Sinh thời, Phạm Duy chưa từng gặp Bích Khê. Vậy mà, nhạc sĩ
tài hoa này cứ khăng khăng xem thi sĩ bạc mệnh ấy là tâm giao. Thế mới thấy,
tri kỷ đôi khi không hẳn cần đến một tiếng đàn.
Ảnh: Đình Dzũ
|
Chào nhạc sĩ Phạm Duy. Dị khúc Bích Khê - tên mà ông đặt cho
CD mới nhất của mình có ý nghĩa gì ạ?
- Tôi chọn ra 10 bài thơ của thi sĩ Bích Khê để phổ thành nhạc
và đặt tên là Dị khúc Bích Khê. “Dị” ở đây vừa mang nghĩa bình dị, vừa là quái
dị. Có rất nhiều bài thơ của Bích Khê làm người ta tưởng có gì đó quái dị,
nhưng thật ra nó rất bình dị và ngược lại. Bích Khê làm thơ theo lối gán ghép,
tượng trưng nên phải tinh tế lắm mới hiểu được ý thơ của ông ấy. Thơ Bích Khê
nói nhiều đến tính dục. Hơn bảy chục năm trước mà dám nói về những điều bị coi
là cấm kỵ như thế, Bích Khê không “dị” chứ là gì nữa?
Sao ông tự tin cho rằng mình hiểu Bích Khê đến vậy?
- Từ trẻ tôi đã mê Bích Khê rồi. Tôi thương những con người
sinh ra trên đời bị thuyết “tài mệnh tương đố” đeo bám như: Nguyễn Du, Hàn Mặc
Tử, Bích Khê... Riêng Bích Khê, tôi thích cách ông nói về chuyện ân ái: “Vàng
sao nằm im trên hoa gầy”. Và tôi nhận thấy, ông xem việc bước vào cõi chết giống
như được lên tới thiên đường vậy.
Mê là một chuyện, hiểu lại là chuyện khác. Hay ông nhận thấy
giữa ông và Bích Khê có điểm tương đồng?
- Cũng có thể gọi đó là thần giao cách cảm. Thứ nhất là việc
Bích Khê dám nói về vấn đề xác thịt. Mấy chục năm sau thời Bích Khê, có một Phạm
Duy cũng dám nói về vấn đề ấy. Kế đến, cuộc đời Bích Khê gắn liền với cái giường
bệnh, nhưng ông ấy đã viết ra bài Sầu lãng tử. Điều đó chứng tỏ Bích Khê luôn
khao khát được đi. Còn tôi, tôi đi suốt đời.
Sau Minh họa truyện Kiều, Trường ca Hàn Mặc Tử là Dị khúc
Bích Khê, hình như thời gian gần đây ông chú tâm toàn bộ vào việc phổ nhạc cho
thơ?
- Nếu muốn viết về quê hương đất nước, tôi phải đi đây đó. Nếu
muốn viết về tình yêu, tôi phải có đàn bà. Bây giờ tôi đi không được, mà cũng
chẳng có người đàn bà nào bên cạnh, nên tôi tập trung phổ nhạc cho thơ.
Ông có thể diễn giải rõ điểm khác biệt của Dị khúc Bích Khê
so với những tác phẩm trước không ạ?
- Dị khúc Bích Khê là cột mốc tôi vượt được chính mình. Lúc
trước tôi thường làm nhạc theo lối ngũ cung, giản dị lắm. Tới Dị khúc Bích Khê
tôi làm theo lối thất cung, giai điệu của nó có vẻ u hóa hơn. Mặc dù vẫn sử dụng
nhạc cụ dân tộc như sáo, đàn tranh… này kia, nhưng những âm giai Tây phương đa
dụng làm nhạc của tôi khác đi, âm vực cũng rộng hơn. Một điểm khác biệt lớn nữa
là trong Dị khúc Bích Khê, phần nhạc lấn át phần lời.
Những điểm khác biệt đó đang lôi cuốn ông?
- Thật ra trước đây tôi từng làm vài bài nhạc theo lối thất
cung, ví dụ bài Đường chiều lá rụng. Ai cũng hiểu, số ít thì không thể gây được
phong trào. Hoàn thành Dị khúc Bích Khê, tôi có cảm giác nhiều tác phẩm trước của
mình giống như loại tranh mộc bản, tranh tàu hay loại tranh trắng - đen đơn giản.
Những cái mới, nó chính là thứ tranh rực rỡ của Paul Cézanne, của Pierre
Auguste Renoir, của hội họa đương thời.
Nói về mới - cũ, với tôi, Dị khúc Bích Khê là mới. Còn việc
người khác có thấy nó mới hay không thì tôi chịu chết!
Phải chăng vì sự mới ấy mà nhiều người nhận định, nhạc của Phạm
Duy ngày càng kén người nghe?
- Quy luật đúng thế thôi! Trên hành trình của tôi, tôi luôn
tìm kiếm cái mới. Vả lại, nhạc của tôi kén người hát hay kén người nghe thì tôi
cũng chịu. Tôi có sự tự do của người nghệ sĩ, không gì sai khiến được.
Công việc sáng tác của ông ở tuổi 92 có gì khác so với thời
trai trẻ?
- Chẳng khác gì cả. Tôi vẫn là tôi, một kẻ lãng tử. Tôi viết
nhạc không có chương trình, thích thì làm thôi. Bài nào làm xong mà thấy dở là
tôi bỏ ngay.
* Ngoài viết nhạc, ông còn dành thời gian vào công việc nào
khác không?
- Tôi đang viết một cuốn sách, được hơn nửa rồi. Cuốn sách là
tập hợp giai thoại về những bài hát của tôi: Làm ở đâu, vì ai mà làm…
* Khi một người bắt đầu viết hồi ký hay sắp xếp gọn ghẽ lại
những thứ đã qua, đó có phải chính là lúc họ chuẩn bị đón nhận cuộc ra đi?
- Chẳng thể có chuyện một người 92 tuổi mà chưa từng nghĩ qua
cái chết. Hôm nay, tôi đang yếu đi rất nhiều. Nhưng nếu còn đủ hơi sức thì tôi
vẫn muốn viết nhạc.
Xin thứ lỗi, vậy nếu phải chết, ông muốn cái chết của mình sẽ
ra sao?
- Chết một cách tự nhiên. Tôi nghĩ, tôi chết cũng như sống
thôi, vì gia tài để lại của tôi nhiều lắm. Một trăm năm nữa, nếu người ta vẫn
hát bài Tình ca với câu Tôi yêu tiếng nước tôi, 999 bài còn lại, người ta quên
cũng được.
Và, mồ của tôi sẽ nằm trên môi những người hát nhạc Phạm Duy.
Bích Khê (1916-1946)
''... là một trong những thi sĩ thuộc trường
phái tượng trưng xuất hiện ở Việt Nam vào những năm ba mươi, bên cạnh Nguyễn
Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử... Tập thơ Tinh Huyết của ông đã làm rúng
động văn đàn lúc bấy giờ khiến thi sĩ họ Hàn phải gọi đó là “những đóa hoa thần
dị”. Trước hết, tôi thấy thơ Bích Khê là sự giao lưu giữa thơ cổ và thơ hiện
đại, giữa kiến trúc, nghệ thuật, âm nhạc và hội họa. Đặc biệt, trong lối tạo
hình, ông sử dụng một phương pháp mới: Phương pháp cách gián. Sau Hồ Xuân
Hương, có thể nói Bích Khê là người tiêu biểu trong việc xưng tụng xác thịt
và cái đẹp lõa thể. Ông khác những thi nhân cùng thời ở chỗ, ông xem cõi âm
ty không phải là địa ngục mà là thiên đường. Đối với Bích Khê, cái chết chính
là giới hạn cuối cùng để thăng hoa trở về sự sống cùng tâm hồn chưa từng hết
cuồng say. Thêm điểm nổi bật nữa là thơ Bích Khê dựa trên âm bằng nên chất nhạc
trong thơ ông đổi hẳn cung bậc, không còn giống thơ cổ điển, mà lại khác biệt
thơ mới.
Bích Khê có trên 60 bài thơ ca ngợi những mảng đặc sắc của
đời sống. Dường như không có bất kỳ câu chuyện gì để tôi soạn nhạc ngoài những
hình tượng khác thường. Vào một ngày mùa xuân năm nay, tôi đã hoàn tất 9 bài,
cộng với 1 bài đã phổ từ năm 1969. Tất cả nằm trong một hợp khúc có tên gọi Dị
khúc Bích Khê, bao gồm: Nghê thường, Sầu lãng tử, Huế đa tình, Tì bà, Thi vị,
Mơ tiên…”.
Nhạc sĩ Phạm Duy
|
Nguyễn Khắc Ngân Vi





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét