Những bước đường đời
Tỉnh Bình Định, mảnh đất đã
nuôi dưỡng nên nhiều tên tuổi lớn trong thơ Việt Nam hiện đại, cũng là nơi chôn
rau cắt rốn của Xuân Diệu. Cha đàng ngoài mẹ ở đàng trong - một cách
khái quát, Xuân Diệu nói về hai cái cội nguồn làm nên đời mình như vậy. Cả hai
trong tâm trí người xưa xa cách đến ngàn trùng, song sự thực là đều nằm trên mảnh
đất của sự quá độ, nơi con người Việt Nam đã vượt ra khỏi cái nôi xuất phát là
đồng bằng sông Hồng miền Bắc, nhưng cũng chưa đến được với sự định hình ở mảnh
đất trù phú phương Nam. Cả quê nội và quê ngoại của tác giả Thơ thơ đều
nằm trọn trong khúc ruột miền Trung, mảnh đất buộc con người kiên trì nhẫn
nại, để đối phó với cuộc sống khắc nghiệt một bên là rừng, một bên là biển, mà
cũng là mảnh đất gợi nhiều bâng khuâng thương nhớ, mảnh đất của thơ.
Theo các tài liệu chỉ được
công bố lẻ tẻ, như một sự ngẫu nhiên đây đó, người ta biết rằng Xuân Diệu lớn
lên trong một gia đình trung lưu, cụ thân sinh ra ông là một tú tài nho học,
chuyển dần từ nông thôn ra thành phố. Rất tồi toán pháp, khá văn
chương – nhà thi sĩ đã nói về mình không phải như một sự nhún nhường, mà
như một sự thú nhận về mối duyên nợ sâu xa giữa ông với thơ. Thơ đã thu hút hết
tâm trí ông, khiến tuổi trẻ ông có thêm một cái đích. Chân trời là mấy tờ tạp
chí nhưHữu thanh, như Annam tạp chí, niềm vui là làm được ít bài thơ;
mọi chuyện nghe quá tội nghiệp. Nhưng trời sinh là thế, tất cả những gì đã đến
trong tuổi nhỏ Xuân Diệu không ít thì nhiều, đều có liên quan đến cái nghề mà
ông sẽ sống chết trong suốt cuộc đời.
Ta hãy hình dung lại tình
hình đất nước: khi Xuân Diệu lớn lên và ra học tú tài ở Hà Nội. Sau những thể
nghiệm trong những năm đầu thế kỷ, nay là lúc xã hội Việt Nam chuyển hẳn sang mẫu
hình hiện đại. Người ta đua nhau mở hiệu buôn, làm đại lý cho các hãng buôn tận
bên Tây, rồi đóng tàu chạy đường biển, rồi khai mỏ, mở nhà in… Tất cả gặp nhau
trong một ý nghĩ: cái gì mà người phương Tây đã làm, đang làm, thì mình cũng phải
làm được và sẽ làm đến nơi đến chốn. Trong lĩnh vực đời sống tinh thần cũng có
tình trạng như vậy. Một lớp người mới bước vào nghề: Nhất Linh, Khái Hưng, Thế
Lữ, Lưu Trọng Lư v.v… So với thế hệ Tản Đà hoặc Phạm Duy Tốn, họ có chỗ khác:
Tây học thấm vào họ từ khi còn ngồi trên ghế tiểu học. Sách báo phương Tây là
cái mẫu hình mà họ thấy không có cách nào khác hơn là phải noi theo. Với những
bài thơ táo bạo sau này sẽ in trong Thơ Thơ, Xuân Diệu còn như là muốn chứng
tỏ: lối nói, lối xúc cảm của những Rimbaud, Verlaine… không có gì xa lạ với người
mình. Trong phạm vi ngôn ngữ dân tộc cho phép, người làm thơ vẫn có thể trình
bày hết những ý tưởng đã đến trong tâm trí con người Việt Nam hiện đại.
Nếu sự nhạy cảm và nói chung
là toàn bộ năng khiếu đã đưa Xuân Diệu đến với sáng tác văn học thì ý chí lập
nghiệp sẽ là yếu tố bảo đảm cho ông thành công. Đã mang tiếng ở trong trời
đất – phải có danh gì với núi sông – mấy câu thơ ấy của Nguyễn Công Trứ
luôn vang bên tai ông như lời tự nhủ. Trong khi những người khác coi văn chương
là một việc tài tử, vui làm, chán bỏ được chăng hay chớ, thì Xuân Diệu sẵn sàng
đánh vật với công việc bởi ông hiểu rằng đấy là cuộc sống thật sự của mình.
Báo Ngày nay và nhóm Tự lực đang nổi lên như cồn, gần như
làm chủ văn đàn ư? Thì ông sẽ tìm được cách để được coi như một thành viên
trong nhóm! Làm thơ không sống nổi, thơ là thứ không thể lấp đầy một tờ báo, phải
biết viết tin, viết truyện ngắn ư? Thì Xuân Diệu sẽ học để làm được tất cả những
cái đó, văn xuôi của ông trong Phấn thông vàng là một thứ văn xuôi độc
đáo không giống bất cứ ai khác. Tiểu luận Xuân Diệu hồi ấy đã có giọng riêng,
không ai có thể bắt chước. Trong số các nhà văn tiền chiến, Xuân Diệu là một
trong những ngòi bút mang chất nhà nghề rõ rệt nhất. Chất nhà nghề đó bộc lộ ở
thói quen chịu thương chịu khó “nhận tất cả mọi việc về nghề văn”, nhận đủ các
loại com-măng, rồi việc to cũng như việc nhỏ đều làm hết lòng, làm ở trình
độ hiện đại, vừa bám sát yêu cầu của khách hàng, vừa mang rõ dấu ấn riêng, để
có thể đề vào đó mấy chữ “made in Xuân Diệu” mà không sợ mang tiếng gì hết.
Tuy nhiên, cũng phải nhận rằng
trong sự chuyên nghiệp hoá sớm sủa này lớp người viết báo viết văn tự tố cáo ở
mình một chỗ yếu khác: họ không có cơ sở vững chắc. Họ không phải là tầng lớp
quý tộc của xã hội. Một câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu thường được nhắc nhở để
chứng minh đầu óc thực tế nơi ông Cơm áo không đùa với khách thơ, bản
thân nó cho thấy điều kiện khó khăn của giới cầm bút: họ không được xã hội nuôi
nấng đàng hoàng. Làm sao mà họ nghĩ ngợi được gì cho kha khá một chút – siêu
hình một chút, trừu tượng một chút – trong khi những vấn đề cơm áo hàng ngày cứ
đeo đẳng nơi họ?!
Thiếu đi cốt cách quý tộc,
cái ý chí lập nghiệp nói ở trên, lớp trí thức thuộc địa lúc ấy chỉ còn là những
con người lao động trí óc để kiếm sống với trăm ngàn day dứt trong người, và
cái sự nghiệp mà người ta ước ao, suy cho cùng, cũng chỉ tương xứng với tầm vóc
người ta vốn có.
Từ đầu 1940, Xuân Diệu tạm bỏ
thi đàn đi làm nhà đoan ở Mỹ Tho, để lấy tiền giúp người bạn thân mến của mình
là Huy Cận có tiền theo học Canh nông. Năm 1943, Huy Cận thi đỗ, có lương thì
Xuân Diệu lại quay về Hà Nội. Nhưng chỉ mới có mấy năm mà Hà Nội đã khác hẳn. Đời
sống văn học khảng tảng rõ rệt. Không ai còn hết lòng yêu mến văn chương như hồi
nào. Nhóm Tự lực văn đoàn lúc này đã gần như tan tác. Không phải quá lo lắng về
cái ăn cái mặc, song con người trí thức trong Xuân Diệu, Huy Cận lúc này lại
rơi vào cuộc khủng hoảng mới: Khủng hoảng trong đời sống tinh thần. Về sau,
Xuân Diệu thường vẫn nhớ lại một buổi chiều rét mướt ngồi vá áo cũ, trên một
căn gác ở phố Hàng Bông. Sự cô độc lúc này đã lên đến tột cùng, song nó không
có cái vẻ sang trọng như thường thấy trong Thơ thơ, mà đây là một sự cô độc
rất trần thế, nó đi liền với cảm giác hoang mang vô vọng.
Từ những năm tháng cùng quẫn
này của Xuân Diệu, người ta lại càng thấy rõ một cái gì như bức chân dung đích
thực của giới trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc: dù có học theo tinh thần của
văn hoá Pháp, song chưa bao giờ họ trở thành những con người có tầm vóc, có cốt
cách, như những V. Hugo của thế kỷ trước, hoặc R. Rolland, A. France ở thế kỷ
sau này.
Hoặc là họ sớm bỏ đi làm
chính trị như trường hợp Nhất Linh, Trần Trọng Kim (và trước đó, cả Phạm Quỳnh,
đầy tâm huyết mà cũng đầy tội lỗi).
Hoặc là họ sống lêu lổng vạ
vật, những gì có thể làm thì đã làm rồi, còn làm tiếp ra sao thì không biết,
nên cầm bằng cho gió bay đi, tự buông thả trong thở than đau xót. Một Nguyễn
Bính tài hoa chính là hình ảnh của đám thi nhân lêu lổng vạ vật đó.
Trong chừng mực nào đó, có học
hơn, giữ gìn hơn, song Xuân Diệu cũng không tránh được bế tắc.
Thật dễ hiểu là khi Cách mạng
tới, Xuân Diệu đã đón nhận với rất nhiều hào hứng và bắt tay vào làm mọi công
việc mới mẻ do Cách mạng giao, chẳng khác gì những anh em từng hoạt đông trong
bóng tối. Có lúc, trong cơn say sưa Xuân Diệu đã đi tới những ý tưởng nông nổi.
Chẳng hạn, đọc lại Tạp chí Tiên phong số ra 19-8 -1946, người ta thấy
có bài Văn hoá Việt Nam sẽ không đi theo nấm mồ văn hoá Pháp, trong
đó, Xuân Diệu nhận xét một cách hàm hồ: “Thơ ca của Pháp thì hết nhựa rồi” “Tiểu
thuyết của Pháp mới là lèo tèo” “Văn hoá Pháp sang thế kỷ hai mươi (…) vất vưởng
như không có địa bàn”. Những người có quen biết Xuân Diệu chắc không lấy làm lạ
việc làm ấy: Sự bốc đồng nhẹ dạ của tác giả Thơ thơ, đã thành căn bệnh mãn
tính.
Tuy nhiên, về căn bản phải
thấy Cách mạng đã giúp Xuân Diệu ra khỏi một cuộc khủng hoảng và với khí thế của
một ngưòi chưa đầy 30 tuổi, ông như bắt đầu một cuộc tái sinh.
Hào hứng đón cái mới, cái lạ
của Cách mạng, rồi sẽ có lúc, trong kháng chiến, Xuân Diệu không khỏi ngao
ngán, mệt mỏi trước cuộc sống của rừng núi, và dù đã tự kiềm chế hết mức, vẫn
phải thốt lên: Sớm nay ra cửa u tì quốc/ Một chiếc xe mau đạp giữa đường.
Song chỉ đến thế! Sa chân lỡ
bước, như cánh nhà văn dinh tê, thì không bao giờ. Không có sự may mắn ngẫu
nhiên nào ở đây cả. Sự sống ở Xuân Diệu, thường khi là bao gồm một lý tính khá
chắc chắn, Xuân Diệu không phải loại nghệ sĩ buông thả, tụ bạ, tự hạ thấp mình
vì một chén rượu, một điếu thuốc. Đấy là một phần. Tuy nhiên, lý do sâu sắc
hơn, còn là khả năng cam chịu, nín nhịn nó là cái nét quán xuyến trong cuộc đời
Xuân Diệu. Chính sự biết điều này đã giữ Xuân Diệu lại, dù thoạt nhìn, người ta
không thể tưởng tượng được là ông giỏi chịu đựng đến thế. Ăn chịu với kháng chiến
tám năm ròng, rồi Xuân Diệu sẽ hiểu rằng từ nay, đời mình chỉ có một phương hướng
duy nhất:
Lên non, em cũng theo lên
Xuống bể, em cũng ngồi bên mạn
thuyền
Nam Chi, một nhà nghiên cứu
sống xa quê hương, từng nhận xét một cách thân tình về sự chuyển hướng của Xuân
Diệu sau 1945: “Xuân Diệu đã cướp một mâm tiệc Bồng Lai đem về làm một bữa cơm
trần thế, cho những người ăn vì cần ăn chứ không phải ăn cho vui miệng. Thơ
Xuân Diệu ngày xưa là áo gấm, thơ Xuân Diệu ngày nay là manh áo nâu sứt chỉ đường
tà”. Chi phối bước đi của Xuân Diệu trên phương diện thi ca, cái hướng mà Nam
Chi nói ở đây quả thật với một trí thức như Xuân Diệu là một bước rẽ ngoặt, một
cuộc cách mạng.
Cuộc Cách mạng như vậy đến với
người làm thơ một cách từ từ không gây ra những đảo lộn có tính chất đứt gẫy mà
nó chỉ yêu cầu một sự thích ứng mỗi ngày một ít.
Mặt khác, Cách mạng luôn
luôn có sự đền đáp, sự thưởng công thích đáng. Trong xã hội mới người nghệ sĩ
không thuộc ngạch bậc nào người nghệ sĩ có vẻ như đứng ngoài mọi sự sắp xếp thứ
bậc song nói chung họ được coi trọng. Đi kèm với danh hiệu cao quý là một sự
đãi ngộ đáng kể đến mức một người hay tính toán như Xuân Diệu không cảm thấy
mình bị thiệt.
Chẳng những thế, đồng thời với
việc thiết lập một trật tự mới trong đời sống thì một trật tự mới cũng được lập
nên trong hàng ngũ những văn nghệ sĩ, những trí thức, và trong cái hệ thống mới
hình thành này, Xuân Diệu luôn luôn có được những vị trí tốt đẹp.
Thử điểm lại một số công việc
mà Xuân Diệu đã làm từ sau Cách mạng:
– 1945: Tham gia Văn hoá cứu
quốc. Làm tạp chí Tiên phong. Trở thành Đại biểu quốc hội.
– 1947: Giữ mục Tiếng
thơ của Đài tiếng nói Việt Nam
– 1948: Tham gia thành lập Hội
Văn nghệ.Có chân trong thường vụ Hội; cùng với nhiều cốt cán khác của Hội lúc ấy
như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài… làm tạp chí Văn nghệ.
– 1954-1956: Biên tập viên của Văn
nghệ, lúc này khi trở về Hà Nội đã trở thành tuần báo (cùng với Văn Cao –
Tế Hanh – Bùi Hiển – Nguyên Hồng – Tú Mỡ – Chu Ngọc – Sĩ Ngọc – Nguyễn Đình Thi
lập nên một danh sách vàng, một ban biên tập mạnh trong lịch sử tờ
báo này).
– 1957-1963: Làm Văn
nghệ, lúc này lại là một tạp chí ra hàng tháng.
Trong hồi ký viết về Nguyễn
Huy Tưởng, Xuân Diệu tự nhận mình luôn luôn thích làm phó cho người khác. Làm
phó thì trách nhiệm không nặng lắm, không phải đương đầu, mà mọi việc vẫn có mặt.
Vai trò của cấp phó trong cơ quan, như vai trò người đàn bà trong gia đình, tần
tảo lam làm, chính cái đó là hợp với Xuân Diệu. Vừa có ý thức, vừa tự nhiên
khéo léo, gần như là vô tình, vô ý thức, ông tạo cho mình cái cốt cách mà người
nghệ sĩ lúc này cần có: cốt cách một người lao động. Nhìn lại hơn 40 năm cuối đời
của Xuân Diệu người ta thấy ông đã lao động không mệt mỏi. Luôn luôn ông tìm thấy
việc để làm và giá có được phân công làm gì thì cũng mang vào đấy cả sự tính
toán kỹ càng vốn có. Thơ giờ đây được ông xem như một ngành sản xuất, với tiến
độ, nhịp độ mức tiêu thụ nguyên liệu và mức ra sản phẩm…rành rọt. Để biện hộ
cho các bài thơ phục vụ kịp thời, ông nêu lên lý luận về thơ thực tế, xem đó là
cả một hướng tìm tòi nghiêm chỉnh. Nhưng chỗ mạnh của mình là thơ tình thì ông
vẫn nhớ! Biết rằng trước sau xã hội sẽ cần loại thơ riêng tư ấy, ông khai thác
những vui buồn trong cuộc đời riêng một cách triệt để, làm sẵn thơ tình rồi
công bố dần. Ông lại có ý thức tổ chức sao cho các bài thơ đó bổ sung cho nhau,
nối tiếp nhau, tiến tới làm ra một thứ mà ông ước tính nên gọi là từ điển
tình yêu, những cặp trai gái khi cần sẽ có cái để tra cứu từ A đến Z. Nhưng
không ở đâu cái khao khát làm mọi thứ cho “ra tấm ra món” của Xuân Diệu bộc lộ
rõ như khi ông viết tiểu luận. Sau những thành công trong việc đột phá vào sáng
tác của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, ông sớm hiểu rằng đây là khu vực làm nên sự
nghiệp cuối đời của mình. Công cuộc khai thác được ông lên kế hoạch đâu vào đấy,
ở đó, không có chuyện thú hay không thú, hợp gu hay không hợp gu, ở đó là sự
đào cùng tát cạn, là xúc từng mảng, từng mảng… Số lượng trang viết trở thành nỗi
ám ảnh thường xuyên trong đầu óc Xuân Diệu. Ông hể hả nhìn lại số đầu sách đã
ra, số trang đã viết, cũng như hể hả ghi vào sổ tay số lượng những cuộc bình
thơ, nói chuyện thơ, số lần được mời làm chủ khảo chấm thơ – cái tâm lý rất trần
tục ấy là một trong những dấu hiệu chứng tỏ cách cảm cách nghĩ của người lao động
đã thấm hẳn vào Xuân Diệu. Trong lời tựa Thơ thơ ngày nào, Thế Lữ từng
sớm chỉ ra rằng Xuân Diệu rất quyến luyến cõi đời, tấm lòng trần gian của ông rất
nặng. Nay, trong cốt cách của người lao động, nhà thơ mới bộc lộ hết mình, tấm
lòng trần gian ấy mới thật hiện ra với cái vẻ trần trụi và thông tục của nó. Dẫu
sao, Xuân Diệu cũng đã đạt được cái điều mà ông mong muốn, và cũng chỉ được có
thế.
Sự sống chẳng bao giờ chán nản
Trong những ấn tượng mà con
người và thơ Xuân Diệu để lại trong lòng đồng nghiệp và bạn đọc (thậm chí ngay
những người gặp một lần cũng có thể nhận ra ngay), có một ấn tượng rõ rệt không
ai quên nổi, đấy là lòng yêu đời và ham sống của tác giả Thơ thơ. Sớm thấm
nhuần nền văn hoá phương Tây, Xuân Diệu nhìn đời như một cái gì trôi chảy mà
mình không thâu tóm, thì nó sẽ bay biến. Từng biểu hiện nhỏ của cuộc sống được
ông chắt chiu góp nhặt. Thấy cái gì mới cũng hồi hộp, nhận được cái gì cũng biết
ơn, và làm được cái gì thêm cho đời, ông cũng sẵn sàng. Giả sử ngồi bên mâm cơm
cạnh tác giả, ta sẽ thấy ở Xuân Diệu vừa có cái sung sướng của trẻ nhỏ, thấy
cái gì cũng ngon cũng bổ cũng muốn ăn thêm một chút, để cho khoẻ cho lớn thêm,
lại vừa có cái lý lẽ của người đọc sách nhiều, sành ăn, biết ăn như thế nào thì
đủ chất và có lợi cho cơ thể mình nhất. Xuân Diệu đã nâng chuyện ăn uống lên
thành một phương diện của đời sống, và đối xử với cái phương diện mà mọi người
thường cho là phàm tục và bỏ qua ấy một cách cẩn trọng, cẩn trọng vô cùng, chứ
không bao giờ xem thường coi nhẹ. Tôi nhớ một bài ký, Xuân Diệu viết sau một đợt
lên Mèo, ở đó, ông tả cảnh người ngồi ăn giữa chợ rất sảng khoái. Lúc đầu đọc
thấy thô thiển, khó chịu; sau hiểu ra, thấy Xuân Diệu là thế, Xuân Diệu thi sĩ
thường bắt đầu nói về cuộc sống từ cái nhỏ nhặt.
Mà chẳng cứ trong chuyện ăn
uống: hình như làm được điều gì, để chứng tỏ là mình đang sống, Xuân Diệu cũng
đều sẵn sàng bỏ công ra làm. Theo khoa học, sự sống tồn tại nhờ hai quá trình đồng
hoá và dị hoá. Đồng hoá là hấp thụ tiếp nhận, làm cho mình giàu thêm. Và dị hoá
tức là mang cho, bộc lộ ra ngoài, đưa ra, thải ra những gì đã tiêu hoá sau khi
tiếp nhận, để rồi tạo một khoảng trống mà tiếp tục đồng hoá nữa. Một cơ thể sống
như Xuân Diệu là một cơ thể đồng hoá và dị hoá được tiến hành đều đặn, mạnh mẽ,
không ngừng không nghỉ. Như là trong sáng tác. Đọc sách ngốn ngấu, phăm phăm đạp
xe đi thực tế, ghi chép, gạn chắt lấy từng chi tiết nhỏ. Rồi về, là trả nợ, là
hùng hục viết - một thời gian dài, ngày tháng của Xuân Diệu xoay quanh cái quy
trình khép kín đó. Không ai hay nói đến sự thiêng liêng của việc làm thơ viết
văn như ông nhưng cũng không ai biết biến thơ thành công việc hàng ngày, làm một
cách đều đều, một cách máy móc, một cách phàm tục như ông (chả thế có lần nhìn
Xuân Diệu ngồi làm thơ, Trần Đăng Khoa đã bảo rằng cha mình ở nhà quê đi cày
cũng không vất vả đến như thế). Chưa hết. Sau khi đã làm xong một khối lượng
công việc khổng lồ (khối lượng của một viện hàn lâm, ý của Tố Hữu) lại còn phải
lo đăng tải, giới thiệu, liên hệ với người này để in, nhận lời người kia đi nói
chuyện, làm sao cho thiên hạ “mục sở thị” cái tài đô lực sĩ của mình nữa chứ.
Một cách tự nhiên Xuân Diệu
nhẫn nại tự mình hết lòng lo toan những việc đó, để có dịp xuất hiện.
Về già Xuân Diệu còn giữ được
bản nháp những bài thơ đầu tiên, xoá dập rất ghê. Theo sự nhớ lại của tác giả,
lần ấy, cũng như nhiều lần về sau, cái mạnh nhất ở ông là ý muốn làm thơ, là
cái khao khát được viết ra, và hãy viết ra đã, viết bằng văn xuôi trước, rồi sắp
xếp sau. Suốt đời Xuân Diệu ham hố vậy.
Xuân Diệu xa lạ với loại nghệ
sĩ rạc dài, nghệ sĩ lang thang sống đến đâu hay đến đó, chỉ sống bằng cảm hứng
thất thường sau những chuyến giang hồ vặt, rồi tồn tại theo kiểu tầm gửi trông
cậy vào lòng tốt của những Mạnh Thường Quân nào đó: so với họ Xuân Diệu là một
loại khác. Ông cẩn thận hành nghề, chi chút chăm lo tài năng bản thân. Nghề viết,
đối với ông, không thể là một quá trình tự phát. Ngược lại phải làm sao huy động
hết tiềm năng để đạt tới hiệu suất cao nhất. Phải chăm chỉ chuẩn bị, dè sẻn sử
dụng sức lực, để lúc có thời cơ, đi thật nhanh tới mục đích của mình. “Sau khi
phấn đấu trong từng công việc cụ thể, người ta còn cần biết tập trung sức lực tạo
nên những thành quả đích đáng như năm ngón tay dồn lại thành một quả đấm”. Xuân
Diệu đã nói điều đó với bao người, kể cả người viết bài này và chúng tôi hiểu
đó là những điều gan ruột, Xuân Diệu rút ra từ mấy chục năm làm nghề của mình.
Khoảng 1980, có lần, ở Hà Nội, Xuân Diệu đến nhà tôi vào lúc bốn giờ rưỡi chiều.
– Đã mất công đạp mấy cây số
xuống đây sao anh không đến sớm một chút, anh em mình ngồi nói chuyện chơi?
– Chiều vừa đi làm việc với
một bạn nhà văn Hung; tối, lại phải ngồi viết một bài bút ký để sáng mai nộp
cho Đài. Thế cậu bảo không đến thăm vào lúc này thì để đến bao giờ?
Lại như cái lần tôi đến nhờ
Xuân Diệu dịch một đoạn tài liệu cho cuốn Mười nhà thơ lớn của thế kỷ, do
Nguyễn Quân và tôi cùng biên soạn. Thực ra một mẩu vặt như thế này, chả bõ bèn
gì đối với một nhân vật đã có đến vài chục đầu sách như Xuân Diệu. Nhưng hình
như vì cuốn sách có cái tên thú vị quá, nên Xuân Diệu vẫn muốn góp cho nó một
chút công sức bé nhỏ. Ông hỏi tôi kỹ lưỡng yêu cầu số chữ và hẹn giờ đến lấy.
Và khi theo lời hẹn tôi đến tận nơi lấy bài, thì Xuân Diệu cũng chỉ vừa mới làm
xong. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là cái tập hồ sơ Xuân Diệu có trong tay. Đã
viết về bất cứ ai, Xuân Diệu đều để công làm tài liệu đến mức tối đa. Sự tài tử,
sự linh hoạt, cái bột phát trong ý kiến của con người này thật không làm ai lạ
lùng. Cái lạ là chính sự công phu của con người có thừa lý do để sống và viết
tài tử đó.
Đến như sự cày xới của Xuân
Diệu trên từng trang thơ của các tác giả cổ điển thì chúng tôi lại càng vì nể.
Với một tác phẩm như Truyện Kiều, hầu như bất cứ nhà văn nhà thơ nào của
chúng ta cũng viết được vài trang. Nhưng riêng về Kiều và Nguyễn Du
viết được mấy trăm trang sách, trong đó có những bài bàn sâu về từng chữ
trong Kiều như Xuân Diệu đã làm, đâu có phải dễ.
Nhân một lần đi công tác với
Xuân Diệu, tôi đánh bạo hỏi:
– Cứ học dần. Và nhất là đọc
thật kỹ. Các bậc tú tài cử nhân hay chữ đã làm đầy đủ công việc của họ; mọi chữ
khó đã được cắt nghĩa rồi. Mình chỉ chọn lọc và phân tích thêm thôi.
Hoá ra, lại cái phương châm
cũ của Xuân Diệu: không sĩ diện. Mạnh dạn hút lấy tinh hoa của người khác. Như
trong làm thơ, biết nhặt từng câu nói vương vãi hàng ngày, tự nó đã mang ý thơ
rồi đưa vào bài của mình. Như trong viết báo, biết trích dẫn và thuật lại các
chi tiết một cách khéo léo, đến nỗi có khi người đọc đọc qua ở đâu đó rồi, đọc
lại vẫn thấy mới. Giá ai bảo, chúng ta còn có thể không tin. Nhưng chính Xuân
Diệu đã tự nhận như vậy cơ mà! Con người khá giàu có đó như luôn luôn giơ tay
lên cả cười mà nói với chúng ta:
– Các anh nghèo vì các anh
quá hoang toàng. Còn tôi, tôi chỉ hơn các anh ở chỗ tôi không bỏ phí gì hết.
Đi đến cùng trên con đường
đã chọn, con đường ham bộc lộ, ham xuất hiện, nhiều khi Xuân Diệu hiện ra như một
người mà ở nông thôn thường được gọi là tham lam càm quắp nghĩa là bất chấp lẽ
thường, cốt có mặt và đòi bằng được cái phần của mình.
Sau khi Thơ thơ in
ra lần đầu 1938, nhà phê bình Trần Thanh Mại, nhân danh một con người có theo
dõi tài năng của Xuân Diệu từ khi còn trứng nước, không quên để ý đến bài
thơ Mười chữ:
Mưa dầm – thu dưới nguyệt
Máng chảy – suối trên nhà
Trần Thanh Mại bảo mấy câu
thơ này không hay, mà lại có phần sáo. Rồi nhà phê bình tìm cách cắt nghĩa sự
có mặt của nó trong tập:
“Đời xưa và cả đến đời nay
cũng vậy, có nhiều nhà trưởng giả có một tập quán quái gở lắm: răng họ rụng ra,
họ đem gói gắm cất kỹ, móng tay họ cũng thế. Không phải vì họ mê tín, sợ khi chết
về âm phủ, không đủ răng mà nhá hay không đủ móng tay mà gãi. Chỉ vì họ quá yêu
họ đi ! Vật gì trong người họ lìa ra khỏi, là họ không nỡ bỏ rời, bỏ rớt, bỏ tồi,
bỏ tàn. Chỉ thiếu chút nữa là họ cất cả những vật thường ngày họ đi tiện ra mà
thôi!
Ông Xuân Diệu cũng gần như mấy
nhà trưởng giả ấy. Chỉ vì ông quá tiếc một vật mà óc não ông đã cấu tạo ra nên
ông không nỡ bỏ đi, mặc dầu nó chỉ gồm có mười chữ. Mười chữ sáo!” (*)
Lời mỉa mai có thể là hơi nặng.
Song nét tâm lý Trần Thanh Mại miêu tả là có thật. Trong khi bảo rằng tâm lý
tham lam kiểu Xuân Diệu không phải là không phổ biến, nhà phê bình đã gọi đúng
căn bệnh: “Chỉ vì họ yêu họ quá”. Chúng ta dự đoán đọc đến chỗ này, Xuân Diệu
chắc cũng phải cười khà “Chịu thầy, chịu thầy!”. Còn ai yêu mình hơn Xuân Diệu
nữa!
“Chết nhưng nết chẳng chừa”,
rồi Xuân Diệu sẽ giữ mãi cái tính ấy, chẳng bao giờ thay đổi cả.
Ngay từ 1958-1960, đọc một số
tiểu luận của Xuân Diệu được in ra hồi đó như Những bước đường tư tưởng của tôi,
Ba thi hào dân tộc, một thanh niên mới lớn như tôi đã ngạc nhiên nhận ra một chỗ
lạ đập ngay vào mắt, là các quyển sách ấy, thường có mục Cùng một tác giả,
đặt ngay ở đầu sách – một điều tôi chẳng bao giờ thấy ở sách của các tác giả
cũng nổi tiếng khác, như Tô Hoài và Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân và Tố Hữu.
Cùng với thời gian, bảng kê này ở sách Xuân Diệu ngày một kéo dài ra, và chữ
ngày một nhỏ bớt đi, chúng tôi đọc, có lúc vui vui, vì thấy lao động của Xuân
Diệu được ghi nhận rõ ràng – cái ý thức tác giả ở con người này thật không thể
xem thường; song cũng không khỏi có lúc thầm nói với nhau: sao nhà thơ yêu quý
của mình háo danh thế.
Trong cách nhìn đời của nhiều
tác giả có cốt cách, thường khi người ta bắt gặp không ít thì nhiều một sự bất
mãn. Bởi họ có quan niệm riêng về cuộc đời. Khi thấy thực tế chung quanh không
diễn ra như mình nghĩ họ đau đớn, dằn vặt và thường tìm cách không để cho cái ô
trọc của đời thấm vào mình.
Không nói đâu xa, ngay ở một
vài nhà thơ đương thời của Xuân Diệu và không thành đạt như Xuân Diệu – chúng
tôi muốn nói tới Trần Huyền Trân, Thâm Tâm… – hình ảnh nhà thơ hiện lên qua các
sáng tác là hình ảnh một người giữ bằng được sự độc lập của ngòi bút, chống lại
thói hùa theo đời, cho đến nhịp thơ của họ cũng không chịu thuận theo cái đều đều
hoà hợp của thói đời mà mang nhiều ngang trái nghịch phách.
Xuân Diệu không thế. Trong đời
sống hàng ngày Xuân Diệu có thể xoay xoả vòi vĩnh trước sự đối xử xô bồ của
chung quanh, ông cũng giận dỗi, cáu gắt. Nhưng trong thơ – là cái phần tinh tuý
nhất của một con người – thì hoàn toàn không. Trước sau, tức là cả khi mới bước
vào đời, lẫn khi đã có tuổi rồi, chuẩn bị bước vào cõi âm vô cực của cuộc đời
này, ông chỉ có một điều nói đi nói lại:
– Tôi xin cảm tạ cuộc đời
– Đời đáng sống, muôn ngàn lần
đáng sống.
Hình ảnh nhà thơ hiện lên
qua các tác phẩm là hình ảnh một người thèm khát, chân tay lúc nào cũng luống
cuống chỉ mong làm được một điều gì đó cho vừa lòng đời, và mong đời đừng quên
mình. Ôi! sẽ đau đớn làm sao, nếu trong bữa tiệc đời muôn vàn hào hứng ấy, mình
lại không được có mặt.
– Uống xong lại khát là tình
Gặp rồi lại nhớ là mình với
ta.
Cái sự tham lam thèm khát
như thế này không chỉ đặc trưng cho Xuân Diệu trong quan hệ tình ái, mà là đặc
trưng cho toàn bộ cảm quan đời sống của Xuân Diệu nói chung.
Trước mắt nhà thơ, cuộc đời
thường khi tròn đầy viên mãn:
… Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh
trời tròn
Mà vận mạng con người thì bấp
bênh và nhỏ nhoi không nơi bấu víu:
Em sợ lắm, giá băng tràn mọi
nẻo.
Lời thú nhận tội nghiệp này
có lẽ là cơ sở để nảy sinh cái cảm giác thường trực ở Xuân Diệu “sát hơn nữa,
thế vẫn còn chưa đủ”.
Đi ra chợ chọn mấy quả cam,
nhận gói kẹo người khác biếu, Xuân Diệu cũng tìm cách nâng nó lên thành một việc
có ý nghĩa của đời. Mà đã gọi là việc đời thì “trân trọng muôn vàn, muôn vàn
trân trọng”.
Một hiện hữu khác của lòng
yêu cuộc sống, là Xuân Diệu rất…ngán cái chết.
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh
cho biết, có lần ông được tác giả Thơ thơ cho xem một bài làm từ năm
1934. Bài thơ 18 đoạn mỗi đoạn 8 dòng đó mượn chuyện than thở cho mấy người chết
trẻ để bảo rằng: Khi chết người ta rơi vào cô đơn hoàn toàn. Bạn quên, những cô
gái quên; anh em cốt nhục cũng quên. Chỉ mẹ cha nhớ nhưng mẹ cha già cũng chết.
Nhớ các anh hoài chỉ mẹ cha
Song tro tàn lạnh không còn
lửa
Rồi đèn mờ tắt thế là thôi
Không một người thương ở cõi
đời
Kết luận cái chết càng đáng
ghê sợ, nếu như người chết đó không để lại dấu vết gì.
Và đây một sự kiện nhiều người
được chứng kiến: ấy là cái thảng thốt của Xuân Diệu khi được báo là Nguyên Hồng
qua đời. Nhân đây, Xuân Diệu định nghĩa về cái chết: Nó mạnh vô cùng. Nó biến
người ta từ dương vô cực thành âm vô cực.
Gộp cả hai mẩu chuyện này lại,
chúng ta thấy trước sau Xuân Diệu vẫn là mình. Cách hiểu về sự sống lúc trẻ thế
nào, lúc trưởng thành vẫn vậy. Kể ra ở chỗ này chúng ta có thể tranh cãi với
Xuân Diệu: Rằng sự sống kia cũng có năm bảy đường, có sự sống cao cả và sự sống
loàng xoàng. Rằng chết không phải là tiêu diệt tất cả, mà cái sống cũng không
phải là có sức mạnh vô địch. Có những người chết ngay khi đang sống. Có những sự
sống kéo dài lê thê vô ích, không khác gì cái chết. Chỉ có luôn luôn làm mới cuộc
sống của mình luôn luôn bắt đầu lại, nhận thức lại, người ta mới có một cuộc sống
có ý nghĩa thật sự. Và chỉ có luôn luôn đạt đến sự hoàn thiện, sự thanh lọc – một
cái gì giống như sự hư vô – người ta mới có được sự sống vĩnh viễn… Giá như
Xuân Diệu đi tới một quan niệm gần với phương Đông như thế, không chừng trang
viết của ông sẽ khác đi! Nhưng mỗi người chúng ta như thế nào là do một chương
trình có sẵn, muốn làm sao đượ
Nhẫn nhịn như một cách sống
Trong một tiểu luận mang
tên Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Xuân Diệu kể: ông là
con một ông đồ nho nghèo, đã đỗ tú tài, từ nông thôn chuyển ra thành phố dạy học
và khá giả dần lên. Một chi tiết có ý nghĩa quan trọng hơn: ông là con vợ bé.
Điều oái oăm ở đây là cho tới lúc ông lớn lên, má ông vẫn ở với bà ngoại, còn
Xuân Diệu cũng như người em trai là Tịnh Hà thì ở với đại gia đình, tức bố (mà
ông gọi là thầy) và vợ cả của bố (mà ông gọi là mẹ). Bên ngoại cách bên nội độ
vài cây số; lâu lâu, bà má tội nghiệp mới được phép đến thăm hai cậu con trai,
mà cũng chỉ đứng ngoài cửa, chứ không vào nhà; rồi lại lâu lâu, hai cậu con
trai lại trốn về thăm má, thăm ngoại, cho đỡ nhớ thương.
Như các nhà tâm lý học từng
quả quyết, tính cách một con người được hình thành chủ yếu lúc ấu thơ, khoảng
trước 5 tuổi, và ở đấy, những dữ kiện trong đời sống gia đình có ý nghĩa bao
trùm. Tình thế “con vợ bé” nói trên đã nhào nặn nên một khuôn mặt tâm lý đặc biệt
ở Xuân Diệu – ông dễ thương người, trong ông thường có những nỗi buồn vô cớ, hậu
quả của những giây phút không biết làm gì và không tìm thấy tình cảm ở những
người chung quanh. Luôn luôn cảm thấy cái bơ vơ của mình truớc thiên nhiên và
trước cuộc đời, thường một con người như vậy hay mếch lòng, dễ bị tổn thương,
nhưng lại cũng biết thông cảm với những đau khổ không đâu của người khác.
Trong văn học Trung Hoa cũng
có một nhân vật nổi tiếng với những xúc động vẩn vơ không thể cắt nghĩa nổi và
Xuân Diệu thường viện dẫn để nói về mình. Đó là Lâm Đại Ngọc trong Hồng
lâu mộng. Người con gái này mồ côi, đơn độc trong tình cảm, lại yếu, nên càng
mau nước mắt. Sự thương cảm cho mình, cho đời ở cô đã lên đến mức một căn bệnh.
Có lần buồn quá, cô nhặt hoa mang vùi một đống, xong lại sụt sịt: Chôn hoa
người khóc ngẩn ngơ – Đến khi ta chết, ai là người chôn?Những giây phút Lâm Đại
Ngọc kiểu ấy Xuân Diệu không thiếu. Có những tình cảm chỉ ngẫu nhiên thoáng qua
mà thi sĩ cứ thấy như là có duyên nợ riêng, chẳng hạn mấy lần, được chứng kiến
bọn nhỏ tí khóc lần nào ông cũng như chôn vào ruột. Bởi nghịch cảnh đã dấy lên
trong lòng ông một nỗi lo sợ, cảm thấy sự sống ở chính mình rất mong manh,
không ghì chặt lấy, không chăm sóc giữ gìn, thì sẽ mất đi nhanh chóng. (Ông dã
kể tỉ mỉ trong Những bước đường tư tưởng của tôi).
Theo sự quan sát của các nhà
nghiên cứu văn học phương Tây, tâm thế thi sĩ có nhiều nét đồng nhất với tâm lý
của loại người quá nhạy cảm và không tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội. Đại
khái đó là tâm lý kẻ ngụ cư, tâm lý kẻ lang thang, sống bên lề những xã hội ổn
định, tâm lý những đứa con hoang, không được chiều chuộng và nâng đỡ về tinh thần.
Một hình ảnh được sử dụng phổ biến ở phương Tây: mỗi thi sĩ là một gã Do Thái,
từng người không có quê hương của mình và cả dân tộc không có Tổ quốc.
Cái tâm thế con vợ lẽ ở Xuân
Diệu, cũng có nét tương tự: cảm giác bơ vơ và sự dễ thương người của ông gắn liền
với tình thế như là không nơi bấu víu. Nhưng nét trội nhất trong tâm lý con vợ
lẽ nó ảnh hưởng nhiều đến cách xử thế của Xuân Diệu có lẽ là sự nhẫn nhịn. “Qua
sông nên phải luỵ đò – Tối trời nên phải luỵ cô bán dầu”. Vì tôi ở vào tình cảnh
như thế, nên tôi phải chịu nước lép, chứ thực ra trong bụng, tôi thừa biết là
tôi chẳng kém gì đời. Những ai đã sống qua cảnh con vợ lẽ nghĩa là ở vào một
cái thế rất yếu trong đời hẳn dễ hiểu cái luỵ ấy, và Xuân Diệu càng rất
hiểu. Hồi ký Tuổi trẻ Xuân Diệu (do Tịnh Hà ghi) và cuốn sách Đi
hoang của Tịnh Hà cho biết: trong khi Tịnh Hà uất ức, phẫn nộ, đã phải bỏ
cái đại gia đình kia để sống kiếp lang thang thì Xuân Diệu chọn con đường cắn
răng cam chịu, ngoan ngoãn sống với thầy mẹ, dồn tất cả tâm sức vào việc học,
vì biết rằng chỉ có học giỏi mình mới nên người, đền đáp xứng đáng công ơn má
là người đã dứt ruột đẻ ra mình. Rồi ra sự nhẫn nhịn này sẽ còn đeo đẳng Xuân
Diệu trong suốt cuộc đời. Bên trong cái con người ham sống, dám chường mặt ra
mà đòi hỏi và cả xin xỏ cho được; bên trong cái con người tham lam vơ véo, lại
tự ca tụng mình, tô chuông đúc tượng cho mình, tự coi tất cả những gì mình làm
ra đều là ghê gớm, cao cả… thực ra lại có một con người khác, biết điều, an phận,
sẵn sàng chịu nước lép, cốt sao được yên bề sống và viết.
Trong số các sự kiện chính của
cuộc đời Xuân Diệu trước 1945, có một việc mà ai cũng biết, nhưng lại ít nhắc tới,
là việc ông bỏ sáng tác, đi làm tham tá nhà đoan. Sau cái giai đoạn rực rỡ
1935-39, Tự Lực văn đoàn đã bắt đầu lép vế. Qua năm 1940, thì sinh khí của nhóm
gần như suy giảm hẳn. Tuy nhiên, mấy người rời bỏ văn đàn đều là những người có
chí khí, và việc họ giã từ sáng tác là để có thì giờ đi sâu hơn nữa vào lý tưởng
của họ. Cả Nhất Linh và Hoàng Đạo đều bỏ văn chương để đi vào chính trị. Chỉ
riêng có Xuân Diệu là vì sinh kế. Nói cho rõ hơn, giữa cuộc đời lam lũ của cánh
cầm bút, và cảnh sống khá giả của một công chức cao cấp, Xuân Diệu thấy cái thứ
hai hấp dẫn hơn, vì thế, mới đi làm tham tá, để tập trung tiền nuôi Huy Cận học
đại học Canh nông, sau khi Huy Cận ra trường, lương cao, bổng hậu rồi, Xuân Diệu
mới quay về tiếp tục sáng tác. Đối với Xuân Diệu thì không có chuyện đặt thơ
văn là mục đích tối thượng. Sáng tác dẫu sao cũng là yếu tố thứ hai, mà đời sống
mới là yếu tố thứ nhất.
Cũng như lòng yêu đời, sự nhẫn
nhịn ở Xuân Diệu hiện ra muôn màu muôn vẻ. Nhất là khi động đến quyền lợi thì
trước tiên bao giờ ông cũng nhẫn nhịn, để cầu sự thương hại ở người khác mà
cũng là để giành bằng được quyền lợi của mình. Cánh biên tập chúng tôi còn nhiều
kỷ niệm về chuyện này. Giả sử bỗng nhiên biết rằng chúng tôi đang làm một số
báo đặc biệt, hoặc ra một đầu sách, kỷ niệm sự kiện nào đó, thì dù bận trăm
công ngàn việc, Xuân Diệu vẫn tìm bằng được một bài viết có chút liên hệ nào đó
gửi tới để góp mặt.
Đến với chúng tôi, Xuân Diệu
tự nhiên khép nép biết điều, khác hẳn những ông lớn kiêu căng mà chúng tôi rất
ngại – ông rủ rỉ hỏi han:
– Đã in ngay chưa các cậu?
– Đang làm anh ạ.
– Có đánh máy ngay không ?
– Còn phải chờ đủ tập chứ
anh.
– Khéo để mình mang về, chép
lấy một bản giữ lại, rồi sẽ gửi sau.
Với một bài góp chung đã thế,
nữa là với một tập sách riêng đứng tên Xuân Diệu! Dù gặp một biên tập viên trẻ,
ông cũng làm mọi cách lấy lòng. Và ông hay nài nỉ, mặc cả, muốn rằng sách mình
in ra thật dày, thật chững chạc. Cái cách Xuân Diệu chăm sóc tác phẩm khiến bất
cứ người bình thường nào cũng ái ngại. Nữa là chúng tôi, vốn học ông từ nhỏ, nể
ông nhiều, không nhượng bộ sao được.
Bác Dương Thanh Huyên, một
ký giả lớp trước có quen biết cả Nguyễn Tuân và Xuân Diệu hồi mới Cách mạng và
trong kháng chiến chống Pháp, từng kể lại mấy mẩu chuyện vui vui. Có lần Thanh
Huyên có dịp đi chợ Cầu Bố (Thanh Hoá) cùng với Xuân Diệu. Gặp một cửa hàng bán
chiếc mũ cát bằng li-e thuần chất, Xuân Diệu khuyên Thanh Huyên mua. Và khi thấy
Thanh Huyên còn dùng dằng, Xuân Diệu mắng yêu:
– Cậu thi sĩ quá! Với
cái mũ này “toa” có thể đi hết cuộc kháng chiến.
Lời lẽ mỗi lần một khác
nhưng tình thân là một: Xuân Diệu sợ chúng tôi say sưa quá, bốc đồng quá tử vì
đạo, rồi không giữ được ngòi bút của mình. Hơn ai hết, ông hiểu về những lưỡi
gươm Démocrites thường xuyên treo trên đầu người làm văn nghệ. Khi nói chuyện
này giọng ông đột nhiên nhỏ hẳn đi khe khẽ thì thào. Rồi ông lắc đầu, ông lè lưỡi,
ý bảo rằng sợ lắm, chính mình cũng sợ lắm, mà cỡ các cậu thì càng phải nên biết
sợ ngay thì vừa, nên nhớ là sau có hối cũng không kịp!
Lại nói những chuyện xa xôi
hơn một chút: Trong tâm trí của chúng tôi, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ
thông thái, nhà thơ của những kiến thức uyên bác. Từ 1946, ông đã có mặt trong
đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam qua Pháp. Nhưng do chiến tranh kéo dài, mãi
1981, tức là 35 năm sau, trong khuôn khổ một số quan hệ được nối lại với nước
Pháp, người ta mới lại thấy ông trở lại thăm cái xứ sở hoa lệ ấy. ở đó, như báo
chí đưa tin, ông có dịp diễn giảng trước các sinh viên đại học Paris về ảnh hưởng
văn hoá phương Tây trong văn học Việt Nam, và về những nhà thơ cổ điển Việt Nam
có nhiều ảnh hưởng trong đời sống. Nghĩa là, ông đã diễn thuyết toàn những vấn
đề cơ bản cả. Thuận miệng và rất hồn nhiên, tôi hỏi Xuân Diệu khi gặp ông đi
Pháp trở về:
– Thế anh có dịp gặp Aragon
hay những nhà thơ Pháp nổi tiếng, mà các anh vẫn nói với bọn này…
Câu trả lời của Xuân Diệu là
hoàn toàn bất ngờ với tôi:
– Em ơi! Đâu người ta có gặp
những người như mình. Xuân Diệu đến Pháp, chỉ để nói chuyện thơ với một số bạn
Việt kiều và nhà chuyên môn thôi.
Bấy giờ tôi mới sững ra. Sự
biết thân biết phận, thường trực ở một người như Xuân Diệu, như một thứ bản
năng thứ hai.
Trong chừng mực nào đó, phải
nhận sự nhẫn nhịn ở Xuân Diệu là một cái gì đáng quý. Nó không chỉ là khiêm tốn,
là biết điều. Sâu sắc hơn thế, nó chứng tỏ một nhận thức chính xác về tình thế
người làm văn nghệ ở một nước mà đời sống vật chất còn nhiều khốn khó. Nó giúp
cho người nghệ sĩ tránh khỏi những hoang tưởng bốc đồng quá đáng, làm phiền mọi
người và làm phiền chính mình. Có điều nhiều khi Xuân Diệu đã đẩy nó đi quá xa,
biến thành một cách sống cầu an, chiều đời, tự hạ thấp nhu cầu nghệ thuật và chất
lượng sáng tác của mình một cách đáng tiếc.
Ai cũng biết thơ Xuân Diệu
sau 1945, có nhiều bài phải gọi là dở. Nó gò gẫm giả tạo. Nó chỉ chứng tỏ rằng
người viết cố làm cho bằng được, chứ mất hết cả cái vẻ tự nhiên hồn hậu mà thơ
hay đáng lẽ phải có. Tôi không trở lại với những ví dụ đầy rẫy trong thơ Xuân
Diệu trong các tập Mẹ con, Riêng chung… in ra về sau, mà muốn trở lại một
số bài thơ in ra từ 1946.
Trong đoàn dân tộc đi chân
lính
Súng giữ liền tay, cày chẳng
rảnh
áo trên vai rách lấy tay gò:
Bụng vẫn thiếu cơm mà phải tỉnh
Hỡi ôi! giành lấy sống cho
nhau
Chẳng dám tin trời rèn lấy mệnh
Lâm li biết mấy hùng bao
nhiêu
Tiếng thảm run hoà thành nhạc
mạnh.
Khiên cưỡng! Nói lấy được!
Ai cũng thấy thật không xứng đáng với tầm vóc con người đã viết những Nguyệt
cầm, Thơ duyên, Lời kỹ nữ. Tuy nhiên để kéo lại, bài thơ lại nói được cái ý mà
người viết và cả không ít người đọc lúc đó cần thiết: thơ phải gia nhập vào đời
sống mới. Và bởi lẽ bài thơ lại đứng tên Xuân Diệu nên điều đó càng có ý nghĩa.
Nó không còn là một bài thơ lẻ nữa. Nó là một thái độ. Bởi vậy, mới có chuyện
bài thơ được in vào một tuyển tập mang tính cách tuyên ngôn Văn hoá và
Cách mạng, và được đặt bên cạnh những bài viết sắc sảo khác.
Rồi ra, trường hợp như bài
thơ trên sẽ còn trở đi trở lại nhiều lần với Xuân Diệu. ấy không còn là những
sáng tác cụ thể nữa. Mà mỗi bài hoặc gần như mỗi bài, là một tuyên ngôn. Và việc
sử dụng các bài thơ đó ở những vị trí trang trọng, mỗi lần một chút giúp vào việc
hình thành ở Xuân Diệu cách hiểu mới về sự tồn tại. Từ nay mình đã thành nhân vật
rồi. Cứ nín nhịn mà chịu đứng tên sau những bài thơ dở, thì rồi cuối cùng cũng
vẫn có thể có một sự nghiệp. Với việc một tập thơ không mấy xuất sắc
như Ngôi sao được giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955, Xuân
Diệu càng có dịp củng cố cái triết lý nhẫn nhịn của mình, nhẫn nhịn trong sáng
tác, ngoài ra, không tự ái, không xấu hổ, cứ nằn nì nài nẫm một hồi là chính
anh em văn nghệ cũng sẽ thương, sẽ dành những phần thưởng xuất sắc cho mình. Sự
nhẫn nhịn trong những trường hợp này gần như đồng nghĩa với tự đánh mất mình,
biến con người vốn có của mình thành một con người khác.
Trong khi đó có bao nhiêu điều
ông vốn dự định từ lâu mà không tìm ra thời giờ để viết.
Nhà thơ Tế Hanh, khi nghe
tôi nói tới sự nhẫn nhịn biết điều của Xuân Diệu, cũng nhớ lại vài chuyện mà
ông còn nhớ, và nếu không phải Xuân Diệu nói ra, thì tự ông, không dám tin là
thật. Chẳng hạn, có lần Tế Hanh hỏi:
– Diệu ơi! Sao anh làm những Tặng
làng Công, với Bà cụ mù loà, lục cục thế?
– Tế Hanh phải có lúc nghĩ tới
những người trả lương cho mình nữa chứ!
Câu chuyện trên, có lẽ là xảy
ra đã lâu, hồi Tế Hanh mới từ khu Năm ra, gặp Xuân Diệu từ Việt Bắc trở về Hà Nội,
cả hai cùng làm báo Văn nghệ. Từ đó, mấy chục năm cùng sống trong giới, Tế
Hanh càng hay bắt gặp ở tác giả Thơ thơ cái nét nhẫn nhịn nói trên. Đến
mức có lần, bấy giờ đang còn những năm chống Mỹ thấy Tế Hanh có làm bài thơ về
Phạm Thái, Xuân Diệu khen:
– Tế Hanh bạo nhỉ!
Thì ra, vốn cũng rất thích
Phạm Thái, nhưng Xuân Diệu sẵn sàng “để ở bên lòng” không nói gì về tác giả Sơ
kính tân trang, khi trong giới nghiên cứu và sáng tác văn học đương thời lưu
hành một dư luận cho rằng Phạm Thái chống Tây Sơn và thơ thì lãng mạn!
ở trên chúng ta đã nhắc chuyện
ông có thời gian bỏ giới sáng tác, đi làm nhà đoan.
Về sau, không bao giờ Xuân
Diệu làm công việc từ bỏ dứt khoát như thế nhưng những cuộc từ bỏ nho nhỏ, thì
ông làm khá thường xuyên. Ông phải né tránh, và phải làm cả những việc ông
không muốn.
Năm ấy, nhà thơ trẻ C.K. mới
xuất hiện, tuy là đang ở tuổi vị thành niên. Đi đâu cũng có người khen, nhưng
lúc đầu, tôi nhớ là Xuân Diệu không khen. Với cách nói có phần nanh nọc của một
người đàn bà nhà quê, ông bảo khen C.K. thì có khác gì ra đường mà kêu ầm lên rằng
“các ông các bà ơi, con gái tôi mười ba tuổi mà đã có mang!”.
Có thể là Xuân Diệu đã nói
đúng, đến nay không ai còn nhắc đến C.K. nữa. Nhưng vào khoảng thời gian đó,
hình như mọi người đang cần khẳng định một tài năng trẻ, cần chứng tỏ chúng ta
đang làm rất tốt việc bồi dưỡng các thế hệ kế cận. Mà sự khẳng định ấy phải ở
miệng Xuân Diệu nói ra mới quý! Thế là có đơn đặt hàng và khi có người đặt hàng
thì Xuân Diệu chấp nhận. ít lâu sau trên báo Văn nghệ, ngay trang một, thấy
xuất hiện một bài khen thơ C. K. hết lời. Cái tài bình thơ vốn có tác giả Các
nhà thơ cổ điển Việt Nam được Xuân Diệu vận dụng triệt để, cốt để mọi người
cũng như chính ông tin rằng thơ C. K. rất hay. Xuân Diệu dám đánh mất mình
trong chốc lát, để giữ lấy cái đại cục.
Cây hoàng lan cô đơn
So với hoàn cảnh nhà cửa ở
Hà Nội, thì căn phòng riêng của Xuân Diệu ở đường Cột Cờ (nay là Điện Biên Phủ)
phải nói là đã khá tươm tất. Căn phòng rộng đâu gần hai chục mét. Nhà thơ làm
việc tại cái bàn kê sát cửa sổ. Gần đấy là bàn tiếp khách: một ấm pha trà nhỏ,
vài cái chén loại cổ. Tôi nhớ mặc dù Xuân Diệu không hút thuốc, nhưng ông vẫn
có một hộp thuốc lá, để thỉnh thoảng mời anh em hút chơi. Sự tiếp khách của
Xuân Diệu chừng mực trân trọng lại luôn luôn có sự thân tình và câu chuyện
không bao giờ rơi vào sáo rỗng. Nhưng được chiều vậy, mà mấy khi chúng tôi dám
ngồi lâu, vì thật ra ngay từ lúc vào, chúng tôi đã bắt gặp Xuân Diệu đang làm dở
việc gì đó, thành thử, sau những trao đổi cần thiết, khách khứa cũng tìm cách
rút lui cho đúng lúc. Chỗ ở của Xuân Diệu không thể là cái nơi người ta đến
lang chạ và dềnh dàng tán chuyện, như nhà một vài người khác. Nhiều khi, đi
ngoài đường nhìn vào, chúng tôi vẫn bắt gặp Xuân Diệu với cái đầu lắc lắc đang
miệt mài làm việc bên bàn. Vũ Quần Phương bình luận rất hay: Đầu lắc lắc, luôn
luôn “đấm nhẹ vào trán kêu đau óc lắm, nhưng năm nào cũng có sách xuất bản”. Thế
thì ai dám ngồi lâu được?
Nhưng nói đến chỗ ở, chỗ tiếp
khách của Xuân Diệu tôi không chỉ nhớ tới căn phòng, mà còn một khung cảnh nữa,
khá thú vị. Vào những ngày hè, đến chơi với nhà thơ, có lần tôi bắt gặp ông mặc
quần áo cộc, khênh cái bàn trúc ra ngồi ngay lối đi. Ngồi đấy, tay phe phẩy cái
quạt, mắt lim dim suy nghĩ, ông làm thơ, dịch thơ. Sự thư nhàn của một người vốn
bận bịu, có cái nét duyên riêng của nó. Vào những ngày chớm thu, trời còn nóng,
nhưng cây hoàng lan xế cổng đã toả bóng mát thật dễ chịu. Thơ Xuân Diệu từng
nói tới cây hoàng lan ấy (bài thơ này tôi ghi theo bản chép tay trong sổ tác giả):
Hương chín hoàng lan thu tới
đó
Lơ thơ trong chợ nhãn xong
mùa
Năm nay em vắng không ăn
nhãn
Anh một mình thôi, cũng chẳng
mua.
Không hiểu làm sao, tôi cứ
nghĩ vân vi mãi về cây hoàng lan cổng nhà Xuân Diệu. Quả thật, đó là một giống
cây lớn cùng loại với những xà cừ, bàng, liễu, loại cây lưu niên mà người ta vẫn
trồng để lấy bóng mát. Thân cao, xù xì, lá thưa và mỏng, nhiều khi hoàng lan lại
có cái vẻ ngạo nghễ mà giống cây mọc cô độc thường có.
Có điều, đó là thứ cây cho ta loại hoa mỏng mảnh, cánh tuy to và dày, nhưng bao giờ cũng rủ xuống yếu đuối, và hương thơm thì hơi hắc hắc. Một thứ hoa dành để cúng lễ, và theo tôi nhớ trước kia cũng là thứ hoa để những người con gái đang yêu dắt trong áo. Tự nhiên tâm trí thoáng qua những liên tưởng tới Xuân Diệu. Trong toàn bộ văn học, con người đang ngồi trước mặt tôi là một thân cây cổ thụ, mà vóc vạc, dáng hình cứ lừng lững, lừng lững tồn tại. Song trong đời sống hàng ngày nhất là khi nói chuyện riêng đó lại là con người của sự từ tốn, ý nhị: “Cành biếc run run chân ý nhi” “Lung linh ánh sáng bỗng rùng mình”. Những thoáng rung động tinh vi kiểu ấy đã đi vào cả trong cách sống hàng ngày của ông. Cộng với cuộc sống độc thân, kéo dài “mãn tính”, cuối cùng ở Xuân Diệu hình thành một cốt cách riêng, kết hợp cả sự chăm chỉ xốc vác, đôi khi như là hùng hục làm, làm bằng được, làm quần quật suốt ngày này tháng khác, với sự tinh tế, nhỏ nhẹ, cái sự chiều lòng mọi người! Vâng Xuân Diệu chính là một thứ cây hoàng lan cô đơn đổ bóng bên nhà ông đó.
Có điều, đó là thứ cây cho ta loại hoa mỏng mảnh, cánh tuy to và dày, nhưng bao giờ cũng rủ xuống yếu đuối, và hương thơm thì hơi hắc hắc. Một thứ hoa dành để cúng lễ, và theo tôi nhớ trước kia cũng là thứ hoa để những người con gái đang yêu dắt trong áo. Tự nhiên tâm trí thoáng qua những liên tưởng tới Xuân Diệu. Trong toàn bộ văn học, con người đang ngồi trước mặt tôi là một thân cây cổ thụ, mà vóc vạc, dáng hình cứ lừng lững, lừng lững tồn tại. Song trong đời sống hàng ngày nhất là khi nói chuyện riêng đó lại là con người của sự từ tốn, ý nhị: “Cành biếc run run chân ý nhi” “Lung linh ánh sáng bỗng rùng mình”. Những thoáng rung động tinh vi kiểu ấy đã đi vào cả trong cách sống hàng ngày của ông. Cộng với cuộc sống độc thân, kéo dài “mãn tính”, cuối cùng ở Xuân Diệu hình thành một cốt cách riêng, kết hợp cả sự chăm chỉ xốc vác, đôi khi như là hùng hục làm, làm bằng được, làm quần quật suốt ngày này tháng khác, với sự tinh tế, nhỏ nhẹ, cái sự chiều lòng mọi người! Vâng Xuân Diệu chính là một thứ cây hoàng lan cô đơn đổ bóng bên nhà ông đó.
Nếu như mọi người đàn ông đã
“một nửa là đàn bà” thì cái phân số đàn bà trong người Xuân Diệu còn cao hơn một
bậc nữa. Ai trong đời từng được tác giả Thơ thơ quý trọng, đều biết
nét tâm lý này của Xuân Diệu, những khi ông đến chơi nhà. Con người kiêu hãnh
Xuân Diệu lúc đó, như biến đi đằng nào. Ông hoàn toàn nhỏ nhẹ, khiêm nhường,
rón rén, chỉ sợ làm phiền người khác, nét mặt cứ ngẩn ra trước những gì khác lạ,
và muốn làm mọi cách để vui lòng người bạn của mình. Mà thường trong những truờng
hợp đó là Xuân Diệu mang cho, chứ đâu phải đến làm phiền! Thuở ông còn sống một
số người chỉ biết Xuân Diệu hay đòi bằng được cái nọ cái kia, đòi đăng thêm một
bài thơ, đòi tổ chức thêm một buổi nói chuyện. Có biết đâu, nhu cầu mang cho ở
Xuân Diệu cũng rất lớn. Một chi tiết nhỏ trong muôn vàn chi tiết liên quan đến
những cuộc nói chuyện thơ của Xuân Diệu: sau những lần phục vụ thơ ở Đội cây
xanh thuộc công ti quản lý công viên Hà Nội, Xuân Diệu được anh chị em công
nhân coi như một thành viên của đội. Cứ đến gần tết, trong đội có một quyền lợi
nho nhỏ ấy là một số cây cỗi, đã đánh về rải rác trong năm, nay mang chia đều mỗi
người một ít, chở về nấu bánh chưng là hợp nhất. Xuân Diệu cũng được một phần củi
như mọi người. Và bao giờ Xuân Diệu cũng đến lấy, buộc bó cẩn thận, đèo sau xe
đạp, mang về… tặng gia đình Hoàng Trung Thông.
Đàn bà trong cách thương mến,
chiều chuộng mọi người, và Xuân Diệu cũng rất đàn bà trong cách cáu giận, bực
mình. Ngồi họp với Xuân Diệu nhiều người chúng tôi thường để ý tới hai giai đoạn:
Ban đầu Xuân Diệu lơ đãng nghe, ngơ ngác cười với một người lâu mới gặp, nhiều
khi cúi đầu xuống như còn mải nghĩ về công việc đang làm dở dang. Nhưng chỉ cần
có chuyện gì chạm đến điều Xuân Diệu tâm đắc, là lập tức ông như chồm dậy nói
sa sả, nói hết gan ruột mình, cả miệng, mắt, đầu tóc, như cùng tham gia vào cuộc
phát biểu. Và trong cái lúc bộc lộ hết mình này, cũng như khi đi nói chuyện,
Xuân Diệu rất hay làm thêm động tác, lấy cái ngoắt tay, cái chẩu mỏ, để diễn tả
ý tứ cần nói. Đôi khi chúng tôi nói vụng sau lưng: “Y như các mẹ nhà quê xắn
váy quai cồng lên mà cãi nhau”. Cái tật nói dài, nói kỹ, nói bằng được, mà nhiều
khi chúng ta bắt gặp trong thơ, và nhất là trong tiểu luận phê bình của Xuân Diệu,
thực ra cũng bắt đầu từ lối nói dứt da dứt thịt, mà chúng ta thấy trong Xuân Diệu
hàng ngày đó.
ấy cáu giận thế, tham lam thế,
nhưng tựu trung lại trong quan hệ với mọi người Xuân Diệu vẫn là một người
khiêm cung, biết người biết mình và trung hậu thật thà khiến ai cũng quý. Sự biết
điều ở ông là trên nét lớn và có bao hàm những trừ bì. Tham lam mà lại là biết
điều. Vì biết mình chỉ có ít, không chịu phí phạm cái gì! Tự hào đấy, hãnh diện
đấy, nhất là trước đám đông, nhưng trở về với người thân trong không khí của hậu
trường, lại dễ dàng cười xoà. Tôi nhớ một lần, nói chuyện với Xuân Diệu về tình
thế chung của văn học Việt Nam: Chúng ta còn nghèo, ngay trước cách mạng, thực
tế một đất nước thuộc địa không khỏi ảnh hưởng đến sáng tác của cả một lớp nghệ
sĩ rất tài năng. Xuân Diệu thấy cả. Và vừa như biện hộ, vừa như khẳng định chỗ
yếu kém của mình, Xuân Diệu khoát tay, mượn một cách nói hơi có vẻ tục, để kết
luận:
– Thì dân tộc cũng chỉ rặn
ra được một lũ chúng mình !
Tính thiết thực là một thói
quen thường có ở Xuân Diệu và cũng là một điều bạn bè đồng nghiệp có dịp đến
nhà chơi, tiếp xúc với tác giả Thơ thơ trong cái không khí hàng ngày,
nhớ kỹ hơn cả. Lùi về tận kháng chiến chống Pháp, Thanh Tịnh nhắc lại chuyện
Xuân Diệu lục ba lô lấy cho mấy lạng muối, hoặc trước lúc chia tay, tặng cái nắp
bút Parker nhặt được trên đường. Vũ Quần Phương hay kể chuyện Xuân Diệu
dặn ăn kẹo phải ngậm đừng nhai, nhai là phí. Nguyễn Đăng Mạnh bắt đầu bài hồi
ký bằng câu chuyện Xuân Diệu tặng mình một cuộn giấy báo chưa in, bảo rọc ra mà
làm bản thảo dần. Trần Đăng Khoa kể là một bận Xuân Diệu hẹn đến chơi, nhưng đến
hơi sớm một chút. Thế là Xuân Diệu đưa cho mấy tờ báo bảo đọc, rồi ông tranh thủ…
ngủ. Ngủ đâu mười phút, đúng giờ lại dậy, làm việc, tiếp khách.
Trong số những ấn tượng về
con người Xuân Diệu lúc về già, tôi nhớ đến cái dáng đẫy đà của ông. Ông béo
cái thứ béo riêng của người ít lao động chân tay. Những túi thịt đầy không căng
lên song trông vẫn ngồn ngộn. Da như trơn láng hơn, và cả người toát ra vẻ nồng
nồng mà người ta thường cảm thấy ở những phụ nữ cả hơi. Ra đường, ông ăn mặc
đúng mốt, mùa hè thì thường áo sơ mi cộc tay bỏ ngoài quần, cả người thơm tho lịch
sự. Nhưng trở về nhà, bên bộ bàn ghế trúc cũ càng, ọp ẹp, là lại đánh bạn với
cái quần đùi cũ lõng thõng dải rút, cái sơ mi hình như đã lấm tấm rách rạn vài
chỗ. Xuân Diệu đã vào với bao nhiêu cảnh giàu sang phú quý, mà ông vẫn giữ nếp
nghèo như xưa. Và ông có ý thức về điều ấy lắm. Khoảng đầu 1980 có lần, tôi hỏi
Xuân Diệu “Sao anh không vào ở Sài Gòn?” thì được đáp lại rất hồn nhiên: “Ôi,
vào đấy sao nổi, chỉ nghe tiếng băm thịt của nhà hàng xóm, mình đã không sống
yên ổn rồi… Nghèo như chúng mình, chớ nên vào”.
Có lẽ bởi luôn luôn nghĩ rằng
mình nghèo, nên Xuân Diệu càng chăm chỉ lam làm và trước tiên, càng tự hạ mình,
cho phép mình vơ véo nhặt nhạnh, nó là đầu mối của cái tính đàn bà nơi ông mà
chúng tôi bắt gặp.
Này là những ngọt ngào của
Xuân Diệu khi cần lấy lòng ai đó cái đầu nghiêng nghiêng, con mắt đắm đuối Xuân
Diệu tự hạ mình khác chi Người kỹ nữ.
Này là những lúc Xuân Diệu
đi nói chuyện, làm đủ mọi thứ bộ tịch để thiên hạ vui lòng. Một giáo viên dạy
văn sau nhiều lần đi nghe Xuân Diệu đăng đàn diễn thuyết, tâm sự: Mình dạy học
có khi còn thay đổi bài giảng từ lớp nọ sang lớp kia. Cụ ấy thì không, cứ bài
nói chuyện ấy, cụ ấy kéo, đúng đến chỗ ấy thì dừng lại cho người ta vỗ tay. Cứ
thế mà làm.
Xuân Diệu đã trở thành một
người lao động đơn giản theo nghĩa đen của từ này. Tô Hoài nhận xét: “Mình đã
nghe nói vài lần mình biết. Chỉ loanh quanh một ít bài bản có sẵn, sau đó là
thơ tình Xuân Diệu” (khi tác giả Thơ thơ mất, Tô Hoài viết bài kể
chung quanh bài thơ Phia Khình Tô Hoài đã được nghe Xuân Diệu nói từ
kháng chiến, sau sang Lào lại được nghe nói đến bài thơ ấy. Trong lời kể, có sự
quý trọng, lại có sự đùa bỡn).
Cùng đi với Xuân Diệu về một
nơi nào đó, sau những buổi nói chuyện, tôi chỉ thấy Xuân Diệu có hai thứ nữa
sung sướng là ăn và ngủ. Ô, không thể tưởng tượng được là con người ấy dễ ngủ lắm!
Ngày ba buổi nói chuyện, với ông không phải là quá. ở những chỗ ông chưa nói
chuyện bao giờ, mà chỉ bố trí ngày có hai lần là ông giận. Và khi không có việc
gì làm cho hết ngày, ông lăn ra ngủ, cái gối kê khá cao, ngủ ngáy đều đều, những
lần thoáng thấy, bao giờ chúng tôi cũng cố tránh cho xa, vừa sợ kinh động đến
người, vừa ngại thấy ông không sinh động, đẹp đẽ, như lúc ông thức. Không ai
nói ra nhưng hầu như tất cả những người đi trong chuyến ấy gặp nhau ở ý nghĩ:
tác giả Thơ thơ già rồi. ở Hà Nội ai có gia đình người ấy ngày tháng
trôi đi đều đều và Xuân Diệu luôn luôn có mặt trên báo chí, cho nên ai cũng cảm
thấy Xuân Diệu còn sung sức lắm. Nhưng cùng đi công tác với nhau, chúng tôi thấy
Xuân Diệu thật già. Và chúng tôi chợt nhận ra một điều: từ lâu, Xuân Diệu không
gây cho ai bất ngờ nữa. Còn Xuân Diệu cũng yên vị với những gì đời đã cho mình.
Xuân Diệu biết là mình không thể khác.
Một trong những nét thấy rõ ở
con người trong thơ Xuân Diệu lúc trẻ là ở cảm giác cô đơn không thể hoà nhập
vào cuộc đời. Theo một thói quen cũ kỹ, lâu nay bao giờ người ta cũng coi đó là
một chỗ đáng phê phán, có biết đâu rằng nhiều khi cảm giác cô đơn chính là mặt
trái của nỗi khao khát sống, là bằng chứng trưởng thành của nhân cách. Xem thơ
tình Xuân Diệu thì biết. Nếu những năm 50, 60 người ta còn bắt gặp những bài
hăm hở, tha thiết đau xót, thèm muốn, bơ vơ (kiểu nhưPhượng mười năm, Hỏi), từ
đó tạo nên cả một chùm thơ mang vị đắng như chính ông gọi, thì
những năm 70, 80, thơ Xuân Diệu chỉ còn nói đến sự hoà hợp vốn là một cái gì
ông không có, hoặc có một chút song ông đã đánh mất. Xuân Diệu đã nghèo đi, như
chúng ta khi về già thường nghèo đi, song do quen dần nên ta không thấy mà chỉ
thích ứng một cách tự nhiên. Điều này bắt đầu ngay từ cuộc sống hàng ngày. Thật
vậy, mặc dù trước sau Xuân Diệu vẫn sống đơn độc, không có gia đình, nhưng những
năm cuối đời, con người ông như chai đi, ông cảm thấy bằng lòng với hoàn cảnh,
ông tạo ra đủ lý lẽ để bảo vệ cho cách sống ông buộc phải sống. Để chống trả thời
gian, vượt lên thời gian, mà cũng là cách tốt nhất để chống lại băng giá của sự
cô đơn Xuân Diệu đã làm việc quần quật. Đến thăm Xuân Diệu, so sánh cuộc sống của
ông với cuộc sống những người bình thường, nhiều người cảm thấy thương xót vô hạn.
Nhưng hoá ra chúng ta nhầm! Xuân Diệu không cần, không biết đến ai thương xót,
ngược lại, ông cho rằng mình đã chọn được con đường tối ưu để sống và viết.
Thế có bao giờ Xuân Diệu “hố”
không, lộ vở là một người yếu đuối vụng về không? Có bao giờ sự cô đơn đã giáng
cho ông một cú nặng nề, ngay trước mắt mọi người? Có bao giờ giá tỉnh táo ra,
ông phải hối tiếc cho cái tình thế cô đơn của mình?
Có, cũng có một lần như vậy,
và câu chuyện xảy ra một cách bột phát, tới mức, như một trò chơi của tạo hoá,
một số người chúng tôi có tham gia vào, về sau có hối hận cũng không kịp!
Năm đó, đã là 1985, cái năm
về sau sẽ được xem là năm cuối cùng trong cuộc đời Xuân Diệu, nhưng hình như cả
ông, cả chúng tôi, đều không ai tính tới chuyện đó. Xảy ra việc làm tuyển tập
thơ Việt Nam 1945-1985, loại sách giống như một thứ “chiếu giữa làng” nên đã biến
thành chỗ xếp hạng, cũng là chỗ mặc cả rất quyết liệt: Ai sẽ được vào, câu
hỏi đó đặt ra với đông đảo mọi người chưa giải quyết xong, thì ai sẽ được
lấy sáu bài, ai bốn bài, ai hai bài lại được đặt ra và câu hỏi này mới thật
khó phân xử vì toàn động chạm tới các “đầu lĩnh” cỡ lớn trong giới! Theo chỗ
tôi nhớ, thì mặc dù đã là người chủ trì làm nhiều tuyển tập văn thơ Việt Nam, từ
hồi ở Việt Bắc (Tập văn Cách mạng và kháng chiến) cho tới sau hoà bình
1956 (Thơ Việt Nam 1945-56) và vinh quang nhất là Tuyển tập thơ Việt Nam
1945-1960, song đến tập này (1945-85), Xuân Diệu không đứng ra làm nữa, mà người
được giao chủ trì là nhà thơ Tế Hanh. Đứng về mặt số lượng bài đưa vào trong tập
thì Xuân Diệu đã thuộc loại nhất, tức là được chọn sáu bài. Tuy nhiên, lúc xem
cả tập thì Xuân Diệu vẫn không bằng lòng. Câu hỏi của ông nằm ở sự so sánh: tại
sao Xuân Diệu sáu bài, mà loại như người này được những bốn bài, loại người kia
được ba bài?!
Theo Xuân Diệu, hình như những
người soạn tuyển tập đã quên mất rằng: chỉ sau Tố Hữu thôi, chứ ông đứng ở một
thế cao vòi vọi, không một nhà thơ lớp sau nào dám so sánh.
Nói tới người nọ người kia,
song lần ấy mũi nhọn công kích của Xuân Diệu tập trung dồn về Xuân Quỳnh, người
phụ nữ được in bốn bài.
Từ hồi bắt đầu chống Mỹ,
trong thơ Việt Nam, vấn đề thế hệ bắt đầu được đặt ra rõ rệt. Có lẽ là do một sự
bén nhạy nào đó, nên Chế Lan Viên rất hiểu chuyện này. Đi đâu ông cũng đặt vấn
đề là phải bồi dưỡng cho lực lượng trẻ, rồi họ sẽ thay thế chúng ta. Ngược lại,
Xuân Diệu khá dè dặt. Mặc dù chính Xuân Diệu đã thanh minh rằng bởi yêu nên mới
cho roi cho vọt, song ai cũng nghĩ ông cố chấp quá.
Thật ra giữa Xuân Diệu và
Xuân Quỳnh không có gì xung đột.
Thậm chí, ở một phương diện
nào đó mà xét, có thể bảo Xuân Quỳnh là người tiếp tục giọng thơ Xuân Diệu.
Cũng tinh tế như thế, nhất là cũng ham sống, cũng nồng nhiệt như thế.
Nhưng những người giống nhau
lại hay kỵ nhau. Trong nghề làm thơ, Xuân Quỳnh tìm tòi học nghề ở Chế Lan Viên
chứ không ở Xuân Diệu. Ngược lại, Xuân Diệu thấy loại như Phạm Tiến Duật là lạ,
chứ Xuân Quỳnh không lạ. Sự không bằng lòng nhau ngấm ngầm đã có từ lâu, đến
lúc này mới có dịp bùng nổ.
Cậy tuổi già, Xuân Diệu đi
khắp nơi rêu rao, cho là Xuân Quỳnh không đáng như thế, chẳng qua đây là một
nhà thơ phụ nữ xinh đẹp, nên chài được mọi người (chữchài là của
Xuân Diệu) khiến cho tuyển thơ chẳng còn thể thống gì nữa.
Xuân Quỳnh cũng chẳng phải
người vừa. Thấy Xuân Diệu công khai nói mình ngay cả trong các buổi họp mà bản
thân mình không dự, Xuân Quỳnh cho là bị xúc phạm, và nghĩ chuyện trả thù bằng
cách viết thư thẳng cho Xuân Diệu.
Lịch sử đã biết tới nhiều ca
“điên” của phụ nữ, câu chuyện tôi kể ở đây, chẳng qua là con sóng vỗ trong cái
cốc nhỏ, nhưng nó không phải là không ghê gớm. Trong thư gửi Xuân Diệu, Xuân Quỳnh
dùng tới những lời lẽ đáo để nhất, cốt có thể làm cho Xuân Diệu đau đến chết điếng
đi, mà không sao cự lại nổi. Xuân Quỳnh nhắc đến quá khứ của Xuân Diệu. Xuân Quỳnh
đặt câu hỏi về những thay đổi trong mấy chục năm cuối đời của Xuân Diệu và tự
trả lời: Chẳng qua Xuân Diệu chỉ muốn xây dựng uy tín riêng cho mình. Chứ thực
ra Xuân Diệu không tài cán gì, thơ Xuân Diệu đã hỏng hẳn rồi, mất hết sự sinh động
và tự nhiên rồi.
Đi đến cùng trên con đường
triệt hạ nhà thơ lớp trước đã nói xấu mình, chê bai làm nhục mình, Xuân Quỳnh
nói tới tình trạng đơn độc của Xuân Diệu và cho rằng chỉ những người thất đức mới
bị trời đày như vậy.
Bức thư như một mũi tên tẩm
thuốc độc, chắc chắn làm cho Xuân Diệu giãy giụa trong đau đớn. Nhưng còn một
việc nữa làm cho Xuân Diệu chết đi sống lại – tôi đoán thế – do một ác ý, mà
nhiều bạn bè của Xuân Quỳnh, trong đó có người viết bài này, xúi bẩy Xuân Quỳnh
làm: Đó là không chỉ gửi riêng lá thư cho Xuân Diệu, vì làm thế, có thể tạo cơ
hội cho Xuân Diệu tránh đòn tức là giấu biệt thư đi không cho ai biết. Mà, muốn
để Xuân Diệu thảm bại, Xuân Diệu gục ngã ngay trước mặt mọi người, Xuân Quỳnh
sao lá thư này làm vài ba bản, gửi đi vài ba nơi cần thiết.
Không cần phải nói, cũng có
thể đoán Xuân Diệu đã đau đớn như thế nào!
Câu chuyện xảy ra hè 1985,
thì đến cuối năm đó, Xuân Diệu qua đời. Trong khi mọi người cuống quýt lo lắng
cho đám tang, thì Xuân Quỳnh cảm thấy như mình có lỗi, và không biết làm gì để
cứu chuộc. Khi có ai hỏi, Xuân Quỳnh chỉ phân bua là mình cũng rất biết ơn Xuân
Diệu, mình không có ý hại ông. Mấy kẻ xúc xiểm chúng tôi, lúc này cũng cảm thấy
hối hận vì vừa tham gia vào một trò chơi độc ác. Tuy nhiên những khi thật tỉnh
táo nhìn lại câu chuyện Xuân Quỳnh – Xuân Diệu nói trên, chúng tôi hiểu ra một
điều: nhà thơ của chúng tôi có lỗi trước tiên, mà cái lỗi đó, một phần bắt nguồn
không phải ở tuổi già, mà là sự đơn độc của ông. Chúng tôi hàng ngày dù đôi khi
cũng không giấu được sự tham lam và phải nhận là nhiều khi tham lam một cách vô
lý, ngớ ngẩn, song cuộc sống gia đình luôn giúp cho chúng tôi tỉnh táo trở lại,
nó mách bảo chúng tôi về một cuộc sống như nó vốn thế, vậy phải biết nhìn ra
chung quanh, biết dừng lại đúng lúc cũng tức là biết rằng sống phải thông cảm,
phải cận nhân tình, đừng có bao giờ quá đáng.
Đời riêng Xuân Diệu buồn hơn
nhiều. Xuân Diệu không có được một gia đình bình thường. Cho nên trong quan hệ
với mọi người Xuân Diệu đã phạm những sai lầm không thể tha thứ được, kể cả sai
lầm với phụ nữ là những người mà trong thâm tâm ông yêu quý.
Trước sau, đó vẫn là cây
hoàng lan cô đơn đang đổ bóng.
Đối diện với vĩnh cửu
Những năm cuối đời Xuân Diệu
rất nổi tiếng với việc phê bình giới thiệu thơ, nhất là giới thiệu các tác giả
cổ điển. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và Tú Xương, Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu và á Nam Trần Tuấn Khải… hầu như với bất cứ nhà thơ liệt hạng nào,
ông cũng đều yêu mến và tìm được cách tiếp cận. Không một ai đối với ông là bí
hiểm, là khó giải thích, hoặc hơn nữa, là không thể giải thích nổi. Trong những
bài phê bình và tiểu luận mà cách viết đôi khi rơi vào dông dài và thông tục,
nhất là trong những buổi nói chuyện lặp đi lặp lại – ở cái nghề mà có người đã
gọi đùa là nghề thầy cúng ấy, thì tránh sao cho khỏi lặp lại ? – ông làm được một
việc lớn lao là phổ cập hoá thơ, làm cho thơ trở nên dễ hiểu và các nhà thơ lớn
trở nên như là của mọi nhà. Tuy nhiên, cũng chính trong những lúc ấy, Xuân Diệu
phô ra những nhược điểm lớn của mình – sự nói lấy được, làm cho cái gì cũng trở
nên dễ hiểu, do đó đánh mất một chút thiêng liêng của văn học. Do đi với ai,
làm cầu nối cho bất cứ ai cũng được, nên Xuân Diệu không thuộc hẳn về ai, không
phát hiện được ai đến cùng. Trong khi rất kỹ lưỡng, rất thành thục với những điều
ai cũng có thể nhận ra một cách mơ hồ, thì ở Xuân Diệu hơi ít những chỗ mà người
thường không thấy và chỉ ông mới thấy. Những phát hiện của ông không mấy khi đạt
đến mức bất ngờ và làm người đọc bàng hoàng ngơ ngẩn. Như người ta vẫn thường
nói, đọc người khác là đọc chính mình. Hiểu biết tức là sánh ngang. Những tư tưởng
sâu sắc chỉ được phát hiện khi người đọc chúng cũng hoàn toàn có điều kiện để
nghĩ ra chúng. ở chỗ này, sự dừng lại của Xuân Diệu kể cũng là điều dễ hiểu. Với
những thiên tài độc đáo của dân tộc, như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, dù Xuân Diệu
đã nói rất nhiều, song muốn lý giải được cái thần của các vị ấy, ông còn cần được
nhiều người tiếp tục.
Không phải là Xuân Diệu
không biết vị trí của mình ở đâu. Đọc những bài ông giảng giải về các bậc thầy
nghề nghiệp mà Xuân Diệu đã viết, người ta luôn luôn bắt gặp một ngụ ý:
– Tôi không sao nói hết được
cái vi diệu mà cũng là cái cao cả của nghệ thuật! Các vị ấy là những tay thợ bậc
7, bậc 8 kia đấy! Vâng, đó là những người ở vào tột bậc nghề nghiệp, trong khi
một người như tôi, chỉ thuộc loại bậc 4, bậc 5. Vậy thì các anh hãy nghe tôi
nói đây, hỡi những tài năng lẫm chẫm bậc 1, bậc 2!
Dẫu sao, so với các nhà văn
nhà thơ đương thời Xuân Diệu là người đã đến với các tác giả cổ điển thành tâm
nhất, nhiệt tình nhất.
Mà đây là một việc làm hoàn
toàn có ý thức.
Rất hiểu tài năng phê bình ở
mình – tài năng đồng cảm phân tích đánh giá cái hay cái đẹp – ông hướng nó vào
một chỗ có thể tồn tại lâu bền:
Đối tượng so sánh của Xuân
Diệu trong trường hợp này là Chế Lan Viên.
Trên cương vị trưởng Tiểu ban
thơ, tác giả Điêu tàn những năm ấy thường vẫn phải đứng ra giới thiệu
anh em trẻ. Và có làm là có lầm lỡ. Một đôi khi Chế Lan Viên đã đứng ra phân
tích sáng tác của một hai cây bút mà chỉ một hai năm sau đã không ai nhớ! Xuân
Diệu không làm thế. Dù mang tiếng là cay nghiệt với lớp trẻ, ông cũng thây kệ.
Cái đích mà ông khao khát chiếm lĩnh là những giá trị còn mãi trong đời. Việc
tìm hiểu giới thiệu các tác giả cổ điển, với tất cả sự khó khăn có thể có của
nó, chừng nào đó, vẫn bảo đảm cho Xuân Diệu có điều kiện đến với cái đích đã đề
ra. Việc ông sốt sắng lao vào nó hết mình là kết quả của cả tình yêu lẫn một sự
tính toán khá chính xác.
Đến đây, chúng ta lại có dịp
đối diện với một khao khát thường trực mà cũng là một động cơ chi phối toàn bộ
con người Xuân Diệu, nó như nhiên liệu, tạo nên năng lượng cho mọi hoạt động của
cái cỗ máy tinh vi trong con người tác giả Thơ thơ, đó là khao khát vượt
lên trên thời gian, trở thành vĩnh cửu.
Là con người thiết tha với sự
sống, chỉ sợ bữa tiệc đời vui vẻ kia mình không có mặt, Xuân Diệu có thích sống
mãi trong đời, cũng là chuyện bình thường.
Huống chi, gần như suốt cuộc
đời đơn độc, ở ông vắng thiếu hẳn một ít niềm vui trần thế như trò chuyện với vợ,
chơi nghịch với con. Sự hướng về cái vĩnh cửu quả thật là cái phao lớn có thể
mang lại lẽ sống cho Xuân Diệu, và chắc chắn ông đã tìm thấy ở đó một nguồn nghị
lực to lớn.
Tuy nhiên, vấn đề sống chết
là cả một câu chuyện lớn và trong cái ham muốn phổ biến là trở thành bất tử,
con người ta cũng tự chứng tỏ nhân cách của mình, trình độ hiểu cuộc sống của
mình. Nếu như đã không biết sống cái ngày hôm nay, thì làm sao người ta có thể
biết sống trong vĩnh viễn?!
ở trên, chúng ta nói, do ham
sống Xuân Diệu rất sợ chết và nỗi sợ ấy của Xuân Diệu đôi khi bị đẩy đi quá đà,
đến chỗ quá quắt. Nên mỗi lần nghe Xuân Diệu lắc đầu le lưỡi, nghĩ đến cái chết,
học theo Trần Thanh Mại, tôi lại không khỏi nhớ tới những bà già nhà quê, lúc
chớm già họ cũng bo bo bỏm bỏm, tưởng như mình chết nay chết mai đến nơi rồi và
luôn chân luôn tay làm thêm, để dành dụm thêm mấy đồng, nhỡ lúc chết cần tới. Rồi
tôi lại nhớ đến sự bình tĩnh đối diện cái chết của mấy thi hào những người cùng
quê hương Hà Tĩnh với Xuân Diệu. Nguyễn Du khi ốm đau, không chịu uống thuốc,
chờ người nhà đến bảo thấy lạnh chưa, lạnh rồi hả, thế là nhắm mắt và không dặn
gì thêm. Hoặc như Nguyễn Công Trứ, lúc biết mình chết bảo người thân đốt luôn
cái nhà mình đang ở rồi chôn mình dưới đống tro.
Những mẩu chuyện như thế, hẳn
là Xuân Diệu biết hết song vẫn cứ cái cách riêng của mình mà nghĩ, cách riêng của
mình mà làm. Thật đúng như ai đó đã nói: “Cuộc lựa chọn của mỗi người với chính
mình cho chính mình, tạo nên một cái người ta gọi là số phận”.
Đầu năm 1984, Tuyển tập
Xuân Diệu, tập I (thơ) ra đời trong sự chờ đợi. Ai cũng mong tác giả sẽ gạn đục
khơi trong tạo ra cho mình một khuôn mặt khả ái. Nhưng không! Người tuyển quá
tham, lấy vào tuyển quá nhiều bài thơ dở. Khi tôi hỏi Vũ Quần Phương, tại sao lại
thế, thì được Vũ Quần Phương cho biết cố nhiên là Xuân Diệu có tham gia vào
công việc. Và khi có người bàn rằng nên làm cho tinh, thì Xuân Diệu bác đi:
“Các cậu buồn cười thật. Chưa phải lúc làm tuyển làm tiếc gì cả. Giống như khi
cháy nhà lúc này làm sao biết được cái gì hay với cái dở. Thấy bài nào bạn đọc
chưa biết hãy nhặt vào đấy, sau này lịch sử định liệu”.
ở đây, có cả sự biết điều
chân thành lẫn sự khôn ngoan hám lợi thô thiển.
Để công chăm lo dựng tạo
hình ảnh của mình với hậu thế là một việc mà không ít nhà thơ nhà văn lớn nghĩ
tới, song cái cách làm của Xuân Diệu trong nhiều trường hợp thật đã là “làm lấy
được”.
Vào những năm ấy, nhà phê
bình P. còn đang thao túng đời sống văn học. Ông sớm bắt tay làm những cuốn
sách mang tính chất tổng kết, giống như một thứ đúc bia tạc tượng các nhà văn lớn
đương thời. P. bảo với Xuân Diệu:
– Anh tặng sách tôi như mang
tiền gửi nhà băng, không có đi đâu mà thiệt.
Câu nói quả đã đánh trúng
tim đen Xuân Diệu. Bởi vậy mặc dầu trong thâm tâm không thích gì P., ông vẫn biếu
sách và ông giải thích phải qua P. để đến với các sinh viên đại học.
Thậm chí đây đó còn có thể
nói trong việc tìm cách đưa mình vào vĩnh cửu Xuân Diệu có lúc đã đi sát tới
cái chỗ như là… đẽo gọt đời mình cho vừa với lịch sử nữa. Ông sẵn sàng giấu diếm
một đôi điều, nếu điều ấy không có lợi cho tên tuổi ông, uy tín ông trong tương
lai.
Sự thực dụng của Xuân Diệu
trong việc này vốn có từ trước Cách mạng. Chúng ta đã biết hồi mới ra Hà Nội,
ông đã vô cùng tha thiết với việc tham gia vào nhóm Tự Lực. Thế nhưng, khi
nhóm này tan, thì tình nghĩa của ông với các bạn cũ cũng cạn luôn, ít ra là ở bề
ngoài ông làm cho người ta hiểu như vậy. Trong khi một người như Tú Mỡ nhiều
năm sau còn nhắc đến những kỷ niệm về Nhất Linh, Khái Hưng thì Xuân Diệu không
bao giờ đả động đến những ngày làm việc ở Phong hoá, Ngày nay.
Thơ thơ in ra lần đầu
(1938), bên cạnh hai chữ Xuân Diệu, còn chua rõ trong Tự Lực văn đoàn. Đến
khi in ra lần thứ hai, mấy chữ trong Tự Lực văn đoàn đã bị cạo hẳn.
Từ sau 1945, cái việc chia
tay với Tự Lực còn được làm một cách ráo riết hơn nữa.
Nhật ký kháng chiến của
Bùi Hiển (1946-47) còn ghi rõ vào những năm ấy, ở thành Vinh, Bùi Hiển có dịp gặp
gỡ đủ mặt văn nghệ sĩ từ Nguyễn Tuân đến Hồ Dzếnh. Lạ một điều, là vừa gặp, Bùi
Hiển đã được nghe Xuân Diệu phân bua: từ 1940 về trước, khi mới đến với văn
đàn, Xuân Diệu còn phải nương tựa vào đám Tự Lực để lấy tiếng. Chứ thực
ra có tình nghĩa gì đâu(*).
Chúng ta đều biết, so với
Hoài Thanh, Chế Lan Viên, là những người có lúc triệt để phủ nhận Thơ mới,
thì Xuân Diệu có phần phải chăng hơn. Với những đứa con tinh thần đã dứt ruột đẻ
ra, ông kiên trì bảo vệ đến cùng. Khi làm Tuyển tập của mình, ông đã lấy lại gần
hết cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió. Kể ra, lúc đó phải coi là
một hành động dũng cảm. Nhưng đây là một vài biểu hiện của thái độ phi lịch sử
khá khéo léo ở Xuân Diệu: Nếu khi khai sinh, nhiều bài thơ của ông có lời đề tặng
ở bên cạnh như Đi thuyền tặng Khái Hưng, Đây mùa thu tới tặng
Nhất Linh,Vô biên tặng Hoàng Đạo thì trong công trình mà ông đích thân
tham gia chuẩn bị làTuyển tập Xuân Diệu ở trên vừa nói, những dây mơ rễ má
đó, được ông xoá sạch.
Sợ liên luỵ vì những người bạn
cũ, trong các tài liệu chính thức, chẳng hạn, tiểu sử bản thân, đề ở đầu Tuyển
tập Xuân Diệu (mà đọc kỹ thấy đúng giọng ông, tức do ông tự tay viết ra),
nhà thơ giấu biệt chuyện mình từng là một thành viên của Tự Lực.
Và có lẽ chịu sự chi phối của
ông – những lời năn nỉ thiết tha – nên các tài liệu nghiên cứu về ông, các giáo
trình đại học viết về văn học trước 1945, hoặc trongTừ điển văn học in ra
1984, chuyện này cũng được lờ đi hoàn toàn.
Đúng là Xuân Diệu chưa kịp
viết hồi ký. Nhưng giá có viết nữa, thì chắc ông không định viết tiểu sử như
ông có thực, mà sẽ chỉ viết tiểu sử của ông như nó nên có, như ông muốn bạn đọc
biết.
Có cảm tưởng rằng, từ lúc
phát hiện ra cái công việc cuối cùng của mình trong đời, là tạc lại hình ảnh
mình trong tương lai, Xuân Diệu như có một cái đích. Ông băm bổ lao tới, và thấy
rằng làm bao nhiêu cũng là không đủ.
Nhưng không phải không còn
những con người khác trong Xuân Diệu.
Trong số những kỷ niệm trò
chuyện với Xuân Diệu, tôi nhớ một lần đứng với ông mấy phút trước cửa Hội Nhà
văn, cuối năm 1984. Theo chủ trương của nhà xuất bản Tác phẩm mới (nơi
tôi làm việc), tôi gợi ý để Xuân Diệu viết hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông từ
chối. Ông cho rằng còn lâu mới đến lúc ấy, trước mắt ông còn nhiều việc phải
làm và cần làm ngay. Chúng tôi nói lan man sang một ít chuyện khác, và có lúc,
tự nhiên trở lại với đề nghị viết hồi ký của mình, tôi buột miệng:
– Tưởng như Xuân Diệu đã viết
rất nhiều nhưng còn bao nhiêu chỗ, chính Xuân Diệu chưa khai thác mình!
Lần đầu tiên, tôi thấy ở
Xuân Diệu có một thoáng buồn, một chút gì như là chạnh lòng. Chẳng lẽ là như thế
chăng, một người đã chịu viết như ông, lại còn nhiều mảng trắng, nhiều chỗ chưa
viết? Như thế chẳng là buồn lắm sao?
Nhưng tôi đoán rằng với Xuân
Diệu phút chạnh lòng ấy lại nhanh chóng quên đi, và ông lại hồn nhiên trở về với
cái phương hướng lâu nay ông đã theo đuổi.
Khi Xuân Diệu còn sống, tôi
biết rằng giữa ông với Nguyễn Tuân có nhiều sự khác biệt, nên hai “cụ” không ưa
nhau. Nhưng muốn hay không muốn, đấy vẫn là hai đỉnh cao trong văn học. Từ thuở
chưa về công tác ở Hội Nhà văn, qua báo chí, tôi đã thấy nhiều chuyến đi do Hội
tổ chức, có cả Nguyễn Tuân lẫn Xuân Diệu trong một đoàn. Cả lần đi tuyến lửa Quảng
Bình 1965, lẫn lần đi thăm Liên Xô, cũng khoảng cuối năm đó. Có dịp, tôi buột
miệng hỏi Nguyễn Tuân, và được cụ Nguyễn trả lời:
– Thì ghét của nào trời trao
của ấy.
Khoảng năm 1982, Xuân Diệu vừa
đi Pháp về, đang nói chuyện trên phòng họp, thì ở nhà ngang, Nguyễn Tuân rỉ tai
tôi :
– Đang nói rằng chuyến đi
thành công lắm, có nói thế bận sau người ta mới cho đi nữa!
ấy vậy mà, khi Xuân Diệu mất,
tôi nhớ Nguyễn Tuân đã thốt lên một câu từ tận đáy lòng:
– Xuân Diệu mất là mang cả một
quãng đời của tôi đi theo!
Quãng đời mà Nguyễn Tuân nói
ở đây, cũng là một chặng đường văn nghệ Việt Nam.
Các ông đều là những người ở
lại với lịch sử, dù đó không hẳn là cái lịch sử như các ông đã nghĩ.
Vương Trí Nhàn









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét