Tô Hoài và những nghiêm chỉnh
I
Mấy năm từ 1992 đến 1996, do
công việc ở một đề tài khoa học, gần như hàng tuần tôi đều có dịp phải gặp và
làm việc với nhà văn Tô Hoài. ấn tượng còn lại ở tôi: đây là một người có cách
sống cách làm việc phù hợp với nghề, do đó, đời cầm bút thật bền mà cũng thật
hiệu quả. Sau hơn 50 năm lao động chữ nghĩa, con người đó vẫn làm việc đều đặn
tưởng như có viết vài chục năm nữa cũng không hết việc.
Kể ra đã ngoài 70, đâu ông
còn khoẻ như thời mỗi đêm lia xong một truyện ngắn nữa! Thỉnh thoảng đã triệu tập
chúng tôi đến họp rồi, ông lại gọi điện bảo hoãn. Khi thì cái chân ông giở chứng.
Khi thì máu lên huyết áp. Nhưng nếu Tô Hoài khoẻ mạnh bình thường, ông khá
nghiêm túc. Thông thường trước giờ họp ông đã có mặt, trò chuyện linh tinh với
mọi người. Về phần mình, chúng tôi cũng muốn nghe chuyện ông trước khi vào việc.
Chuyện ông mang đủ vui buồn của sự đời, không nghe chỉ thiệt, nên anh chị em có
thói quen đến sớm, góp chuyện. Còn như nếu có đến họp muộn, chúng tôi cũng
không phải quá lo lắng, bởi Tô Hoài là loại “sếp” biết thông cảm với nhân viên,
ông hiểu rằng luôn luôn, người ta có muôn ngàn lý do để đi chậm để dề dà ngần
ngại trong công việc, thôi, loanh quanh thế nào cũng xong, cứ thủng thẳng mà
làm, có sốt ruột cũng chẳng được.
Thế còn Tô Hoài nói gì trước
khi họp? Đủ thứ! Chuyện bên hàng xóm, người ta xây những ngôi nhà to vật to vã,
thành thử nhà ông, cái nhà mua bằng nhuận bút kịch bản phim Vợ chồng A Phủ,
đang khang trang rộng rãi, tự nhiên trông như túp lều, có lẽ phải gọi bán. Chuyện
đi ăn phở bây giờ nhiều người còn thích đập thêm quả trứng vào, có biết đâu một
người như cụ Tuân, cả đời chỉ ăn phở bò chín. à cửa hàng nọ chuyên bán cho dân
rực của lại còn sáng chế ra thứ phở thịt nạc băm viên như viên mọc, ở Hà nội
xưa nay không ai ăn thứ phở táp nham vậy.
Chờ xe cùng với chúng tôi
bên đường, Tô Hoài chỉ cái cống nước đen ngòm đang chảy:
– Hồi trước, nhà nào để thế
này đội xếp nó phạt chết.
Đá sang chuyện dạo này người
ta đi hội nhiều, ông than phiền:
– Cứ như tôi nhớ vùng Bưởi hồi
trước, không phải làng nào cũng có hội. Tế lễ ở đình thì mọi làng đều làm,
nhưng mở hội tức là góp mặt với thiên hạ. Phải thế nào, người ta mới đến xem
cho chứ tưởng dễ hẳn. Anh để ý, bây giờ nhiều đám rước người đi rước đông hơn
người đi xem. Đấy là điều trái ngược và xấu hổ.
Dông dài mà thiết thực, chuyện
của Tô Hoài là chuyện của người đang sống đang lo toan vui buồn về cái hàng
ngày, như mọi người khác. Chả thế mà trong những thiên truyện như Con ngựa,
những thiên tuỳ bút như Tình tình gió bay…hoặc các chân dung viết về Nguyễn
Văn Bổng, Trọng Hứa…mới in gần đây, Tô Hoài có thể mang vào đó đủ thứ chi tiết
linh tinh của “thời mở cửa” mà người ta khó nghĩ là một ông già bảy mươi lại có
thể còn để ý tới. Sau thời bao cấp, không ít nhà văn lúng túng. Con người bây
giờ nhộn nhạo quá. Trong lúc lao đi kiếm sống, cá nhân trở lại cái tự phát
nguyên sơ của mình và vận động không theo khuôn phép nào cả. Đỗ Chu ngơ ngác
nhìn Mảnh vườn xưa hoang vắng; Nguyễn Khải than thở cho Một thời gió
bụi. Về phần mình, Tô Hoài có vẻ như không chút ngạc nhiên. Đã già từ lúc còn
trẻ, nay về già ngòi bút ông lại trẻ lại. Ông vẫn đi họp, làm báo, chủ toạ hội
nghị, và lại viết khoẻ. Nhiều lần tôi đã tự hỏi, vì sao Tô Hoài lại có được sự
trẻ khoẻ dẻo dai như vậy? ở đây, hẳn có những phần thuộc về sự rèn luyện của
ông, lâu ngày thành một thói quen không cần cố gắng. Và trước bao thay đổi hàng
ngày, con người ông vẫn dễ dàng thích ứng. Vũ Quần Phương có lần nói, đại ý:
tìm hiểu về Tô Hoài, là cả một thách thức thú vị.
Những ai có dịp cùng làm việc
với Tô Hoài đều có cái bỡ ngỡ và háo hức tương tự.
Được cái, trong việc này
chúng tôi có một thuận lợi là Tô Hoài rành mạch: Trong khi vẫn giữ cho mình một
thế giới riêng tư, ông không quá khép kín và đẩy mọi người ra xa, để gây ấn tượng.
Mà ông cũng không tạo ra vẻ cởi mở giả tạo, cốt lấy lòng ai. Đôi khi, ông ngồi
uống bia hay uống rượu quán bờ hè. Đội cái mũ che cái trán quá hói, ai hỏi thì
bảo trước làm nghề kế toán, về hưu đã lâu như vậy dễ chuyện hơn. Một lần ở quán
rượu cụ Xưởng phố Nguyễn Khuyến, người con ông cụ đến thăm bố, nhận ra ông. Vì
anh ấy làm giáo viên, đã gặp ông. Thế là những lần sau, lần nào cụ Xưởng cũng
đem bản thảo dịch thơ Lamactin của cụ đọc cho ông nghe và yêu cầu góp ý kiến.
Ông Tô Hoài lủi dần.
Ông thường sống đúng như ông
có, biết lui biết tới, biết lẩn tránh, nhưng cũng biết đối mặt trước mọi sự tọc
mạch. Mẩu chuyện sau đây minh chứng cho điều đó.
– Dế mèn lưu lạc mười
năm
Để O chuột phải ôm
cầm thuyền ai
Miền Tây sen đã tàn
phai
Trăng thề một mảnh lạnh
ngoài Đảo hoang.
Đấy là mấy câu tả chân dung
Tô Hoài của Xuân Sách. Trong khi chơi trò ghép các tác phẩm của Tô Hoài lại
thành vần, người viết chân dung vẫn làm toát ra được chút cám cảnh về một cuộc
đời buồn buồn, đơn độc.
Hồi đó là vào khoảng 72-73
gì đó, tập chân dung sau này sẽ gây ra nhiều tai tiếng của Xuân Sách chỉ vừa mới
thành hình được những bài đầu tiên. Một trong những người có tham gia vào khâu
bếp núc những bài thơ ấy là Nguyễn Khải, cây bút có những lúc khá hiếu động, thành
thử mặc dù đã bảo nhau là chỉ làm chơi thôi, song vẫn cứ táy máy, muốn đi đây
đi đó, kháo với mọi người. Cho đến lần ấy, nhân buổi chiêu đãi ở nhà xuất bản nọ,
có mặt cả mấy nhà văn cỡ bự. Nguyễn Khải liền tính chơi trò vỗ mặt, đọc thẳng
cho các vị ấy nghe. Trước những lời rào đón của Nguyễn Khải, nhà văn X. ra vẻ xởi
lởi:
– Đọc đi xem nào, cái lối viết anecdote này,
nước nào chẳng có?
Tô Hoài thì dè dặt hơn, chỉ
mủm mỉm cười, như có vẻ không tin mà lại như có vẻ chờ đợi.
– Tính cách mình hơi khó nắm
bắt đấy!
Thế là cánh cửa đã mở. Nguyễn
Khải vừa đọc, vừa thăm dò phản ứng. Quả nhiên trận lôi đình nổi lên, nhưng nhà
văn X. đành cố kiềm chế, chỉ nghiêm mặt hỏi:
Đến lượt Tô Hoài, nghe được
ba phần tư bài thơ, Tô Hoài đã xua xua tay:
– Thôi đủ rồi! Thế là biết
tài nhau rồi.
Và ông lảng sang chuyện
khác.
Theo tôi nghĩ, cái đáng quý
của Tô Hoài trong trường hợp này cũng như nhiều trường hợp tương tự là sự sòng
phẳng và biết lui biết tới. Ông không đặt mình cao hơn mọi người. Ông hiểu rằng,
đã gọi là nghề văn, cái sự chế giễu khích bác nhau là không khỏi xảy ra hàng
ngày, và mình không phải là một ngoại lệ. Mình có thể là một nhà văn nổi tiếng,
là cán bộ phụ trách Hội. Nhưng đấy là khi vào các buổi họp, còn ở đây, trong
câu chuyện bên bàn tiệc, mọi người bình đẳng, và nếu như có ai đó lỡ lời nói
quá, thì nên quên ngay cho được vui vẻ. Vâng. ở Tô Hoài, sự thoả hiệp đã thành
một thói quen thường trực. Sau hơn một tháng dự trại viết cho thiếu nhi ở Đại Lải,
Nguyễn Minh Châu rút ra một nhận xét về Tô Hoài: Không bao giờ ông muốn đối lập
với người đang trò chuyện với mình, bao giờ ông cũng nhanh chóng tìm ra cách
hoà hoãn.
Còn theo nhận xét của một
người làm việc cùng cơ quan với Tô Hoài, thì chính ra ông là người thích lẩn trốn
vào một chỗ vắng, làm nhoà mình đi, trong những hoàn cảnh không cần thiết.
Dù sắc sảo đến đâu, mọi ý tưởng
của ông đều được nói ra một cách từ tốn. Cái sự tồn tại trong đời của ông là nhởn
nhơ bảng lảng. Ông thường nói đùa: dong chơi có trách nhiệm và bổ ích. Giữa đám
chúng sinh nhợt nhạt, bản sắc riêng của ông không hằn lên, khắc lên như Nguyễn
Tuân mà ông đã để cả cuốn Cát bụi chân aiđể miêu tả. Ông lại càng không cố
ý kềnh càng giữa đời như cụ Nguyễn. Nên đúng là hơi khó nắm bắt. Nhưng bảo là
ông không có cái riêng là không đúng.
“Ô hay, người ta ra người ta
thì phải là người ta đã chứ” – ai đọc Cát bụi chân ai, làm sao quên được
cái câu lý sự rất Tô Hoài ấy!
Một lần, trong lúc vui chuyện
sau một bữa ăn, một người chợt nhận ra là nét mặt Tô Hoài sao hao hao giống như
ông X., một nhà hoạt động xã hội, ảnh vẫn thường thấy trên mặt báo. Tô Hoài
không cần suy nghĩ, nói bằng giọng bông đùa mà có ngụ ý khiến chung quanh cùng
cười:
– Sao lại bảo là tôi giống
ông ấy, phải nói ông ấy nhang nhác giống tôi mới đúng.
Lần khác, khi ra cửa sân bay
Nội Bài, đáp lại tiếng reo của một cô gái trẻ: “A! Bác Tô Hoài! Bác viết Dế
mèn phiêu lưu ký đây mà!”, ông chỉ tủm tỉm không nói gì. Nhưng đi một
quãng, Tô Hoài ghé tai bọn tôi nói nhỏ:
– Chẳng phải nó đọc, mà bố mẹ
nó đọc, ông bà nó đọc ấy chứ!
Biết mình biết người; tận hưởng
ưu thế của một nhà văn nổi tiếng giữa đời thường, song lại biết điều, phải
chăng trong cư xử; khi không cần thiết thì sẵn sàng tránh sang một bên nhưng
không việc gì là qua khỏi mắt, và khi cần, lại diễn rất tài cái vai đang phải
đóng – Tô Hoài là vậy. Trong lúc thân tình, một lần Nguyễn Khải nửa đùa nửa thật
tâm sự với tôi: “Các bố trẻ bây giờ không quen nổi tiếng, nên vừa được người ta
để mắt tới là cong cớn hợm hĩnh trông rất buồn cười. Chỉ một số cáo già trong
nghề đã quen với sự nổi tiếng, mới biết làm sao mình vẫn là mình trước sự trầm
trồ ca tụng của thiên hạ. Có phải dễ mà biết sống trong sự nổi tiếng đâu!”. Lúc
nói câu này, Nguyễn Khải không chỉ cụ thể một ai, những mỗi lần nhớ tới cái nhận
xét thần tình ấy tôi lại liên hệ ngay tới tác giả Dế mèn phiêu lưu ký.
II
Mỗi nhà văn đến với nghề
nghiệp bằng một con đường riêng và sẽ tồn tại trong nghề theo những phong cách
riêng. Song ở các nhà văn có thể gọi là thành đạt, những nhà văn có một cái tên
mà đọc lên, nhớ ngay được, người ta thường nhận ra một nét chung: ấy là, những
độc đáo trong tính cách, trong số phận khiến cho họ gần như nhất thiết phải làm
nghề ấy, mà không thể làm nghề khác.
Tô Hoài là một ví dụ về cái
sự gần như nhất thiết ấy.
Dù là chỉ tính ang áng theo
kiểu Việt Nam, thì nhìn vào tuổi nhỏ Tô Hoài, không ai tìm thấy một sự chuẩn bị
hoặc một bệ phóng nào cả. Nhà văn đã viết trong Cỏ dạivà Tự truyện có
lần kể với tôi là gia đình bên nội bên ngoại ông nghèo lắm, đến sinh ngày nào
con cháu cũng không biết. Chơi đùa chạy nhảy là trên cánh đồng Nghĩa Đô; đi học
là ở trường làng và các vùng ngoại ô lân cận; người dắt ra làm quen với phố xá
Hà Nội là các dì, các mợ – sự lớn lên của Tô Hoài lúc đó dựa hẳn vào bên ngoại.
Song dựa vào để lấy chỗ làm ăn, chứ mấy quyển truyện nôm của các nhà in sách phố
hàng Gai, quyển Kiều truyền tay giữa bạn bè, hoặc mấy quyển sách dịch
của tủ sách Đông Tây tư tưởng mà anh thợ cửi Nguyễn Sen mượn ở nhà
các ông trưởng bạ, hộ lại làng quê để đọc những lúc rỗi… những sự chuẩn bị vẩn
vơ ấy đâu đủ là bảo đảm chắc chắn để con người này đến với nghề cầm bút.
Có điều càng thấy rằng sự
chuẩn bị của gia đình và xã hội cho Tô Hoài vào nghề vẫn là không có gì, người
ta mới càng hiểu hơn cái phần năng khiếu to lớn, nó khiến cho Tô Hoài chỉ trong
nghề này mới tìm thấy sự thích thảng thoải mái.
Nhân ngẫm nghĩ về sự đời,
trong một lần vui chuyện, Tô Hoài nói với tôi cái điều có lẽ ông đã chiêm nghiệm
từ lâu:
– Không có Cách mạng 1945,
chắc ông X. sẽ ra làm quan (khoảng 1943-1944, X. từng theo học trường luật, nơi
chuyên đào tạo luật sư, tri huyện). Mà không có Cách mạng chắc ông Y. đi làm
giáo sư. Chỉ có mình, không có Cách mạng chắc vẫn đi viết văn.
Cũng cái ý ấy, song Tế Hanh
có cách nói khác. Có mặt trong buổi lễ mừng thọ Tô Hoài 70 tuổi, đặt bên cạnh
bao nhiêu lời chúc tụng ồn ào, Tế Hanh chỉ bảo rằng Tô Hoài sinh ra để viết, đại
khái giống như, tuy ở một tầm cỡ khác, nhưng P. Picasso cũng sinh ra để vẽ. Sự
so sánh đã được giới hạn, nhưng chắc chắn, đó là một lời khen tuyệt vời mà người
cầm bút nào cũng mong mỏi và với Tô Hoài lại vẫn là một lời khen đích đáng. Có
cảm tưởng như bao nhiêu kinh nghiệm hàng ngày, trước sau đều được nhà văn đưa hết
vào trang giấy. Ông sống để viết và phải viết, như phải ăn phải uống. Không phải
ông chỉ ỷ vào cái năng khiếu sẵn có. Ngược lại ông biết gây dựng cho sự nghiệp
của mình, như chăm một cái cây, cho thân nó cao, lá nó xanh, tán nó rộng. Và
ông biết nuôi tài năng ấy, bằng cuộc sống quanh ông, chứ không tìm ở đâu khác.
Điều này diễn ra trong suốt
cuộc đời làm nghề của Tô Hoài.
Hơn nửa thế kỷ trước, khoảng
1942-43, sau khi Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng được in ra, Vũ Ngọc
Phan có viết trong Nhà văn hiện đại rằng ông có cảm tưởng được đọc một
cuốn sách in ở bên Anh bên Nga. Là vì tự truyện của Nguyên Hồng thực quá. Bằng
một giọng kể run run cảm động, người thanh niên Nguyên Hồng lúc đó dám giãi bày
trên mặt giấy những sự việc mà trong câu chuyện riêng với nhau, người ta cũng
phải giấu.
Cũng thời gian này, Tô Hoài
viết Cỏ dại (in ra 1944) một cuốn hồi ký có cách viết, cách nhìn đời
tương tự như quyển tự truyện của Nguyên Hồng. Sau khi trổ tài quan sát và trình
bày nhiều ý nghĩ sâu sắc trong Dế mèn phiêu lưu ký, đến đây, ngòi bút Tô
Hoài như đằm xuống. Nếu ở Những ngày thơ ấu, người ta được nghe chuyện trốn
học, chuyện đánh đáo ăn tiền, thì ở Cỏ dại hết chuyện cậu bé chốc đầu,
được ông ngoại lấy nước điếu chữa ra sao, lại chuyện từ nhà quê lên phố chờ đi
học, sống ít ngày không đâu vào đâu, rồi ngơ ngẩn vẫn hoàn ngơ ngẩn.
Trước mắt chúng ta là một cuốn phim quay chậm ghi lại chuỗi ngày tầm thường nhạt nhẽo của một đứa bé tinh quái, lêu lổng. Phải một ngòi bút tự tin lắm mới dám đưa những chuyện đó lên mặt giấy. Nhất là đưa ra sao khiến khi đọc, người ta có thể cảm động đến ứa nước mắt thì chỉ loại Tô Hoài, Nguyên Hồng mới làm nổi.
Trước mắt chúng ta là một cuốn phim quay chậm ghi lại chuỗi ngày tầm thường nhạt nhẽo của một đứa bé tinh quái, lêu lổng. Phải một ngòi bút tự tin lắm mới dám đưa những chuyện đó lên mặt giấy. Nhất là đưa ra sao khiến khi đọc, người ta có thể cảm động đến ứa nước mắt thì chỉ loại Tô Hoài, Nguyên Hồng mới làm nổi.
Những cái nhếch nhác, nhất
là những cái xấu xa nhảm nhí mà Nguyễn Công Hoan hoặc Vũ Trọng Phụng nói tới
trong văn các ông là những gì ở ngoài các ông và các ông thường nhìn chúng căm
ghét khinh bỉ. Nhà văn đứng cao hơn hẳn điều mình miêu tả.
Đọc văn Nguyên Hồng cũng như
Tô Hoài, thấy sự nhếch nhác là ở ngay đây, bên cạnh nhà văn, trong chính bản
thân kẻ viết văn, và việc cầm bút lúc này giống như một sự giải thoát. Tôi biết
là tôi sống giữa xấu xa dơ bẩn như mọi người. Mọi chuyện không thơm tho đẹp đẽ
gì. Nhưng tôi chấp nhận. Và riêng việc được viết nó ra đối với tôi đã là một điều
hào hứng. Cái sự chủ động trong bị động này ở Tô Hoài đã thành một thứ bản lĩnh
thường trực. Ngoài chuyện giúp ông dám viết, nó còn giúp ông vững vàng ở một
lĩnh vực cần thiết cho viết lách tới mức thiếu đi không viết nổi, đó là sự quan
hệ với người trong giới và sự tự học.
Giờ đây, có dịp lùi xa hơn nửa
thế kỷ, văn học 1932-45 đối với chúng ta là một cái gì thuần nhất, và những tên
tuổi như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, rồi quá nữa, Khái Hưng, Nhất Linh có đặt
bên cạnh Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Bính thì cũng là sự tự nhiên, họ là thuộc về
cùng một thời đại.
Nhưng hãy thử đặt mình vào địa
vị Tô Hoài, ở cái điểm khởi đầu, là quãng năm 1940 khi mà anh thợ cửi Nguyễn
Sen bắt đầu gửi bài tới các báo, báo nào cũng gửi, và đến khi có truyện ngắn Mê
gái – sau đổi là Chú gà trống di – in ở báo Chủ nhật, đến
muốn đòi tiền, thì người ta chỉ gọi nhau chạy ra xem, chứ tiền không trả. Bấy
giờ, khoảng cách giữa một nguời dân ngoại thành học chưa hết tiểu học với đám
nhà văn nhà báo đã học hết thành chung, tú tài, khoảng cách ấy là xa vời đến mức
làm người ta rợn ngợp và không đám nghĩ tới nữa. ấy thế mà Tô Hoài không nản. Mới
quen với nhà văn Vũ Ngọc Phan do mấy truyện ngắn đăng trên báo Hà Nội
Tân văn, ông đã lân la định nhờ tác giả Nhà văn hiện đại giới
thiệu để xin thẻ Thư viện quốc gia và khi không được, thì đến ngay thư viện của
gia đình Vũ Ngọc Phan, để mượn sách bù vào chỗ thiếu ấy vậy. Quen Vũ Bằng cũng
một phần là để học nghề, để mượn sách, bởi vậy mấy chục năm sau, Tô Hoài còn nhớ
đến cuốnPhố Mèo câu cá của nhà văn Rumani gốc Hung, mà Vũ Bằng đã cho Nam
Cao và Tô Hoài mượn, rồi vài hôm sau cho anh xe lên đòi. Đời sống đã đẩy Tô
Hoài đi viết văn, nhưng lại chỉ cho ông năng khiếu mà không cho ông kiến thức
sách vở. Để bù vào chỗ thiếu sót ấy, ông đành tự học suốt đời. Giới cầm bút đã
quá quen với chuyện thượng vàng hạ cám cái gì cũng đọc của Tô Hoài, song đến lượt
tôi, tôi vẫn không hết ngạc nhiên. Cho đến khi, tôi trực tiếp hỏi, thì vẫn cái
cách trả lời dẽ dàng vốn có.
Về thời giờ để đọc:
– Tuổi già, ngủ một lúc đến
độ hai ba giờ là mình dậy, lúc ấy sách gì mà chẳng đọc hết.
Về bản chất của cái sự đọc
nhiều này:
– ấy là thói quen của người
tự học.
Cũng nên nói thêm là, trong
cuộc đời Tô Hoài, còn có một chặng thử thách nữa, mà nhờ thói quen thích ứng, tức
cũng là nhờ bản lĩnh, ông đã hồn nhiên để trụ vững để rồi vượt qua, một cách nhẹ
nhõm, ấy là những ngày đầu kháng chiến chống Pháp khi ông cùng các đồng chí đồng
nghiệp được điều lên Việt Bắc, tận chân dãy núi Phia Boóc (Bắc Cạn) làm
báo Cứu quốc. Bấy giờ khoảng 1947-48. Dường như cách sống của một nhà
văn nổi tiếng tiền chiến chưa hề nhiễm vào Tô Hoài, lúc này, những tháo vát
xoay xoả của người thợ cửi cũ, lại được thức dậy. Ông sống giữa đồng bào dân tộc
Mán, làm công tác địa phương. Ông viết báo, viết tường thuật các trận đánh, viết
xong, đọc ngay cho đồng bào nghe để lấy ý kiến. Bề ngoài tưởng như trước mắt
chúng ta là một con người hoàn toàn khác, và người cán bộ ba mươi tuổi ấy không
còn dây dưa gì đến những chơi bời lăn lóc trên phố phường Hà Nội thuở nào. Song
thật ra con người viết văn của Tô Hoài vẫn làm việc, ông gần như chuẩn bị lại từ
đầu. Ông vẫn viết đều, truyện ngắn có, truyện vừa có, nhưng lại rất nhiều những
ghi chép, phóng sự, ký sự và các bài báo vặt, và cả ca dao nữa, ca dao cho người
dân kháng chiến dễ nhớ. Có cảm tưởng Tô Hoài là cái cây khoẻ, đất nào cũng mọc
được, vứt vào đâu cũng sống được, và sống đến đâu viết đến đấy.
III
Từ những năm mới bước vào
nghề làm văn làm báo, tôi đã được nghe các bậc đàn anh ở tạp chí Văn nghệ
Quân đội cũng như đám bạn bè cùng tuổi kể nhiều về Tô Hoài, đại khái nói bằng
ngôn ngữ của đường phố thì ai cũng kêu rằng đấy là một bậc “lõi đời”, dân làm
nghề loại “bợm”, trình độ võ công thượng thặng bộc lộ ở chỗ lúc nào cũng nhẹ
như không, có vẻ chẳng cần nỗ lực làm gì, chỉ nhởn nhơ, thoải mái mà công việc
vẫn chạy đều đều.
Kể ra, nghề gì cũng vậy, có
chăm chỉ mới sống nổi. Nghe nói ở nhiều nước phương Tây có những nhà văn viết bằng
cách đọc vào máy, rồi có người gỡ băng, đánh máy lại. Sách ra ùn ùn. Nhưng ở ta
cái thời văn chương điện tử ấy chưa tới, nghề văn đại khái vẫn là nghề thủ
công, thành thử, sự chăm chỉ ở đây phải mang bộ mặt thô sơ của nó. Có tài cán đến
mấy, mà không vào bàn, cũng không ra chữ – đấy là điều đã đúng với bao nhà văn
khác, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố, Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu.
Tuy nhiên giữa bao nhiêu sự
cần cù ấy, riêng lối chăm chỉ của Tô Hoài vẫn là lạ, là khác đời. Nó thành một
nếp sinh hoạt hàng ngày. Nó bền. Nó kéo dài.
Đôi khi nó công khai bày ra trước mọi người trong các buổi họp đến mức người ngoài trông chướng anh ách, song Tô Hoài vẫn không lấy làm điều, cứ cách của mình mà làm. Vâng, quả thật là giữa một thế giới văn chương nửa nghiệp dư, nửa chuyên nghiệp, kết quả của một kiểu sống nửa cán bộ, nửa nghệ sĩ luôn luôn thấy những tuyên bố, những tranh cãi hão huyền, mà tác phẩm có chất lượng chẳng là bao, thì việc Tô Hoài cứ miệt mài viết cắm cổ viết, sách ra đều đều và bao giờ cũng có chút gì đó để người ta đọc như thế, bảo không lạ sao được! Dường như nhà văn tìm thấy ở trong cái sự có mặt thường xuyên của mình một lẽ sống, và hơn nữa, một triết lý, nó nâng đỡ và hướng dẫn ông trong suốt cuộc sống.
Đôi khi nó công khai bày ra trước mọi người trong các buổi họp đến mức người ngoài trông chướng anh ách, song Tô Hoài vẫn không lấy làm điều, cứ cách của mình mà làm. Vâng, quả thật là giữa một thế giới văn chương nửa nghiệp dư, nửa chuyên nghiệp, kết quả của một kiểu sống nửa cán bộ, nửa nghệ sĩ luôn luôn thấy những tuyên bố, những tranh cãi hão huyền, mà tác phẩm có chất lượng chẳng là bao, thì việc Tô Hoài cứ miệt mài viết cắm cổ viết, sách ra đều đều và bao giờ cũng có chút gì đó để người ta đọc như thế, bảo không lạ sao được! Dường như nhà văn tìm thấy ở trong cái sự có mặt thường xuyên của mình một lẽ sống, và hơn nữa, một triết lý, nó nâng đỡ và hướng dẫn ông trong suốt cuộc sống.
Cuối năm 1969, tạp
chí Tác phẩm mới ra đời. Từ chỗ chỉ có một tờ báo duy nhất là tờ Văn
nghệ, nay Hội Nhà văn có thêm một cơ quan ngôn luận nữa, nên mọi người dễ để
tâm lo liệu cho nó. Tự tay Nguyễn Đình Thi đứng ra làm mấy số đầu. Rồi có dạo
Hoàng Trung Thông đứng ra phụ trách. Nhưng hai người làm lâu nhất là Tô Hoài và
Chế Lan Viên – hai ông theo lối luân phiên hết sáu tháng người này trực đến sáu
tháng người kia trực. Biết tôi thích nghe chuyện Tô Hoài, anh bạn H. làm
chân ét chuyên lo chạy bài cho phần phê bình kể:
– Cơ quan kéo nhau đi nghỉ ở
Đồ Sơn ít ngày, trên đường về gặp nước lụt. Xe không đi được phải chờ. Trong
lúc anh em ngòi tán phét, thì cụ Tô Hoài cụ ấy ngồi viết xong một kịch bản phim
hoạt hình.
– Thì vẫn đến chơi với cơ
quan, ông còn lạ gì, trở đi trở lại có cái phòng ấy, bàn tổng biên tập ngay cạnh
bàn chúng tôi, đấy là nơi cụ ấy vừa tiếp khách, vừa viết tiểu thuyết.
Trở lên là chuyện tôi nghe
được, còn đây là chuyện chính tôi chứng kiến: một lần, ở Moskva, hôm trước vừa
đi với Tô Hoài nghe ông kể định viết bài bút ký thế này thế này, hôm sau, trong
điện thoại, đã nghe ông bảo rằng viết xong rồi!
– Ôi! anh viết nhanh thế!
– Đời người ta chơi nhiều,
dông dài nhiều, chứ ngồi viết có mất mấy thì giờ.
Một lần khác, có dịp sống cạnh
Tô Hoài trong một chuyến đi công tác, tôi ngạc nhiên nhận thấy: khi lấy kim chỉ
ra khâu lại cái khuy áo với khi kỳ cạch chữa bản thảo cho kịp gửi về Hà Nội
cũng vẫn cái dáng ông già cặm cụi ấy. Đoán ra tâm trạng tôi, ông cười, trông vừa
láu lại vừa hiền:
– Thì mình chẳng đã viết đây
đó rằng nghề văn xuôi giống như nghề của mấy anh thợ may là gì?
Một sự so sánh thuần tuý Việt
Nam. Song mỗi lần nhớ tới nó, lại không khỏi liên hệ tới cách nói của một nhà
văn Pháp còn đang sống, ông Le Clézio:
“Trở thành nhà văn có lẽ làm
ta vướng víu. Nhưng viết văn là một nghề theo nghĩa cổ nhất của từ này. Khi
nghĩ đến nhà văn, tôi nghĩ đến những quyển sách mà người ta truyền tay nhau đọc.
Rồi tôi nghĩ ngay đến bút, giấy. Càng ngày càng khó tìm ra giấy đẹp, thứ giấy
không trắng quá, nhưng lại thấm mực và khiến cho người ta thích viết… Nhà văn
là người mang những thói tật của người thợ thủ công mỹ nghệ, thợ làm đồ nữ
trang. Một nghề nghiệp đòi hỏi phải thật khéo tay. Phải giải quyết những khó
khăn trong việc và víu và lắp ráp như thợ chữa giày, chỉ khác ở chỗ giày thì người
ta biết dùng để làm gì. Còn sách thì… tôi chưa chắc chắn lắm. Tuy nhiên, có những
dân tộc không cần đi giày nhưng lại cần sách”.
Giữa các nhà văn Việt Nam hiện
đại, Nguyễn Tuân là một trong nhưng bậc thầy, một người sinh ra để viết văn, và
nói như Nguyễn Minh Châu, thực sự là đã trở thành một định nghĩa về nhà nghệ
sĩ. Đi để viết, đọc để viết, kiểu gì Nguyễn Tuân cũng thiện nghệ cả. Chỉ có điều
chính sự viết thì khi về già cụ Nguyễn lại dề dà, ngần ngại, hàng ngày có bao
nhiêu điều dự định song cứ ấp ủ vậy, mà không viết ra nổi. ở chỗ này, xem ra Tô
Hoài có phần thực tế hơn. Hồi sinh thời Nguyễn, có lần tôi đánh bạo hỏi, thì được
cụ trả lời:
– Mình làm việc
có mê-tót gì đâu! Có mê-tót, phải là sừ Tô Hoài.
Tạm thời có thể quy
cái mê-tót mà Tô Hoài theo đuổi, vào mấy điểm như thế này:
1. Đi đâu cũng viết, gặp cái
gì cũng viết, viết đủ các thể loại – thể tài, không mảy may bỏ phí một chút gì.
Chẳng những thế, tận dụng cái vốn sẵn có huy động nó đến cùng, để tạo nên hiệu
quả tối đa.
2. Sống không cầu kỳ, nhất
là không làm khổ mình bằng những thói quen có hại mà sống tất cả để viết.
Có thể phải viết cả một quyển
sách, để nói về cái điểm thứ hai này, tức là sự sống nhẹ nhõm đơn giản của Tô
Hoài. Ông dễ dàng tự thay đổi. Ông thích ứng nhanh. Ông thật hoạt. Là người Hà
Nội gốc, ông giữ được và ngày càng trau dồi cái bặt thiệp riêng, trong sự ăn uống,
sự tiếp đãi khách khứa, ở đấy cái sành sỏi đã trở thành tự nhiên, và đứng đằng
sau nó, là một nhu cầu ngày càng cao về hưởng thụ. Song chỗ hơn người của Tô
Hoài là không bị những sành sỏi đó ràng buộc. Vào một khách sạn sang trọng ông
chuyện trò như một người ngày nào cũng đến, và rất biết người biết của. Song
ngay sau đó, nếu phải ghé vào một quán hàng bên đường, chỉ có cái bánh nếp quả
trứng luộc, ông cũng ăn uống ngon lành, và nếu như hôm sau có dịp lên các vùng
cao, thì ông sống ngay được như đồng bào các dân tộc.
Khoảng cuối 1970, nhà văn
Nguyễn Khải có dịp cùng với Tô Hoài qua New Delhi, dự hội nghị nhà văn á Phi,
trước và sau đó đều có ghé qua Moskva. Trong câu chuyện kể lại với chúng tôi ở Văn
nghệ Quân đội, Nguyễn Khải dành cho Tô Hoài một vai khá đẹp:
– Đến New Delhi, ông ấy cũng
chỉ có bộ vét-tông tài chính cũ kỹ. ấy thế nhưng tây nó lại thích, có mấy tay
nhà văn ấn Độ nổi tiếng, sách toàn được nhà Gallimard ở Pháp cho in
mà trông cũng xuềnh xoàng như lão bán vải.
– Đi họp thời nay thể nào
cũng phải có chuyện đấu đá một chút. Được cái Tô Hoài nói khôn lắm. Trước lúc
thông qua cái văn kiện, ông ấy chỉ vừa cười vừa bảo với mấy tay Nga: “Làm thế
nào để tôi có thể đi nữa thì làm”. Thế là tự họ thu xếp với nhau, khiến cho sứ
quán mình cũng nghe được.
– à mà này, có biết ai đi tiễn
Tô Hoài lần này không? Một ông phó mộc. Chả ông ta là phó mà Tô Hoài thì là trưởng
ban đại biểu dân phố.
Bây giờ, quay trở lại cái điểm
thứ nhất là sự cần mẫn của Tô Hoài trước trang giấy:
Ngay từ trước 1945, tác giả Dế
mèn đã có truyện ngắn Hết một buổi chiều (viết ở Sài Gòn) trong
đó ông chế giễu một anh nhà văn tập tọng, thích nổi tiếng, nhưng lại lười, lúc
nào cũng chờ cảm hứng, rút cuộc chả viết được gì nên hồn. Thực tế kiếm sống rèn
cho Tô Hoài những thói quen khác. Trong ông, con người làm nghề hình thành với
bộ mặt đa dạng: có phía cả quyết, bám vào đó mà sống; có phía nhạy cảm, biết
mình mạnh ở chỗ nào, yếu ở chỗ nào, vậy phải viết về cái gì mới “ăn”; có tâm lý
tự trọng, thái độ làm việc kỹ lưỡng, thông thạo mọi mẹo mực trong nghề, và hào
hứng chấp nhận thử thách, muốn đóng góp thêm cho nghề; lại có phía ranh ma, biết
tận dụng mọi thứ rơi vãi, làm hàng kỹ cũng được, làm hàng “xổi”, hàng chợ cũng
không chối từ.
Sự đa dạng của tài năng Tô Hoài – hoặc nói rõ hơn, sự pha tạp của tài năng ấy – bắt nguồn từ một ý thức sâu xa: đã gọi là làm nghề thì phải biết làm tất cả mọi việc trong nghề, đi từ điểm A (điểm đầu tiên) đến Z (điểm tận cùng) của nghề nghiệp. Hình như không bao giờ Tô Hoài bí cái để viết. Ông lui tới giữa chữ nghĩa sách vở như người thợ mộc giữa đống gỗ, gỗ xấu gỗ tốt gỗ cứng gỗ mềm thế nào, rồi cũng sắp vào việc được. Chuyện viết tạp của Tô Hoài, đã thành bản tính thứ hai của ngòi bút. Khi có thì giờ, ông viết tiểu thuyết. ít thì giờ hơn lo trông nom các tập truyện ngắn. Ngoài ra là bút ký đi đường, và mẩu truyện, là chân dung văn học và lời giới thiệu cho các tuyển tập, là vô số các bài điểm sách nho nhỏ, các bài dọn vườn, ý kiến ngắn hoặc lời cho truyện tranh thiếu nhi v.v… tóm lại đủ thứ lỉnh kỉnh trong nghề làm báo, chỉ trừ có thơ, còn những gì thuộc lĩnh vực văn xuôi, Tô Hoài đều viết hết!
Sự đa dạng của tài năng Tô Hoài – hoặc nói rõ hơn, sự pha tạp của tài năng ấy – bắt nguồn từ một ý thức sâu xa: đã gọi là làm nghề thì phải biết làm tất cả mọi việc trong nghề, đi từ điểm A (điểm đầu tiên) đến Z (điểm tận cùng) của nghề nghiệp. Hình như không bao giờ Tô Hoài bí cái để viết. Ông lui tới giữa chữ nghĩa sách vở như người thợ mộc giữa đống gỗ, gỗ xấu gỗ tốt gỗ cứng gỗ mềm thế nào, rồi cũng sắp vào việc được. Chuyện viết tạp của Tô Hoài, đã thành bản tính thứ hai của ngòi bút. Khi có thì giờ, ông viết tiểu thuyết. ít thì giờ hơn lo trông nom các tập truyện ngắn. Ngoài ra là bút ký đi đường, và mẩu truyện, là chân dung văn học và lời giới thiệu cho các tuyển tập, là vô số các bài điểm sách nho nhỏ, các bài dọn vườn, ý kiến ngắn hoặc lời cho truyện tranh thiếu nhi v.v… tóm lại đủ thứ lỉnh kỉnh trong nghề làm báo, chỉ trừ có thơ, còn những gì thuộc lĩnh vực văn xuôi, Tô Hoài đều viết hết!
Nếu đã có lần trực tiếp biên
tập một cuốn sách của Tô Hoài, người ta sẽ thấy nhà văn này có lối chăm sóc những
gì đã viết ra một cách kỹ lưỡng và phải nói là tạo thành một thói quen đáng
quý. Bản thảo thường viết trên giấy một mặt, chữ rất đều, dễ trông. Với các
truyện ngắn đã đăng báo, Tô Hoài dỡ ra, dán lại vào những tờ giấy một mặt. Gặp trường
hợp truyện đã in ở một tạp chí, tức trải ra trên cả hai mặt giấy, thì hết một
trang in, lại một trang viết tay, do tự tay Tô Hoài ngồi chép. Lề của các trang
bản thảo này thường được chừa khá rộng, những dấu đài lên đài xuống như những
cái tua vằn vèo chi chít, lắm khi lại còn những đoạn lèo thêm bổ sung, kín cả mặt
giấy. Dường như đã đọc lại, là Tô Hoài phải cầm bút và chữa vào đấy, không động
đậy không yên tâm. Mấy năm gần đây, khi các thứ đồ nghề văn phòng đa dạng hơn
và bán ra nhiều hơn, Tô Hoài lại có cách chăm sóc bản thảo kiểu khác. Cát
bụi chân ai, Mười năm, Hồi ký đều được chuyển cho cánh biên tập viên chúng
tôi ở dạng bản thảo đánh máy sạch sẽ, được đóng lại bằng bìa mỏng gáy dán băng
dính đâu vào đấy. Thế này thì tốn kém cho người viết quá – tôi thầm nghĩ. Dường
như đoán ra ý nghĩ của tôi, Tô Hoài bảo: “Quen thế mất rồi, có lỗ vốn cũng phải
sửa sang cho cái bản thảo nó tươm tất một chút”.
Rộng hơn câu chuyện chăm chỉ,
cần cù, ở đây hình như còn có vấn đề cách hiểu về nghề, cũng như sự điều chỉnh
bản thân cho phù hợp với nghề. Và tất cả được làm một cách nhẹ nhàng, bởi đã
thuần thục. Đến khi đã có được cái đạo viết trong người, thì viết bao nhiêu
cũng không thấy ngại, càng viết lại càng muốn viết nữa. Viết là say và viết là
tỉnh. Viết để ghi lại những gì đã sống, viết lại chính là sự sống nữa.
IV
Có một căn bệnh thoạt nhìn
cũng vô can, song bởi vậy, nên khó chữa, nó tồn tại ở nhiều nhà văn Việt Nam và
để lại nhiều giai thoại ngồ ngộ, đó là sự lý tưởng hoá nghề nghiệp, xem nghề của
mình một chiều thiêng liêng, người làm nghề toàn hạng tâm huyết với nhiệt tình.
Mặc dù không cố ý, song loại người mắc bệnh này động nói tới văn chương là ngả
sang giọng rưng rưng cảm động. Chữ nghĩa được dùng cao sang. Làm như ở đây toàn
là thánh thần cả!
Phải thành thật mà thú nhận
là lúc mới vào nghề, tôi cũng không tránh khỏi căn bệnh quý hoá đó. Chỉ dần dần,
dạn dĩ lên trong tiếp xúc, tôi mới tìm tới được một cách nghĩ về văn chương tạm
gọi là phải chăng. Và một trong những người giúp tôi có cách nghĩ hợp lý hơn
này, là Tô Hoài.
Như trên vừa kể, trong những
năm cộng tác với đề tài khoa học KX-06-17, tôi có dịp tiếp xúc với nhà văn này
gần như hàng tuần và sớm nhận ra một điều: Không muốn thì thôi, còn khi đã muốn,
ông có cái lối riêng để đến gần mọi người.
Những lúc có vài phút dư thừa,
ngồi tán hão bên bàn, nếu cần xích lại với người đang nói chuyện với mình, ông
chỉ cần vài câu, diễn tả đúng cái đơn giản tầm thường của đời sống, trước tiên
là về chính mình, thế là mọi khoảng cách bị xoá sạch.
Một lần, nghe chúng tôi hỏi
có những tác phẩm nào sắp cho in, Tô Hoài cắt nghĩa giản dị:
– ấy toàn của xếp hàng từ mấy
năm trước. Cần có cái in ra để thỉnh thoảng làm một hai chén với anh em, lại phải
có món để mang về cho bà nó đong gạo nữa chứ.
Một lần khác, đến một nhà xuất
bản nọ, trước khi ngồi nán lại một lúc, ông nhờ gọi điện về nhà nhắn với đứa
cháu ngoại là bảo bà cho ông ăn cơm trưa với:
– Sao lại phải gọi về thế
anh? – Hàng ngày chúng tôi vẫn gọi Tô Hoài là anh, dù biết người đối thoại với
mình đã trên 70 từ lâu.
– Nghe có mình về, bà ấy còn
làm thêm tí thức ăn, chứ không có mấy bà cháu ở nhà, lại trần xì có nồi cơm nguội.
Khi nói về những chuyện này
Tô Hoài chỉ mỉm một nụ cười nhũn nhặn, con mắt lim dim gật gù, như có ý muốn
nói: chúng ta cùng một cảnh ngộ cả, tôi có khác gì các anh các chị đâu. Và mặc
dù nói đông nói tây đủ thứ song cách nói chuyện của Tô Hoài vẫn dẽ dàng tự
nhiên không mang tiếng là người nói nhiều, nói át người khác.
Nam Cao là một nhân vật lớn
của cả văn học tiền chiến lẫn những năm sau 45.
Bản thân Tô Hoài trước sau
đã viết năm sáu bài, khi để tưởng nhớ Nam Cao, khi để phân tích quá tình trưởng
thành của một nhà văn cùng lớn lên từ cuộc sống cần lao như mình. Song trong
khi miêu tả Nam Cao đáng yêu đáng quý, Tô Hoài vẫn cho người ta thấy nhà văn rất
gần với mọi người. Nào những băn khoăn của Nam Cao muốn kiếm một cái vé sợi cho
vợ. Nào những thèm muốn thường tình ở anh giáo nghèo khi từ nhà quê, nhìn vào đời
sống thành thị. Và đây công việc viết văn của Tô Hoài mà cũng là của Nam Cao:
“Mỗi tháng chúng tôi túi bụi
bận viết vào mấy ngày cuối tháng. Đã vào nghề viết, nhưng nghề thế nào tôi
không bao giờ có được kinh nghiệm và thành thạo, chỉ biết lúc nào cũng là nỗi dằn
vặt. Cứ sắp đến ngày hẹn đem truyện xuống nhà xuất bản tôi mới ráo riết, cắm
cúi thâu đêm.
Có khi, chúng tôi phải viết
đổi tay cho nhau mới làm kịp. Nam Cao thạo tả nhân vật, tôi nhờ anh viết cho
tôi những đoạn như thế. Lúc Nam Cao buồn ngủ hay chán viết, anh bảo
tôi: “Cậu làm hộ mình thế này nhé. Sắp mưa, bờ ao có bụi tre. Buổi chiều.
Mấy trang cũng được”. Tôi vốn thích tả cảnh. Tôi lia hộ bạn vài trang như
anh đã phác. Cũng là một thứ công ti”(*)
Trước mắt chúng ta, công việc
viết văn hiện ra lam lũ, như nghề dệt cửi đầu hôm tối mai mà Tô Hoài vẫn tả.
Sống mòn là một tác phẩm
mang nhiều yếu tố tự truyện của Nam Cao. Đã có một nhà văn lớp sau xem cái gì
tác giả Chí Phèo viết ra cũng là lý tưởng, khi giải thích tại sao trước
1945 cuốn Sống mòn này không in ra được, đã khoác cho sự việc một cớ
rất sang: bởi nó đặt các vấn đề xã hội một cách xa xôi kín đáo nên Sở kiểm duyệt
cũ của thực dân ngửi hơi thấy và xoay đi xoay lại nhiều lần không cho in. Song,
là người chứng kiến việc Nam Cao viết Sống mòn từ đầu, Tô Hoài lại hé
ra cho bạn đọc thấy một sự thực khác. Theo Tô Hoài, khi viết xong tiểu thuyết
(mà ban đầu gọi là Chết mòn), Nam Cao hay nói nửa đùa nửa thật: “Bao giờ
những người trong tiểu thuyết này chết đi, mình mới đem in được sách. In bây giờ
thì không dám nhìn mặt ai nữa”. Vả chăng hồi đó Nam Cao chưa thành một cái tên
để người ta nhận in tiểu thuyết dày, Tô Hoài nói thêm. Hoá ra chỉ đơn giản có
thế! Biết những chuyện này, chúng ta không chán Sống mòn mà chỉ thấy
mừng là một quyển sách như thế lang bạt suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, may mắn
sao lại còn sống sót để tồn tại vĩnh viễn trong văn học Việt Nam. Cũng như biết
thêm con người yếu đuối, con người cái gì cũng thèm, cái gì cũng tiếc của Nam
Cao, chúng ta càng quý cái sự vượt lên của ông và càng cắt nghĩa được tại sao
người ta có thể đọc Nam Cao mãi.
Những tầm thường vốn có
không làm hại tình cảm của chúng ta đối với nhau. Ngược lại đằng khác. Với người
sống lâu trong nghề nói là một lý do để an ủi: đấy, điều kiện sống của chúng ta
eo hẹp vậy, làm sao để có tác phẩm lớn được. Mà làm thế nào biết được tác phẩm ấy
sẽ lớn, sẽ sống mãi, thôi hãy sống nhì nhằng qua ngày!
Riêng với người còn đang định
vào nghề, nó là một lời cảnh tỉnh, nghề văn vất và lắm, anh có chịu được thì
hãy đến.
Bằng cái biết cái hiểu của
người trong cuộc, rỉ rả mỗi ngày một tí, Tô Hoài hé ra những sự thật chung
quanh cái nghề mà ông thành thạo, theo cái hướng như thế. Kể làm sao hết những
sự thực nghề nghiệp mà Tô Hoài đã nói tới đây đó vui vui mà đau xót. Nhắc đến
Nguyễn Công Hoan, bên cạnh câu chuyện nghiêm chỉnh viết thư xin phép cho diễn Tấm
lòng vàng, là những chuyện buồn cười, Nguyễn Công Hoan khi về già viết truyện cổ
lỗ thế nào trong khi lại chủ quan, thơ ngây với sự đời ra sao. Liên quan đến
Nguyên Hồng là câu chuyện đi khuân thùng bia hộ mấy bà phe phẩy. Trong hình ảnh
thân thuộc của Nguyễn Bính, có hình ảnh anh chàng si tình cầm chiếc hộp sắt đầy
những là thư tình dở hơi. Hình như Tô Hoài muốn tìm lấy sự công bằng, trong khi
vẫn giữ một tình cảm ấm áp giữa các đồng nghiệp, và nhiều lần, chỉ cần một nhận
xét bỏ nhỏ thôi, ông phác ra cả một tính cách.
Về một nhà văn nổi tiếng viết
về đời sống nông thôn:
– Tranh chánh hội mấy lượt
không được, nên cái sự cụ ấy ghét cường hào có gì là lạ!
Về một nhà văn say rượu tự
mình làm hỏng cuộc đời của mình vì rượu :
– Ông này đi họp với tôi ở
Liên Xô mấy lần, từ máy bay xuống đã say, trước cái vòng quay trả hành lý, có mỗi
cái va ly cũng không lấy nổi: cứ chạm vào lại trượt, lại phải chờ vòng quay
sau, say như thế nên mới hỏng cả người.
Về một nhà thơ, chỗ nào cũng
có mặt, mà thơ thẩn thì không ra sao:
– Cứ trông thấy thơ của ông ấy
là tôi phải đọc. Đọc vì tò mò. Đọc cho nó đỡ buồn.
Về một giọng văn “công chức
bẩm sinh”:
– Lúc nào văn ông ấy cũng nhạt,
chỉ không biết lúc nào thì nhạt thật, mà lúc nào nhạt giả.
Mỗi người một vẻ, cuộc đời
khá nhiều các bạn đồng nghiệp đi qua, để lại trong Tô Hoài những ấn tượng hơi
buồn: chúng ta sống không ra sao, đáng lẽ chúng ta phải biết mình biết người
hơn, phải sống và viết cho khá hơn, mà cũng ra người hơn một chút, chứ thế này
sao tiện?!
Cùng với việc lý tưởng hoá
nghề nghiệp, có một nguyên tắc không ghi thành văn bản chi phối quan hệ giữa những
người viết văn là để chuyện tiền nong sang một bên, không đả động đến nó bao giờ.
Có thể là trong câu chuyện hàng ngày cũng đôi khi người ta hỏi nhau, kháo nhau
tỉ mỉ và nhất là trong đầu óc từng người, việc so đo tính viết thế này cho báo
này được tiền hơn, viết thế kia, gửi cho báo kia, được ít lắm… những chuyện ấy
luôn luôn trở đi trở lại, song viết ra thì không, hầu như là chuyện cấm kỵ. Về
phần mình, Tô Hoài công khai bày ra sự tính đếm của mình khá sớm. Sao
báo Chủ nhật đăng truyện mà không trả tiền cho mình? Nhuận bút một
truyện in trong Hà Nội tân văn là bao nhiêu, tương đương ra sao với
thu nhập của một anh thư ký hãng buôn? Cách ký hợp đồng của các ông chủ xuất bản
thời xưa… Cách nhận bản thảo… Bấy nhiêu chuyện đã kể không làm cho người ta thấy
văn chương hèn hạ mà ngược lại nó giúp người đọc nhận ra những xót xa còn ẩn giấu
giữa những dòng chữ.
– Mấy năm 43-44, có lệ là
sáng mồng một, phải đến mừng tuổi ông Tân Dân. Mừng tuổi thế nào? Dọn dẹp cỗ
bàn cúng giao thừa xong, tôi còn ngồi lia luôn được một cái truyện. Đến nơi, mừng
tuổi ông ấy cái truyện mới viết, thì ông mừng tuổi lại năm đồng. Thế là hoà, mà
lại được cái tiếng lịch sự (Truyện tết viết năm nay, ông cất vào kho, để sang
năm, lại in vào số Tết)
– Nhuận bút báo tết có cao
hơn báo thường?
– Không. Nhưng người viết
văn ngày xưa có cái sướng hơn hẳn người viết văn bây giờ là tiền ấy, do chính
tay ông chủ trao, chứ không phải như bây giờ, giám đốc chỉ tay bảo mình ra gặp
kế toán, rồi có tiền thì có kế toán bảo đến đấy mà lấy, không có tiền bảo hôm
khác đến, muốn hành thế nào mình cũng phải chịu.
V
Ai đã từng sống ở Hà Nội, từ
trước 1945 – hoặc nói rộng ra một chút, trước 1954 – hẳn nhớ thành phố này vốn
bé nhỏ và xinh xắn so với bây giờ rất nhiều. Ngày ấy, từ mạn trường Chu Văn An
đổ lên suốt đường Thụy Khuê và song song với nó là đường Hoàng Hoa Thám, phố xá
đã trở nên vắng vẻ hẳn. Đến đầu dốc Tam Đa, chỗ tránh tàu điện, thì cảm giác
ngoại ô càng trở nên rõ rệt; từ đây đến chợ Bưởi là vùng đất của các làng nghề:
làng Hồ, làng Cả làm giấy, dân Nghĩa Đô, làng Võng dệt cửi… Một tháng sáu
phiên, như mọi phiên chợ vùng quê, chợ Bưởi họp, và ở đấy người ta bắt gặp những
gương mặt của một vùng đất bảo hào hoa, thanh lịch cũng được, mà bảo cũ kỹ, mòn
mỏi, quê mùa, đi dần đến tan rã cũng được. Những cảm giác này đã được diễn tả
khá đầy đủ trong những trang sách của Tô Hoài, và các nhà nghiên cứu đã nói đủ
thứ về nó, nào là ý nghĩa hiện thực, nào là ý nghĩa nhân đạo (Mới đây, theo Tô
Hoài kể, một nhà xuất bản ở Pháp đã gửi thư cho ông, ngỏ ý muốn dịch in lại tất
cả những gì Tô Hoài đã viết liên quan đến cái vùng ngoại thành phía bắc). Song
để tìm hiểu con người làm nghề Tô Hoài, thì đấy cũng là điểm xuất phát. Những
câu hát ru con, hát ví, mà bây giờ ta gọi là ca dao, dân ca, hoặc những
câu Kiều, Hoa Tiên lởn vởn trở đi trở lại trong truyện Tô Hoài.
– Trăng thề còn đó trơ trơ
– Nhớ ngày nào liễu mới ngâm
Le te bên vũng độ tầm ngang
vai
Chợt đâu bóng cả cành dài
Đã sương đã khói đã vài năm
nay
– Anh thương cô nàng như lá
đài bi
Ngày thì nắng dãi đêm thì dầm
sương
Trong truyện này nhân vật
chính là cô Lụa, ở truyện kia là cô Mùi, rồi cô Ngây, cô Mì… xoay quanh các cô
bao giờ cũng có một trang thanh niên giỏi giang văn vẻ nhưng lại nghèo rớt mùng
tơi và lại thuộc Kiều và có thể làm thơ lẩy Kiều, để nói điều
tâm sự. Có cảm tưởng như Tô Hoài là từ đám trai làng ấy mà ra. Tô Hoài viết
văn, là để đi xa hơn cái việc nhũng người thanh niên kia bắt đầu mà không bao
giờ dám nghĩ tới chuyện đi tiếp.
Cần nhất lúc đầu là phải láu
lỉnh và liều lĩnh một chút, liều lĩnh phiêu lưu như chàng dế mèn nọ, mà Tô Hoài
đã dựng lên, để gửi gấm ít mơ mộng của tuổi trẻ. Nhưng những cái đó ở Tô Hoài
không thiếu. Và thế là, cũng như những Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân, một người
làm nghề kiểu mới đã hình thành.
Xưa kia, nói tới văn chương
là nói tới lớp nhà nho hay chữ. Chẳng qua chán công danh, nên lấy câu thơ quyển
truyện làm vui, mà trong những điều viết ra, vẫn còn bao niềm tâm sự.
Cho tới đầu thế kỷ này, khi
cái nền văn học cũ tàn lụi thì lập tức nền học mới thay thế, và người làm văn
chí ít cũng là lớp con nhà giàu, ở nhà học chữ Hán với gia đình, đến trường học
tiếng Pháp theo quy cách nghiêm cẩn của nhà trường thuộc địa. Và tuy không ai
giao phó nhưng thật ra họ vẫn nhận lấy trách nhiệm của người trí thức phát ngôn
cho những ý tưởng mà lớp thượng lưu muốn nói với xã hội.
Nhưng trong toàn bộ cái nền
rộng lớn của văn hoá văn minh phương Tây được du nhập vào xứ sở này nửa đầu thế
kỷ XX, còn có một hạt nhân quan trọng là tinh thần dân chủ. Cùng với sự giàu có
lên của toàn thể xã hội, lớp người nghèo khó có sự trưởng thành vượt bậc về mặt
ý thức, và từ trong hàng ngũ của họ, bắt đầu có những người dám cầm lấy cây
bút. Những nhà văn loại này – như Vũ Trọng Phụng, như Nguyên Hồng, như Nam Cao
– không tính tới chuyện cao sang, thoạt đầu, họ chỉ viết vì bức bách, vì thấy sự
đời quá nhiều nông nỗi đau xót, và cũng có thể đơn giản là vì tìm thấy trong sự
viết lách một cái kế để sinh nhai. Song trong quá trình kiếm sống, sự thực là họ
đã nói lên tiếng nói của lớp dân lao động nghèo khổ. Không thể đòi hỏi họ quá
nhiều. Khối người trong họ, trong đó có những cây bút rất có năng khiếu, đã như
giống cây, ngày một cằn cỗi, vì thiếu kiến thức và không bao giờ vươn lên để trở
thành một trí thức thực thụ. Nhưng làm nhà văn chép được sự đời, thương cảm với
những đau đớn ngang trái, làm nhà văn để nói hết cái cuộc sống vừa đẹp đẽ, vừa
rất buồn này, thì nhiều người trong họ làm được, nhất là ở những người biết tự
học và thường xuyên làm giàu kiến thức thêm cho mình. Tô Hoài chính là một mẫu
nhà văn thuộc về nhân dân lao động, nhà văn kết quả của quá trình dân chủ hoá
mà xã hội Việt Nam hiện đại đã đẻ ra và nuôi dưỡng. Vượt lên trên những anh Hời,
anh Cuông – chỉ lẩy Kiều, chỉ sáng tác thơ để chép vào sổ gửi các cô gái
hoặc truyền tụng trong làng, sáng tác của Tô Hoài nay có dịp phổ biến rộng rãi
hơn; như con cá từ ngòi đã ra đại dương, song nhìn kỹ, những dấu vết của ngày
hôm qua, của cái khu vực xuất thân, không phải không còn thấp thoáng.
Tuy nhiên, dù là chỉ nghiên
cứu Tô Hoài trong nghề cầm bút, người ta không thể không ghi nhận một sự thực:
Ngay từ 1940, khi bắt tay
làm quen với giới sáng tác đương thời, thì đồng thời tác giả Dế
mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng. Lúc đầu ở thời kỳ Mặt trận
bình dân, ông hoạt động trong cơ sở Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông. Sau đó ông lại
được tổ chức Đảng ở Hà Nội bắt liên lạc để hình thành nên lực lượng Văn hoá cứu
quốc.
Tiếp đó, từ sau 1945, những
hoạt động xã hội của nhà văn ngày một đa dạng. Triển khai ra theo chiều rộng,
có lúc ông trở thành anh cán bộ địa phương, có thời gian đi cải cách ruộng đất,
đi học trường Đảng nhiều năm làm đối ngoại nhân dân, đồng thời vẫn giữ chân trưởng
ban đại biểu dân phố (1965-1972) ở cơ quan văn nghệ trên Trung ương hay ở Hà Nội,
hầu như từ 1946 tới nay, khoá nào ông cũng được bầu làm bí thư chi bộ, đảng bộ.
Mặt khác, ngay trong giới cầm
bút, ông cũng luôn luôn có hoạt động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội
Nhà văn, khi chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc,
là họp hành, mà người ta gọi chung là công tác.
Hơn 50 năm trời liên tục như
thế, lẽ tự nhiên là ở Tô Hoài, hình thành nên cả một nếp sống lạ lùng. ở ông,
cùng lúc tồn tại nhiều con người khác nhau: nhà văn lam lũ ham đi ham viết và
anh cán bộ tháo vát, chẳng việc gì có quyền từ nan; người lãng tử lang thang
trong đời vui đâu chầu đấy và ông chủ văn chương nhạy cảm, giàu kinh nghiệm, biết
đối phó với mọi biến chuyển ở khu vực mà mình phụ trách; người học trò chân
thành và người thầy lâu năm phải nói như sách giáo khoa quy định. Nhờ những con
người này chung sống một cách hoà thuận, Tô Hoài cùng lúc làm được bao nhiêu việc
khác nhau. Nhưng trong sự nhập vai thuần thục đó, tinh ý một chút sẽ nhận ra một
sự phân ly nho nhỏ. Bên cạnh con người dễ dàng từ tốn, sống hoà hợp với mọi người
là một cá nhân đơn độc với những tâm sự riêng. Có những lúc ngồi giữa bạn bè,
bên chén rượu, con người đó vẫn cảm thấy bơ vơ một thân một mình như đang phiêu
diêu đến chân trời xa lạ.
Trong một bài viết về Nguyên
Hồng (in trong tập Những gương mặt, tr. 103), Tô Hoài tự nhận “Tính riêng
tôi vốn ưa thầm lặng, vùi mình vào một xó”.
Đến phần hồi ức về Vũ Ngọc
Phan, nhân lời trách của nhà phê bình đàn anh là sao không đến chơi, Tô Hoài
nhìn lại mình như nhìn một ai khác: “Người ta cứ mỗi tuổi lại cứ thành nếp những
tính nết kỳ quặc, riêng biệt, về sau tôi đâm ra lười nhác giao thiệp, ưa lủi thủi”.
Nhưng rồi cũng chỉ được phép
đơn độc đến thế! Rồi cuộc đời chủ yếu lại là công việc, là những buổi họp, là
những chuyến du ngoạn, là hội thảo nọ, hội thảo kia, là các loại báo cáo dài
dòng, và những thầm thì hội ý kín đáo, nói chung là những màn diễn, mà có khi
mình lên sân khấu, có khi mình là người khán giả đứng xem. Và trong mọi việc lại
thấy hiện ra một Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt!
Những chuyến giang hồ vặt không một đồng xu dính túi; cái miên man cuốn hút khi dông dài giữa đám cầm bút nhà nghề, những chuyến viễn du, mãi tận Huế, tận Sài Gòn, Dầu Tiếng, cái tự nhiên không dễ có khi một mình về công tác tại một bản Mèo thấp thoáng giữa triền núi cao… bao nhiêu từng trải, như còn in dấu vào cách sống, cách chuyện trò của Tô Hoài hôm nay, bên cạnh cái nhũn nhặn lảng tránh, con người ấy thật cũng đã nhiều phen phải dàn mặt, phải chịu trận, nói chung là phải đối chọi với đời và nếu như có lúc phải đầu hàng thì đó cũng là bước đường cùng, rồi, nín nhịn chẳng qua để tồn tại, và sau hết, để được viết.
Những chuyến giang hồ vặt không một đồng xu dính túi; cái miên man cuốn hút khi dông dài giữa đám cầm bút nhà nghề, những chuyến viễn du, mãi tận Huế, tận Sài Gòn, Dầu Tiếng, cái tự nhiên không dễ có khi một mình về công tác tại một bản Mèo thấp thoáng giữa triền núi cao… bao nhiêu từng trải, như còn in dấu vào cách sống, cách chuyện trò của Tô Hoài hôm nay, bên cạnh cái nhũn nhặn lảng tránh, con người ấy thật cũng đã nhiều phen phải dàn mặt, phải chịu trận, nói chung là phải đối chọi với đời và nếu như có lúc phải đầu hàng thì đó cũng là bước đường cùng, rồi, nín nhịn chẳng qua để tồn tại, và sau hết, để được viết.
ấy là cái điều không chỉ Tô
Hoài biết mà nhiều người cũng biết.
Trong đời làm báo, nhà phê
bình Nguyễn Thị Ngọc Trai phát hiện cho mình một kinh nghiệm: khi nào có vấn đề
gì báo buộc phải lên tiếng, và không ai muốn viết, vì sợ mang tiếng xấu, thì
hãy đến nhờ Tô Hoài. Thế nào ông cũng có bài nộp báo đúng kỳ đúng hẹn, ký tên
Tô Hoài hẳn hoi, nghĩa là đăng được, mà tác giả vẫn chẳng làm sao, bởi đọc qua
người ta cũng biết ngay là người viết và tờ báo buộc phải làm vậy, chứ trong bụng
nghĩ khác. Đại khái, có thể hình dung như cái cảnh đứa trẻ bị buộc phải quỳ,
thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn “Xá gì chuyện
này, quỳ cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ tung tẩy”.
Tô Hoài không ngại viết thế
này thế kia làm hỏng ngòi bút, bởi ông tin chắc rằng ngòi bút ông thế nào, người
ta đã hiểu cả rồi.
Chỉ có những biển lớn mới chứa
được những dòng sông bẩn, cái nhận xét của ai đó, đặt vào trường hợp Tô Hoài thấy
không có gì gượng gạo.
Có một thoáng gì đó, như là
một chút hư vô trong con người thực dụng Tô Hoài chăng? Một nhận xét như thế là
đầy mâu thuẫn, nhưng biết sao được, con người mỗi chúng ta trong những năm này
bị bao sức mạnh xâu xé, kể sao cho xiết! Một chút khinh bạc có từ rất sớm (bản
thân Vũ Ngọc Phan vốn rất hiền từ cũng phải nhận ra và lên tiếng cảnh cáo, khi
đọc Quê người, O chuột…), cái khinh bạc đó hẳn không bao giờ mất hẳn. Cộng
thêm vào đó là bao nhiêu ngọt bùi cay đắng đã đến trong cuộc đời một người viết
văn, một người cán bộ, những phút bốc đồng và những lần tỉnh mộng, những lầm lỡ
và man trá xen lẫn vào giữa những chân thành ngây thơ, cuộc bể dâu diễn ra ngay
trước mặt. Khi đã trải tất cả những sự đó rồi, cái hư vô sẽ như một thứ ánh
sáng mờ mờ giúp cho người ta sống nhẹ nhõm hơn và tự do hành động hơn. Lúc này,
hư vô đã trở thành một điều kiện bắt buộc để sống, hư vô là một thứ thuốc an thần
cho những kẻ ham hành động, nhưng lại hoàn toàn tỉnh táo, để hiểu rằng hành động
của mình cũng rất có thể chỉ là vô nghĩa.
Không chỉ một lần, hình ảnh
phù du như một ám ảnh trở về trong một số trang văn hồi ký, nó là những trang
mang nặng tâm sự Tô Hoài. Những khi có việc đụng chạm đến toàn bộ cuộc đời viết
văn của mình, ông phải nhớ tới nó. Là phù du, những năm tháng dong nhan chơi bời
viết lách trước cách mạng. Là phù du những chuyến viễn du mãi tận phương trời
xa thẳm. Mà cũng là phù du, những khi cố gắng viết nốt những trang cuối cùng của
một quyển sách tầm tầm. Tưởng dã qua hẳn rồi, nhưng không phải, làm sao quên được
sự phù du khi hàng mớ năm tháng quàng lên vai, càng sống càng thấy nhiều điều
ngang trái. Có cần nhìn đi đâu xa, hãy nhìn cuộc đời những đồng nghiệp gọi là
thành đạt sống ngay bên cạnh: Nguyễn Tuân được tiếng ngang ngạnh, rồi cũng là một
Nguyễn Tuân phải khéo xoay sở để tạo ra cảm giác không bị ai quên, và nhất là một
Nguyễn Tuân buông xuôi bất lực, muốn đi mà không đi được, muốn nói khác mà
không nói được, khối cái đã tính nát ra định viết lại thôi. Xuân Diệu loay hoay
giữa những bài thơ thù tạc và những bài nói chuyện đi theo lối mòn, Xuân Diệu
nhuộm tóc cố làm ra trẻ, ham ăn ham uống, lúc chết mỡ quấn vào tim. Một Nam Cao
tâm huyết lại mất sớm, coi như đã xong. Nhưng bao kẻ sống sót sau những cơn
giông tố, mấy người sống được đúng tầm người của mình, hay lại chui lủi trốn
tránh, hoặc lá mặt lá trái, dối dá qua ngày? Sự khinh bạc muốn gạt đi, nó cứ
tìm đường quay trở lại. Rồi chính mình cũng đánh mất mình và nhìn đi nhìn lại,
chỉ có thời gian là chiến thắng, là không thể đảo ngược. Cái phương châm sống
cuối đời rút lại là ở hai điểm:
Một là làm thật nhiều
muốn viết gì thì viết, không định bụng thế này thế kia, mà cũng không sợ mang
tiếng khi viết.
Hai là không coi mình
là quan trọng, chấp nhận hết thảy. Giữ được từng phút cảm động ngạc nhiên nho
nhỏ, nhưng không còn gì ngạc nhiên trên những cái lớn
Thực hiện điểm thứ nhất thật
không gì dễ hơn, nhất là khi người ta đã có trên 150 đầu sách như Tô Hoài.
Còn điểm thứ hai? Bảo là biết
điều, là khiêm tốn có lẽ không phải. Ai đâu còn trẻ con thế! Sống cho nhẹ nhõm
là cách tốt nhất để bảo toàn mình. Lại nhớ những câuKiều mà thuở mới lớn,
đã cùng với nhiều bạn thợ cửi, ngâm đi ngâm lại không biết chán:
Nàng rằng thực dạy quá lời
Thân này còn dám coi ai làm
thường!
Loanh quanh một hồi hoá ra
chưa thoát khỏi chỗ xuất phát ban đầu? Nhưng với Tô Hoài lúc này, mọi sự khen
chê không còn ý nghĩa. Trong cái thế kỷ đa đoan chúng ta đang sống, dẫu sao ông
cũng đã luôn luôn dập dềnh trên mặt sóng. Tháng bảy và tám 1997, ông đến Đà Lạt
ngồi viết xong một tập hồi ức, có tên là Chiều chiều. Chắc chẳng ai không
hiểu đấy là chủ tâm “chiều chiều cuộc đời”, nhưng ông vẫn không quên ghi thêm
hai câu ca dao cổ: “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều. Nhớ người đãy gấm khăn điều
vắt vai” cho tơ liễu và lửng lơ đôi chút. Âu lại cũng vẫn những cái tạng Tô
Hoài.
Vương Trí Nhàn









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét