Chùa Hương lần đầu tiên ta đến
Ai trong chúng ta, dù không
phải là những người am hiểu hoặc thích thơ ca hay âm nhạc, nhưng khi nghe đến
tiếng nhạc lời ca hay tứ thơ dưới đây, chúng ta sẽ liên tưởng ngay đến vùng đất
Phật, gần ngàn năm văn vật, ở phía Bắc quê hương ta:
“Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em quấn đầu soi gương”.
(Thơ Nguyễn Nhược Pháp)....
Hoặc
“Hỡi cô con gái hái mơ già.
Cô chửa về ư? đường thì xa
Mà ánh trời hôm dần một tắt
Hay cô ở lại về cùng ta?”...
(Thơ Nguyễn Bính)
Hoặc “Tiếu ngạo giang hồ”
hơn:
“Bày đặt kia ai khéo khéo
phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật chen
chân xọc
Kẻ lạ bầy Tiên mỏi mắt dòm…”
Chính vì lẽ đó nên ai trong
chúng ta không mong đến đó một lần. Thế nhưng, công việc hàng ngày thì cứ bộn bề,
cuồn cuộn chảy như thời gian qua mau và bản thân tôi đã c hục lần đi đi,về về giữa
thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội và dù chùa Hương chỉ cách Hà Nội, có khoảng 60
km nhưng lại chưa có dịp một lần đến viếng nơi này!
Thế rồi, tình cờ vào những
ngày đầu tháng năm-mưa đổ đầu mùa, theo lời mời của Tổng công ty cơ khí 3/2,
cùng đòan các đợn vị vận tải thành phố và các tỉnh bạn tham quan nhà máy ở Hưng
Yên, chúng tôi lại có dịp thăm viếng chùa Hương trong mùa Phật Đản 2009.
Giới thiệu một chút về Chùa
Hương
Chùa Hương cách Hà Nội 60 km
về phía Tây Nam, bên phải dòng sông Đáy(Là phân lưu và nằm bên hữu ngạn hạ lưu
sông Hồng, thuộc miền Bắc Việt Nam, đi qua địa bàn các tỉnh Hòa Bình-Ninh
Bình-Hà Nam-Nam Định và TP Hà Nội, có nhiệm vụ rút nước sông Hồng đổ ra vịnh Bắc
bộ, dài 240 km; trên sông Đáy có quãng sông gọi là sông Hát hay Hát giang, nơi
Hai Bà Trưng tuẫn tiết khi không đánh bại được quân Nam Hán), thuộc xã
Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây và nay đã thuộc về Hà Nội (với biệt danh
HN2).
Tuy gọi là chùa Hương nhưng thực ra đây là một quần thể gồm 18 chùa-đền-hang động
có vẻ đẹp kỳ vĩ và mang đậm nét văn hoá Việt Nam. Riêng chùa Hương còn có tên
là chùa Hương Tích hoặc chùa Trong và nằm ở trung tâm của khu vực.
Khi nói về chùa Hương, chúng ta cũng cần biết thêm là ở Hà Tĩnh cũng có tên
chùa Hương Tích(xã Thiên Lộc-Huyện Can Lộc-tỉnh Hà Tĩnh), được xây dựng
trên núi Hồng Lĩnh từ thế kỉ 13-đời Trần(trước cả chùa Hương ở Hà Tây cả 100
năm)tựa mình vào lưng chừng núi Hồng Lĩnh và từ xưa Hương Tích đã nổi tiếng là“Hoan
châu đệ nhất danh lam”với bao hình khe-thế núi tuyệt vời(Đến ngày 15/3/2009, đề
đáp ứng nhu cầu thưởng ngọan của du khách Tỉnh đã cho xây dựng cáp treo hiện đại
theo tiêu chuẩn EU).
Chùa Hương Hà Tây, được mệnh danh là miền đất Phật, vì có nhiều chùa cổ, nhiều
hang động kỳ thú; nhưng đồng thời cũng là nơi có nhiều cảnh thiên nhiên đẹp, hội
đủ các lọai hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch hang động...
Hàng năm cứ vào mùa Xuân, hội chùa Hương được mở, và thường kéo dài trong hai
tháng(từ mùng 6 tháng giêng đến rằm tháng ba âm lịch). Du khách có thể đến
chùa Hương bằng nhiều cách, nhưng có lẽ đường thủy là cách thích nhất, và khởi
đi từ bến Yến.
Còn truyền thuyết về sự tích chùa Hương thì ở vùng “Linh sơn phúc địa” này,
ngay từ thế kỉ đầu tiên đã có cô công chúa Diệu Thiện tục gọi là bà
Chúa Ba(nay còn hình thờ trong Chùa) ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, đã đến
đây tu hành và đắc đạo và Ngài giáng sinh vào ngày 19/2 Âm lịch(nên ngày hội
ngày nay xảy ra trong thời gian này, riêng làng Yến Vĩ hàng năm vào ngày mồng 6
Tết thường làm lễ mở cữa rừng gọi là “Tế Khai Sơn). Còn người phát hiện ra khu
Phật tích này là 3 vị hoà thượng từ thời Vua Lê Thánh Tông thế kỉ 16. Việc mở hội
có qui mô lớn chỉ áp dụng từ thời vua Thành Thái-1896.
Rời Hà Nội chúng tôi đi qua
thị xã Hà Đông(là quê hương của lụa Hà Đông vang danh muôn thuở: “Nắng Sài Gòn
Anh đi mà chột mát/ Bởi vì Em mặc áo lụa Hà Đông”, cũng theo lời kể của các cô gái
làng Yến Vĩ nghề chính của họ là nuôi tằm dệt tơ, trong đó có loại tơ trắng
dành cho lụa Hà Đông), vào thị trấn Vân Đình, tới dốc Thanh Bồ thì rẽ vào
Bến Đục (Bến nước trong nhưng không hiểu vì sao họ gọi là Bến Đục? Có thuyết cho
rằng trước khi đến chùa Hương Sơn để cầu nguyện trong chúng ta tâm vẫn còn vẩn
đục!?).
Đó là lối đi bằng đường bộ,
còn đi bằng đường thuỷ chúng ta có thể đến đây bằng cách đi từ cuối tỉnh Hà Nam
ngược theo giòng sông Đáy qua thị xã Phủ Lý, ước khoảng hơn một ngày thuyền thì
tới Bến Đục, là địa đầu của thắng cảnh chùa Hương, bến Đục thuộc đất làng Đục
Khê(nên gọi là Bến Đục?).
Từ bến Đục đi thêm 1km ta mới
tới được bến Yến (tên làng và địa hình giống như Yến Vĩ, đuôi con chim Én, một
loài chim đẹp báo hiệu mùa Xuân), nếu khách đi bằng đường bộ, chúng ta đi xuyên
qua rừng mơ (là con đường mòn mà ngày xưa các tiều phu vào rừng lấy củi hoặc hái
thuốc) và đây là dịp chúng ta sẽ hòa mình vào nhiều chùa, hang động, cảnh
đẹp; đặc biệt chúng ta có dịp ghé thắp nén nhang cho thi sĩ Tản Đà (một
bên núi Tản, một bên sông Đà-Tản Đà) một thi sĩ nổi tiếng đầu nửa thế kỉ
20.
Và khi đi qua rừng mơ, làm
sao chúng ta có thể quên được một cách tỏ tình đầy lãng mạn của người xưa, qua
bài thơ của Nguyễn Bính:
“Hỡi cô con gái hái mơ già.
Cô chửa về ư? đường thì xa
Mà ánh trời hôm dần một tắt
Hay cô ở lại về cùng ta?
Nhà ta ở dưới gốc cây dương
Cách động Hương Tích nửa dặm
đường
Có suối nước trong tuôn róc
rách
Có hoa bên suối ngát hương
đưa!”
Còn Đoàn chúng tôi chọn đi bằng
đường thủy, nghe nói cũng rất hữu tình. Thế là chúng tôi xuống đò. Trước khi đi
chúng tôi đã nghe các HDV báo rằng, khi xuống đò chúng ta sẽ có dịp chứng kiến
những cô gái làng Yến nhẹ nhàng(nhẹ nhàng thật nhưng chuyến đi của chúng tôi lại
gặp người đẹp Lan-chiếc đò thứ hai, ảnh bên cạnh thật không nhẹ chút nào, vì
ghen tị với cô Lan HDV nên suốt hành trình chúng tôi được nghe những câu chuyện
thật lý thú) đưa đò trôi lờ lững theo dòng suối Yến (chính là một nhánh của
sông Đáy), bằng đôi tay yếu ớt của mình; còn chúng ta có dịp đưa mắt nhìn phong
cảnh hai bên bờ súôi, vừa nghe tiếng róc rách của nước dưới mạn thuyền, vừa có
dịp phóng tầm mắt nhìn nước biếc, non xanh!
Bước đầu tiên, đò chúng tôi
dừng khoảng 20’ ở khu đền Trình, để du khách vào làm lễ trình diện với các sơn
thần, với một dũng tướng của vua Hùng được phân công cai quản vùng đất thiêng
liêng này.
Sau khi rời khỏi đền Trình, chúng tôi nhìn thấy ngay núi ngũ nhạc ở phía bên
tay phải, đồng thời đi tiếp một đoạn vơi cảnh sơn thuỷ hữu tình, chúng tôi chợt
nhớ đến những câu thơ mà Chu Mạnh Trinh đến đây đã mô tả:
“Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu
nay
Kìa non non-nước nước-mây
mây
“Đệ nhất động” hỏi là đây có
phải?”
Tiếp theo, chúng tôi đến được cửa hang với 4 chữ Hán: “Sơn Thuỷ hữu tình” thực ra
là “Sơn kỳ thuỷ tú” là dấu tích của Tĩnh Vương Trịnh Sâm ghi lại ở
phía bên phải (Còn nghe HDV giải thích là có cả phần giường bằng đá dành cho
Chúa “lung bệnh”); còn ở phía bên trái đối lại là chùa Tuyết Sơn, chỉ dành cho
các ni cô tu nên người ta gọi là “Sơn Thuỷ thất tình”, thú vị chưa các bạn?
Dọc
theo 2 bờ suối Yến, qua thuyết minh chúng tôi thấy ngừơi xưa nói chung hoặc cư
dân ở đây nói riêng, có đầu óc tưởng tượng khá phong phú là tên các núi được đặt
theo dáng núi, nào là: núi Ngũ Nhạc (có hình năm trái chuông), núi Đụn (như
một đụn thóc), núi Voi (hình con voi), núi Lân (hình con kỳ lân), núi Qui (hình
con rùa), núi thuyền rồng, núi Phượng Hòang ở hai bên suối Tuyết (con suối dẫn
vào chùa Tuyết Sơn), núi mâm xôi, núi Trống, núi Chiêng, núi ông Sư, núi
bà Vãi...
Rồi khách lại tiếp tục xuôi đò, theo dòng suối uốn lượn quanh co, qua hang Bà,
cầu Hội, cảnh đẹp như tranh thủy mạc, với cỏ-cây-hoa-lá đung đưa trước gió Xuân
thật lãng mạn.
Trên đường đi chúng tôi còn được HDV Lan cho biết một số sự tích liên quan đến
việc đặt tên các sự vật ở đây như:
- Cầu
Hội, là cây cầu nhỏ bắt qua suối Yến, nối hai làng Hội Xá và làng Đục
Khuê, thể hiện sự hợp tác giữa 3 làng với nhau vì thắng cảnh chùa Hương! đồng
thời cây cầu này cũng giúp cảnh nên đẹp hơn như nữ sĩ Hằng Phương khi qua đây
đã viết:
“Mây luồn đáy nước qua cầu
- Núi
Voi, là núi duy nhất trong 100 ngọn núi ở đây không quay đầu vào chầu chùa
Hương nên đã bị Đức Phật giận quá tuốt gươm phạt, vạt mất một mảng mông!
- Núi “Con
trăn” là nơi “Đổi chèo” tức cách bến chừng nửa đoạn
sông(2,3 km) là dịp người chèo đò được đổi ca, đặc biệt là đối với những ai có
sức khoẻ để gánh trách nhiệm thay cho phái nữ yếu đuối mỏi tay chèo, nên ca dao
mới có câu:
“Ai sinh ra núi Con Trăn
Để cho con cháu băn khoăn đổi
chèo”.
Chỉ tiếc một điều là nếu
chúng tôi mà “đổi chèo” thì chắc thuyền sẽ quay ngược về bến Yến mất thôi!
Nhà Anh công nợ mấy năm
Sao Anh kéo lưới quanh năm đủ
đời!
Thương thay thân phận chú
rùa
Trên Chùa đôi đá dưới chủa đội
bia
Chùa Thiên Trù
Cuối cùng, sau gần một tiếng đồng hồ thả hồn theo mây nước, đò chúng
tôi cũng cập bến cho du khách tham quan chùa Thiên Trù (còn có tên gọi khác là
chùa Ngòai, chùa Trò, được coi là bếp nhà Trời vì theo ngữ nghĩa hán tự
Thiên (Trời), Trù (bếp), nhờ vào ba ngọn núi chụm lại ở nơi này hình thành một
khoản không ở giữa như bếp Trời!).
Ở chùa Thiên Trù, ngoài nội
dung chính là viếng ngôi chùa, một kiến trúc cổ khác rất đáng lưu ý là tòa “Viên
Công bảo tháp” nơi lưu giữ xá lợi của tổ Viên Quang, người có công kiến tạo lại
chùa Hương sau nhiều năm bỏ hoang phế. Đó là một kiến trúc đặc sắc thời Hậu Lê
được xây bằng gạch tốt màu đỏ hồng, để lộ thiên, kết hợp được cả hai phong cách
kiến trúc vừa hiện đại,vừa mang tính truyền thống.
Chúng tôi tham quan phía bên trái, có các bảo tháp thờ các vị hoà thượng trụ
trì nơi đây khi viên tịch, có những cây nhãn 197 tuổi, cây thị 275 tuổi, vườn
si cổ-ở đó có con đường nhỏ dẫn lên một chiếc am nhỏ, dành cho những vị sư vi
phạm trong quá trình tu hành (mà Anh em gọi vui là: lối nhỏ là lối an tòan, ở ngay
trong con đường to, có một lối nhỏ đi vào, trong đường vào lối nhỏ, lại gặp một ngôi
nhà to to và đặc biệt là trong nhà to to kia, lại có cô gái nho nhỏ, đang chờ
ta ở đó, Thật tuyệt vời phải không các bạn?) lên đây tự ăn năn sám hối (chuộc
lỗi).
Ngay bên phải chùa Thiên Trù
là động Tiên Sơn, với nhiều nhủ đá trên vách và 5 pho tượng đá. Nơi đây còn có
hồ bán nguyệt, nuôi cá-thả hoa sen...Quanh chùa Thiên Trù là núi cao và hàng
trăm ngọn tháp (?).
Nói chung, chùa Hương không chỉ hấp dẫn khách ở vẻ đẹp thiên tạo mà còn lưu giữ
những dấu tích văn hóa của nhiều giai đọan lịch sử, một trong những cổ vật ghi
niên đại sớm nhất ở Hương Sơn là: “Bảo đài Hương Sơn Tích Đại Hồng chung”, với
chiều cao 1,24m, đường kính 0,63m; thân chuông có 8 núm lồi chìa ra 4 góc, mỗi
góc có hai núm, xung quanh mỗi vú là những chấm tròn tạo nên sự khác biệt so với
chuông cùng thời.Đây là quả chuông có niên đại Cảnh Hùng thứ 7 (tức năm 1766) một
quả chuông khác nhỏ hơn đúc từ thời Tây Sơn (tức năm 1793) treo ở nhà
Tổ chùa Thiên Trù.
Núi Hương Sơn có cách nay khoảng
200 triệu năm nhưng theo truyền thuyết và ngọc phả còn lưu lại ở đây thì động
Hương Tích chỉ ra đời cách nay khỏang 2.000 năm.
Ngoài ra, ở đây còn có những
lọai bia đá như lọai tứ trụ, lục trụ và bia ma nhai (lọai bia mài khắc lên
đá) trong đó, có bia đá có niên đại sớm nhất là “Thiên Trù tự bi ký” hiện
dựng ở nhà bia trên đường vào trên đường từ bến Thiên Trù vào chùa, đây là bia
đá có niên hiệu Chính Hòa thứ 7(1688) khắc đẽo rất công phu trên các con vật
như voi-trâu-vịt-cua...khỏe khoắn và bay bướm.
Động Hương Tích
Tiếp tục chúng tôi đi sâu
vào bên trong, nơi có động Hương Tích cổ kính, từng được chúa Trịnh Sâm-thế kỉ
18, tôn vinh là “Nam thiên đệ nhất động”!. Do không nhiều thời gian cũng như
không đủ sức lực nên chúng tôi phải dùng cáp treo(nghe nói đây là công trình do
Thứ trưởng Bùi Văn Sướng tư vấn khi chết đã về hưu).
Trong động Hương Tích (Từ tích
Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân thành công chúa Diệu Thiện và tu ở đây 9 năm, sau
đó thành chánh quả, Hương tích có nghĩa là dấu vết thơm tho), sau khi xuống gần
hàng trăm bậc thang đá (120 bậc) trơn trợt do trời mưa lâm râm, chúng tôi bắt
gặp ngay “Đụn gạo” và theo thuyết phong thuỷ, người ta cho rằng: Động Hương
Tích là con rồng Chúa đang há miệng vờn ngọc; phía bên trái có bút tích của
chúa Trịnh Sâm viết năm 1770: “Nam Thiên đệ nhất động”; tiếp tục đi
sâu vào bên trong, chúng tối thấy có lối lên Trời, có lối xuống Âm
phủ, núi Cô, núi Cậu, cây Vàng, cây Bạc, nong tằm, né kén…
Ngoài hai cảnh vật chính là
chùa Hưong và động Hương Tích, nơi đây còn hội tụ các cảnh đẹp khác như: chùa
giải Oan, chùa Cửa Võng, am Phật Tích, động Tuyết Kình... với chim kêu, vựơn
hót, tiếng suối róc rách như một bản hòa âm diền dã, thật tuyệt vời!
Động Hương Tích gắn với bao
thi nhân, nhân vật lịch sử như Trịnh Sâm, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Xuân Diệu...
Các bệ đá đặt trước điện thờ
Phật ở động Hương Tích mang tính nghệ thuật cao thời Lê-Trịnh chạm nổi hình người
ở tư thế ngồi đóng khố để trần đầu và hai tay nâng phần trên của bệ Phật tương
tự như bệ đá thời Lý-Trần.
Rau đắng chùa Hương
Rau đắng là loại rau với lá
non, đọt mầm hoặc chùm hoa lấy từ cây sắng.
Chưa đến chùa Hương và đặc
biệt là đối với những ai ở miền Trung hoặc miền Nam, khi nghe đến rau đắng,
chúng ta cứ ngỡ là rau lấy tư hoa hoặc lá gì của loại củ sắn (thường dùng
ăn sống cho mát hoặc xào với thịt bò để ăn bún bò) nhưng khi đến tại quê hương của
rau đắng, chúng ta thấy rằng đây là một loại rau thân mộc, có thể cao trên 10m
và thân có đường kính từ 20-30cm (khác với các loại rau khác là thân thảo).
Cây rau sắng có rất nhiều tên gọi khác nhau tuỳ theo dân tộc. Tiếng Việt thường
gọi là cây mì chính hoặc cây rau ngót rừng, tiếng Dao gọi là cây lai
cam, tiếng Mường gọi là tắt sắng, tiếng Tày-Thái gọi là pắc-van và
tất cả đều có nghĩa là rau ngọt.
Đặc điểm của loại cây này giống như cây đu đủ là cả cây đực hoặc cây cái đều ra
hoa, nhưng chỉ có hoa cái mới kết thành quả.
Nói về rau đắng, chắc chúng ta ai đến chùa Hương đều được các cô gái lái đò
làng Yến Vĩ giới thiệu về đặc sản này qua câu ca dao:
“Muốn cho da trắng tóc dài (hoặc
má hồng)
hoặc chúng ta thường biết về
4 câu thơ của thi sĩ Tản Đà:
“Muốn ăn sau đắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn con đường
ngại xa
Mình đi ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì
thâm”
nhưng ít ai biết rằng: ngay
sau khi tin này được phổ biến trên báo chí thời bấy giờ, đã có người
đáp lễ mong muốn ấy của Ông:
“Kính dâng rau đắng chùa
Hương
Tiền đò đỡ tốn con đường đỡ
xa
Không đi thì gửi lại nhà
Thay cho dưa khú cùng là cà
thâm”
Và thế là thi sĩ
đành phải ngỏ lời tri ân:
“Mấy lời cảm tạ tri âm
Đồng bang là nghĩa đồng tâm
là tình
Đường xa rau vẫn còn xanh
Tấm lòng thơm thảo bát canh
ngọt ngào
Yêu nhau xa cách càng yêu
Dẫu rằng suông nhạt càng nhiều
chứa chan
Nước non khắp nẻo ngư nhàn
Tạ lòng xin mượn thế gian
đưa tình”
Từ câu rau đắng chùa Hương phía Bắc, tôi lại nghĩ đến cây rau ngót miền Nam (còn
gọi là bồ ngót, bù ngót) cũng tuyệt vời chẳng kém, thế nhưng sao lại chẳng
nổi tiếng bằng nhỉ?
Rau
ngót miền Nam, thuộc lọai thân thảo nhưng lá xanh um và vị ngọt khi nấu canh (với
giò heo hoặc thịt nạt bằm hay chỉ nêm một chút muối nó vẫn ngọt như thường) lại
chẳng kém, ngòai là món ăn khóai khẩu thì rau ngót còn là một số vị thuốc như:giúp
cân bằng thân nhiệt, trị chứng nước tiểu vàng, trị bệnh tua lưỡi cho trẻ và cả
cho người lớn,chữa sót nhau cho phụ nữ... đúng là thiên nhiên khá công bằng:
không cho bù ngót thì bù cây đắng hay ngược lại!
Củ mài
Đó là một loại cây leo, nhẵn,
thuộc loại cây ăn củ thuộc họ củ nâu, gồm có các loại tương tự nhau như: khoai
mỡ/ củ từ/ củ mài/ củ nâu…Củ mài khi dùng làm thuốc gọi là hoài sơn hoặcsơn
dược. Nó được dùng chữa các chứng bệnh như tiêu khát (tiểu đường), tiêu chảy, bồi
dưỡng cơ thể suy nhược…Khi dùng để ăn nó được dùng dưới hình thức luộc-xào-nấu
canh, nấu chè …
Mơ
Đặc sản thứ ba của chùa
Hương là trái mơ, đây là một loại cây đặc biệt, có bộ rễ khoẻ, ăn sâu vào lòng
đất, có thể len lỏi vào các nơi đất đá khô cằn.
“Mớ rau đắng quả mơ non
Mơ chua sắn ngọt biết còn
thương chăng?”
Cây mơ trồng rất lâu, đến 10
năm mới ra trái, nhưng nó có thể sống đến 50 năm. Hái quả cũng rất công phu vì
phải tránh rụng lá-gãy cành, trái mơ có thể làm rượu, nấu chè; gỗ mơ có thể
dùng nấu nước uống giải khát và thường đựơc gọi là nước lão mai, màu hồng
đỏ và mát. Mơ chùa Hưong còn có đặc biệt là nhờ có chất đá vôi nên có hương vị
lạ: chua mà không gắt.
Cả ba đặc sản này đều có bán
dọc theo các con đường tham quan, đặc biệt là món củ mài nóng hổi vừa thổi vừa
ăn!.
Kết thúc cuộc hành trình
Thế rồi ngày vui qua mau, buổi
chiều ở chùa Hương về chúng tôi lại ra sân bay để về thành phố, bỏ lỡ chuyến
thăm khu “Hà Nội thu nhỏ” mà bạn Đào Anh giới thiệu nghe rất thú vị.
Quay về thành phố chúng tôi
thầm cám ơn cá anh Hồng, Anh Mai lãnh đạo công ty 3/2 và tất cả các bạn Dũng - đã
dành thời gian hai ngày nghỉ của mình cho Đoàn chúng tôi được đi đây đó thõa
lòng ao ước của người miền Nam ra thăm đất Bắc.
Chưa đến chùa Hương thì ai
cũng ao ước mong sao đến đó một lần. Đến rồi nghĩ lại thì:
“Không đi không biết chùa
Hương
Có đi mới biết thấy thương cặp
giò!”
Cũng như rất tiếc là một khu di tích lịch sử và một danh lam thắng cảnh nổi tiếng
như thế nhưng các nhà tổ chức và quản lý ở đây chưa có những đầu tư và chăm sóc
tương xứng! Chỉ xét trên bình diện môi trường và cảnh quang thôi, chúng ta đã
thất vọng; còn đi sâu hơn như xem xét đến cách quảng bá du lịch và giới thiệu lịch
sử về quần thể này lại càng thiếu thốn.
Chia tay chùa Hương, chúng
ta luôn nhớ về ca khúc “Em đi chùa hương” của nhạc sĩ Trung Đức
phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp, tuy ra đời sau bản nhạc phổ thơ của Trần Văn Khê,
nhưng đã vượt thời gian và trở thành bất tử và chúng ta cũng không thể nào quên
một thiên tài bạc mệnh: Nguyễn Nhược Pháp (Con ông Nguyễn Văn Vĩnh, một nhà báo
xuất sắc ở miền Bắc. Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo
khó, từ Hà Tây lên Hà Nội kiếm ăn, nhưng đã có chí học hành sau làm thông ngôn
cho Pháp, nhưng sau khi tham dự hội nghị Marseille ở Pháp về, đặc biệt là sau
khi tham quan nhà xuất bản Hachette và tòa soạn sách tự điển Larousse, ông đã
xin thôi làm quan,chuyển sang làm báo, làm chủ bút của Đông dương tạp chí,
L’Annam Nouveaux, Đăng Cổ Tùng báo (tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Miền Bắc) với bút
hiệu Tân Nam Tử (người nam mới) để suốt đời phụng sự cho sự nghiệp chiếc cầu nối
cho sự nghiệp Đông-Tây.
Ông đã có những bài dịch từ
Việt sang Pháp như truyện Kiều, Hán sang Pháp như Tiền, hậu Xích Bích; Pháp
sang Việt như ba chàng ngự lâm pháo thủ, Những người khốn khổ hoặc truyên ngụ
ngôn của La Fontain mà thời trai trẻ ai trong chúng ta không thuộc nằm lòng như
bài Con ve và cái kiến (La Cigale et La fourmi) theo kiểu “dĩ vật giáo nhân”:
“Ve sầu kêu ve ve, suốt mùa hè/ Đến kỳ gió bấc thổi/ nguồn cơn thật bối rối/ Một
miếng cơm chẳng còn”…hoặc đọan đối đáp thật tuyệt vời…”Nắng ráo chú làm gì, kiến
hỏi ve như vậy?/ Ve rằng luôn đêm ngày tôi hát, thiệt gì bác?/ Kiến rằng: Xưa
chú hát/ nay thử múa coi đây!”).
Ông sinh ngày 12/12/1914, quê
ở làng Phượng Vũ Phú Xuyên - Hà Tây; Ông bắt đầu viết báo, làm thơ, viết truyện ngắn
từ năm 18 tuổi, nhưng cuộc đời ông rất ngắn ngủi, ông mất lúc 24 tuổi và ông
làm bài thơ Chùa Hương vào năm 20 tuổi, trong bài thơ Chùa Hương ông đã thể hiện
tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà
không ủy mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, nên đã được hai
nhà phê bình văn học nổi tiếng Hoài Thanh - Hoài Chân đánh giá một cách trân trọng:
“Với vài ba nét đơn sơ, Nguyễn
Nhược Pháp đã làm sống lại cả một một thời xưa. Thơ Ông đậm đà những nét phong
tục xưa, những nếp văn hóa truyền thống được thể hiện qua những nét tinh tế
mang đậm bản sắc dân tộc nhưng không thể thấy dấu tích một nhà thơ xưa nào. Ông
mất năm 24 tuổi, tấm lòng trắng trinh như hồi còn thơ”.
Chia tay Chùa Hương, Đoàn
chúng tôi chắc cũng giống như nhà thơ Yến Lan - Bình Định quê tôi, đã từng đến
đây:
“Hương Tích ơi ta còn đến nữa
Như hoa mơ lại đến với mùa
mơ
Nâng cuộc đời đẹp hơn những
ước mơ!”
Còn bây giờ an toàn trở về
nhà, chuẩn bị cho ngày mai quay về với công việc bộn bề, chúng tôi tự kiểm tra
mình theo tư duy Nguyễn Bính ngày nào:
“Hoa chanh nở giữa vườn
chanh
Thầy u mình với chúng mình
chân quê
Hôm qua Ta đi tỉnh
về
Hương đồng gió nội bay đi ít
nhiều!”
(Bài ngợi ca quê hương của
Nguyễn Bính “Chân quê 1936”).
Phụ lục I
Đi Chơi Chùa Hương
Sáng
tác: Trần
Văn Khê
Ca
sĩ: Ý lan
Thơ: Nguyễn
Nhược Pháp
Hôm nay đi chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ đuôi gà cao!
Lưng đeo dải yếm đào!
Quần lĩnh, áo the mới!
Tay cầm nón quai thao.
Me cười: “Thầy nó trông!
Me cười: Thầy nó trông!
Chân đi đôi giép cong.
Con tôi xinh xinh quá! Xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”
- Em tuy mới mười lăm,
Mà đã lắm người thăm.
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen em đẹp như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai.
Rằng em còn bé lắm,
Ý đợi người tài trai.
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ đuôi gà cao!
Lưng đeo dải yếm đào!
Quần lĩnh, áo the mới!
Tay cầm nón quai thao.
Me cười: “Thầy nó trông!
Me cười: Thầy nó trông!
Chân đi đôi giép cong.
Con tôi xinh xinh quá! Xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”
- Em tuy mới mười lăm,
Mà đã lắm người thăm.
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen em đẹp như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai.
Rằng em còn bé lắm,
Ý đợi người tài trai.
Em đi cùng với me,
Me em ngồi cáng tre.
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Thầy me ra đi đò.
Thuyền mấp mênh
mấp mênh bên bờ ( ơ hơ hớ)
Em nhìn sông nước chảy,
Ðưa cánh buồm lô nhô.
Me em ngồi cáng tre.
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Thầy me ra đi đò.
Thuyền mấp mênh
mấp mênh bên bờ ( ơ hơ hớ)
Em nhìn sông nước chảy,
Ðưa cánh buồm lô nhô.
NÓI:
Mơ xa lại nghĩ gần.
Ðời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân …
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường
Lưng cao dài, trán rộng
Hỏi ai nhìn (mà) không thương?
HÁT:
Chàng ngồi bên me em
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy, Thầy đi chùa ạ!
Thuyền đông, ứ! giời ôi chen!”
Chàng thưa vâng thuyền đông,
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.
Giòng sông nước đục lờ
Ngâm nga chàng đọc thơ!
Thầy khen hay. Hay quá! Hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ!
Thuyền đi. Thuyền đi
Thuyền đi bến Ðục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
“Nam mô A–di–đà!”
Réo rắt suối đưa quanh,
Ven bờ ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ!
Cảnh đẹp gần như tranh.
Mơ xa lại nghĩ gần.
Ðời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân …
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường
Lưng cao dài, trán rộng
Hỏi ai nhìn (mà) không thương?
HÁT:
Chàng ngồi bên me em
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy, Thầy đi chùa ạ!
Thuyền đông, ứ! giời ôi chen!”
Chàng thưa vâng thuyền đông,
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.
Giòng sông nước đục lờ
Ngâm nga chàng đọc thơ!
Thầy khen hay. Hay quá! Hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ!
Thuyền đi. Thuyền đi
Thuyền đi bến Ðục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
“Nam mô A–di–đà!”
Réo rắt suối đưa quanh,
Ven bờ ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ!
Cảnh đẹp gần như tranh.
NÓI:
Sau núi Oản, Gà, Xôi
Bao nhiêu con khỉ ngồi
Tới núi Con Voi Phục
Có đủ cả đầu đuôi
Chùa lấp sau rừng cây
Thuyền ta đi một ngày
Qua cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày
Em đi, chàng theo sau
Em đi chàng theo sau
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu.
HÁT:
Thầy me đến điện thờ
Trầm hương khói tỏa mờ
Hương như là sao lạc
Lớp sóng người lô nhô
Chen vào thật lắm công
Thầy me em lễ xong
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai ta vào chùa trong”
Chàng hai má đỏ bừng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong”
Ðêm hôm ấy em mừng!
Mùi trầm hương bay lừng
Em nằm nghe tiếng mõ
Rồi chim kêu trong rừng.
Sau núi Oản, Gà, Xôi
Bao nhiêu con khỉ ngồi
Tới núi Con Voi Phục
Có đủ cả đầu đuôi
Chùa lấp sau rừng cây
Thuyền ta đi một ngày
Qua cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày
Em đi, chàng theo sau
Em đi chàng theo sau
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu.
HÁT:
Thầy me đến điện thờ
Trầm hương khói tỏa mờ
Hương như là sao lạc
Lớp sóng người lô nhô
Chen vào thật lắm công
Thầy me em lễ xong
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai ta vào chùa trong”
Chàng hai má đỏ bừng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong”
Ðêm hôm ấy em mừng!
Mùi trầm hương bay lừng
Em nằm nghe tiếng mõ
Rồi chim kêu trong rừng.
NÓI:
Em mơ, em yêu đời
Mơ nhiều …viết thế thôi
Kẻo ai mà trông thấy
Nhìn em đến nực cười
Em mơ, em yêu đời
Mơ nhiều …viết thế thôi
Kẻo ai mà trông thấy
Nhìn em đến nực cười
HÁT:
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mà mây núi đã pha hồng
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong
Ðường mây đá cheo leo
Hoa đỏ, tím, vàng leo
Vì thương me quá mệt
Cho nên. Săn sóc chàng đi theo
Me bảo: “Ðường thì còn lâu
Cứ vừa đi ta cầu
Quan-thế-âm Bồ-tát
Là tha hồ ta đi mau”
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mà mây núi đã pha hồng
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong
Ðường mây đá cheo leo
Hoa đỏ, tím, vàng leo
Vì thương me quá mệt
Cho nên. Săn sóc chàng đi theo
Me bảo: “Ðường thì còn lâu
Cứ vừa đi ta cầu
Quan-thế-âm Bồ-tát
Là tha hồ ta đi mau”
NÓI: Em ư? Em không cầu,
Ðường vẫn thấy đi mau
Chàng cũng cho như thế
Ra ta hợp tâm đầu
HÁT:
Khi qua chùa Giải Oan
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn
Tấm tắc thầy khen hay
Chữ đẹp như rồng bay
Bài thơ này em nhớ
Nên chả chép vào đây
Ôi! Chùa trong đây rồi!
Ðộng thấp bóng xanh ngời
Ðá rêu trần thạch nhũ
Ðộng nhuốm hương trầm rơi
Me vui mừng hả hê!
“Tặc! Con đường dài ghê!”
Thầy kêu: “ Mau lên nhé,
Chiều hôm nay ta về”
NGÂM:
“Chiều hôm nay ta về”
Em nghe bỗng rụng rời!
Nhìn ai luống nghẹn lời!
Ngày vui đời có vậy,
Thoáng ngày vui qua rồi!
Phụ lục II
Nhà thơ Nguyễn Nhược
Pháp
Hôm nay đi Chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo giải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.
Me cười: “Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”
Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm!
(Ý đợi người tài trai.)
Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo giải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.
Me cười: “Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”
Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm!
(Ý đợi người tài trai.)
Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.
Mơ xa lại nghĩ gần,
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?
Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, trời ôi, chen!”
Chàng thưa: “Vâng thuyền đông!”
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.
Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: “Hay! Hay quá!”
Em nghe rồi ngẩn ngơ.
Thuyền đi, Bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
“Nam Mô A Di Đà!”
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.
Mơ xa lại nghĩ gần,
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?
Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, trời ôi, chen!”
Chàng thưa: “Vâng thuyền đông!”
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.
Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: “Hay! Hay quá!”
Em nghe rồi ngẩn ngơ.
Thuyền đi, Bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
“Nam Mô A Di Đà!”
Thầy me đến điện thờ,
Trầm hương khói tỏa mờ.
Hương như là sao lạc,
Lớp sóng người lô nhô.
Chen vào thật lắm công.
Thầy me em lễ xong,
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai mới vào chùa trong.”
Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong!”
Đêm hôm ấy em mừng.
Mùi trầm hương bay lừng.
Em nằm nghe tiếng mõ,
Rồi chim kêu trong rừng.
Em mơ, em yêu đời!
Mơ nhiều... Viết thế thôi!
Kẻo ai mà xem thấy,
Nhìn em đến nực cười!
Trầm hương khói tỏa mờ.
Hương như là sao lạc,
Lớp sóng người lô nhô.
Chen vào thật lắm công.
Thầy me em lễ xong,
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai mới vào chùa trong.”
Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong!”
Đêm hôm ấy em mừng.
Mùi trầm hương bay lừng.
Em nằm nghe tiếng mõ,
Rồi chim kêu trong rừng.
Em mơ, em yêu đời!
Mơ nhiều... Viết thế thôi!
Kẻo ai mà xem thấy,
Nhìn em đến nực cười!
Em chưa tỉnh giấc nồng,
Mây núi đã pha hồng.
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.
Đường mây đá cheo veo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.
Vì thương me quá mệt,
Săn sóc chàng đi theo.
Me bảo: “Đường còn lâu,
Cứ vừa đi ta cầu
Quán Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau!”
Em ư? Em không cầu,
Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu.)
Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.
Tấm tắc thầy khen: “Hay!
Chữ đẹp như rồng bay.”
(Bài thơ này em nhớ,
Nên chả chép vào đây.)
Ô! Chùa trong đây rồi!
Động thắm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.
Me vui mừng hả hê:
“Tặc! Con đường mà ghê!”
Thầy kêu: “Mau lên nhé!
Chiều hôm nay ta về.”
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn lời!
Giờ vui đời có vậy,
Thoảng ngày vui qua rồi!
Làn gió thổi hây hây,
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở.
Chàng ôi, chàng có hay?
Đường đây kia lên trời,
Ta bước tựa vai cười.
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!
Ngun ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Trời Phật
Sao cho em lấy chàng.
Mây núi đã pha hồng.
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.
Đường mây đá cheo veo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.
Vì thương me quá mệt,
Săn sóc chàng đi theo.
Me bảo: “Đường còn lâu,
Cứ vừa đi ta cầu
Quán Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau!”
Em ư? Em không cầu,
Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu.)
Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.
Tấm tắc thầy khen: “Hay!
Chữ đẹp như rồng bay.”
(Bài thơ này em nhớ,
Nên chả chép vào đây.)
Ô! Chùa trong đây rồi!
Động thắm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.
Me vui mừng hả hê:
“Tặc! Con đường mà ghê!”
Thầy kêu: “Mau lên nhé!
Chiều hôm nay ta về.”
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn lời!
Giờ vui đời có vậy,
Thoảng ngày vui qua rồi!
Làn gió thổi hây hây,
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở.
Chàng ôi, chàng có hay?
Đường đây kia lên trời,
Ta bước tựa vai cười.
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!
Ngun ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Trời Phật
Sao cho em lấy chàng.
5/2009













Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét