(Đọc tiểu thuyết Thoát
Y Dưới Trăng
của Thuỷ Anna. NXB Văn Học 2010)
“Bóng trăng đổ ập xuống căn nhà rất sớm. Di tắm trần như
nhộng dưới bóng trăng nhễ nhại, cảm giác đau đớn và bỏng rát khi dội nước
lên cơ thể đang nổi mần đỏ. Dường như trăng càng sáng nỗi đau đớn hành hạ Di dữ
hơn. Cô lăn lộn dưới trăng như con sói hoang lăn lộn giữa rừng già cô độc” (tr.148).
Đó là hình ảnh Di sau khi cô phát hiện ra mình bị phong cùi. Và chỉ một thời
gian ngắn ngủi sau đó linh hồn Di tan vào ánh trăng. Hình ảnh cô gái thoát y dưới
trăng có ý nghiã gì?
Thoát Y Dưới Trăng (TYDT) kể lại số phận của ba nhân vật
Di, Mạnh và Mây. Di lên 10 thì bố bị lò gạch sập đè chết. Mẹ Di phải chịu đựng
kiếp đời tủi nhục làm đĩ nuôi con. Mẹ Di chết vì lây bịnh Sida của
người tình là một con nghiện. Số phận dun rủi, Di phải nuôi con người anh họ
can tội giết vợ ngoại tình và cưu mang thêm đưá bé bị bỏ rơi trong bụi rậm.
Công việc chuyển cá từ thuyền lên xe không đủ tiền nuôi hai đưá bé, Di phải bán
mình cho Lão Độ lấy 6 triệu. Sau đó, để có thể nuôi con, Di lại làm lẽ lão Hồng
3 năm, với điều kiện có con cho lão. Nhưng lão vô sinh. Di thoát được tay lão
trở về nhà xưa. Để làm được giấy khai sinh cho con, Di phải ngủ với lão trưởng
phòng. Một sáng sớm tập thể dục trên bãi biển, Mây quen với Di. Mây có mẹ là
bác sĩ viện trưởng một bệnh viện tư, cha là PGĐ Cty Xuất nhập khẩu Tranh đá mỹ
nghệ. Từ lúc học lớp 10 cô đã ăn chơi thoải mái. Mây ăn ở với Mạnh cho đến khi
anh chán cô. Mạnh là PGĐ CyTNH. Xuất thân từ một trẻ mồ côi, thuở nhỏ Mạnh cũng
phải chứng kiến cảnh mẹ làm đĩ nuôi con. Lớn lên Mạnh sống với băng
nhóm trẻ bụi đời, rồi nhờ thời cơ mà phất lên. Khi biết Mây giao du với nhiều
người, Mạnh cho bọn đàn em xử Mây, nhưng không ngờ Mậy lại bị làm nhục như vậy.
Di đã cứu Mây. Bà viện trưởng xử lý cái thai cho con và cho Mây sang Hàn Quốc
lánh mặt mấy tháng. Mạnh bị đột quỵ sau một đêm uống rượi và lo lắng. Bọn đàn
em thuê Di làm ôsin chăm sóc Mạnh. 4 tháng sau Mạnh hồi phục. Di lại trở về
ngôi nhà xưa cuốc đất trồng rau nuôi con. Cô bị lây bịnh cùi do bốc mộ thuê cho
môt bà già cùi. Mạnh tịnh tâm ở chuà một tháng rồi đi tìm Di. Hai người bày tỏ
tình yêu. Đám cưới được tổ chức khi máu trên các vết thương cùi của Di chảy
ròng ròng. Mây có đến dự đám cưới nhưng không vào. Nhìn Mạnh dìu Di, Mây tha thứ
cho Mạnh. Di ra đi trong vòng tay tình yêu của Mạnh.”Di đã tìm thấy hạnh
phúc ở chặng đường ngắn ngủi trong cuộc đời “(tr169)
Thuỷ Anna nói về chủ đề của tác phẩm:” Đây
là cuốn tiểu thuyết viết về những người trẻ. Ba nhân vật của em bao gồm Di, Mạnh
và Mây. Ba nhân vật này có công việc và hoàn cảnh sống hoàn toàn khác nhau
nhưng có điểm chung là họ đều bị gạt ra ngoài xã hội, ước mơ khao khát rất bình
thường thôi là gia đình rất bình thường, không phải to tát nhưng họ vẫn không đạt
được ước mơ nhỏ bé ấy.
Thuỷ Anna nói về thông điệp tác giả gửi đến
người đọc qua tác phẩm: Đó là khát khao mãnh liệt của con người để vượt
qua được bế tắc, khổ đau của cuộc đời nhằm đạt được hạnh phúc. Thân phận
con người trong "Thoát y dưới trăng" hơi bi đát một chút, hơi cay đắng
một chút nhưng điều em muốn mang đến cho độc giả là có những thân phận cực kì bất
hạnh và cay đắng trong cuộc đời vốn tươi đẹp này. Vì thế những người trẻ phải
luôn biết trân trọng những thứ nghiêm ngắn mà mình đang có. (1) (Hồn Nhiên phỏng
vấn Thuỷ Anna).
Vấn đề là ở chỗ nhà văn đã xây
dựng tác phẩm như thế nào đề thể hiện nội dung và chủ đề,
tư tưởng trên? Sự thành bại của tác phẩm tuỳ thuộc vào tài năng
xây dựng được những hình tượng tư tưởng có sức thuyết phục.
Với nội dung và chủ đề như vậy, tác phẩm
đã giúp người đọc nhìn thấy chung quanh mình đang có những số phận phải sống
trong hòan cảnh khốn nạn đáng được cảm thông, chia sẻ. Tác phẩm toát lên tình cảm
nhân đạo đáng trân trọng.
Xét về nghệ thuật tiểu thuyết, Thoát Y Dưới Trăng có
nhiều vấn đề cần được trao đổi.
Trước hết là văn báo chí lấn át văn tiểu thuyết.
Ít nhất là 100 trang đầu, người đọc truyện có cảm giác như mình đọc một bản tin
báo chí, tuy có tường thuật chi tiết hơn một chút. Đó là những bản tin đã cũ
nhàu mà người đọc gặp trên báo hàng ngày. Dường như tác giả chưa phân biệt được
đặc trưng phong cách văn báo chí và đặc trưng thể loại tiểu thuyết (?). Báo chí
thuật lại một tin, một sự việc đã xảy ra. Tác giả là người hiện diện trực
tiếp để tường thuật; còn tiểu thuyết là dựng lại dòng chảy cuộc sống ở thì hiện
tại. Cuộc sống trong tiểu thuyết hiện lên như cuộc sống thực đang diễn ra
trước mắt người đọc. Kỹ thuật dựng truyện của tiểu thuyết và cách viết một bài
báo là hoàn toàn khác nhau.
Xin đọc một đoạn:” Ôi cuộc đời! Mây nghĩ thầm. Ở
nhân gian này vẫn còn những ông bố bà mẹ như vậy. Kẻ thìôm con nhễ nhại đi
ăn xin, kẻ thì bán trinh con gái lấy tiền đánh bạc, kẻ thì giết
con vì ghen tuông. Tội ác nào cũng có thể bỏ qua, nhưng riêng tội ác hắt hủi giọt
máu của mình thì thật đáng tống xuống địa ngục”(tr/53) . Đây là một đoạn văn
trong một bài nghị luận của học trò. Đoạn văn có cấu trúc lập luận diễn dịch.
Câu chủ đề ở đầu đoạn, sau đó là những dẫn chứng cụ thể và phần bày tỏ cảm tưởng.
Câu “Mây nghĩ thầm” có thể bỏ đi mà không ảnh hưởng đến nội dung đọan văn.
Hoặc có thể thay tên Mây bằng bất cứ ai, kề cả bằng đại từ nhân xưng Tôi. Xin đọc
một đoạn nữa, đoạn thuật lại Di có ý định cứu đưá bé:” Mỗi bước chân cô đi cô không
ngớt cầu trời phù hộ cho đưá trẻ bất hạnh . Đưá bé đáng thương hơn cả cuộc đời
của cô, nó chẳng biết cha mẹ nó là ai? Vì sao sinh ra nó mà không yêu thương
nó. Cô đứng lại một giây…”. Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba “cô” chỉ
ra, đó là một đoạn trần thuật, không phải đoạn miêu tả cuả văn tiểu thuyết.
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ hình tượng biểu
cảm, ngôn ngữ đa nghiã và mang phong cách cá nhân, không
phải kiểu ngôn ngữ trung tính của báo chí. Trong TYDT, tác giả như một
khách thể thuật truyện về người khác ở ngôi thứ ba (chẳng hạn, đại từ cô ở
trên và câu: lồng ngực bà mẹ thanh tân căng tròn.tr35 ); Chính
vì thế cách viết của Thuỷ Anna làm giảm mất nhiều hứng thú khi người đọc tiếp cận
tác phẩm. Những chuyện về trẻ bụi đời, về con nhà giàu hư hỏng là chuyện thời sự,
báo chí đã nói quá nhiều. Tính thời sự trong Thoát Y Dưới Trăng lấn
át tính tiểu thuyết.
Dường như có sự lúng túng trong chọn lựa bút
pháp, khiến cho tác phẩm khập khiễng khó đứng vững. Ở phần đầu
(tr.01-156) là bút pháp hiện thức. Thuỷ Anna nói về những cảnh đời thực,
bằng những dòng tả chân, nhưng ở phần sau lại chuyển hoàn toàn sang bút pháp
lãng mạn. Cuộc kết hôn của hai bút pháp này không cứu rỗi được ngòi bút Thuỷ
Anna. Cuộc sống làm đĩ cuả mẹ Di và mẹ Mạnh, cuộc đời dưới đáy của Di
và Mạnh, cuộc sống ăn chơi con nhà giàu của Mây là hiện thực. Vấn đề là, bức
tranh xã hội Thuỷ Anna vẽ ra chẳng khác bức tranh xã hội trước 1945. Di phải
bán mình cho lão Độ, phải làm lẽ lão Hồng, phải ngủ với trưởng phòng, xung
quanh Di không có ai là người lương thiện, cuộc sống không có chỗ cho Di làm
người, ngoại trừ làm con vật, con đĩ…Chẳng nhẽ xã hội VN những năm cuối thế kỷ
XX và đầu thế kỷ XXI lại đen tối, bi đát đến thế sao?
Cuối tác phẩm Thuỷ Anna để cho Mạnh lên chuà tịnh tâm một
tháng, sau đó tìm đến Di. Lúc này đã ở trong trại cùi, cơ thể đang bị tàn phá dữ
dội. Hai người yêu nhau trong đêm trăng và làm đám cưới trong khi cùi tay của
Di máu chảy ròng ròng. Di chết trong hạnh phúc tình yêu. Tác giả có thể an ủi
Di bằng cách kết như vậy. Nhưng tôi nghĩ, những cảnh như thế chỉ có thể diễn
trên sân khấu cải lương (nghệ thuật ước lệ). Trong đời thực đó là những tưởng
tượng hão. Tiểu thuyết không thể bẻ cong quy luật khách quan của hiện thực, dù
tác giả có viết bằng bút pháp lãng mạn.
Như vậy tác phẩm không có sư thống nhất về bút pháp, phần
đầu là bút pháp hiện thực, phần sau là bút pháp lãng mạn, điều này làm mất đi
khả năng thể hiện chủ đề của tác phẩm. Với bút pháp hiện thực, tác giả phải đặt
được vấn đề và chỉ ra con đường gỉai quyết vấn đề. Nghệ thuật hiện thực là nghệ
thuật góp phần cải tạo xã hội. Thạch Lam, dù là một nhà văn lãng mạn cũng nhận
thức được yêu cầu này :”Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến
cho người đọc sự thoát ly hay sự quên ; trái lại, văn chương là một thứ khí giới
thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vưà tố cáo vừa thay đổi một cái thế
giới gỉa dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn “(Lời
tựa Gío lạnh Đầu Mùa). Rõ ràng thế giới mà Thuỷ Anna miêu tả là một thế giới
giả dối và tàn ác, thế nhưng cách giải quyết vấn đề của tác giả lại duy tâm. Giải
pháp ấy là gì ? cả Di và Mạnh đều nói đến chữ TÂM của Phật giáo. Một tay anh chị
như Mạnh, một tay Phó Giám Đốc công ty như Mạnh thì không thể có chuyện vào tu
trong chùa, và sau đó lại lấy một người vợ cùi! Chính Thuỷ Anna cũng nghi ngờ
giải pháp của mình. Mạnh nhìn con thạch sùng trên tường và tự hỏi về con đường
của mình ”Phật dạy rằng : Biển cả vô biên, quay đầu lại là bờ. Vậy sao gã này
khổ thế “(tr.171). Mạnh đã quay đầu lại con đường lương thiện (?) sao
không thấy bến bờ hạnh phúc ? Câu trả lời có thể là : Những vấn đề xã hội đòi hỏi
phải giải quyết bằng các giải pháp xã hội, không thể chỉ giải quyết bằng chữ
TÂM như cách đề xuất của tác giả.
Nhưng TÂM là gì trong cách hiểu của Thủy
Anna?
Sau ba năm làm lẽ ở nhà lão Hồng, về nhà, đêm
đầu tiên không phải làm nô lệ tình dục, Di ngồi bàng hoàng không tin được những
gì cô đã trải qua. “Đôi mắt Di sáng lên, ánh sáng ở tâm, con đường cũng ở
tâm “(tr.120) Phải chăng Di đã “ngộ” ra được điều gì ? Tâm của Di là gì?
Con đường của Di là con đường nào? Còn Mạnh ? Nhờ đâu Mạnh có thể trở nên giàu
có? Sao Mạnh lại xử ác với Mây? Khi ở trong chùa, Mạnh nghĩ:” Thánh nhân
cũng là người, kẻ phàm trần cũng là người, Phật tại tâm”(tr.116) Khi “xuống
núi” anh hay nói đến lòng vị tha :”Chẳng lẽ trải qua đau thương con người biết vị
tha và sống vì người khác”(tr156).Còn Mây ? Mây là nạn nhân của chính
cô. Mây chưa có ý thức xã hội, chưa có ý một tráo tim biết sám hối, sao
Mây có thể đến gặp Mạnh nói lời tha thứ :” Cách duy nhất để em quên đi quá
khứ buồn là học cách tha thứ. Chính vì vậy em quyết định tha thứ cho
anh “( 153). Tất cả những điều Thuỷ Anna miêu tả trên, có lẽ đều là TÂM,
là tấm lòng từ bi hỷ xả, biết hướng về người khác và sống yêu thương. “…tình
yêu không có chỗ cho nỗi đau đời và sự thù hận “(tr.170) . Kềt thúc tác phẩm
là hạnh phúc nồng ấm của tình yêu, hạnh phúc ấy lớn lao đến nỗi có thể làm tan
đi những đớn đau máu chảy ròng ròng từ thân xác Di, xoá sạch những vết ô nhục
và những nỗi hận thù trong tâm hồn Mây. Chữ TÂM đã sáng lên giữa đêm tối của
đau thương và tội ác. Phải chăng Thuỷ Anna muốn xây dựng tác phẩm của mình
thành tác phẩm tư tưởng? Nếu quả có ý thức sáng tạo này thì đây là một ý hướng
tốt, tuy nhiên trong TYDT tác giả chưa thực hiện được. Đó chỉ là cách chọn lựa
miễn cưỡng khi tác giả bế tắc trước phút pháp hiện thực. Máu, nước mắt, bất
công, cái ác vẫn sừng sữ đó. Lão Độ, lão Hồng, lão trưởng phòng vẫn nhở nhơ?
còn sự đau đớn khôn cùng của bịnh cùi Di phải chịu là vì ai? Vì cái gì? Hai
đưá con của Di vẫn bơ vơ trôi dạt không biết về đâu, người đọc nhói tim nếu hai
đứa trẻ ấy lặp lại số phận của mẹ nó!
Thoát Y Dưới Trăng thất bại trong việc lý giải những vấn
đề xã hội, vậy tác phẩm còn lại điều gì? Người đọc dễ nhận ra thái độ cảm
thông, bênh vực của tác giả với những người đàn bà vì hoàn cảnh mà phải làm đĩ
nuôi con (mẹ Di. Mẹ Mạnh và Di). Tuy nhiên ngay cả tình cảm nhân đạo ấy cũng
không có cơ sở để đứng vững. Nếu cho điều ấy là đúng thì ngày nay những cô gái
chân dài, những diễn viên, ca sĩ làm gái gọi, đi tour, họ có vì hoàn cảnh đói
nghèo và bức bách đến nỗi không thể làm gì khác ngoài việc bán thân? Câu trả lời
sẽ là khác với điều Thuỷ Anna đã đặt ra. Việc miêu tả quá nhiều lần cảnh người
mẹ làm đĩ trước mặt con (Di và Mạnh ) là sự cố ý lộ liễu. Không người
mẹ nào lại làm chuyện tồi bại đó trước mặt con và không người con nào khi chứng
kiến những cảnh thú vật như thế lại có thể tha thức cho mẹ được.
Thử hỏi, trong những hoàn cảnh đói nghèo và chiến tranh ác liệt nhất suốt 30 năm kháng chiến (1945-1975), có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam chọn nghề làm đĩ nuôi con? Hơn thế, mẹ của Di, mẹ của Mạnh còn tìm thấy hạnh phúc trong công việc hoàn toàn bản năng ấy. Khi đẩy vấn đề lên tầm khái quát, Thuỷ Anna đã đặt vấn đề một cách võ đoán, ngay cả đó là hư cấu cũng không thể chấp nhận được.
Thử hỏi, trong những hoàn cảnh đói nghèo và chiến tranh ác liệt nhất suốt 30 năm kháng chiến (1945-1975), có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam chọn nghề làm đĩ nuôi con? Hơn thế, mẹ của Di, mẹ của Mạnh còn tìm thấy hạnh phúc trong công việc hoàn toàn bản năng ấy. Khi đẩy vấn đề lên tầm khái quát, Thuỷ Anna đã đặt vấn đề một cách võ đoán, ngay cả đó là hư cấu cũng không thể chấp nhận được.
Sự bênh vực, cảm thông với những người phụ nữ phải
bán thân để nuôi con là đáng qúy, nhưng vấn đề là giải pháp nào để giúp họ
thoát ra khỏi cảnh ô nhục đó? Tác giả không có câu trả lời, bởi vì tác phẩm đã
cô lập hoá nhân vật, không đặt họ trong một bối cảnh lịch sử cụ thể nào. Các tổ
chức đoàn thể Nhà Nước, các tổ chức từ thiện xã hội, các chính sách xoá đói giảm
nghèo…đều có thể giúp đỡ họ được. Vậy mà tác giả lại miêu tả xung quanh các
nhân vật của mình chỉ có caí xấu, cái ác và bóng tối. Điều này làm sao có thể
thuyết phục được người đọc?
Thoát Y Dưới Trăng cũng có nhiều hạn chế về kỹ thuật dựng
tiểu thuyết.
Đó là những trang văn xô bồ, ít chất văn chương. Nhiều câu chữ
còn rất thô, thiếu sự tinh tế của tiếng Việt, dùng từ sai ngữ pháp, dùng từ
không đúng nghiã, lặp từ vụng về.
Thí dụ
“Là một bác sĩ, bà nghĩ rằng, sẽ vô hiệu hoá nếu
dùng lửa dập lửa” (tr.112). Chữ vô hiệu hóa dùng không đúng cách
về ngữ pháp. Vô hiệu hoá là một động từ, đòi buộc sau nó phải là một
tân ngữ. (thí dụ: vô hiệu hoá âm mưu khủng bố)
“Tất cả những tiềm thức ấy trôi đi rất nhanh, nó giống
như một thước phim mà được quay khi đang cưỡi ngựa” (tr.92) Trong mỗi bộ não người
chỉ có một vùng tiềm thức, không thể có những tiềm thức. Hơn nữa, tiềm
thức là một danh từ không đếm được, không thể đặt Lượng từ những đứng
trước.
“Di biết rất rõ rằng, cuộc sống phải luôn luôn chấp
nhận sự thay đổi để thích nghi với cuộc sống mà mình đang có”(tr.131).
Trong một câu mà dùng hai lần chữ cuộc sống, chứng tỏ khả năng diễn đạt
không phong phú nếu không nói là vốn từ của tác giả rất nghèo.
Ngôn ngữ nhân vật chưa được cá thể hoá, vì thế
nhân vật không có cá tính. Tác phẩm chỉ có một giọng của tác giả. Di, Mây, Mạnh
có cùng một giọng điệu, cùng một kiểu nói năng. Hình ảnh Mây hoàn toàn là sự áp
đặt chủ quan, cách nhìn phiến diện có phần méo mó của tác giả đối với thế hệ học
trò phổ thông. Thuỷ Anna đặt vào miệng Mây, cô học trò lớp 10 mới 17 tuổi, lời
khẳng định này : “Ở lớp em, các bạn sống thử với nhau lâu rồi. Đã yêu nhau thì
phải yêu đến tận cùng chứ” (tr 97), và miêu tả lối sống của Mây: “hàng
xóm láng giềng cứ xì xèo về chuyện cô Mây hay về nhà rất muộn, có các chàng
công tử nhìn phong lưu mã thượng, có xe ô tô đưa đón đi về. Mà cứ dăm bữa,nửa
tháng lại thấy cô Mây thay người khác “(tr.45). Có thể có trong đời thực một
cô học trò như thế, nhưng không phải là tất cả. Sự áp đặt này là chủ ý điển
hình hoá hay do năng lực thâm nhập thực tế và khả năng tiểu thuyết hoá của Thuỷ
Anna còn hạn chế ? Cũng có thể là do cách viết trình thuật báo chí, nhân vật
tôi (tác giả) quán xuyến tất cả (?).
Yếu tố thời gian trong Thoát Y Dưới Trăng cũng rất
lỏng lẻo, nếu không nói là không logic với cốt truyện. Thời gian trong TYDT là
thời gian thực, không phải là thời gian tượng trưng hay thời gian nghệ thuật.
Truyện được kể theo thứ tự thời gian: một ngày, một tuần, một tháng, hai tháng
mười ngày, một năm, ba năm, nhưng hành động của hai nhân vật lại diễn ra trong
một thời gian so le. Di đi làm vợ lẽ cho Lão Hồng ba năm trở về nhà, Mây đi Hàn
Quốc ba tháng về, hai người gặp nhau. Mây cho quà con của Di. Người đọc có cảm
giác ba năm làm lẽ của Di xảy ra cùng một lúc và bằng với 3 tháng đi Hàn quốc của
Mây. Nhiều cảnh đang từ hiện tại, nhân vật hồi tưởng quá khứ sau đó không thấy
trở về hiện tai, hoặc người đọc không rõ đâu là thời gian tiểu thuyết (thời
gian sự việc đang diễn ra ở hiện tại)?
Thoát Y Dưới Trăng lấy nguyên văn ý tưởng và cách thể hiện
cuả I’m Đàn Bà (Y Ban ) ở đoạn tả Di làm ôsin cho Mạnh, giúp Mạnh hồi
sinh, sau đó chung đụng xác thịt với Mạnh, làm nảy nở tình yêu (tr.130-139).
Việc lấy ý tưởng của người khác là không nên (tôi không tin rằng Thuỷ Anna
không biết I’m Đàn Bà của Y ban), vì sẽ tạo ra sự ngộ nhận nơi người
đọc và lộ ra sự hạn chế trong năng lực sáng tạo của tác giả. Ai cũng hiểu rằng,
năng lực sáng tạo là một tố chất quyết định tài năng của nhà văn.
Tôi cứ băn khoăn điều này, phải chăng tác giả bắt
Di phải đi con đường số phận do mình hư cấu? Bỗng dưngngười
anh dẫn con về và bỏ trốn vì tội giết vợ, rồi bỗng dưng có đưá trẻ bị
bỏ rơi trong bụi rậm, thế là Di phải làm mẹ hai đưá trẻ. Khả năng kiếm sống cũa
Di để nuôi hai con trở nên ngặt nghèo, đẩy Di vào con đường bán thân cho lão Độ.
Sao Di không đem cháu bé cho tổ chức từ thiện nào? Chính cái bỗng dưng ấy
làm người đọc hoài nghi tính logic hiện thực của cốt truyện. Rồi lại bỗng
dưng Di đi bốc mộ cho bà già bịnh cùi, để lây bịnh cùi. Y khoa chỉ ra rằng,
bệnh cùi từ lúc nhiễm đến lúc phát là rất lâu, có khi 15-20 năm, vậy mà chỉ mấy
tháng thì tay Di đã bắt đầu cụt dần, máu chảy ròng ròng…(ngày nay y khoa đã có
thuốc chữa khỏi căn bệnh này).Tất cả những điều như thế đặt một dấu hỏi lớn về
tính chân thật nghệ thuật của tác phẩm
Có một chi tiết có thể làm người đọc bình thường
rối trí. Đó là, toàn bộ đối thoại của các nhân vật đều không được đánh dấu bằng
dấu gạch ngang đầu dòng. Lời đồi thoại được viết liền mạch với lời kể cuả tác
giả. Điều này có ý nghiã gì ? Phải chăng viết như vậy, tác giả muốn lưu ý người
đọc rằng đó là dòng ý thức của nhân vật, không phải là dòng hiện thực đang diễn
ra. Tôi thấy rằng cách viết của Thuỷ Anna chưa đạt tới kỹ thuật “dòng ý thức” của
văn chương hiện sinh. Cách trình bày như vậy chỉ làm rối trí người đọc thôi,
không mang lại hiệu quả diễn đạt nào.
Trở lại tên truyện Thoát Y Dưới Trăng và
đoạn tả cảnh Di tắm trần dưới ánh trăng:”Bóng trăng đổ ập xuống căn nhà rất sớm.
Di tắm trần như nhộng dưới bóng trăng nhễ nhại, cảm giác đau đớn và bỏng rát
khi dội nước lên cơ thể đang nổi mần đỏ. Dường như trăng càng sáng nỗi đau đớn
hành hạ Di dữ hơn. Cô lăn lộn dưới trăng như con sói hoang lăn lộn giữa rừng
già cô độc”, tôi đã tra hỏi xem tác giả có ngụ ý gì trong hình ảnh ấy và nhan đề
ấy? Có thể nhận xét của An ninh Thủ đô là một kiến giải.
An ninh Thủ Đô nhận xét thế này: Ngoài lối
hành văn truyền thống, biểu cảm, thì ấn tượng đối với “Thoát y dưới Trăng”
chính là những… “cảnh nóng” được chị xây dựng trong câu chuyện đầy bản
năng nhưng cũng rất con người, đó là những hình ảnh gây xúc động đối
với người đọc. (2)
Có thật rằng nhan đề truyện và đoạn tả cảnh trên là chí
có dụng ý gây tò mò? Tôi đã không đọc được ngụ ý gì trong đoạn tả trên, ngoài
hình ảnh trần trụi của việc tắm. Nhưng nếu chỉ quy TYDT về còn lại ấn tượng ở
những “cảnh nóng”, tôi nghĩ người đọc đã không hiểu đúng những thông điệp cuả
tác giả. Có điều, tác giả khai thác nhiều lần đoạn tả cảnh mẹ làm đĩ với
khách một cách hoang dã trước mặt con, và sử dụng những hình ảnh
tục để tô đậm những cảnh sex sẽ là trái với quy luật sáng tạo nghệ thuật của
văn chương.
Xin đọc:” mẹ là người lọc lõi trong tình trường, mẹ kéo
khoá quần gã xuống. Di nhìn thấy rõ cái bộ phận đàn ông của gã như con chó con
mới đẻ. Mẹ mơn trớn con chó con ấy đến khi gã không chịu được nữa vùng lên và
quăng mẹ Di xuống ven đường, lột sạch quần áo, cả cái quần chip mẹ mới mua chiều
nay trên phố huyện, trông diêm duá, nửa kín nửa hở. Mỗi nhịp gã thúc mạnh xuống
người mẹ Di, lạ thay, mẹ tỏ ra mãn nguyện”(tr.12)
Sẽ chẳng ai tin rằng người mẹ này vì nghèo khổ mà phải làm đĩ nuôi con, như ý định của tác giả trong tác phẩm.
Nếu An Ninh Thủ Đô có cho rằng “ấn tượng đối với “Thoát y dưới Trăng” chính là
những… “cảnh nóng” được chị xây dựng trong câu chuyện đầy bản năng nhưng cũng rất
con người, đó là những hình ảnh gây xúc động đối với người đọc”, thì
nhận xét đó có lý của nó, nhưng Tôi không rõ “xúc động” người đọc nhận được qua
“cảnh nóng” ấy là xúc động gì? Hay cũng chỉ là “xúc động” bản năng ? Nếu vậy
thì cả người viết và người đọc (ANTĐ) chưa hiểu điều này là, con người khác
loài vật ở chỗ, con người đã nâng bản năng lên thành văn hoá. Đó là điều đáng
tiếc. Tôi nghĩ, có lẽ do mục đích câu khách, hay do “phong trào” viết sex bẩn
như một mốt thời trang của tư tưởng giải phóng phụ nữ (kiểu đòi nữ quyền phương
Tây) mà Thuỷ Anna chịu ảnh hưởng chăng? Dù thế nào, Thuỷ Anna đã tỏ ra chưa đủ
tự tin trong sự sáng tạo của mình.
Thoát Y Dưới Trăng có được ý tưởng sáng tạo tốt, có những
trang văn hay (thí dụ, đoạn tả tâm trạng Mạnh sống trong mộng du, tr.108-116),
có khơi gợi được tình cảm nhân đạo nơi người đọc, nhắc nhở người đọc quan tâm đến
những con người bất hạnh chung quanh mình. Tác phẩm cũng hé lộ chút ánh sáng bất
chợi trong năng lực sáng tạo của tác giả (Thí dụ, đoạn tả giấc mơ của Mạnh với
thằng Đỏ - tr.114), điều ấy đem đến cho người đọc hy vọng ở ngòi bút trẻ này
Xin đọc giấc mơ của Di: ”Di thấy mình bay bổng trên những
chòm sao. Trong giấc mơ của Di, mỗi vì sao giống như một ngôi nhà trong xóm
nghèo này, nhưng trên các chòm sao ấy có đầy ắp ánh sáng. Di cầm từng nắm ánh
sáng ném vung vãi xuống nhân gian như cô tiên cầm cây đũa thần kỳ ban phát phép
màu. Trên cơ thể Di khoác tấm áo màu lụa có gắn đôi cánh bạc lấp lánh, khi
khoác đôi cánh ấy trên vai Di có thể bay từ chòm sao này đến chòm sao
khác..(tr.107)
Tất nhiên để đạt được thành tựu trong tiểu thuyết,
Thuỷ Anna phải vượt qua được cách viết báo chí, đem văn chương vượt lên thời sự
; phải tự tìm kiếm cho mình một bút pháp phù hợp (không phải là sự lắp ghép hiện
thực và lãng mạn một cách vụng về như trong TYDT) và phát huy hơn nữa năng lực
sáng tạo để không bị ảnh hưởng người khác. Điều ấy cần có thời gian, nỗ lực rèn
luyện và sự tìm tòi khổ công. Văn chương bao giờ cũng đền bù xứng đáng
cho những khổ công như vậy.
Bùi Công Thuấn
7/2010
7/2010





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét