Lời dẫn
Với tư cách một người chuyên
viết phê bình văn học, có thể nói tôi có nhiều may mắn, bởi trong suốt cuộc đời
làm nghề, tôi luôn có dịp được sống gần gũi với các nhà văn nhà thơ, ở cùng cơ
quan, hàng ngày trò chuyện với họ, cùng họ bàn bạc về công việc văn chương cũng
như việc đời. Nhiều người từng gặp nhau ở nhận xét: bên cạnh các bài thơ cuốn
truyện thì các nhà văn còn thường xuyên sáng tác ra một tác phẩm độc đáo, đấy
là con người của chính ông ta, tính cách của ông ta. Ở đây tôi đã gặp những mẫu
người khác nhau. Có người may mắn được trời phú cho khả năng đặt bút là thành
văn, người hàng ngày ngồi trước bàn kỳ khu dập dập xoá xoá mãi mới ra được mấy
dòng tầm thường. Có những người lúc nào cũng như trong cơn say tưởng đời không
còn ý nghĩa gì khác hơn là được viết, được thiên hạ kêu là văn sĩ thi sĩ. Lại rất
nhiều người hiểu rằng tài năng của mình cũng vừa phải, nên bên cạnh lao động
trên trang giấy biết lo liệu hết sức cho những việc chẳng văn chương chút nào
song nhờ thế cũng có một đời sống khá giả. Một thời gian dài, trong suốt những
năm tháng ta quen gọi là thời bao cấp, nhiều nhà văn ở ta làm việc như một tín
đồ chỉ mải viết mà không hề bận tâm tới cuộc sống của gia đình vợ con. Trái lại
thời gian gần đây lại có loại người chỉ đá gà vào văn chương một chốc một nhát
đủ tạo ra được một sự công nhận là có viết văn rồi lấy danh hiệu nhà văn dùng
vào những việc kiếm sống khác.
Tóm lại bên cạnh kẻ ảo tưởng
có người biết điều, cạnh kẻ khôn có người dại, mà cái sự khôn dại này không dễ
gì nhận biết ngay được.
Nhìn vào cách sống của các đồng
nghiệp, tôi như luôn luôn nghe được những cuộc đối đáp nó không được cất lên
thành lời song là những cuộc đối thoại ngầm, đối thoại giữa những cuộc đời:
– Sao anh trăn trở hoài
về nghề như vậy? Tôi nghĩ sáng tác chẳng qua như con chim ngứa cổ hát chơi.
– Phải nghĩ chứ, nghĩ và đọc
nữa để xem đồng nghiệp trong nước ngoài nước đã viết gì và còn chỗ nào họ chưa
kịp viết thì mình mới viết tiếp.
– Lam lũ viết thật nhiều in
thật lắm mà làm gì, muốn làm giàu thì đi làm nghề khác, ở nghề này giàu sao nổi.
Chi bằng tôi cứ chơi dài, nhỡ xuất thần lại có bài thơ để cho đời sau không biết
chừng.
– Không anh bạn ơi, trời bắt
tôi phải động bút hàng ngày, viết cho tương lai là chuyện tôi không dám mơ mà
chỉ lo viết cho người hôm nay đọc. Nhưng mà nói thật nhé, tôi không thích cái
cách sống gặp đâu hay đấy, không chịu làm việc. Cứ cầu may vậy thì làm gì có
văn hay ?
– Văn chương là một trò
chơi.
– Đúng, nhưng đó là một trò
chơi nghiêm túc, tức luôn luôn là một cuộc phấn đấu.
Người đời đôi khi thành kiến
rằng đám người viết văn chẳng qua là một bọn dông dài. Trong khi ấy một số đồng
nghiệp viết phê bình của tôi (nhất là các nhà giáo) có xu thế lý tưởng hoá những
người viết văn, xem cây bút nào cũng tâm huyết đầy mình. Về phần tôi, tôi muốn
nghĩ ngoài đời có bao nhiêu kiểu người thì trong văn chương có bấy nhiêu kiểu
người cầm bút, ở đây cũng có thánh thần và có ma quỷ, và trừ một số tài năng
sáng chói, thì phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm thường lẫn chỗ
cao quý. Và điều quan trọng hơn: mỗi con người ở đây là một tư cách, một số phận.
Không phải chỉ những tài năng lớn tên tuổi được lưu lại trong lịch sử mới có một
cuộc đời thú vị. Mà ngay những nhà văn tạm gọi là bình thường thực ra nhìn kỹ
cũng có cách phấn đấu riêng, những bi kịch riêng. Có thể bảo những cuộc làm người
của họ trong văn chương cũng đáng được ghi chép lại.
Đây đó trong một vài tập
sách mỏng đã in ra trước đây như Cánh bướm và đoá hướng dương, tôi đã
thử tìm cách vẽ phác ra gương mặt một vài nhà văn mà tôi có nghiên cứu.
Lần này, xin phép được kính
trình bạn đọc và các đồng nghiệp một tập chân dung đầy đặn hơn. Có những người
tôi đã thử viết một hai lần, lần này xin tiếp tục đưa ra những cách giải thích
mới. Tôi biết các hoạ sĩ vẽ chân dung có thói quen trở đi trở lại với những
khuôn mặt đã quen, mỗi lần đưa ra một phác thảo khác. Tôi mong những bài viết
này của tôi cũng được đối xử như vậy. Và trên hết cả, tôi hy vọng không chỉ những
người được tôi nói tới mà các bạn văn khác và nói chung tất cả những ai quan
tâm đến đời sống văn học đương đại có thể tìm thấy ở những trang sách sau đây
những điều bổ ích.
Trong bản gửi tới bạn đọc
trên mạng có bổ sung thêm phần Thay lời kết. Hai bài viết trong phần
này vốn in ra lần đầu trên các tạp chí Sông Hương và Cửa Việt 1990
và 1992, sau đó đã đưa vào phần Tự vấn trong cuốn sách Những kiếp
hoa dại, 1993. Chúng có một chủ đề chung. Đó là một cách thử khái quát bộ
mặt tinh thần, đời sống tâm lý của một số người viết văn mà tôi có biết.
Các chân dung in trong Cây bút đời người chính là được viết theo tinh
thần của hai tiểu luận này.
Vào những ngày cuối 2006 đầu
2007, trên báo chí (cả báo giấy lẫn báo điện tử) có đăng tải nhiều bài
viết về con người nhà văn ở các tác giả Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài. Tôi muốn bạn
đọc và các đồng nghiệp xem tập CBĐN này và hai tiểu luận mới bổ sung như là một
cách tôi tham gia vào các cuộc trao đổi nói trên.
21-12-2001
Ghi chú 11-2-2007
Vương Trí Nhàn
Vương Trí Nhàn
VƯƠNG TRÍ NHÀN, CÂY BÚT ĐỜI
NGƯỜI
Cây bút đời người – tập
tiểu luận chân dung văn học mới nhất của nhà phê bình Vương Trí Nhàn (Nxb. Trẻ
và Cty Văn hóa Phương Nam vừa ấn hành) chú tâm vào 12 nhân vật, 12 số phận. Bằng
bút pháp giản dị và biết tiết chế, ông tạo được những nét nhìn
nghiêng khá góc cạnh của một số nhà văn, cho dù khiêm tốn chỉ nhận mình
“tìm cách vẽ phác ra” gương mặt họ.
Đó là 12 gương mặt: Xuân Quỳnh,
Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thành Long,
Nhị Ca, Thanh Tịnh, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Xuân Diệu. Với mỗi người,
Vương Trí Nhàn đều không đánh giá trực diện những gì họ đã đạt được, đã để lại
trong tác phẩm, mà ông lách vào cuộc đời họ, từng người một, qua các
cuộc tiếp xúc, qua kinh nghiệm sống cùng họ, và cả qua những bi kịch của mỗi
người. Vì ông quan niệm: “Bên cạnh các bài thơ, cuốn truyện thì các nhà văn còn
thường xuyên sáng tác ra một tác phẩm độc đáo, đấy chính là con người của chính
ông ta, tính cách của ông ta”.
Những trang sách của Vương
Trí Nhàn về một số nhà văn ngùi lên những sự thương xót, những quý mến cùng sự
chân thành bộc lộ suy nghĩ của mình. Tác giả đặt họ vào đời thường, đặt họ
trong dòng chảy hiện thực và văn chương mà vẽ lại chân dung tính cách của họ.
Thấu đáo, nhưng không tọc mạch; cách nói sâu tuy còn vẫn hơi đi vòng, cách nhìn
của Vương Trí Nhàn đối với một số gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại
không xét nét, bắt bẻ, mà là một sự đánh giá khe khắt và đòi hỏi ở một mức cho
phép. Có lẽ như thế đã là thú vị rồi.
Minh Thi
Báo Lao động ngày
20-6-2002
Đối với một người làm công
tác nghiên cứu phê bình văn học, không gì hơn là được sống, trò chuyện, được chứng
kiến trực tiếp đời sống thực của các nhà văn, nhà thơ để từ đó có cái nhìn thấu
đáo khi đánh giá, nhìn nhận tác phẩm của họ. Vương Trí Nhàn đã có được cái
hơn ấy. Trong suốt gần 40 năm theo nghề, nói theo cách của ông: “Tôi có
nhiều may mắn được sống gần gũi với các nhà văn, nhà thơ, hằng ngày trò chuyện
với họ, cùng họ bàn bạc về văn chương cũng như việc đời”. Và dựa vào vốn sống
thực tiễn này, Vương Trí Nhàn đã phác thảo 12 chân dung các nhà văn nhà thơ mà
ông có dịp gần gũi trong Cây bút đời người (*), qua đó ông mày
mò để cố tìm cái tôicủa 12 con người đó.
Thành công đầu tiên dễ nhận
thấy của cuốn sách là những chuyện nhỏ kể về đời sống của những người cầm bút
mà đối với không ít độc giả vẫn là “bức màn bí mật”. Người đọc không chỉ biết về
những chi tiết vào đời của nhà thơ Xuân Quỳnh, con đường chị đến với thi ca, mà
còn hiểu thêm đã có lúc con người thơ này phải thốt lên trong cảnh khốn khó:
“Tôi sẵn sàng từ bỏ hết những bài thơ kia đi, miễn là tôi khỏi khổ”. Hay ta sẽ
gặp lại Lưu Quang Vũ - nhà thơ - “một kẻ long đong giữa cuộc đời vô định”. Và
“đã bị trả giá đích đáng” ra sao. Rồi từ một Xuân Diệu “tạm bỏ thi đàn đi làm
nhà đoan ở Mỹ Tho, lấy tiền giúp người bạn thân mến của mình là Huy Cận có tiền
theo học Canh Nông”, đến một Nguyễn Tuân “kẻ sĩ không chịu sống trong khuôn
phép”, người mà ngay giữa Moskva ngồi trong phòng thò tay ra cửa sổ hứng tuyết…Chính điều này tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm.
Trong khi đặt những cuộc đời
của các nhà văn nhà thơ lên trang viết, Vương Trí Nhàn dựng nên cái
tôi của họ trong sáng tác thơ văn và ông muốn tìm ra, muốn lý giải những vấn
đề mang tính lý luận văn học trong lao động nhà văn. Có bao nhiêu nhà văn thì
có bấy nhiêu cách làm việc, bấy nhiêu cách tiếp cận với bạn đọc. Nếu như, “nói
cũng như viết ở Nguyễn Khải bao giờ cũng là một cách thuyết phục người đọc”,
thì Nguyễn Minh Châu lầm rầm những chuyện vu vơ - “cái gọi là duyên riêng của
văn chương”. Hay phong cách làm việc: Nguyễn Thành Long là người viết kỹ lưỡng,
“mỗi câu đều đòi hỏi công sức riêng, năng lượng riêng cho nó”. Còn Tô Hoài “cứ
miệt mài viết, cắm cổ viết, sách ra đều đều”…Gắn cuộc đời họ vào những biến động
thời đại, Vương Trí Nhàn còn có tham vọng tìm hiểu những yếu tố ngoại cảnh đã
tác động vào tâm lý sáng tạo và sự thay đổi tư tưởng (nếu có) của nhà văn, nhà
thơ trên trang viết. Và ông đã đưa ra những nhận định khá sắc sảo, để khắc họa
chân dung của nhà thơ này hay nhà văn kia. Những trang viết như thế đã tạo nên
sức nặng của Cây bút đời người. Sẽ là thành công hơn, nếu như sau khi đã
đưa các nét phá khá táo bạo, Vương Trí Nhàn không trăn trở tìm
cách chấm lại các nét phá ấy cho tròn trịa.
Nói là cuộc đời trên trang
sách, song đích đến cuối cùng của Vương Trí Nhàn cũng như ở Paustovsky: “Đặt cuốn
sách lên trên cuộc đời chứ không phải cuộc đời lên trên cuốn sách”. Không nói
ra, chắc ông có cùng một ý nghĩ như “Pau”: “Nếu như tôi truyền đạt được tới bạn
đọc dù chỉ trong chừng mực ít ỏi, khái niệm về bản chất tuyệt vời của lao động
nhà văn thì tôi dám coi như đã làm tròn bổn phận của tôi trước sự nghiệp văn học”.
P.V
Báo Thể thao & Văn
hóa, số 69 ngày 27-8-2002
PHÊ BÌNH LÝ LUẬN VĂN HỌC
ĐANG CẦN MỘT ĐỘ LÙI?
Các tác phẩm thơ, văn xuôi,
dịch thuật được trao giải thưởng văn học năm 2003 đã có mặt hầu như lặng lẽ
trong đời sống văn học năm qua. Nhận giải rồi, chúng vẫn tiếp tục tồn tại lặng
lẽ trước các nhà phê bình lý luận văn học có uy tín. Cây bút đời người,
tác phẩm phê bình lý luận nhận giải B (không có giải A) năm nay, thì thuộc thể
loại chân dung văn học. và dường như cả nó, tác phẩm của một người làm PBLL đã
có thâm niên nghề nghiệp cao - nhà phê bình lý luận Vương Trí Nhàn cũng
không “gây xôn xao” nổi các đồng nghiệp. Một tình trạng không mấy vui cho sáng
tạo văn học? Hay trong đời sống đòi hỏi rất nhiều bình tĩnh, khách quan hôm
nay, phê bình lý luận văn học cần…một độ lùi nhất định?.
– Thưa
anh Vương Trí Nhàn, anh nghĩ sao về nhận xét: Cây bút đời người nghiêng về
phần đời mà hơi nhẹ về phần nghiệp của Hội đồng GK và BCH Hội Nhà văn VN khi
trao giải thưởng cho cuốn sách?
– Tôi thấy nói thế là đúng với nghĩa tôi không phân tích đánh giá tác phẩm của
các nhà văn, những thành tựu, sự nghiệp của họ, hoặc tìm cách đặt họ vào tiến
trình lịch sử văn học mà chủ yếu muốn nói về con người họ, phác họa chân dung họ.
Đơn giản hơn, tôi muốn nói với độc giả: trong cách hiểu của tôi, theo sự hiểu
biết của tôi, họ là những con người như thế đấy.
Hàng ngày, tôi rất thích tìm
hiểu cuộc đời của các nhà văn. Có những người văn thơ không hay, nhưng con người
lại có những nét mà tôi hết sức thích thú, tiếc rằng tôi còn chưa viết được bao
nhiêu.
– Bài
viết nào trong sách khiến anh ưng ý hơn cả?
– Mỗi bài với tôi mang một kỷ niệm riêng, có một ý nghĩa riêng. Như bài về Thanh
Tịnh, cho phép tôi nói thực một chút: tôi tự hào hình như mình viết được một
truyện ngắn, tức là vẽ ra được một con người, thâu tóm được một số phận. Bài
Xuân Diệu, tôi thích vì tôi đã nói được nhiều điều về người nghệ sĩ đương thời,
mà Xuân Diệu là tiêu biểu. Khi đọc bài này, một ông thứ trưởng, nay đã về hưu,
bảo với tôi: trong giới quan chức cũng có một số người có cách sống như Xuân Diệu.
Nghĩa là trong chừng mực nào đó, tôi đã đưa ra được một nhân vật mang tính khái
quát? Nếu thực sự được thế thì tôi rất mãn nguyện: luôn luôn tôi nghĩ các nghệ
sĩ mang trong mình dấu ấn thời đại và tôi sẽ cố gắng để làm rõ điều đó qua các
bài sẽ viết.
– Trong
thập niên bảy, tám mươi, anh là một cây bút rất năng nổ, hầu như sau sự xuất hiện
của các tác phẩm, tác giả anh đều có bài. Nay anh thường viết chân dung văn học
của thế hệ đàn anh hoặc cùng lứa. Vì sao vậy?
– Tôi bắt đầu viết phê bình từ năm 1965 và cho đến nay đã có một vài đầu sách được
in (Những kiếp hoa dại, Cánh bướm và đóa hướng dương, Buồn vui đời viết…) song
chính tôi cũng cảm thấy Cây bút đời người tạm gọi là hoàn chỉnh và
phô ra được đầy đủ những chỗ mạnh của tôi hơn cả.
Trong cái nghề chung gọi là
phê bình, tôi nghĩ là có nhiều cách làm khác nhau. Có người đi bình văn bình
thơ, có người nêu các vấn đề của văn học và khái quát lên thành lý luận. Tôi
cho rằng, với cái tạng của tôi thì chân dung văn học là thích hợp nhất. Ngay từ
lúc vào nghề tôi đã mê viết chân dung, tôi rất thích cuốn Con người năm
tháng cuộc đời của Ehrenburg. Về sau tôi có dịch một số chương trong bộ
sách này làm thành cuốn Những người đương thời. Tuy nhiên, để hiểu hết và làm
được theo cái tạng của mình cũng cần phải có thời gian.
Trong Cây
bút… không chỉ tập trung những kỷ niệm với các bậc đàn anh và bè bạn, mà
còn mang những vui buồn mà tôi đã thể nghiệm trong cuộc sống hằng ngày. Khi viết
về những người khác đồng thời tôi cũng đã viết về chính mình. Tôi thích nhớ lại
quá khứ, về Hà Nội những năm chiến tranh, về cái nếp sống thanh bình xa vắng và
cũng rất thiêng liêng của đời sống tinh thần mấy chục năm về trước, về những kiểu
người, những cách sống, cách nghĩ một đi không trở lại. Tôi cho rằng, những
dòng hồi ức của lớp người sáu mươi, bảy mươi như bọn tôi cũng có thể có ích cho
các bạn trẻ hiện nay, kể cả các bạn muốn cầm bút viết văn.
– Ý
kiến của các đồng nghiệp trong giới phê bình lý luận về tác phẩm được giải của
anh?
– Trong lúc trò chuyện hằng ngày thì cũng có cả khen, lẫn chê. Có người bảo tôi
viết vừa nhạt vừa ác, nhưng cũng có người cho rằng đằng sau những nhận xét lạnh
lùng, tôi vẫn là một ngòi bút trung hậu có sự thông cảm với những kiếp người.
Anh Bằng Việt, một bạn quen từ hơn ba chục năm nay, thì bảo những bài tôi viết
về những người cùng lứa như Xuân Quỳnh lại yếu, những bài viết về các nhà văn lớp
già đọc được hơn. Anh Hồ Anh Thái ở Hội Nhà văn Hà Nội kể với tôi là tốn tiền
quá, anh đã phải mua tới mấy cuốn Cây bút đời người để tặng các bạn
quen…
Đã là tạng thì không thể
khác. Nhất là một khi cái mạnh của tạng đó, còn được tới hai giải thưởng văn học
trong một năm (giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, giải thưởng Hội Nhà văn VN) xác
nhận. Song dù sao nhớ tới những bài PBLL sắc sảo sôi nổi của anh trên các báo
văn học trong thập niên bảy, tám mươi tôi vẫn thấy nuối tiếc thế nào…
Nguyễn Thị Phương Thảo (thực
hiện) - Báo SGGP thứ bảy, 21-02-2004
Những cuộc dâu bể mà 12 nhân
vật của Vương Trí Nhàn trải qua có thể rất riêng mà cũng rất chung, bởi vì văn
chương đích thực không bao giờ được làm nên từ những con người tẻ nhạt. Đọc kỹ
từng nhà văn, quan sát họ ngoài đời một cách trực tiếp, Vương Trí Nhàn ghi
nhận họ hoàn toàn không theo cảm tính. Trong từng trang, những chi tiết cứ
nối nhau, như những vệt màu góp phần hoàn tất bức chân dung ở mức hoàn chỉnh nhất
mà tác giả làm được. Người ta có thể đọc một hơi hết tập sách, không chỉ vì các
tên tuổi được nhắc tới. Có rất nhiều hơi thở cuộc sống, dù ở Hội Nhà văn hay tạp
chí Văn nghệ Quân đội: những cuộc trà dư tửu hậu, những tâm sự vặt vãnh
ngày thường, những biện luận ồn ào, và cả những lặng yên đầy ý nghĩa. Bên cạnh
sự chia sẻ của một đồng sự, còn là cặp mắt say mê của một người đọcdành cho tác
giả đồng thời với cái nhìn tỉnh táo của một nhà bình. Không quá xa để thiếu sự
tường tận, cũng không quá gần để trở nên suồng sã, Vương Trí Nhàn viết với một
sự nghiền ngẫm thận trọng và một tình yêu nghiêm khắc, ngay cả với những tên tuổi
lớn nhất của văn học Việt Nam.
Yêu cả Xuân Quỳnh lẫn Lưu
Quang Vũ một cách không che giấu, Vương Trí Nhàn đã nhớ về họ bằng những kỷ niệm
thân thiết trong chính thời trai trẻ của mình và vì thế càng xót xa trước những
tình cảnh oái oăm mà mình không thể cùng san sẻ. Yêu cả con người lẫn mối tình
của họ nhưng không vì thế mà anh quên những câu nói đầy cay đắng của Xuân Quỳnh
như: “Tôi sẵn sàng từ bỏ hết những bài thơ kia, miễn là tôi khỏi khổ!”. Yêu thơ
Xuân Quỳnh nhưng Vương Trí Nhàn vẫn nhận ra những ảo tưởng chị thường lặp đi lặp
lại trong thơ, mà có thể chị ngỡ người khác không nhìn ra được. Yêu Lưu Quang
Vũ nên Vương Trí Nhàn đau đớn nhắc nhở về một mảng đời mảng thơ bị quên
lãng của Lưu Quang Vũ, với ý thức để chúng ta khỏi “nghèo thêm một lần nữa,
trên phương diện tinh thần”.
Với Xuân Diệu thì lại khác.
Thái độ của tác giả là cảm phục tài năng nhưng không tán thành con người hằng
ngàycủa Xuân Diệu. Vương Trí Nhàn soi thấu con người Xuân Diệu ở mức
không nhân nhượng. Yêu Xuân Diệu-thi sĩ- thuở Thơ Thơ nên Vương Trí Nhàn bất phục
thái độ phi lịch sử của Xuân Diệu với chính tiểu sử văn học của mình,
không chịu nổi sự quá yêu mình nên cứ phải tự tạc tượng mình ngay khi còn sống
của Xuân Diệu. Rất nhiều chi tiết đời sống, rất đời được gợi lại, để
đi tới kết luận cuối cùng: nếu “đã không biết sống cái ngày hôm nay, thì làm
sao người ta có thể biết sống trong vĩnh viễn?!” như một lời tiếc, lời than cho
Xuân Diệu. Với Nguyễn Minh Châu, Vương Trí Nhàn có thái độ khác hẳn. Hình ảnh
hiện ra là một nhà văn thực sự xứng đáng với tên gọi ấy. Nắm bắt thấu đáo, gạn
lọc đến nơi đến chốn từng chi tiết cuộc sống thực, không phút xao lãng tâm niệm
nghề nghiệp, trăn trở suốt đời trong khát vọng dựng nên hình ảnh đúng của con
người mà mình muốn hướng tới, dù ở phía người viết hay người đọc, đó chẳng phải
là trách nhiệm nhà văn, “lương tri của thời đại” theo quan niệm của Nguyễn Minh
Châu hay sao?
Còn Nguyễn Tuân, người
nhập vai, với nét đẹp được tính toán của một tính cách mạnh mẽ. Nguyễn Tuân biết thưởng
thức từng ngày sống, từng ứng xử, từng câu chữ, cho đến cả những cái rất lớn
lao như toàn thể cuộc đời, và đã rất thành công trong trò-chơi-cuộc-sống, để
sau khi mất đi, không chỉ để lại những tác phẩm mẫu mực mà rất quan trọng là
hình ảnh một nhà văn dám khẳng định sự độc bản của mình. Với Tô Hoài
thì ngược lại, luôn tìm cách làm nhòa mình trong đám đông, biết
điều ngay trong những việc bình thường nhất, chỉ để được yên mà viết. Viết
với ông như một định mệnh, như hơi thở hằng ngày, là nhu cầu được trung thực với
cuộc đời. Đó cũng là một bản lĩnh. Viết trong bất kỳ hoàn cảnh nào và điều kiện
nào, phải chăng chính vì thế mà khối lượng tác phẩm của Tô Hoài thuộc vào loại
đồ sộ nhất của văn học Việt Nam?
Những nhân vật còn lại:
Thanh Tịnh, Tế Hanh, Nhị Ca, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khải, Nghiêm Đa Văn cũng
đều được Vương Trí Nhàn vẽ lại một cách ấn tượng, về những sự thực đời thường lẫn
sự thực nghề nghiệp của một lớp nhà văn. Họ có đủ tất cả những gì mà một người
bình thường vẫn có, cộng thêm những hệ lụy đương nhiên bởi nghiệp chướng văn
chương, dù họ thành công hay thất bại. Tập chân dung văn học Cây bút, đời
ngườicủa Vương Trí Nhàn là một cách nhìn nhận. Nó có thể khác với cách nhìn nhận
của những người khác về cùng một nhân vật. Nhưng quả rất khó để đạt tới sự đồng
nhất trong những chuyện thuộc loại này. Bởi chính nhờ sự khác nhau (chứ không
phải sự giống nhau) mà văn chương trở nên một thế giới đa dạng, rộng mở cho tất
cả mọi người.
Ngô Thị Kim Cúc
Báo Thanh niên, ngày
12-7-2002
Gặp gỡ cuối tuần
Nhà phê bình văn học Vương
Trí Nhàn:
“KẺ CHẦU RÌA CÓ CHÍNH KIẾN”
Tên là “Trí Nhàn”, lại
chọn theo một cái nghề chẳng “nhàn trí”: phê bình văn học. Cái vẻ mặt, nước
đi thì nom đến là nhiều mặc cảm và tự kỷ, vậy mà cách đặt vấn đề và và văn
phong thì luôn cho thấy một cách nhìn thẳng thắn, công tâm và mới mẻ. Trước
làng văn, người chọn nghề ấy tự gọi mình là kẻ chầu rìa .Tôi lại cho, đó là một
kẻ chầu rìa có chính kiến. Bởi cách đây chưa lâu, lại vừa có thêm một bằng chứng
thuyết phục cho điều đó: Cây bút, đời người - tập chân dung văn
học mới nhất của Vương Trí Nhàn (Nxb. Trẻ, 2002)
Tôi nói với ông rằng, từ
lâu, tôi từng muốn viết một chân dung về ông, nhưng vẫn cảm thấy cần phải có
thêm một “cú hích” mạnh hơn. Và rồi thì “cú hích” ấy đến, đến rất lạ: Cây
bút, đời người. Một tập chân dung văn học với những tên tuổi nhà thơ, nhà
văn, nhà viết kịch, phê bình trong nước vốn chẳng có gì lạ lẫm: Lưu Quang Vũ,
Xuân Quỳnh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… vậy mà sao nó vẫn làm
cho người đọc thấy “lạ” quá, “đau” quá. Nó không như khi ta đọc Chân dung
và đối thoại của anh nhà thơ Trần Đăng Khoa dẫu sao còn cho phép ta cười và “trừ
hao”. Mà, Cây bút, đời người đúng là đã làm bạn cảm thấy đau thật sự
– đau đến nỗi, muốn đi gặp ngay tác giả của những câu viết vừa đau đáu tình người
lại vừa như sắc sảo…nhẫn tâm ấy chỉ để hỏi hai câu này: “Sao giới nhà văn các
ông sống khổ thế?” và “Nếu có người về sau này cũng sẽ viết về ông cũng bằng một
cái giọng vừa chia sẻ vừa… “mổ xẻ” như thế thì sao, thì sao chứ?”. Nhưng khi gặp,
đã không phải là những câu hỏi ấy:
– Đã
chẳng dễ gì “nhàn trí”, khi đứng trong ngạch phê bình. Vậy mà ông tuồng như còn
chẳng muốn cả được “yên thân” nốt hay sao mà lại còn đâm đầu vào mảng chân dung
văn học, lại còn viết theo cái kiểu “khoan xoáy” như ông nữa? Điều gì đã “xui dại”
ông chứ?
– Thì
như tôi đã nói ở trong “Lời dẫn” của cuốn sách: Một trong những may mắn trong
nghề làm phê bình của tôi chính là luôn được sống và làm việc gần các nhà văn,
nhà thơ. Đủ để bị thôi thúc bởi ý nghĩ: bên cạnh các bài thơ, cuốn truyện thì
các nhà văn còn thường xuyên sáng tác ra một tác phẩm độc đáo khác, đấy chính
là tính cách của họ. Người đời đôi khi thành kiến rằng đám người viết văn chẳng
qua chỉ là một bọn dông dài. Trong khi, một số đồng nghiệp của tôi (nhất là các
nhà giáo) lại có xu hướng lý tưởng hóa những người viết, xem cây bút nào cũng
tâm huyết đầy mình. Phần tôi, tôi muốn nghĩ ngoài đời có bao nhiêu kiểu người
thì trong văn chương cũng có bấy nhiều kiểu người cầm bút, có thánh thần lẫn ma
quỷ. Và trừ một số tài năng sáng chói, thì phần lớ người cầm bút cũng có cả những
chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý.
Rồi điều quan trọng hơn, mỗi con người ở đấy là một tư cách, một số phận. Không phải chỉ những tài năng lớn mới có một cuộc đời thú vị, những nhà văn tạm gọi là bình thường cũng có cách phấn đấu riêng, những bi kịch riêng. Những cuộc làm người của họ trong văn chương cũng rất đáng ghi chép lại…Ông hỏi tôi thích bức chân dung nào nhất trong tập. Tôi nói, tôi không đủ quen biết các nhà văn kia cũng như thấu tỏ các mối quan hệ giữa ông và họ để biết chắc ông đã viết đúng hay sai, khách quan hay thiếu khách quan. Nhưng tôi cảm thấy ông chân thành và tinh tế, có tình và có lý, khi nghĩ đi còn có nghĩ lại, giận đó mà rồi thương đó, phục đấy mà vẫn là trách móc lắm đấy .
Rồi điều quan trọng hơn, mỗi con người ở đấy là một tư cách, một số phận. Không phải chỉ những tài năng lớn mới có một cuộc đời thú vị, những nhà văn tạm gọi là bình thường cũng có cách phấn đấu riêng, những bi kịch riêng. Những cuộc làm người của họ trong văn chương cũng rất đáng ghi chép lại…Ông hỏi tôi thích bức chân dung nào nhất trong tập. Tôi nói, tôi không đủ quen biết các nhà văn kia cũng như thấu tỏ các mối quan hệ giữa ông và họ để biết chắc ông đã viết đúng hay sai, khách quan hay thiếu khách quan. Nhưng tôi cảm thấy ông chân thành và tinh tế, có tình và có lý, khi nghĩ đi còn có nghĩ lại, giận đó mà rồi thương đó, phục đấy mà vẫn là trách móc lắm đấy .
Nhưng sao ám ảnh tôi nhất vẫn
là hai bức chân dung về Thanh Tịnh và Xuân Diệu. Tôi “phân bua” với ông, không
phải tôi không biết về cuộc đời nhiều thua thiệt và đầy cô độc của tác giả Quê
mẹ, qua câu thơ tự trào đầy cảm thương của nhà thơ: “ăn cơm tập thể, ngủ giường
cá nhân”. Nhưg sao khi đọc đến những dòng mà nhà phê bình viết về người đồng
nghiệp già cùng cơ quan kia, tôi vẫn cảm thấy như lạnh buốt cả lòng. Ông viết:
“Thanh Tịnh của chúng tôi không bao giờ có thể sống hết cái con người buồn rầu
đau đớn của mình. Ông phải giữ tiếng cho mình và cho mọi người, vì cái tiếng của
ông đã quá lớn. Chung quanh và chính ông đã ép ông trở thành một thứ phượng
hoàng nhồi trấu rồi treo lên tường, ông phải giữ lấy cái vai đã có” và “sớm trở
thành một thứ cựu chiến binh ngay trong thời gian tại ngũ. Có cái rỗi rãi của
người được chiều, có cái tùy nghi của người không bị ràng buộc. Nhưng chính vì
thế lại trở nên lạc lõng”.
Cũng nói về sự cô đơn, nhưng
một kiểu cô đơn khác, ông dùng hình ảnh “cây hoàng lan đổ bóng” để khái quát cuộc
đời và con người Xuân Diệu, có thể coi đây như mảng màu ám ảnh nhất trong bức
chân dung về “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”: “Quả thật, đó là một giống
cây lớn và lưu niên mà người ta vẫn trồng để lấy bóng mát. Thân cao, xù xì, lá
thưa và mỏng, nhiều khi hoàng lan lại có cái vẻ ngạo nghễ mà giống cây mọc cô độc
thường có. Có điều, đó là thứ cây cho ta loại hoa mỏng mảnh, cánh tuy to và
dày, nhưng bao giờ cũng rủ xuống yếu đuối, và hương thơm thì hơi hăng hắc. Một
thứ hoa dành để cúng lễ, và theo tôi nhớ trước kia cũng là thứ hoa để những người
con gái đang yêu giắt trong áo(…) Cộng với cuộc đời độc thân kéo dài “mạn
tính”, cuối cùng ở Xuân Diệu hình thành một cốt cách riêng, kết hợp cả sự chăm
chỉ xốc vác, đôi khi như là hùng hục làm, làm bằng được, làm quần quật suốt
ngày này tháng khác, với sự tinh tế, nhỏ nhẹ, cái sự chiều lòng mọi người!
Vâng, Xuân Diệu chính là một thứ cây hoàng lan cô đơn đổ bóng bên nhà ông
đó!”.
Vâng, tôi đã miên man đọc những
dòng đó và bâng quơ tự hỏi: Sẽ ra sao, nếu một bộ phận dộc giả của cuốn sách là
những em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường và có thể đang ôm đầy những tưởng
tượng đẹp về các tác giả của những trang văn, trang thơ mà các em yêu thích?
– Có
bao giờ ông nghĩ, đôi lúc, mình đã nỡ dội một “gáo nước lạnh” vào những sự ngộ
nhận mà có thể rất cần thiết cho những người học văn kia không?
– Sách
của tôi có lẽ không phải là thứ sách phê bình để dùng trong nhà trường, không
thể là một thứ “văn mẫu” để học sinh có thể dùng vào thi đại học. Nó như là thứ
thuốc cần “để xa tầm tay trẻ em”. Bạn đọc lý tưởng của tôi là những người không
bằng lòng với cuộc sống, muốn cắt nghĩa một phần cuộc sống này thông qua việc
tìm hiểu thế giới văn nghệ sĩ. Trong đó, có thể có cả thuốc bổ lẫn thuốc kháng
sinh. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là đã có một gáo nước lạnh bị dội lên bất kỳ ai
ở đây. Tôi cho rằng tôi đã chân thực với những điều tôi thấy, nhưng không vì thế
mà dám nghĩ rằng: tôi chắc chắn đúng và chỉ có mỗi mình tôi đúng. Có một câu của
Ehrenburg mà tôi thấy tâm đắc: “Trí nhớ người ta giống như ánh đèn pha của một
chiếc xe đang đi trong đêm, khi tì nó cho thấy hình ảnh một gốc cây, khi thì một
trạm gác, khi thì lại là một con người”.
– Nhưng
tôi không tin, ở dưới suối vàng, ông Xuân Diệu lại có thể yên dạ mỉm cười trước
những điều ông viết. Một loạt bài phản đối về bức chân dung này vừa qua cũng đã
được đăng dài kỳ trên báo Tiền phong trước sự im lặng…“đáng gờm” của
ông. Tại sao ông im lặng, và nếu lúc này còn có thế nói chuyện được với ông,
thì câu đầu tiên mà Xuân Diệu có thể nói là gì?
– Tôi
thậm chí hình như đã từng một lần nghe được câu đó, trong tưởng tượng, rằng:
“Nhàn ơi, sao lại thế này? Đời nó phải thế, mình cũng phải sống như thế chứ!”.
Còn tại sao tôi im lặng ư? Đơn giản chỉ vì tôi đã nói xong những điều cần nói.
– Nhưng
như tôi thấy, và cũng nhiều người nhận xét: Ông hình như không hẳn là một người
thực sự cởi mở và quảng giao - điều cần thiết để làm tốt công việc ông đang
làm?
– Tôi
đã và có thể vẫn đang còn là người sống hơi đơn độc như một thứ “chầu rìa”, một
thứ “mèo hoang” giữa làng văn. Để yêu nhau, theo tôi, đôi khi nên đứng tách
nhau ra một chút để tưởng tượng và suy ngẫm về nhau. Chính vậy mà trong khi sống,
tôi luôn có chủ ý làm tư liệu rất kỹ. Và trong khi viết, tôi cũng đã cố gắng
đưa vào bài những nhận xét của nhiều người (mà không chỉ của riêng tôi) về con
người đó.
Tôi “hãm” câu chuyện
lại, vì đó là lúc nhà phê bình đang chuẩn bị lên suối nước nóng Mỹ Lâm (Tuyên
Quang) chữa bệnh thoái hóa đốt sống cổ - căn bệnh mắc phải sau bao
năm ngồi bàn giấy. Quả không tiện để “xoay” một người đang bị đau cổ!
Mặc dù vậy, cuối cùng tôi vẫn “ác khẩu” đùa với người không được nhàn
trí ấy: “Đấy, ông thấy chưa, nước nóng có ích cho đời bao nhiêu so với mấy
gáo nước lạnh của ông”.
Thủy Lê (thực hiện)
Báo Lao động, số 259 ngày Chủ
nhật 29-9-2002
(*) Sau 1986,
một số bài thơ nhắc trong bài này đã được in lại trong các tập thơ tuyển của
Lưu Quang Vũ.
(*) Cesare
Pavese (1908-1950), tác giả tập Il Mestiere di vivere.
(*) Tô
Hoài, Tự truyện. Nxb. Văn học 1985, tr. 272-273.
(*) Trần
Thanh Mại, Đời văn (II) 1940, tr 47.
(*) Xem Cách
mạng, kháng chiến và đời sống văn học, Nxb. Tác phẩm mới 1985, t. I.
[1] Trước
đây, cuốn sách của Gide được coi như vu cáo, bôi đen xã hội Xôviết, nay được dịch
ra ở Liên Xô và được xem như là một lời tiên tri xác đáng.
(*) Cây bút đời
người, chân dung văn học, Nxb. Trẻ 2002








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét