Một đoạn tự bạch mới tìm thấy
của Phan Khôi
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mấy Phan Khôi
(16/01/1959 – 16/01/2009)
Phan Khôi (1887 - 1959) là
một trong những gương mặt lớn của làng văn, làng báo Việt Nam thế kỷ
XX. Ông đã từng sống, làm báo làm văn ở những trung tâm văn hóa lớn nhất
trong nước như Sài Gòn, Hà Nội, Huế.
Nhắc đến Phan Khôi, người
ta thường nói đến tính cách “Quảng Nam hay cãi” biểu lộ cực kỳ rõ rệt
nơi con người ông. Song nét đặc trưng riêng biệt của “tính cách Phan Khôi” lại
là nét này: ông hầu như không thể nói dối, không biết nói dối. Có khá nhiều
người mang tính cách “hay cãi” của người xứ Quảng, nhưng họ vẫn không đủ bản
lĩnh để có thể thật thà như Phan Khôi. Sự trung thực trong tính cách Phan
Khôi có thể khiến ông gặp bất lợi trong những cảnh ngộ nhất định, song rốt cuộc,
đây vẫn tỏ rõ là một tính cách hay. Chẳng hạn, ở đoạn tự truyện của Phan Khôi
mà tôi mới tìm thấy và giới thiệu lại dưới đây, chính là tính cách trung thực
đã khiến Phan Khôi có thể nói thật về phương diện sinh hoạt cá nhân thường
ngày của mình, điều mà nhiều người thường tìm cách che đậy hoặc lảng
tránh.
Xin giới thiệu với bạn đọc
đoạn tự truyện này; nhân 50 năm ngày ông mất, chúng ta đọc nó để nhớ tới Phan
Khôi
Ít nhiều “Lãng mạn”
Tự truyện của Phan Khôi
Tôi toan viết ra những
chuyện dưới đây mà lấy làm lúng túng về cái đầu đề. Nhân nhớ lại khoảng năm
1932 ở Sài Gòn, một hôm vào lúc chín giờ tối, tôi đến một khách sạn tây ở đường
phố Catinat thăm một ông bạn cũ ở Bắc mới vào, bắt tay nhau, ông ấy nhìn tôi,
vừa cười vừa nói cùng tôi bằng cái giọng đùa bỡn thân mật rằng: “A, huynh
ông! Biệt nhau thế mà đã sáu, bảy năm rồi! Xem ra huynh ông không được đẫy bằng
hồi ở Hà Nội. Thảo nào người ta nói “ngài” ở đây sanh hoạt một cách lãng mạn
lắm thì phải!”
Với câu ấy, bấy giờ tôi
cũng cười xề xề như chẳng quan tâm đến rồi bắt sang chuyện khác; nhưng khi về
đến nhà, nằm một mình, tôi đâm ra nghĩ ngợi.
Ông ấy nói mình sanh hoạt
lãng mạn, lãng mạn là nghĩa thế nào? Romantique chăng? Chỉ về sanh
hoạt kia mà, hẳn là không phải. Nhằm rồi, đây người ta muốn bới sự chơi bời
phóng đãng của mình mà người ta không nỡ nói trắng ra, nên dùng cái danh từ
“lãng mạn” chớ gì?
Nhớ lại mẩu chuyện ấy rồi,
tôi không còn phải lúng túng nữa mà lấy ngay hai chữ “lãng mạn” làm đầu đề cho
bài nầy. Vả lại cái đời của tôi cũng không phải lãng mạn suốt cả đời; muốn
nói cho đúng, đừng bớt mà cũng đừng thêm, tôi phải hạn chế bằng hai chữ “ít
nhiều” ở trên nó.
Tôi sanh ra trong một gia
đình mà ở đó có cho đến hai cái gương cho tôi về sự “sống ở đời”. Hai cái
gương, mỗi cái lại là một cực đoan. Tôi là người trực tiếp chịu ảnh hưởng cả
hai thì bảo sao cái thái độ sống của tôi chẳng có khi thay đổi, đương là chiều
này day qua chiều khác? Hai cái gương và hai cái cực đoan ấy, một là cha tôi,
một là ông tôi.
Cha tôi, một kiếp người là
một sự cẩn thận. Sau khi đậu phó bảng, làm thuộc viên ở Kinh vài năm, đi ra
làm tri phủ một năm rồi cáo xin về, ở nhà cho đến chết. Thấy nói thôi không
làm quan nữa là tại sợ mà không dám làm, chứ không có ý gì khác. Người chẳng
có cái thị hiếu gì ngoài sự đọc sách. Không cần phải nói không uống rượu,
không đánh bạc…Đến vợ, năm 39 tuổi, đứt dây đờn lần thứ hai, người ở vậy cho
tới 73 tuổi thì xuống mồ.
Ông tôi sanh vào đời Minh
Mạng, đậu hồi Thiệu Trị, làm quan hồi Tự Đức, mất hồi Thành Thái, nghĩa là đã
“hạ lớp” rồi, cha tôi mới “ra”, cho nên cái sự khác nhau của hai người cũng
có lẽ là vì hoàn cảnh.
Nghe kẻ lớn kể chuyện lại
thì ông tôi trong lúc trai thật đã đủ điều. Giỏi cả nghề côn quyền nữa. Vào
giữa thưở thuốc bị cấm nghiêm lắm, mà nửa đêm, tại nhà cô Án Đạt, hoa khôi đất
Kinh đô buổi ấy, người đã lấy sức một mình đánh để thoát thân với năm mươi
lính trấn phủ, chúng đến vây nhà mượn cớ bắt “ngật yên” mà thực ra thì để hạ
kẻ tình địch của ông quan trên mình.
Tôi lớn lên thì thấy ông
tôi mỗi ngày uống chè tàu hai bận: sớm mai và chiều. Chè ô-long, ve độc ẩm,
pha theo một phương pháp; tôi phải có học qua mấy bận, sau mới pha hầu ông
tôi được. Cơm thì ăn ba bữa, thỉnh thoảng có uống rượu, uống vào bữa trưa. Độ
một tháng hay nửa tháng, gọi người mang “bàn đèn” đến, hút chừng mấy điếu vào
buổi tối.
Ông tôi có ghiền mất ba
năm hồi ở Thái Nguyên. Nhưng khi định về hưu, xuống Hà Nội uống thuốc cai rồi
mới về, bấy giờ người vừa sáu mươi tuổi.
Tôi có lần bưng tráp đi hầu
ông tôi tới chơi một nhà quen thân trong làng. Tưởng chơi gì, té ra là đánh
me: người cùng dăm ba ông nữa ngồi vây lấy một chú khách hốt cái.
Những chuyện tôi kể đó,
tôi thấy vào hồi ông tôi lên 75 tuổi cho tới 80. Đến năm 84 tuổi người qua đời.
Kể cả thê và thiếp, ông
tôi già lại, còn bốn bà cả thảy. Cô con gái út sanh vào năm ông tôi 65 tuổi,
do bà thứ tư.
Chỉ bấy nhiêu như trên đó
đã thấy ông tôi là người khoáng đạt, không câu kiễm, cái thái độ khác hẳn với
cha tôi. Tuy vậy mà ông tôi lại là người cương trực, công bình, cần kiệm và
nhứt là có trật tự: giữa xã hội An Nam, tôi chưa hề thấy có người thứ
hai đủ các đức tánh tốt ấy tuy đến nay tôi đã ngoài năm mươi tuổi.
Có lẽ bởi tôi ở gần cha
nhiều hơn, nên thưở thanh niên tôi đã ăn ở theo khuôn rập của người. Năm 16
tuổi, tôi có bị khủng hoảng về tinh thần mất một độ, chỉ một độ thôi, tôi lại
được kéo trở vào khuôn.
Sau tôi tu tỉnh lấy mình
thì cơn khủng hoảng nầy đã gieo giống ở tôi từ hai năm trước. Bấy giờ chúng
tôi đang sùng sục đọc sử Tấn ở trường học, thấy trong đó có những tay danh sĩ
khoáng đạt như Trúc Lâm thất hiền thì đem lòng hâm mộ. Hai năm sau, học trường
khác, nhưng lại gặp bạn cũ, trong đó có một anh lớn tuổi hơn tôi, là kẻ đứng
đầu sự hâm mộ năm trên. Anh ấy giảng cho chúng tôi nghe: cuộc đời là vô vị cả,
muốn cho hữu vị, chỉ có rượu và thơ. Rồi rủ nhau thực hành: uống rượu và ngâm
thơ. Thơ toàn là bố láo chẳng ra câu kẹo gì, mà rượu thì có một đêm đã làm
tôi say bất tỉnh. Hay được, ở nhà gọi về mắng cho một trận, từ đó tôi hối ngộ
không hề tái phạm cho đến bốn năm sau.
Năm 20 tuổi đi thi khoa
bính ngọ Thành Thái năm thứ 18, hôm xem bảng và phúc hạch, thấy không có tên,
tôi mua rượu uống một mình. Uống đến nỗi từ trường thi trở về, đi ngang qua cửa
Ngọ Môn mà không nhìn thấy, như có nói trong một bài tự truyện trước.
Đậu tú tài về ở nhà cho đến
đầu năm 1908 đi Hà Nội, cả cái thời gian ấy thật tôi đã dẫn mình đi trong con
đường rất có quy củ. Không phải nói quá, lúc đó tôi có ý lấy một thân kiêm cả
hào kiệt và thánh hiền.
Qua đầu năm sau, tôi cũng
còn chưa đổi ý và cứ răn can các bạn cọng nạn vì giải buồn đi theo những thú
yên hoa trà tửu. Song chẳng bao lâu, không biết có vì một cớ gì đó hay không
vì cớ gì cả, tôi đâm ra chơi bời còn hơn các bạn của tôi. Tôi cùng hai “đồng
chí” nhờ đó, bê tha đủ đường. Tôi uống rượu đã nổi tiếng là vô địch. Có một lần
say từ chiều hôm nay đến chiều hôm sau mới tỉnh. Lúc tỉnh, tôi nghĩ chỉ còn
có một nước tự tử, vì xấu hổ quá, không thể mở mắt trông thấy ai nữa. Nhưng,
để cho khỏi chết, tôi trùm mền phủ đầu nằm luôn một đêm một ngày nữa mới dậy.
Trong lúc đó, tôi tự lập luật cho mình rằng từ nay về sau, uống mấy thì uống
nhưng đừng say.
Nói tóm lại, ở tù ba năm
mà non hai năm sau là cái thời gian tôi chơi bốc trời. Đến nỗi cha tôi viết
thơ cho tôi thốt ra những lời tuyệt vọng: “Thành gia chi tử vị sanh, phá gia
chi tử dĩ chí”, cùng là “Lập thân nhứt bại vạn sự ngõa giải”. Thế mà lạ, năm
25 tuổi tôi được thả về một cái là trở nên ngoan ngoãn: chịu mang cái xác bằng
báu triệu đi ngồi lớp nhì ở trường Thầy Dòng Huế.
Có vợ có con rồi tôi cũng
còn dốc lòng ăn ở theo gương cha tôi. Năm 1918 ở Hà Nội làm trợ bút tạp chí Nam
phong mỗi tháng 30 đồng bạc mà tôi cũng thừa tiền gửi về nhà, dầu chẳng
được mấy nỗi.
Năm sau ở Sài Gòn nửa năm
như một cô trinh nữ, tôi chẳng hề biết cái thành phố ấy có những nơi tiêu khiển
nào. Rồi trở ra Hà Nội ở cho đến cuối năm 1925, khoảng nầy kiếm khá tiền hơn
trước, tôi có gởi về mua được ít ruộng.
Từ 1920 đến 1925 ở Hà Nội,
tuy vẫn đứng đắn nhưng tôi cũng có “mở mang” hơn xưa. Lâu lâu rủ anh em đi
hút một vài điếu (chữ quelques pipes là chữ tôi bày ra mà ngày nay ở
Hà Nội đang lưu hành) và tập đánh trống nhà trò. Còn sự đi chơi vì cần dùng
như lần đi với ông Tản Đà có nói trong bài kỷ niệm ông ấy thì tôi coi là sự
thường, không kể.
Hết thảy cái mùi lãng mạn
(đây tôi bắt đầu dùng chữ lãng mạn theo nghĩa riêng nó như trên)
tôi cho chỉ có hát nhà trò là thú nhứt, mà thú là vì cái đánh trống. Cho nên
tôi đi hát là để nghe hát và đánh trống chớ không vì cô đào. Tôi đánh trống
không là hay, vì nghe đàn chưa thạo lắm, nhưng tự thấy tiếng trống của mình
có một vẻ riêng, cũng như chữ viết của tôi không là tốt mà có một vẻ riêng,
tôi không muốn bỏ đi mà theo ai cả dầu họ hơn tôi mấy cũng mặc.
Về nha phiến, đầu năm 1926
tôi 40 tuổi, quyết định không chơi với nó nữa. Vì nghĩ rằng lúc còn trẻ, sức
mạnh, đủ mà kình lại nó, tuy hút không sợ ghiền, nhưng đến có tuổi rồi phải
tuyệt đi. Vì vậy, có một dạo lâu lắm, ở Sài Gòn, cùng anh em nằm nói chuyện quanh
bàn đèn cả đêm mà tôi không hề.
Người ta đến lúc đổ đốn,
chơi hoang toàng, thì hay kiếm cái cớ để nấp mình dưới nó mà chống lại vật
nghị. Trong sách, khi phê bình các danh sĩ say sưa đời xưa, nhiều người hay
nói: “Tiên sanh chi ý bất tại tửu”, hay là: “Hữu sở thác nhi đào”, cùng một ý
ấy. Thế thì tôi, trong khi đổi ý, từ cái nhân sanh quan nầy bước qua cái nhân
sanh quan khác cũng dùng cái ngón ấy chăng? Việc của tôi, tôi không sao biết
được. Tôi chỉ thuật mà không để lời phán đoán.
Vào khoảng 1930 - 1931,
tôi thả theo sự tự do của thị dục, không gìn giữ gì nữa, nhứt là với nha phiến.
Lúc đó tôi ở Sài Gòn, viết một lúc ba tờ báo, thường không có giờ rảnh, hễ rảnh
là đi giết thì giờ, không chịu luận đêm ngày.
Từ tôi ở ngoài lâu, tôi
năng nhớ tới ông tôi. Một lần đi ngang Nha Trang, tôi phải ở lại mấy hôm để
đi đến tỉnh thành Khánh Hòa vào thăm dinh Án sát là nơi ông tôi từng ở bảy,
tám mươi năm về trước. Ông tôi có một bức di dong chụp trước khi mất một năm
đến bấy giờ lu lờ cả, tôi đem thuê ông Đặng Văn Ký ở Đa Kao vẽ lại giống y
như hệt. Bức vẽ ấy thường treo ở trên chỗ tôi ngồi viết, khi viết cạn từ, vừa
nhìn lên vừa nghĩ.
Tôi thấy sống như cái đời
ông tôi mới là sống. Từ đó, trên triết học, tôi cẩn thận ở sự định nghĩa ba
chữ “nhân sanh quan” và phân biệt nhứt ở chỗ: nhân sanh quan không
phải lànhân tử quan. Theo cái chủ nghĩa cấm dục là làm cho con người ta chết
đi, chứ không nói được là sống, dầu còn có cử động.
Khổng Tử đến năm 70 tuổi
thì “tòng tâm sở dục bất du củ” nghĩa là “theo chỗ muốn của lòng,
chẳng vượt ra ngoài khuôn phép”. Lại, về sự uống rượu, ngài không có hạn lượng,
không nhứt định uống mấy chung có chừng, cứ giữ cho không say đến bậy bạ là
được (Duy tửu vô lượng bất cập loạn). Hiệp hai điều đó lại, tôi thấy ra Khổng
Tử giá đời ngài đã có thuốc phiện thì ngài hoặc cũng có hút, miễn chẳng đến
ghiền hay ghiền mà chẳng đến làm hư thân danh mình cùng để lụy cho vợ con.
Xin ai đọc tôi chớ hiểu lầm
cái đoạn tôi mới vừa nói đó. Tôi không có ý dùng ngụy biện để kéo một bậc đại
thánh vào với tôi trong cái chỗ mà người ta kêu bằng “trụy lạc”. Tôi chỉ muốn
nói người ta ở đời, đời có cái gì, hưởng thọ cái ấy thì sự sống có đầy đủ hơn
là cái gì cũng không dám hưởng thọ.
Năm 45 tuổi tôi “thiệt thọ”.
Sau hơn một năm, tôi bỗng bỏ không hút trong tám tháng. Bấy giờ cha tôi thấy
vậy, hình như cũng có tin rằng tôi vẫn đủ sức buông bắt thuốc phiện như ông
tôi. Thật ra thì trong tám tháng ấy tôi không có việc làm; thất nghiệp chơi với
“nàng” thì bất tiện lắm. Chứ khi ra Hà Nội có việc làm rồi, tôi lại chơi.
Ai đã mắc vào thú nầy rồi
thì thường là chừa các thú khác. Nhưng tôi hơi tham hơn họ một chút. Lần ở Hà
Nội nầy, tôi đi nhà trò nhiều hơn cả mấy lần trước, rốt lại đến lấy một cô
làm vợ nhỏ, bây giờ vẫn còn ở với tôi đẻ được đứa con trai. Có lẽ đó là cái kết
quả và cũng là cái kết luận của cuộc sanh hoạt lãng mạn của tôi vậy.
Từ năm mươi tuổi đến nay
tôi không còn lãng mạn nữa, dầu còn có sức cũng không, vì nghĩ phải để phần mọi
sự đời cho kẻ khác. Nói thế hình như hiện nay tôi lại bỏ thuốc phiện rồi.
Không, không phải thế, thứ đó bây giờ đã là một sự cần hằng ngày cho tôi;
không còn chơi gì nữa nên không thể kể là lãng mạn được.
Thuốc phiện gần nay lên
giá, nhiều người làm ra không đủ hút. Trong anh em có người khuyên tôi cũng
nên bỏ đi. Mỗi khi đáp lại lời khuyên ấy, tôi nói rằng: “Bảo tôi bỏ à? Thế
thì trước kia tôi hút làm gì?” - Lời ấy thật quả là lời của kẻ tự bạo tự khí
nếu nó lọt vào tai ông nào như ông Mạnh Tử. Nhưng riêng với tôi, nó là chơn
lý, “chơn” đến trăm phần trăm.
Tôi nghĩ cái đời của tôi sống
để làm gì? Chẳng phải đến bây giờ mà từ trước đến nay tôi sống để làm gì? Viết
báo ư? Ngôn luận ư? Trứ thuật ư? Thì cứ hút đi rồi mà viết, mà ngôn luận, mà
trứ thuật; cái nầy nó chẳng hề phương hại đến cái kia thì việc gì mà phải bỏ?
Còn về tiền bạc, theo tôi, cái đó chẳng thành vấn đề.
Cho đi rằng tôi bây giờ
không còn là người ghiền đi, lại cho đi rằng từ trước đến nay tôi không hề là
người ghiền nữa, thì tôi cũng chỉ là một anh viết báo, một nhà ngôn luận, một
tay trứ thuật mà là An Nam tất cả, tôi có hơn gì là tôi đâu?
Có, tôi có khỏi mang tiếng
ghiền, nhưng tôi có ích gì cho ai đâu? Thế thì bảo tôi bỏ nó làm gì?
Nói vậy thì nói, chứ đối với
cái thái độ ở đời của hai người, cũng không phải tôi cho ông tôi là phải, cha
tôi là trái. Chẳng qua sau bao nhiêu lâu nhìn rõ thế sự, tôi thích cái nầy
hơn mà chọn lấy và không thích cái kia mà bỏ đi, thế thôi. Nhưng thế nào mặc
dầu, cái sự sống bao hàm của ông tôi, tôi vẫn coi như biển, thì cái sự sống
cô cao của cha tôi, tôi cũng coi như núi vậy.
Người ta phải có tu dưỡng
hồi bình nhựt thế nào để cho đến khi cái thái độ mình tỏ ra, hoặc là bao hàm,
hoặc là cô cao, đều không phải bởi cố ý. Một có sự cố ý thì phải thành ra giả
dối, thậm chí mình giả dối lấy mình: con người ấy mới thật là “trụy lạc”. Tôi
sợ cho cái trụy lạc ấy lắm. Chứ còn ghiền á phiện hay mê cô đào mà bị người
ta gia cho cái tiếng “trụy lạc” thì tôi không sợ. Không sợ mặc tôi, cái tiếng
ấy thế nào cũng không khỏi.
Cái đêm trước khi tôi đi
Sài Gòn chuyến nầy, vợ tôi nằm một mình nói cằn rằn: “Nói chơi thì chơi,
không mắc cái gì hết, mà rồi cái gì cũng mắc hết!” Tôi nghe mà làm
thinh. Tôi biết bà nó (vợ tôi có cháu nội cháu ngoại rồi) nói thế là nói tôi
chứ nói ai?.
Phan Khôi
Dân
báo, Sài Gòn,
Số Tết Nhâm Ngọ 1942
|
Lại
Nguyên Ân sưu tầm và giới thiệu
|





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét