thể đầy sức mạnh, có trẻ già, có trai gái, có thủ lĩnh là pơtao
mat tơngai (quen dịch là vua Mặt Trời), sống thành bon riêng như là một xứ
sở hùng mạnh. Bon Mặt Trời có thể ở trên cao, ở ngoài biển, ở bên kia sông lớn
hoặc ở trên cùng của nguồn nước. Trong nhiều truyện cổ tích có hình ảnh bầu
thiêng: dây bầu thiêng có thể dài ra hoặc ngắn gần lại, có khi là quả bầu
thiêng nở ra hạt giống, lương thực, thực phẩm, là lối hình tượng hóa giấc mơ no
đủ, là sợi dây thiêng giúp mồ côi tìm lại người thân. Với sự giúp đỡ hiệu quả
và kịp thời nói trên, nhân vật mồ côi đã đổi đời, đã đạt tới hạnh phúc, có nhà
dài, chiêng ché, áo quần, lúa gạo, tôi tớ, binh lính, vợ hoặc chồng đẹp. Truyện
cổ tích người dân tộc bản địa thường kết thúc có hậu, khác với kết thúc truyện
cổ người Việt đôi khi có sự trừng phạt. Truyện cổ tích của cư dân bản địa Lâm Đồng
lại thường có sự tha thứ cho các thế lực đã từng làm hại nhân vật mồ côi. Cuối
tác phẩm, mồ côi giàu có, hạnh phúc có thể lại cai quản bon làng cũ hay bon
làng mới, hoặc vợ chồng mồ côi để lại bon làng giàu có cho cậu cai quản rồi đi
về xứ sở mặt trời. Hôn nhân là chi tiết hay gặp trong tác phẩm, là một cách kết
thúc truyện mồ côi. Nhân vật mồ côi kết hôn với con cậu, con vua Chăm, con Mặt
Trời hay nhân vật mang lốt.
Cổ tích về nhân vật mang lốt chiếm một số lượng lớn trong tư
liệu mới sưu tầm cũng như trong tuyển tập của nhiều tác giả đã xuất bản, với
hàng trăm dị bản khác nhau. Nhân vật mang lốt tuy phong phú nhưng có thể quy về
một số dạng cơ bản như người thường bị dị tật bẩm sinh hay bệnh hoạn; người bị
phù phép phải mang lốt; con không cha mang lốt; thần linh mang lốt để thử
thách, giúp đỡ con người. Lốt là chi tiết quan trọng để phân biệt các kiểu nhân
vật và các kiểu truyện cổ tích. Các dạng thức thường gặp của lốt thể hiện ngay
khi đặt tên nhân vật chính, cũng đồng thời là tên tác phẩm như lốt dị dạng có
chàng Cùi, chàng Cụt, chàng Ghẻ, chàng Lùn; lốt động vật có chàng Heo, chàng
Dê, chàng Trâu, chàng Tôm, nàng Hươu; lốt thực vật như chàng Dưa, nàng Chuối,
chàng Đu Đủ, lốt đồ vật có chàng Mâm, nàng Ngà (11 dị bản),…
Nếu nhân vật mồ côi thường phải nhờ vả nhiều vào yếu tố thần
kỳ thì nhân vật mang lốt có sẵn trong mình các khả năng thần kỳ, tự cởi lốt
đúng lúc để hoàn thiện mà không cần nhờ vả ai khác. Họ không những tìm được hạnh
phúc cho mình mà còn mang hạnh phúc tới cho nhân vật mồ côi. Vì thế, hai kiểu
nhân vật chính này có liên hệ với nhau rất khăng khít, đồng thời vẫn rất khác
nhau. Cái độc đáo là trong cổ tích thường ít hoặc không quan tâm mô tả ngoại
hình nhân vật, nhưng cổ tích về người mang lốt lại là truyện có quan tâm đến sự
thay đổi ngoại hình, là kiểu truyện duy nhất có nói tới cái đẹp hình thức của
con người.
Từ xưa, cư dân Tây Nguyên tin rằng song song với các Yàng phù
trợ con người như những phúc thần, còn có một thế lực làm hại con người: người
Mạ và Cơ Ho gọi là cà (ma quỷ).
Trong văn học, có một loại nhân vật ma được gọi là ma lai, hiện
lên không chỉ là bóng hay hồn, mà là người, nhưng là người – ma, sống riêng
thành bon ma hay sống trà trộn trong bon người, dùng bùa phép, biến hóa để tiếp
cận và làm hại người thường, làm cho họ chết ngay hay đau ốm rồi chết dần, dù
phải cúng kiến rất tốn kém. Kết thúc phần đầu các cốt truyện là cái chết của nạn
nhân, đa số là nhân vật trẻ con hoặc phụ nữ. Trong phần tiếp theo, nhân vật ma
lai bị người thân của nạn nhân và cả cộng đồng săn đuổi, tiêu diệt bằng mọi
cách.
Thế giới động thực vật trên cao nguyên Lang Biang đều có mặt
trong truyện cổ Cơ Ho, nhiều nhất là thỏ, trâu, rùa, rắn, khỉ, hổ, voi, ngựa, đại
bàng,… Các truyện này cũng không phải là truyện loài vật đích thực, mà thiên về
truyện ngụ ngôn, vì không chú trọng mô tả tập tính và đời sống loài vật. Các
nhân vật – động vật được chia thành hai loại thông minh và ngu ngốc, như truyện
trâu và ngựa ganh tị nhau, bày ra những cuộc thi nhảy xa. Kết quả là con trâu
kém trí khôn thua cuộc phải chịu kéo cày từ bấy cho đến nay... Các mẹo lừa được
nhân vật thông minh sử dụng liên tục.
3. Ca dao - dân ca
Những bài ca dân gian được gộp chung các hình thức mà cư dân
bản địa vẫn gọi là nri (luật tục), bài cúng (hay bài ca nghi lễ), tam
pơtvà lah long (hát đối đáp, giao duyên hay bài ca tình cảm). Nhà
nghiên cứu khó tách những đoạn kể của huyền thoại với ca dao, ngay trong huyền
thoại lụt và nguồn gốc tộc người thì cũng có đoạn văn vần giống như ca dao xen
vào.
“Núi Rơlé bằng chiêng,
Núi Rơling bằng nong,
Núi Sơpùng bằng khiên,
Núi Pàngbèr bằng mền rơning,
Núi Đăngching bằng một tấm cót…”
Bài ca nghi lễ hay bài cúng được sử dụng một cách phổ biến
trong các nghi lễ của cư dân. Cấu trúc của các bài ấy thường có vần, số chữ
trong các câu không nhất thiết phải như nhau, số câu trong các bài cũng khác
nhau.
Thường người ta sử dụng loại bài ca này trong các lễ cúng để
mời gọi thần linh đến chứng kiến tấm lòng của cư dân, mời thần linh về hưởng thụ
lễ vật, nhờ thần linh phù trợ cho sức khỏe cộng đồng, xin ban cho mưa thuận gió
hòa, mùa màng tươi tốt:
“Này tôi mời gọi hỡi thần linh
Tôi cần thần như sáp ong kết dính khuyết.
Khui rượu cần tôi mời nếm thử
Rượu cần ngon tôi mời thần uống
Hương nhựa trầm tôi mời thần đến.
Hãy đến cả vợ chồng
Cả con rể thần
Cả mẹ và con
Và cả bon thần.”
Nghi lễ là để thực hành tín ngưỡng, bài ca khẩn nguyện hay
bài cúng là một phần của nghi lễ. Ở người Lạch, nghi lễ nông nghiệp thực hiện
trong năm là từ 4 đến 11 lần, cũng như bài cúng với lời khấn dài ngắn khác
nhau, tuỳ theo từng hoàn cảnh và nhu cầu cầu xin của từng gia đình. Nội dung
bài ca cũng bộc lộ ngay chính tín ngưỡng đa thần đó của cư dân, nếu ta để ý kỹ
thì thấy dù chỉ một câu hay cả đoạn, thần thánh sống thành vợ chồng, gia đình,
bon làng đông đúc như con người.
Trong khi đó bài cúng khi thu hoạch chỉ gồm hai nội dung
chính là kêu gọi thần linh bảo vệ hạt thóc cho gia đình, đừng để chúng bỏ trốn
hay bị phá hại và cầu xin tình thương yêu của thần linh với sự bày tỏ các ước
nguyện của mình. Có thể ghép vào nhóm này cả những bài thần chú và văn vần mà
cư dân tin tưởng và đọc khấn khi gặp nạn. Dân gian tin rằng khi bị rắn độc
hay rết cắn, đọc câu thần chú sẽ có thể thoát chết. Đó là danh sách các loại rắn,
như một khi đã coi là thần chú thì việc hiểu hay dịch không còn quan trọng bằng
niềm tin.
Có loại ca dao - tục ngữ (đôi khi còn gọi luật tục - nri)
cũng được kể bằng thơ có vần, có nhịp, đúc kết những phong tục cổ xưa:
“K’Yut đã dạy giết trâu
Nđu chỉ cách dựng buôn làng
K’Tiêng, K’Tàng chỉ cách đẽo cối, bào chày giã gạo
Ka Kòng, K’Yai đặt lễ đính hôn
K’Drốt, Ka Drồi đã trao vòng cưới…”
Hàng loạt nhân vật được liệt kê trong bài trên vốn cũng là những
vị thần linh - tổ tiên mà chúng ta đã gặp trong tín ngưỡng và trong huyền thoại.
Việc kể tên và công tích của họ không phải là để biết ơn như loại bài ca nghi lễ
mà để yêu cầu các thành viên trong cộng đồng bắt chước, noi theo nếp xưa, tục
cũ của ông bà. Các nhân vật trên cũng đã từng xuất hiện trong truyện kể khác.
Luật tục (nri) đã coi các vị thần linh và việc làm của
họ là mẫu mực, phải tuân theo. Khi ai đó vi phạm thì coi là vi phạm luật tục,
và khi xử tội, người ta lại đọc hay hát bài ca luật tục. Những bài ấy mang sức
nặng của truyền thống lâu đời, thiêng liêng, lại được cô đúc trong những công
thức chặt chẽ, được thể hiện bằng những hình ảnh quen thuộc, rất gần gũi với tư
duy sinh hoạt của cư dân. Dù luật tục truyền miệng nhưng chúng có giá trị củng
cố gia đình - dòng họ - bon làng, duy trì trật tự kỷ cương theo cơ chế tự quản.
Về nội dung, mỗi câu đều chứa một nội dung cụ thể, phản ánh một
hiện tượng tự nhiên hay xã hội, đúc kết một kinh nghiệm sản xuất hay sinh hoạt
cộng đồng. Tuy nhiên, nghĩa cụ thể, nghĩa đen, nghĩa trực tiếp vẫn là chủ đạo,
một số câu gắn với nghĩa bóng, nghĩa gián tiếp. Vì vậy, từng câu ít khi tự đứng
một mình độc lập như một tác phẩm mà phải liên kết chặt chẽ với nhau trong một
bài khá dài mang tính tổng hợp tri thức thực tiễn, truyền bá kinh nghiệm sống,
chúng lại thường ít đứng một mình mà liên kết lại thành một cấu trúc chặt chẽ
dưới dạng bài với vần nhịp khá chuẩn:
“Bon chưa tới đừng nói bon lạ
Rừng không phát chưa chắc rừng Yàng
Nhà cũ không người đừng nghĩ có ma
Yàng cho mắt sáng tỏ
Yàng cho tay làm lúa
Yàng cho tai biết chuyện xưa.”
Ngoài loại bài để cúng và loại bài để xét xử, còn có nhiều
bài văn vần khác có thể gọi là bài ca tình cảm, mà đa phần được sử dụng trong
hình thức đối đáp giữa nam và nữ. Loại này thiên về việc bộc lộ cảm xúc giữa
con người, chủ yếu là người trẻ. Chẳng hạn có bài ca ngợi vẻ đẹp của người con
gái:
“Cô gái kia đẹp như lá hành nghiêng
Anh sóc bắt gặp
Cô kia trắng, anh rái cá bắt gặp
Cô kia đẹp, phượng hoàng bắt gặp
Gái mới lớn, heo rừng đâm cây.”
Vóc dáng con người Tây Nguyên không chỉ được so sánh với những
con vật rừng quen thuộc với một cư dân từng sống và “ăn rừng”, mà còn được ví
von với hình dáng và màu sắc cây trái:
“Thân con gái như cây rau rịa
Tay con gái như măng mới mọc
Thân con gái như chuối chín trên cây”…
Với những bài ca tình cảm như thế này chủ yếu là để hát, hát
trong lễ hội, trên rẫy rừng, bên suối vắng hay trong nhà sàn, hát bày tỏ nỗi
lòng, hát chung vui hay tỏ tình thân thiết giữa người nam và người nữ. Loại này
có thể được gọi là lah long hay tam pơt với tư cách là bài
hát giao duyên, bài hát trao duyên với sự hài hòa với các yếu tố thơ – nhạc và
các yếu tố khác như trong môi trường diễn xướng dân gian. Đó là thơ – nhạc dân
gian, là tình ca dân gian với tính chất trữ tình thật sự. Trong trường hợp này
thì bài ca tình cảm hoàn toàn tương đương với thuật ngữ dân ca mà giới nghiên cứu
và công chúng đã từng biết:
“Chiếc cườm đẹp
Chiếc cườm đá quý
Trái cây chín trên rừng
Cơm đùm trong giỏ anh phải tự đi tìm
Măng pưt măng wai, ê ê măng tre dọc bờ suối
Những cô gái, từng đoàn đi làm chòi cao”.
Những câu ca dao mang tính biểu trưng cao với lối nói ví von
như:
“Tôi chìa tay trái xin anh miếng trầu
Tôi đưa tay phải hỏi anh chiếc áo
Tôi đến bên ngựa xin anh lục lạc
Lục lạc kêu rằng ta nên vợ nên chồng.”
Hiện nay càng ít người nhớ đến, cũng như những câu tục ngữ
ngày càng khó sưu tầm.
“Gái không chồng làm việc không xong
Trai chưa vợ hay sinh chuyện chẳng lành.”
“Làm nhà cần có gỗ
Đan rổ cần có tre
Làm nghề nông phải dùng nước.”
“Khéo léo lúc trẻ nhỏ,
Giàu có vào tuổi trung niên
Thông minh đến lúc tuổi già.”
Người Cơ Ho nói riêng, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói
chung, vốn không có văn tự, nên khi muốn lưu giữ kho tàng văn hóa dân gian của
dân tộc, họ phải sử dụng lối văn truyền khẩu, nên các hình thức nói kể thiên về
văn vần và bắt đầu nghệ thuật âm nhạc của mình bằng lối hát - nói, trong đó yal
yau (bài kể chuyện xưa) là tiêu biểu. Ngay cả khi khuyên nhau, các bài luật
tục được trình bày theo thể hát nói:
“Chim sáo không ngừng rỉa cánh
Chim le le không rảnh rỉa đuôi
Con ếch trong hang kêu ộp oạp
Con cá dưới hố quẫy lum bum
Con trâu đã trả, chuyện đã xếp rồi
Con trâu đã đền, chuyện đã xếp yên
Cháu không muốn phiền về câu chuyện cũ
Lờ cũ đã rách, rái về mò cá
Ná xưa đã gãy, khỉ lại phá nương.”
Hầu hết các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng đều có lối hát yal
yau. Yal yau như nguyên nghĩa của nó là ngẫm ngợi chuyện xưa. Yal
yau có thể hát từ ngày sang đêm. Có những bài yal yau như là những
trường ca hát hai, ba ngày đêm liền như K'Rai – Ka Lin, Sa rơpu mang Yu
Mòng – Dòi, K'Tàng Dam Prah. Nhiều cuộc hát yal yau cuốn hút người
nghe suốt đêm đến sáng, hết trưa sang chiều, và bao nhiêu ché rượu cần là bấy
nhiêu chuyện yal yau được khơi dậy.
Trong các thể loại tiền âm nhạc của người thiểu số Tây
Nguyên, gần gũi với yal yau nhất là đơs crih. Đơs là nói, kể,
crih là chuyện lạ.Đơs crih là những bài hát mang nội dung lạ. Có thể hiểu
đó là những bài lạ mà thay vì kể chuyện thì hát - nói cho nhau nghe trong những
cuộc đi xa nhằm rút ngắn dặm đường.
B/ Nghệ thuật dân gian
1. Âm nhạc dân gian
Cùng với ca hát, người Cơ Ho còn có nhiều loại nhạc cụ khác
nhau và được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động nghi lễ, hội hè. Công dụng nổi
bật của chúng là tạo nền cho các nghi thức tế lễ, phối tấu cùng với ca hát và
“chỉ huy” các động tác nhảy múa. Có thể phân chúng ra thành các nhóm dưới đây:
Bộ gõ có các nhạc cụ tiêu biểu là đàn đá (lu gòng), chiêng (cing)
và trống (sơgơr). Đàn đá và chiêng là hai loại nhạc cụ khá phổ biến trong cộng
đồng người thiểu số. Bộ chiêng người Cơ Ho có sáu chiếc: Cing me (chiêng
cái) giữ nhịp, cing rdơn (chiêng cả) phụ nhịp cho chiêng cái, cing
ndơn đổi giai điệu, cing thơ, cing thi trả lời khi chiêng cái gọi.
Khi đánh chiêng, người Cơ Ho xếp theo hình vòng cung, theo thứ tự các chiêng kể
trên, tay trái đỡ mặt trong, tay phải đánh. Đội hình di chuyển khi ngược khi
xuôi, âm thanh trầm bổng, luyến láy được tạo ra nhờ tay chụp, xòe hay xoa mà tạo
nên. Riêng trống là loại nhạc cụ phổ biến ở hầu khắp các nhóm cư dân.
Nhạc cụ dân tộc bản địa
Trong nhóm dây, nhạc cụ tiêu biểu nhất thuộc nhóm này là đàn.
Đàn được cấu tạo bởi một ống lồ ô (hoặc nứa) với 6 lỗ thoát âm và 6 sợi dây bằng
cật tre nứa (ding) hoặc bằng kim loại (tồng). Khả năng diễn tấu của
đàn ding cũng rất phong phú. Vì vậy, giống như mbuôt, nhạc cụ
này có mặt trong nhiều sinh hoạt khác nhau và nó có khả năng “nói hộ tiếng
lòng” cho người sử dụng và thưởng thức, thuộc mọi tâm trạng của con người.
Hình
Chiêng là cách gọi theo người Việt. Theo tiếng Cơ Ho, chiêng
là cing. Chiêng không có núm gọi là cing, chiêng có núm gọi là mồng(cồng).
Theo người Lạch, chiêng có 36 nhịp đánh khác nhau. Chiêng được sử dụng trong
các dịp vui. Cồng, chiêng được liệt vào danh sách những tài sản quý và là tiêu
chuẩn để đánh giá giàu nghèo.
2. Mỹ thuật dân gian
Ở người dân tộc thiểu số, nghệ thuật tạo hình chưa tách biệt
ra thành một lĩnh vực độc lập "chuyên nghiệp", mà nó được kết hợp đan
xen, hoà quyện vào trong các vật dụng sinh hoạt hàng ngày do chính họ sáng tạo
ra. Quan niệm thẩm mỹ, tình yêu với cái đẹp của các cư dân ở đây được thể hiện
chủ yếu qua những sản phẩm thủ công trên những tấm vải, trên các sản phẩm đan
lát, các công cụ lao động bằng sắt trong các đồ đựng bằng gốm, trong việc tạo
dáng những con thuyền. Nghề dệt phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Tuy nghệ thuật tạo hình của họ chưa tách biệt thành lĩnh vực độc lập nhưng sản
phẩm dệt của họ là những tác phẩm nghệ thuật mang giá trị cao. Nghề dệt nổi lên
là cách phối màu ở các dân tộc Mạ, Cơ Ho. Có thể nói nghệ thuật phối màu truyền
thống của họ đã đạt tới mức tinh tế và điêu luyện. Trồng bông và dệt vải đã trở
thành lẽ sống của phụ nữ dân tộc ít người. Người Lạch đan chiếu, trang trí vải
dệt thổ cẩm, đồ dùng (con dao, hộp đựng thuốc lá, ống điếu,...), đồ trang sức
(vòng bạc,...) với những nét thẳng, hình thoi, ô vuông, chữ chi,... hoa văn đa
dạng trình bày hình ảnh mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, vảy đồi mồi, cối giã gạo,
mỏ chim, bó tranh lợp nhà, cánh con ruồi, răng con trâu, con dế,... Việc sử dụng
màu sắc cũng là một chi tiết đáng lưu ý. Trong khi ở người Mạ lấy màu chủ đạo
là đen, người Cơ Ho thiên về màu đỏ. Bố cục của các hoa văn và mảng màu đã vượt
ra khỏi tính đăng đối đơn điệu, cứng nhắc, tạo cho người thưởng thức một cảm
giác dễ chịu.
Các sản phẩm đan lát cũng là nơi để người thiểu số gửi gắm
tình yêu với cái đẹp, đặc biệt là trên những chiếc gùi. Gùi ở các dân tộc vùng
này có nhiều kích cỡ. Tuy nhiên, hình dáng và phối trí các mảng hoa văn khá thống
nhất. Đó là những chiếc gùi đan theo hình trụ hoặc hình nón cụt. Riêng những
chiếc gùi ở người Mạ và người Cơ Ho thì được bắt khum, "nâu đầu, nâu
đuôi" (tạo sự liên tưởng tới những chiếc mai rùa).
Trong cộng đồng người thiểu số Lâm Đồng, nghề rèn tuy hình
thành chậm nhưng sớm chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Sản phẩm
nghề rèn là đồ gia dụng và vũ khí. Chiếc xà gạc lưỡi cắm (wiêh) là một công cụ
- vũ khí mang tính nghệ thuật cao. Hình dáng của nó uốn khúc lượn lờ như dòng
sông chảy hay cái mỏ chim của chim chơ lao (cơlao). Hình dáng mềm mại này
còn có thể quan sát trong những cây lao phóng (ta ndrek) hoặc con dao vẫn thường
được dắt lưng ở khố hay có thể thay cho chiếc trâm cài đầu.
Sản phẩm đan lát của người dân tộc bản địa
Ở người Cơ Ho, mảng nghệ thuật tạo hình hầu như vắng bóng
trong văn hoá truyền thống. Hiện nay, các nhà nghiên cứu chỉ mới biết đến một
chi tiết điêu khắc theo môtíp chày - cối ở cột sân nhà và cột kho thóc cũng như
một vài mảng đồ hoạ trên các giá thờ mới xuất hiện gần đây, tác phẩm có nhiều
trang trí nhất trong lĩnh vực này có lẽ phải kể tới các cây nêu (pơgơng) trong
các nghi lễ đâm trâu. Những "cột vũ trụ" này thường có chiều cao khoảng
10 - 12m và được chia làm 3 tầng chính, trong đó 2 tầng dưới được làm bằng thân
cây gỗ và ngắn hơn (độ 2,5m cho tầng thứ nhất, 3,5m cho tầng thứ hai), tầng
trên cùng là một cây luồng thẳng, cao chừng 6 – 7m và được chia thành 7 tầng nhỏ
(mỗi tầng chừng 1m), ở chỗ giao điểm giữa các tầng thường gá vào những tấm gỗ
hình tam giác lộn ngược, trên có vẽ hoa văn. Từ những giao điểm này tỏa xuống
những tua trang trí làm bằng tre chẻ nhỏ, trông rất đẹp mắt. Hoa văn vẽ trên
giá thờ và trên các bộ phận của một lễ đâm trâu là hoa văn hình học.
3. Giải trí dân gian
Bên cạnh trò chơi sức khoẻ là loại trò chơi thi (hoặc trò
chơi nhanh nhẹn). Trốn tìm là loại trò chơi phổ biến nhất ở hầu khắp địa phương
và các dân tộc. Trò chơi thi tài cũng khá phổ biến. Đặc biệt, ở người Lạch, tại
những cuộc thi đua ngựa không yên, trẻ em được sự “chỉ huy” của người lớn tiến
hành những cuộc đua có tính chất truyền thống. “Kỵ sỹ” là những chú bé can đảm,
mưu trí điều khiển những con “chiến mã” không yên vượt qua địa hình đèo dốc để
tìm chiến thắng. Người thắng cuộc sẽ được thưởng những món quà xứng đáng. Đua
ngựa không yên thường được tổ chức dưới chân núi Lang Biang.
Sinh hoạt văn hoá sôi động nhất trong các cộng đồng người thiểu
số và cả người Việt là những dịp lễ hội, lễ được gắn bó chặt chẽ với hội - với
các hoạt động nghệ thuật dân gian, trong đó có những trò diễn lễ nghi nhằm tái
tạo lại những sinh hoạt xã hội như săn bắt, cầu thần,... Có thể xem lễ hội như
một hình thái nghệ thuật tổng hợp giữa ca với vũ, nhạc, giữa thiêng liêng với đời
thường, giữa văn nghệ với ăn uống giao lưu cộng cảm. Đồng thời thực hiện chức
năng lễ nghi, những trò diễn tả lễ nghi trong bản chất là hành động có giá trị
nghệ thuật, nội dung thẩm mỹ tiềm tàng của nó, mặc dầu những người tham gia
không có ý thức, khách quan vẫn gây một tác động thẩm mỹ đến con người. Bởi thế
cho nên có thể xem đây là những dạng sơ khai của sân khấu dân gian.
C/ VĂN NGHỆ ĐƯƠNG ĐẠI
a. Văn học viết
1. Thời kỳ trước năm 1954
Trên cơ sở tư liệu còn tản mạn ít ỏi như hiện nay, chỉ có thể
cho rằng văn học viết của Đà Lạt mới hình thành trong vòng hơn 100 năm qua. Tác
phẩm chữ Hán nói về vùng này sớm nhất có thể kể đến Đại Nam nhất thống chí.
Cuốn sách cho biết:
“Di Dinh thổ phủ có 20 buôn: Phí Bà Nam, Băng Dựng, Giang
Trang, Phi Chân, Phi Lộ, Băng Trang, Tầm Bạch, Thẩm Luật, Bàn Tấu, La Miên, Năm
Luân, Giang Tre, Băng Bí Thuỷ, Băng Bí Hoả, Lưu Miên, Băng Trinh, Năng Duy, Phí
Cố, Chân Dựng, Phi Chinh.”
Tư liệu còn giới thiệu về sinh hoạt cư dân ở hai bên bờ sông
Đồng Nai: “Ở phía Nam sông, người Hoa thỉnh thoảng có đi lại buôn bán. Ở
phía Bắc sông, ít có ai đến. Năm Tự Đức thứ 19, triều đình có phái người đi
thăm dò nhưng vì người Thượng sợ tránh, không dám dẫn đường nên phải trở về”.
Những tác phẩm đầu tiên viết về Đà Lạt chủ yếu là nhật ký và
ghi chép của những người thám hiểm, đi khảo sát và công cán lên Đà Lạt và viết
bằng tiếng Pháp.
Sau chuyến nghiên cứu tiếp theo về vùng thượng lưu sông Đồng
Nai, bác sỹ Paul Néis và trung úy Albert Septans ghi nhận trong báo cáo ngày
1-8-1881:
“…Sông Đồng Nai men theo những ngọn đồi nối liền Lang Biang với
Tadoun-Tadra, nghiêng theo hướng tây nam rồi gặp núi Bréang. Tại vùng buôn Lạch
cách đầu nguồn 10km có một thác nước cao từ 4-5 m và nhiều thác ghềnh, chiều rộng
trung bình 10m, độ sâu 1m, đáy đá. Giữa các làng Beneur và Riong dòng sông rộng
30-40m đáy cát.
....Người Thượng sống trong từng làng gần như độc lập. Trong
mỗi làng, cuộc sống là cuộc sống cộng đồng: họ cùng làm rẫy, chất hoa màu thu
hoạch được vào trong kho và mỗi ngày lấy ra một lượng gạo cần thiết để tiêu
dùng. Có thể tập hợp các buôn lại theo bộ tộc khác nhau về ngôn ngữ, phong tục
và tập quán. Bộ tộc quan trọng nhất chúng tôi gặp là bộ tộc Châu Mạ. Ngày xưa,
họ sống trong một vương quốc hùng cường trải dài từ Nam Kỳ đến phía bên kia núi
Lang Biang từ sông Đồng Nai đến dãy núi chạy dọc theo bờ biển miền Trung.”
Hơn mười năm sau là chuyến thám hiểm của bác sỹ Alexandre
Yersin lên Tây Nguyên. Trong hồi ký, ông viết về cao nguyên Lang Biang.
“…Lang Biang ở phía bắc Riong cách hai ngày đường. Cao nguyên
nhấp nhô và cao dần từ 900m đến 1200m. Từ 15 đến 20km trước khi đến chân núi, tôi
ra khỏi rừng và đứng trên một vùng hoàn toàn trơ trụi và đầy cỏ. Núi đồi nhấp
nhô khiến tôi có ấn tượng như đang đi trên một đại dương xao động vì những ngọn
sóng khổng lồ. Núi Lang Biang sừng sững ở giữa như một hòn đảo và hình như càng
xa dần khi tôi đến gần. Người ta dễ tính sai khoảng cách trên những cánh đồng
bao la này. Dưới chỗ trũng đất màu đen và đầy than bùn. Những đàn nai lớn để
yên cho tôi đến gần vài trăm mét, rồi chạy vụt ra xa, ngoái cổ lại tò mò nhìn
chúng tôi.”
Năm 1899, bác sĩ Etienne Tardif đã leo lên dãy núi Lang Biang
và viết về cao nguyên Lang Biang:
“Cuối cùng, không thể nào quên một nét đẹp thật mê hồn trên
cao nguyên bao la này: Ankroët với rừng thông mênh mông và thác nước kỳ lạ cao
15m, nước tuôn xối xả. Rất tiếc, vị trí nơi đây quá hẹp không cho phép xây dựng
những công trình quan trọng.”
Năm 1905, trong một dịp lên cao nguyên Lang Biang bà
Gabrielle M.Vassal đã viết:
“Vào khoảng giữa trưa, tôi thấy cao nguyên lần đầu tiên. Thật
là một sự phát hiện bất ngờ, khác với những gì trước đây tôi đã từng nghĩ! Trên
một vùng đất rộng là những ngọn đồi tròn, nhỏ, trơ trụi, mọc đầy cỏ thấp, cùng
hình dáng và độ cao, quang cảnh giống như một vùng biển gợn sóng xanh. Ở giữa,
những đỉnh núi Lang Biang cao vòi vọi như hòn đảo đá. Dankia nằm ở dưới chân núi
Lang Biang, ở phía bên kia cao nguyên. Cao nguyên bình yên và êm dịu quá! Chỉ
có thông mọc trong những thung lũng giữa các ngọn đồi.
Xa xa, những mái nhà gỗ ở Đà Lạt nằm cách xa nhau trên đỉnh
hay lưng chừng đồi lấp lánh dưới ánh mặt trời.”
Năm 1937, để truyền bá và quảng cáo cho Đà Lạt, báo L’Asie
Nouvelle Illustrée dành trọn số 56 viết về vùng du lịch nghỉ dưỡng tuyệt vời
và nơi săn bắn lý tưởng.
Tác phẩm của người Việt Nam đầu tiên viết về Đà Lạt có lẽ là Lâm
Viên hành trình nhật ký của Đoàn Đình Duyệt năm 1917. Đây là tập ký sự ghi
chép những điều được quan sát cùng những suy nghĩ, nhận định về Đà Lạt và những
vùng phụ cận.
Phong cảnh, khí hậu Đà Lạt được tác giả miêu tả: “Từ 50
ki-lô-mét trở lên, lại phải men theo núi mà đi. Trên dưới đồi núi chập chùng, lối
đi quanh co. Vùng đất này sản sinh rất nhiều thông, hai bên đường nhìn thấy
toàn màu xanh, một màu xanh biếc thật đẹp mắt… Vào mùa đông, hàn thử biểu có
lúc xuống đến một hai độ, giống như khí hậu miền Nam Châu Âu, đôi khi lại có
mưa tuyết nữa.”
Suối Cam Ly được ông mô tả là nơi “… nước chảy vòng quanh,
trăm hoa vây bọc. Bên kia bờ là một khối đá cao ngất, hai cầu vồng bắc ngang
qua làn sóng bạc. Quả là chốn Bồng Lai tiên cảnh.”
Tháng 3-1945, tạp chí Tri Tân đăng bài phóng sự Tết
Đà Lạt của Trịnh Như Nghê.
Thơ viết về Đà Lạt cũng không nhiều hơn bao nhiêu so với văn
xuôi, nhưng ghi lại dấu ấn là Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mạc Tử. Trong
bài thơ này Đà Lạt hiện lên với một không gian đầy sương khói trăng sao, một
không gian huyền ảo, thực mơ lẫn lộn:
“Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ.”
Bên cạnh bài thơ về Đà Lạt của Hàn Mạc Tử là bài Đà Lạt
đêm sương của Quách Tấn. Bài thơ này đã được Hoài Thanh đưa vào quyểnThi
nhân Việt Nam. Thứ đến phải kể tới bài Đà Lạt thần tiên của Tú Mỡ
(1943) khi ông lên thăm Đà Lạt.
Sau khi Pháp trở lại, toàn dân hưởng ứng Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến, ở Đà Lạt - Lâm Đồng xuất hiện thêm dòng văn học mới -
thơ ca yêu nước với nội dung là lòng căm thù giặc, giác ngộ tinh thần kháng chiến
chống Pháp.
Tờ Tin Đà Lạt in trong chiến khu bí mật chuyển về
thành phố, tác giả Thu Lâm viết về những người phải đi lính ngụy, phục vụ chiến
tranh của Pháp. Mai Xuân Ngọc nói lên tình cảm gắn bó giữa người cán bộ với quần
chúng nhân dân Đà Lạt
2. Thời kỳ 1954 – 1975
Trước hết là thơ của các chiến sỹ, cán bộ cách mạng ở chiến
khu Đà Lạt như Mai Xuân Ngọc, Phan Minh Đạo, thể hiện tinh thần lạc quan trong
kháng chiến. Bên cạnh đó là thơ văn yêu nước, đấu tranh cách mạng của phong
trào học sinh, sinh viên Đà Lạt vào các thập niên sau. Thơ của họ thấm đẫm một
tình yêu quê hương. Phong trào này có các tác giả nổi bật như: Đạm Lan, Thanh
Trúc, Thạch Hà, Nguyên Hùng, Quỳnh Như, Trung Kiên…
Họ tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, sẵn sàng chết để đổi lấy hòa
bình và xót xa khi quê hương bị tàn phá, nêu lên trách nhiệm của người cầm bút.
Đà Lạt là một thành phố cao nguyên tĩnh lặng, nhưng trí thức,
học sinh, sinh viên, trong quá trình tranh đấu đã hoà được tiếng nói chung vào
khuynh hướng văn học yêu nước ở các đô thị miền Nam. Đặc biệt là tờ Tin Tưởng do
phong trào sinh viên Phật tử Đà Lạt chủ trì. Đây là tờ báo công khai ở đô thị
miền Nam dám đăng công khai 6 điểm tuyên bố của bà Nguyễn Thị Bình tại hội nghị
Paris lúc bấy giờ.
Sáng tác theo xu hướng yêu nước, tiến bộ còn có thành viên của
nhóm Việt - một nhóm trí thức có khuynh hướng tiến bộ ở Huế, sau chuyển vào Đà
Lạt với những sáng tác tiêu biểu như truyện ngắn Địa ngục trần gian.
Trong hơn 20 năm đất nước bị chia cắt, ở các đô thị miền Nam
nói chung và Đà Lạt nói riêng tồn tại nhiều xu hướng sáng tác khác nhau, rất đa
dạng và phức tạp.
Sáng tác ở Đà Lạt và về Đà Lạt từ 1954 - 1975 có nhiều tác giả
quen thuộc với bạn đọc như: Nguyễn Vỹ, Võ Hồng, Nhất Hạnh, Toàn Phong, Phạm
Công Thiện, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Thái Lãng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Trùng
Dương, Nguyễn Đức Sơn, Lệ Khánh, Lê Văn Ngăn,…
Võ Hồng (còn có biệt danh Ngân Sơn, Võ An Thạch) với truyện
dài Hoa bươm bướm, tác phẩm lấy Đà Lạt và những vùng phụ cận làm địa điểm
cho câu chuyện, xoay quanh các nhân vật chính như Quỳ, Luân, Thức, Trang. Tác
giả đã tái hiện một cách trung thực hình ảnh cuộc kháng chiến của nhân dân những
vùng này ở thời điểm trước và sau Cách mạng tháng Tám. Giá trị của Hoa
bươm bướm không chỉ ở cốt truyện, chủ đề, tính cách nhân vật mà còn ở tấm
lòng của nhà văn với buổi đầu kháng chiến thông qua giọng văn trong sáng và
trau chuốt.
Nguyễn Thị Hoàng với truyện dài Vòng tay học trò và
cùng với tác giả này là Trùng Dương với Mưa không ướt đất đã bị phản ứng
trong đông đảo người đọc. Vòng tay học trò xoay quanh một câu chuyện
tình giữa cô giáo Trâm và một học trò trung học tên Minh. Ở tác phẩm này Nguyễn
Thị Hoàng minh họa cho mặc cảm tính dục. Tác phẩm là sự thể nghiệm tổng hợp giữa
các yếu tố lãng mạn, tính dục và chủ nghĩa hiện sinh.
Lệ Hằng vốn là một sinh viên của Viện Đại học Đà Lạt. Trong
những sáng tác của bà xuất bản ở miền Nam trước đây, Tóc Mây vàThung
lũng tình yêu là hai tiểu thuyết được dư luận chú ý. Con người, phong cảnh
và những kỷ niệm về Đà Lạt đã được tái hiện rõ nét trong các tiểu thuyết kể
trên. Nếu như Thung lũng tình yêu chỉ là câu chuyện tình tay ba thì đến Tóc
Mây là một chuyện tình mang màu sắc tôn giáo.
Phạm Công Thiện với tập truyện ngắn Bay đi những cơn
mưa phùn (1970) và Nguyễn Đình Toàn với truyện dài Con đường (1967) là
những sáng tác đáng chú ý viết về Đà Lạt trong giai đoạn này.
Nguyễn Đức Sơn (có bút hiệu là Sao trên rừng) là một người
làm thơ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại, ông có tập thơ Những bài
tình đầu. Địa danh Đà Lạt được nhắc đến trong thơ ông chỉ để thể hiện tâm
trạng phức tạp của mình.
Đặc biệt, vào những năm cuối đời của mình, nữ sĩ Tương Phố
(1900 – 1973) đã sống và sáng tác tại Đà Lạt. Đà Lạt cũng là nơi các nhà văn,
nhà thơ nổi tiếng đương thời ghé qua như: Nhất Linh, Vũ Hoàng Chương, Bùi
Giáng, Tuệ Mai,… Ngoài ra còn có thể kể đến nhóm Tao Đàn Bạch Nga của
Nguyễn Vỹ và nhóm thơ Trà Sơn (từ năm 1967).
3. Thời kỳ sau năm 1975
Với đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta bước sang một thời
kỳ mới. Đà Lạt trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Lâm Đồng.
Năm 1987, Hội Văn học – Nghệ thuật Lâm Đồng được thành lập, tập hợp đội ngũ văn
nghệ sỹ thiết tha với văn học nghệ thuật. Thành tựu sáng tác còn khiêm tốn
nhưng đã tạo ra một bước phát triển quan trọng, tạo tiền đề cho văn học tương
lai. Lực lượng sáng tác là nghệ sỹ gốc Đà Lạt và nhiều nghệ sỹ của mọi miền đất
nước đến Đà Lạt - Lâm Đồng công tác, lập nghiệp. Đã có một số tác giả được bạn
đọc cả nước biết đến, trong đó có người đạt giải thưởng quốc gia.
Các tuyển tập thơ Đất gọi thầm, Như anh em một nhà (1982), Đà
Lạt mộng mơ (1993), Đà Lạt thơ (1996), Cho những mùa hoa(1996), Thơ
tình Đà Lạt (1997), Đà Lạt giao mùa (2000), Thành phố tình
yêu (2003-thơ văn), Đà Lạt trong thơ (2003), Thơ Đà Lạt xưa
và nay (2008),… đã phần nào giới thiệu với độc giả cả nước lực lượng sáng
tác và bản sắc thơ Đà Lạt. Chân trời mở của Phạm Quốc Ca đã nhận giải
thưởng hạng B của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt
Nam năm 1995.
Ngoài ra còn có các tập thơ Hoa trinh nữ (1990), Hương
lửa (2001), Ngọn gió lang thang (2006), Sắc hoa Đà Lạt (2007), Khuôn
trăng (2007) của Trần Ngọc Trác, Tiếng trầm, Những cánh rừng những
bài ca, Làng trong nỗi nhớ, Chân trời mở của Phạm Quốc Ca, Quê hương
như chiếc nôi hồng (1992) của Trương Xuân Huy, Hành tinh cô đơn (1998), Ta
và bóng (2000), Đà Lạt thơ của Phạm Vũ, Lời đá(1995) của Hà
Linh Chi, Hạnh phúc (1995), Tổ quốc lớn vô cùng (2000) của
Trương Quỳnh, Mái ấm (2000), Lời ru đơn côi (2005) của Nguyễn
Vĩnh, Gió thông, Chùm thơ miền đất lạnh (2000), Lối hẹn hoa về (2007)
của Nguyễn Thị Thanh Toàn, Nụ hôn của gió (2003), Vạt áo quỳ(2007) của
Vũ Dậu, Như giấc mơ, Nắng đổ về đâu (2007) của Dung Thị Vân, Thương
mảnh trăng gầy (2000), Lang thang kiếm tìm (2006) của Phú Đại Tiềm, Mùa
nhớ, Thung lũng tĩnh lặng (2007) của Kiều Công Luận, Lang thang với
gió, gọi nắng cho sông (2007) của Tường Huy, Cỏ dại (2001) của
Phạm Vĩnh, Gió đồng (2001) của Uông Thái Biểu, Muôn mặt đời thường (1995), Màu
tím Huế (1999), Thành phố trẻ (2003),Những hạt phù sa (2008) của
Nguyễn Mộng Sinh, Tình của dòng sông (2003), Nói với em (2005) của
Trương Thị Giàu, Hoàng hôn sông Lam(1997), Đam mê (1998), Ngẫu hứng (2000),
Dấu ấn (2002) của Trần Sỹ Thứ, Giọt mưa xứ lạnh (1997), Tiếng
chim Từ Quy (2000), Huyền thoại hồ Than Thở (1999), Đà Lạt
trong tôi (2003), Huyền thoại thác Hang Cọp (2005), Huyền
thoại Phong Nha (2006), Huyền thoại thác Yang Bay (2008), Không
thể chờ xuân (2008) của Lê Bá Cảnh, Thành phố tình yêu (2000), Thơ
bốn câu (2005) của Dương Gia Lễ, Phấn thông bay (2003) của Ngô
Văn Dinh, Một thời và một thuở (2002) của Đặng Thanh Liễu, Lời
ru của Diệp Vi, Nửa vầng trăng (2000) của Thanh Dương Hồng, Vầng
trăng chia đôi (2008) của Phương Nguyên; Lời hẹn hoa ban (1999)
của Vi Quốc Hiệp, Thành phố cao nguyên (2000) của Nguyễn Lương, Hoa
của đất (2000), Lời thương để ngỏ (2008), của Mai Đình, Vầng
trăng của mẹ (2000), Dây neo trần gian (2005) của Lê Đình Trọng, Bầu
trời khát vọng (2000) của Xuân Tràng, Mộng và Thơ (2002) của Trần
Đình Thảo, Hoàng hôn dịu dàng (2004), Đàn bà(2005), Những
loài hoa đi cùng năm tháng (2006) của Phan Thành Minh, Chuông gió (2005)
của Nguyễn Tấn On, Đêm thức (2006) của Đào Hữu Thức, Hương quê (2006)
của Ngũ Hành Sơn,… là những tập thơ gây được sự chú ý nơi người đọc.
Lý luận, phê bình nghiên cứu văn học: Văn học Việt Nam trong
giai đoạn giao thời 1900 - 1930 (1988), Tính cách Việt Nam trong thơ
Nôm Đường luật (2002), Những cách tiếp cận mới, những suy nghĩ mới về
ngữ văn (2003), Tương Phố đời và thơ (2005), Từ điển văn họcmới (2005)
- đồng tác giả của Lê Chí Dũng. Học giả với thi nhân (1994), Tiếp
cận giá trị văn chương (1995), Lặng lẽ giữa trang văn (1998),Thơ
trong con mắt người xưa (1999), Thổ cẩm dệt bằng thơ (1999), Thức
cùng trang viết (2003)..., Đến từ con chữ (2007) của Phạm Quang
Trung... được bạn đọc đánh giá cao.
Nhiều tác phẩm hồi ký cách mạng đã được xuất bản: Tây
Nguyên không xa của Phạm Thuần; Ký sự một thời cầm súng, Tháng năm
trăn trở của Nguyễn Xuân Du, Từ Ba Tơ đến chiến trường ba nước (2006)
của Lê Kích - Trần Ngọc Trác, Tìm lẽ sống (2008) của Lương Văn Thư,…
Huyền thoại về nữ chúa rừng xanh của Khắc Dũng được trao
giải ba cuộc thi bút ký, phóng sự của báo Lao động năm 1996.
Thể loại truyện ngắn có một số tác phẩm đáng nhớ của Chu Bá
Nam. Truyện Người vợ của chồng tôi là tác phẩm thành công nhất của Huỳnh
Chính trong tập truyện ngắn Đi theo con suối về phía mặt trời mọc của
anh. Truyện ngắn Kẻ sát nhân lương thiện của Lại Văn Long được trao
giải nhất cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ năm 1991.
Nhiều tác phẩm văn xuôi của các tác giả Đà Lạt đã lần lượt ra
mắt bạn đọc như : Giọt nước mắt của mối tình đầu, Nỗi đau trong suốt cuộc
đời, Ám ảnh một tình yêu, Hoa Mimosa... của Phạm Kim Anh. Tiếng Võng (2000), Một
thời (2004) của Nguyễn Tùng Châu; Phản đòn(1996), Đạo và đời (2002), Đất
thiêng (2005) của Trần Thăng; Con voi nhà K'Buc của Vũ Ngọc Thu; Thung
lũng trắng (1997), Quy luật nghiệt ngã (1998), Giữa rừng ba
biên giới (2002),… của Lê Công, Một thời (2004) của Nguyễn Trọng
Chu, Nửa vầng trăng (2001), Nội tuyến A3 của Nguyễn Thái
Huyền, Vụ án trong đêm, Nghiệt ngã, Từ một bức chân dung, Điều không thể
nói với con của Hà Thanh Thủy; Gương mặt người đời (2000) của Bạch
Nhật Phương...
Tuyển tập Mười năm văn xuôi Lâm Đồng (1988 – 1998)
đã được xuất bản, giới thiệu với bạn đọc các tác giả văn xuôi đáng chú ý ở Lâm
Đồng.
Năm 2008, Hội Văn học - Nghệ thuật Lâm Đồng xuất bản Tuyển
tập Ba mươi năm văn xuôi Lâm Đồng là một ấn phẩm quy tụ gần 80 tác giả đã
từng gắn bó với mảnh đất Đà Lạt - Lâm Đồng. Nhiều truyện ký, bút ký, truyện ngắn
đã phản ảnh chân thật về mảnh đất, con người Lâm Đồng - Đà Lạt trong hai cuộc
kháng chiến cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Nhiều tác phẩm văn xuôi của các hội viên Hội Văn học - Nghệ
thuật Lâm Đồng được chọn đăng và giới thiệu trong các tuyển tập văn xuôi của
Tây Nguyên và cả nước.
Nếu ở thể loại tiểu thuyết Phạm Kim Anh chưa thành công lắm,
thì ở lĩnh vực sân khấu anh lại được ghi nhận bằng một huy chương vàng tại hội
diễn sân khấu toàn quốc năm 1981 cho kịch bản Mối tình qua tết Liboong.
Đóng góp của văn nghệ Đà Lạt - Lâm Đồng còn ở lĩnh vực lý luận,
phê bình và nghiên cứu văn học. Các tác giả thuộc Khoa Ngữ văn Trường Đại học
Đà Lạt đã có những công trình, bài viết tham gia vào việc giải quyết những vấn
đề thời sự văn học của đất nước.
Năm 2003, Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ
thuật Việt Nam tặng thưởng loại B cho chuyên luận Mấy vấn đề về thơ Việt
Nam 1975 - 2000 của TS Phạm Quốc Ca và tập tiểu luận Thức cùng trang
viết của PGS.TS Phạm Quang Trung.
Lâm Tuyền Tĩnh để lại cho đời bộ sưu tập Sự tích Lang
Biang. TS. Lê Hồng Phong nhận hai giải khuyến khích của Hội Văn nghệ Dân
gian Việt Nam cho các công trình nghiên cứu sưu tầm truyện cổ dân gian Tây
Nguyên: Một số vấn đề truyện cổ Tây Nguyên, Truyện kể dân tộc Mạ. Gần
đây ông đã cho xuất bản tập truyện cổ tích dân tộc Mạ: Chàng Đu Đủ và
chuyên luận Tìm hiểu truyện cổ Tây Nguyên - trường hợp Mạ và Kơ Ho cũng
đã ra mắt bạn đọc trong năm 2006. TS. Phan Thị Hồng đã sưu tầm, dịch, cho in một
số tác phẩm nghiên cứu văn học dân gian Ba Na.
Dịch thuật: Đỗ Tư Nghĩa, Nguyễn Hạnh Ngọc Anh, Thân Trọng
Sơn, Đoàn Huy Long,…
b/ Mỹ thuật
Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật khác, nghệ thuật tạo hình
Đà Lạt - Lâm Đồng trong hơn 20 năm qua đã gắn liền với quá trình phát triển
kinh tế – xã hội của địa phương, phản ánh đầy đủ diện mạo của xã hội. Sau năm
1975, bước ngoặt của tạo hình nghệ thuật Đà Lạt - Lâm Đồng được đánh giá bằng
các loạt tác phẩm phản ánh công cuộc kiến thiết đất nước, phản ánh con người xã
hội chủ nghĩa. Thời kỳ đổi mới nghệ thuật tạo hình Đà Lạt - Lâm Đồng song hành
cùng với sự chuyển biến và phát triển đi lên của địa phương. Trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nghệ thuật tạo hình lại một lần nữa tỏ
ra cần thiết khi biết chọn cho mình đối tượng để phản ánh là nhịp sống công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong quá trình vận động đi lên của xã hội trên địa
bàn Lâm Đồng.
Từ khi Hội Văn học - Nghệ thuật Lâm Đồng ra đời, các hoạt động
triển lãm mỹ thuật của địa phương được quan tâm rõ rệt. Hằng năm, các hoạ sỹ,
nhà điêu khắc đều có tác phẩm tham gia triển lãm ở trong tỉnh, khu vực và toàn
quốc. Một số tác giả đoạt giải về mỹ thuật như Vi Quốc Hiệp, Phạm Mùi, Đinh
Thanh, K’Minh Tuấn, Đặng Ngọc Trân, Vũ Long, Phạm Đức Nhận,… Bên cạnh đó, các
cuộc triển lãm mỹ thuật cá nhân cũng được tổ chức như triển lãm “80 mùa hoa” của
hoạ sỹ Đặng Ngọc Trân, “Hoa” của Trần Ngọc Thái Anh, tranh của Võ Trịnh Biện,
Phạm Mùi tại Hà Nội, các cuộc triển lãm của hoạ sỹ Nguyễn Thái Tuấn, 15 cuộc
triển lãm tranh của hoạ sỹ Vi Quốc Hiệp trong và ngoài nước,… của nhóm vẽ “Những
người bạn Đà Lạt” đã tạo ra những hoạt động thiết thực bổ ích cho lực lượng
sáng tác.
Về mảng đồ hoạ, một số hoạ sỹ của Đà Lạt – Lâm Đồng đã giành
được các giải thưởng cao qua các cuộc thi vẽ logo ở địa phương như Lê Sinh Thục,
Phan Văn Gái, Nguyễn Văn Lại, Phan Thành Minh, Lâm Trọng Tường,…
Hội Văn học - Nghệ thuật Lâm Đồng luôn chú ý đến việc xuất bản
các ấn phẩm về văn học - nghệ thuật. Về mỹ thuật có 2 ấn phẩm Mỹ thuật Lâm
Đồng; cá nhân có tác phẩm Hội hoạ Vi Quốc Hiệp (2007), Cấu trúc
hội hoạ, Tranh hoa (2007) của hoạ sỹ Đặng Ngọc Trân,…
Trong hoạt động sáng tác về điêu khắc đã xuất hiện các tác giả:
Đinh Thanh, Đặng Ngọc Trân, Vũ Long, K’Minh Tuấn, Võ Kim Hiệp, Nguyễn Văn Hạng,…
Ở Đà Lạt ngày càng có thêm một số gallery trưng bày, giới thiệu
và kinh doanh tranh trên đường 3 tháng 2, Huyền Trân Công Chúa, Trương Công Định,…
Những người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật tạo hình Đà Lạt
- Lâm Đồng đến từ mọi miền đất nước, hội tụ về đây mang theo nhiều phong cách
sáng tạo khác nhau góp phần làm cho mỹ thuật Lâm Đồng thêm đa dạng, phong phú.
Trên lĩnh vực hội họa và điêu khắc, đội ngũ sáng tác ở Đà Lạt
- Lâm Đồng ngày càng nhiều. Hiện nay, Chi hội Mỹ thuật Lâm Đồng có 32 hội viên,
trong đó có 7 hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Bên cạnh đó, đội ngũ những người sản xuất các tác phẩm thủ
công – mỹ nghệ cũng đã được hình thành và các sản phẩm của họ được trình bày
khá nhiều nơi trong nước và nước ngoài. Tại Đà Lạt, hai cơ sở tranh thêu lụa XQ
và Hữu Hạnh được hình thành. Chi nhánh của hai cơ sở này đã vươn ra tận Huế và
Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài giá trị kinh tế, sản phẩm của các cơ sở này cũng đạt
đến một giá trị nghệ thuật nhất định, góp phần làm phong phú đời sống nghệ thuật
tạo hình ở Đà Lạt - Lâm Đồng.
Năm 1985, Chi hội kiến trúc sư Lâm Đồng được thành lập, gồm
16 hội viên, chủ yếu ở thành phố Đà Lạt. Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Hội Kiến
trúc sư Lâm Đồng đã trưởng thành về mọi mặt và được đánh giá là “Mô hình hoạt động
tiêu biểu của tổ chức hội, quy tập được đông đảo kiến trúc sư làm tư vấn chuyên
môn cho chính quyền, có mối quan hệ tốt với các ngành, nhất là ngành xây dựng,
và tạo được uy tín với địa phương.”
c. Nhiếp ảnh
Thắng cảnh, con người Đà Lạt – Lâm Đồng là nguồn cảm hứng vô
tận của đội ngũ sáng tác nhiếp ảnh trong và ngoài nước. Các nghệ sỹ nhiếp ảnh
Lâm Đồng đã tích cực chủ động trong việc tổ chức các tuyến điền dã, thâm nhập
thực tế sáng tác, tham gia các cuộc triển lãm của tỉnh, khu vực, quốc tế và
mang về nhiều giải thưởng có giá trị. Nhiều nghệ sỹ nhiếp ảnh của Hội Văn học -
Nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng trở thành các hội viên nhiếp ảnh thế giới với các tước
hiệu quốc tế.
Hình
Tại Liên hoan ảnh nghệ thuật quốc tế Hassemblad Austrian
Super Circuit năm 2000 tại Áo, Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Đà Lạt đã được ban tổ chức
bình chọn là câu lạc bộ có bộ ảnh dự thi đẹp nhất trong số 41.000 bức ảnh
dự thi từ hơn 120 nước trên thế giới và được tặng Cúp vàng.
Trong tác phẩm Ảnh Việt Nam thế kỷ XX xuất bản vào
năm 2007, Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam đã giới thiệu 5 nhà nhiếp ảnh của Đà Lạt:
Bùi Á, Nguyễn Bá Mậu, Nguyễn Bá Trung, Võ Văn Nghệ, Lý Hoàng Long.
d. Âm nhạc
Trước năm 1975, có một số ca khúc nổi tiếng về Đà Lạt như Ai
lên xứ hoa đào của Hoàng Nguyên, Thương về miền đất lạnh của
Minh Kỳ - Dạ Cầm, Đà Lạt hoàng hôn của Minh Kỳ,...
Hiện nay, Chi hội Âm nhạc Lâm Đồng có 23 hội viên, trong đó
có 9 hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam gồm nhạc sỹ sáng tác và nghệ sỹ biểu diễn ca
múa nhạc. Các nhạc sỹ Đình Nghĩ, Sóng Trà, Hà Huy Hiền, Mạnh Đạt, Công Huân,
Dương Toàn Thiên, Phạm Ngọc Lai, Krajan Dick, Krajan Kplin,… cùng một số nhạc sỹ
nơi khác đến Đà Lạt - Lâm Đồng đã khai thác thành công một số làn điệu dân ca của
các dân tộc vùng Nam Tây Nguyên như: Hoa Langbiang, Say trăng của
Đình Nghĩ, Mimosa của Trần Kiết Tường, Đà Lạt mộng mơ của Từ
Huy, Khúc hát ru người mẹ K’Ho của Trần Hoàn, Mặt hồ của Trọng
Thuỷ, Lặng lẽ, Cánh ô đợi chờ của Dương Toàn Thiên, Khúc hát chiều
Đà Lạt của Mạnh Đạt,Phượng tím của Ngô Quốc Tính, Đà Lạt lập
đông của Thế Hiển, Lao xao rừng thông của Thế Bảo, Nồng nàn
cao nguyên của Krajan Dick, Tình anh em của Krajan Kplin,… và một
số ca khúc của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.
Hội Văn học - Nghệ thuật Lâm Đồng đã xuất bản nhiều tuyển tập
ca khúc của các nhạc sỹ trong và ngoài tỉnh viết về Đà Lạt - Lâm Đồng và các ấn
phẩm ca nhạc của Công Huân, Thạc Nhơn, Dương Toàn Thiên, Dương Toàn Thắng, Mạnh
Đạt, Thu Hường, Quang Nhàn, Tú Minh, Quang Minh, Hà Huy Hiền, Sóng Trà,…Ngoài
ra, Hội Văn học - Nghệ thuật Lâm Đồng còn hỗ trợ kinh phí sáng tạo văn học -
nghệ thuật cho các nghệ sỹ thực hiện các DVD ca nhạc cũng như giới thiệu tác phẩm
và các chương trình ca nhạc trên sóng phát thanh - truyền hình của tỉnh và
trung ương, tạo ra một sân chơi âm nhạc lành mạnh, bổ ích và đạt hiệu quả cao.
Nhiều nhạc sỹ đã giành được các giải cao về âm nhạc của Hội Nhạc sỹ Việt Nam, Hội
Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Đài Tiếng Nói Việt Nam như
Mạnh Đạt, Dương Toàn Thiên, Dương Toàn Thắng, Đình Nghĩ,…











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét