Dương Thiệu Tước ‘Tiếng xưa’ của chúng ta
Thông thường, quá khứ của một
dân tộc được ghi lại bằng những trang sử của dân tộc ấy. Nhưng có một điều chắc
chắn là những trang sử không thể nào là đại diện đầy đủ quá khứ của một dân tộc,
vì quá khứ ấy không phải chỉ gồm những triều đại, những trận đánh và những biến
động lớn lao. Quá khứ của một dân tộc một phần rất lớn nằm trong ký ức tình cảm
của tập thể hay của cá nhân, rất tinh tế, không cụ thể, nhưng luôn luôn có mặt
và chi phối cuộc sống của chúng ta. Có những tình cảm lưu truyền từ đời này qua
đời kia, mỗi chúng ta đều mang chúng trong lòng. Niềm vui đầy cảm khái của thời
khắc giao thừa đón năm mới, hay nỗi buồn khi đối diện với cảnh “tiết tháng bảy
mưa dầm sùi sụt” chẳng hạn, là những tình cảm gần như phổ quát cho mỗi con người
Việt Nam từ thời xa xưa cho đến bây giờ.Nghệ sĩ là người có khả năng cảm nhận một cách nhạy bén những vốn liếng tình cảm truyền lại từ quá khứ ấy, và diễn đạt bằng nhiều hình thức khác nhau, giúp chúng ta qua tác phẩm của họ nhận biết những điều, hình như vẫn có sẵn nơi mình, nhưng tự mình thì không sống trọn vẹn được với chúng bằng khi thưởng thức những gì người nghệ sĩ sáng tác.
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là
người có biệt tài, mà tôi cho là cao nhất, qua tác phẩm âm nhạc của mình, khơi
dậy cái gia tài quá khứ tiềm ẩn ấy. Một nhạc phẩm của ông có tên là Tiếng Xưa,
và chúng tôi thấy cái tên ấy có thể đại diện cho tâm hồn và sự rung cảm của ông
đối với những tâm tình của quá khứ, nên đã mạn phép dùng Tiếng Xưa như là tên gọi
chung cho bao nỗi hoài cảm sâu xa, rộng lớn, man mác mà ông đã truyền vào tâm hồn
chúng ta qua các tác phẩm của ông.
Mời nghe TIẾNG XƯA - Thái Thanh - YouTube
Dương Thiệu Tước là một tài
năng âm nhạc lớn của Việt Nam. Nhưng điều lớn lao nhất nơi ông, theo tôi, là đã
truyền cho chúng ta cả một mảng tình cảm vẫn tiềm tàng trong tâm thức Việt Nam
trải nhiều thế hệ. Những đặc trưng ấy, người ta thường gọi là tính cách “cổ điển”
của một dân tộc, thỉnh thoảng được tài năng của một thế hệ nào đấy cảm nhận được
và diễn đạt bằng nhạc, bằng họa, bằng thơ, văn khiến chúng ta bàng hoàng vì như
thể chúng ta gặp lại chính mình, hoặc tổ tiên mình. Chúng tôi nhận thấy những
tác phẩm thành công nhất của Dương Thiệu Tước đều đem đến, hay nói cách khác, đều
khơi dậy được những nỗi niềm xưa cũ trong tâm hồn chúng ta, như là những châu
báu lâu nay vẫn chìm khuất đâu đó nay được khai quật lên vậy.
Hãy nói về bản Tiếng Xưa. Đó
là cảm nhận của một nỗi buồn, nhân đối diện với thời khắc hoàng hôn của một buổi
chiều thu. Kể ra trong chúng ta ai ở trong cảnh “hoàng hôn lá reo bên thềm,” và
“hoàng hôn tơi bời lá thu sương mờ” thì cũng có thể cảm thấy một nỗi buồn man
mác không cỗi rễ, không biết tại sao lại buồn. Nhưng với nhạc sĩ thì khác, ông
chỉ nói qua khung cảnh mà mình đang đối diện trong một câu ngắn ngủi, để làm
cái nền cho dòng tình cảm tuông trào. Bao nhiêu là cảnh là tình của thời xưa
trôi về, nào là “ánh trăng xưa” khiến mơ đến khúc Nghê Thường, nào là “thời liệt
oanh” của một thời nào nay đã mất. Chúng ta hoàn toàn không biết ánh trăng xưa
đó là trong hoàn cảnh nào, thời liệt oanh đó là của ai và tại sao mà nhớ tiếc,
những điều đó hầu như chẳng cần thiết, chỉ biết tâm hồn của ta bỗng dưng đồng cảm
trọn vẹn với tác giả. Chỉ cần gợi các yếu tố đó lên là hầu như ai cũng thấy mình
có phần trong đó, dù mình có trong ký ức một đêm trăng nào đặc biệt hay không,
và có thể suốt đời mình chẳng bao giờ có một thời liệt oanh nào. Không cần, những
hình ảnh ấy chỉ là những biểu tượng, đã nằm trong một cái kho chung của một nền
văn hóa, chỉ cần nói đến, dĩ nhiên một cách nghệ thuật, là đã có thể “khơi mạch
sầu” một cách bí ẩn nơi thâm tâm chúng ta. Cũng vậy, lòng tiếc nuối sao có tài
mà lỡ làng lận đận, và một mỹ nhân có tóc mây vương, có dáng liễu mơ màng giữa
một làn khói hương bay dịu dàng cũng chỉ là những tượng trưng rất điển hình của
một câu chuyện nào đó của thời xưa. Tất cả có thể là tâm sự rất riêng của một
ai đó, đồng thời cũng có thể rất chung đến nỗi thành như một loại điển tích,
nhưng đều có khả năng đánh động lòng ta. Lý do là vì chúng ta đã cùng tham gia
vào cái vốn liếng văn hóa của ông cha để lại, trong đó có chứa đựng tất cả, nào
chiều thu, nào nỗi nhớ tiếc một thời liệt oanh, nào nỗi bi phẫn có tài mà sao cứ
lỡ làng, nào ánh trăng, nào làn tóc…, chúng ta có sẵn bao nhiêu thứ, nay chỉ nhờ
nhạc sĩ mang ra mời chúng ta cùng thưởng thức và cùng ngậm ngùi cho các nỗi niềm
tuy của một thời nhưng lại đã trở thành bất biến với thời gian.
Bài Thuyền Mơ chỉ là một bài
tả cảnh sông nước của một vùng nhưng đối với tôi là một hình ảnh điển hình vô
cùng xuất sắc, vô cùng sâu đậm của quê hương Việt Nam, dĩ nhiên là quê hương của
một thời thanh bình đã xa, và cũng ghi dấu như một cái gì biểu trưng bất biến.
Hãy đi theo con thuyền mơ:
Buồm in bóng trên ngàn dâu
xanh
Núi lam khuất sau ngàn cây
Như bức tranh chiều nắng tơ
xây mộng vàng.
Làng ai bên dòng sông vắng
Kề bên núi lam miền Trường
Sơn
Nhà ai khói tỏa mây mờ dâng
niềm thương nhớ
Chìm theo mây nước bao ước
mơ.
Qua bức tranh này ta có thể
có ý niệm về mấy chữ “non sông gấm vóc,” vì bức tranh ấy đẹp như gấm như vóc. Nếu
bài thơ Tràng Giang của Huy Cận tả một nỗi sầu rộng lớn bằng bức tranh sông nước
ở vùng đồng bằng thì con Thuyền Mơ đang lênh đênh trong khung cảnh của vùng cận
sơn, có lẽ là ở vùng bắc Trung phần. Trước cảnh “sông dài trời rộng” trong ánh
sáng nhạt nhòa của buổi chiều đang đi vào hoàng hôn, Huy Cận chỉ nghe mơ hồ
“đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” thì Dương Thiệu Tước nhìn thấy một phong cảnh
nhiều màu sắc, có con buồm trắng in bóng trên ngàn dâu xanh, có núi lam khuất
sau ngàn cây trong buổi chiều nắng tơ xây mộng vàng, và cụ thể hơn, tác giả còn
thấy một ngôi làng xa xa bên chân núi, và ống kính còn kéo vào cận cảnh một
ngôi nhà giữa khói tỏa mây mờ. Nhưng có một điểm chung của hai tác giả là thuyền,
sông nước, và buổi chiều đều mang một nỗi buồn mang mang rộng lớn như đó chính
là linh hồn sẵn có tự bao giờ của nước non, mà mỗi tác giả diễn đạt ra một
cách. Với Thuyền Mơ trôi trên con sông vùng kề cận dãy Trường Sơn, chúng ta lại
chạm được vào một kho báu tiềm tàng của tâm hồn Việt Nam. Người nghệ sĩ lớn đã
cảm hộ cho chúng ta, nói hộ cho chúng ta những gì tàng chứa trong cảnh trí non
sông và lòng người, không biết từ đời kiếp nào.
Có lẽ nỗi buồn không phải là
mục tiêu sáng tác của Dương Thiệu Tước. Nó chỉ là kết quả. Ông chỉ nắm bắt những
cảnh trí, và từ cảnh sinh tình, ông bộc lộ ra những tâm tình bất biến của truyền
thống tình cảm Việt Nam. Áng Mây Chiều là một khơi nguồn ký ức của một cuộc
chia xa trong thời chinh chiến của một kẻ “ra đi khắp bốn phương, nơi biên
cương chốn sa trường” với một hình bóng “trong sương thu bóng ai ngồi nhớ nhung
hoài tình xưa.” Đó có thể là một tâm sự riêng của một người vào một thời nhất định,
nhưng cũng có thể là một điển hình của lịch sử chinh chiến xưa nay.
Mời nghe Áng Mây Chiều - Quỳnh Giao - YouTube
Nhưng Bóng Chiều Xưa mới là
một bản tình ca tuyệt vời, nói về một mối tình say đắm nay không còn nữa.Thuần túy là tình yêu, nhưng cũng mang đặc điểm chung là mối tình say đắm đó đã tan rồi, chỉ còn lại nhớ tiếc. Nếu nó còn, và vẫn tiếp tục cường độ đắm say hạnh phúc như từ đầu thì tác giả chắc không mất công sáng tác bản nhạc làm gì. Sáng tác vì mối tình chỉ còn tồn tại cùng với một bóng chiều xưa, nghĩa là chỉ tồn tại trong ký ức. Khi một trong hai người đã từng yêu nhau về thăm nơi cũ đã từng chứng kiến tình yêu của họ
Một chiều gió mưa
Anh về thăm chốn xưa
Thì chỉ đối diện với
Non nước u buồn
Nào đâu bóng cố nhân
Lòng xót xa tình xưa.
Mời nghe BÓNG CHIỀU XƯA - HỌA MI - YouTube
Trong sáng tác của Dương Thiệu
Tước chúng ta luôn luôn gặp nỗi tiếc nhớ những gì đã qua. Rõ ràng tác giả có tấm
lòng hoài cựu rất mạnh. Trong văn học Việt Nam chúng ta có một tác phẩm ưu tú
chỉ viết về quá khứ, đó là cuốn Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân.
Tác giả đứng trước luồng
sóng Âu hóa đang tràn vào xã hội Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ
20, đã vội ghi lại các hình ảnh đại diện cho sinh hoạt và tâm tư Việt Nam
một thời trước đó, trước khi chúng bị xóa nhòa vì làn sóng không cưỡng lại được
của một nền văn minh mới mẻ. Tôi có cảm tưởng Dương Thiệu Tước cũng làm công việc
tương tự, trong lãnh vực âm nhạc, khi cố tình làm sống lại những gì đang mất
trong một hoài niệm miên man. Người nghệ sĩ lớn có mối tiên cảm trước mọi người
về một mối de dọa nào đấy đối với đời sống của dân tộc, nên ra sức lưu giữ những
gì họ thấy có nguy cơ mai một đi. Nếu Nguyễn Tuân rõ ràng thấy trước nền văn
minh Tây phương rồi sẽ ảnh hưởng rất nhiều lên nếp sống nếp nghĩ nếp cảm cố hữu
của dân tộc mình nên thu thập và viết lại những gì đã một thời chỉ còn vang
bóng, thì Dương Thiệu Tước dường như tiên liệu những tình cảm rất đẹp của nỗi u
hoài rồi có ngày sẽ bị nạn lớn nên từ năm 1940 đã viết Tiếng Xưa như một tuyên
ngôn mở đầu, rồi liên tiếp trong hơn một thập niên đã sáng tác Đêm Tàn Bến Ngự,
Thuyền Mơ, Áng Mây Chiều, Bóng Chiều Xưa, Ngọc Lan… như một cố gắng lưu giữ
càng nhiều vẻ đẹp xưa càng tốt. Tiên cảm ấy rất đúng. Những tình cảm sầu nhớ buồn bã bị lên án như là những thứ
không được tồn tại trong đời sống. Đó là một xã hội mà văn nghệ
chỉ được nói đến niềm vui mà không được nhắc đến nỗi buồn, phải luôn luôn thúc giục đánh nhau và sản xuất chứ không được mơ mộng. Khi nền văn nghệ hiện thực ấy
phải lùi bước trên đất nước ta cách đây vài chục năm vì tính chất phi nhân bản
của nó thì nhiều văn nghệ sĩ mới sực nhớ, à thì ra con người còn có nỗi
buồn, niềm thao thức, tiếc nhớ. Những gì trước đây bị lên án là ủy mị sướt mướt
và cấm đoán thì chính là một phần của đời sống của con người, không thiếu được,
nếu không muốn biến thành con người tật nguyền.
Dĩ nhiên tình cảm Dương Thiệu
Tước không phải chỉ là hoài cảm. Những tác phẩm như Bến Xuân Xanh, Hội Hoa
Đăng, Ngàn Thông Bên Suối v.v... nắm bắt và thể hiện những niềm vui, vẻ đẹp của
thiên nhiên và hội hè bằng những nét nhạc trong sáng, hào hứng. Thế nhưng điều
quan trọng Dương Thiệu Tước vẫn là người đã lưu giữ những “tiếng xưa” lại cho
chúng ta. Tình cảm của ông trang nhã, ngôn từ của ông đẹp một cách cổ kính, và
nhạc của ông cao sang. Sự nghiệp sáng tác của ông là một di sản quý báu mà những
thế hệ kế tiếp ông phải biết nâng niu quý trọng. Di sản đó đã làm giàu có cho
tâm hồn chúng ta, và do đó cũng đóng góp rất nhiều cho nền văn hóa Việt Nam.
Tháng Bảy, 2008


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét