Những câu thơ nguyên mùi rơm tươi
Các nhà phê bình và bạn bè đã nói nhiều về thơ Hữu Thỉnh, khâm phục mạch
dài hùng tráng của trường ca, cái sâu lắng của thơ triết luận, sự mê đắm, mơ mộng
của thơ tình yêu: “Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím...”. Nhưng
theo tôi từ thơ ngắn đến trường ca, từ thế sự đến trữ tình, giọng điệu xuyên suốt
thơ Hữu Thỉnh là mạch cảm xúc trong trẻo, ấm áp, tình yêu tinh khiết của con
người vùng đất cổ trung du Bắc Bộ.
Nhắc tới Hữu Thỉnh tôi luôn
nghĩ tới một câu thơ rất riêng của ông:
Tôi bước vào thành phố
Với nguyên mùi rơm tươi
Mùi rơm tươi trong khiết ấy
ám vào tuổi thơ những đứa con của đồng ruộng. Ta vác súng đi đánh giặc cũng
chính vì cây lúa, củ khoai, bắp ngô trên ruộng bãi “Chính khẩu súng đã làm ta
tươi tốt”. Hồn thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh là ở đây, đó là bản ngã và cứu cánh,
chỗ dựa tinh thần cho những thăng trầm, được mất của đời mình, đời thơ.
Các nhà phê bình và bạn
bè đã nói nhiều về thơ Hữu Thỉnh, khâm phục mạch dài hùng tráng của trường ca,
cái sâu lắng của thơ triết luận, sự mê đắm, mơ mộng của thơ tình yêu: “Em không
phải là chiều mà nhuộm anh đến tím...”. Nhưng theo tôi từ thơ ngắn đến trường
ca, từ thế sự đến trữ tình, giọng điệu xuyên suốt thơ Hữu Thỉnh là mạch cảm xúc
trong trẻo, ấm áp, tình yêu tinh khiết của con người vùng đất cổ trung du Bắc Bộ.
Đọc thơ Hữu Thỉnh dù ở thể loại nào, đề tài nào, dù viết ở chiến trường, ở phố
thị, ở biển đảo ta vẫn gặp bóng dáng miền quê thân thuộc đó được tái hiện lộng
lẫy, ma mị, đằm thắm. Những con người, sự vật, âm thanh không còn đơn giản, mộc
mạc, xếp đặt như ở thơ Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ xưa mà đã được phổ cảm xúc mới với
tâm thế mới của thời đại. Nhà thơ Ngô Thế Oanh từng nhận xét: “Câu chữ nhà
thơ Hữu Thỉnh dùng rất dân gian Bắc Bộ, chắt từ ca dao, tục ngữ, buồn như điệu
hát xoan, tình tứ như khúc quan họ. Thuần Việt nhưng mang một hệ tư tưởng của đất
nước độc lập, tự chủ, hòa nhập toàn cầu”, một nhận xét thật tinh tế.
Cảnh và người làng quê trung du Bắc Bộ được Hữu Thỉnh thổi hồn với nhiều hình ảnh đẹp, câu chữ lung linh, xếp tầng những hàm nghĩa mới. Những câu thơ vừa mơ mộng sương khói cổ điển, vừa ẩn chứa hình tượng, cấu tứ hiện đại. Dòng sông Thương đã chảy vào thơ bao thi nhân chảy vào thơ Hữu Thỉnh với một cảm nhận riêng:
Nước vẫn nước đôi dòng
Chiều vẫn chiều lưỡi hái
Những gì sông muốn nói
Với Hữu Thỉnh mùa xuân không bắt đầu ở hoa lá, hội hè đình đám, trai thanh gái tú, mà bắt đầu ở cơn mưa phùn lất phất trên mảnh ruộng lúa chiêm đang hồ hởi lên xanh giữa đôi bờ cỏ cũng đang xanh thả sức:
Mùa xuân hẳn bắt đầu
Trên quê mình lất phất
Mấp máy lúa chiêm lên
Cỏ đôi bờ thả sức
Đọc thơ Hữu Thỉnh, tôi miên man giữa cảnh sắc trung du, những sườn đồi cọ xòe lá, vườn chè mát ánh trăng thanh, triền sông mùa cạn, dòng chảy lơ thơ biêng biếc trong những câu thơ tài hoa:
Sông gầy đê doãi chân ra
Mặt trời ngủ sớm, tiếng gà dậy trưa?...
Sóng miên man hao hụt cả dòng sông…
Cuối năm rơm rạ nằm mơ ngủ
Sông nhớ người xưa thưa thớt trôi
Những câu thơ bùa ngải, từ dùng bất ngờ, tạo thành sức hút mê đắm người đọc, biểu hiện tài năng cùng với vốn sống phong phú, óc quan sát tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ. Câu thơ như bức tranh sơn dầu vẽ đụn rơm vàng bên cây cau soi bóng dòng sông nước lặng tờ, cao cao có vầng trăng mỏng mảnh. Thơ có họa, họa ngân thành thơ là vậy.
Mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh là mùa thu của miền trung du quê ông. Không lẫn vào đâu được cái màu trong xanh, lững lờ trôi của sông Cầu, sông Thương, dáng núi mờ biếc xa xa của Tam Đảo, sườn đồi nghiêng nghiêng mảnh vườn lốm đốm lá vàng bay. Những ngôi nhà mái rạ, mái cọ vương vít sợi khói lam chiều nằm thảnh thơi dưới vòm tre ngà. Cái giàn mướp trước sân loe xoe hoa vàng ẩn trong một làn sương mỏng tang khiến con tim sững sờ:
Sương mỏng thế ai mà bình tĩnh được
Lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu
(Bầu trời trên giàn mướp)
Bài thơ “Sang thu” rất nổi tiếng của Hữu Thỉnh, đã được đưa vào sách giáo khoa văn học, là kết tinh cảm xúc, hình tượng, chi tiết, ngôn ngữ thơ của Hữu Thỉnh. Dòng sông, vòm trời, đám mây nhẹ nhõm, ngọn gió se se, hương ổi thơm thơm, cánh chim vội vội như hư như thực trong không gian chớm lạnh của mùa thu Bắc bộ ùa vào tâm hồn nhạy cảm nhà thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Gió chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Những động từ, trạng từ, tính từ: phả, chùng chình, dềnh dàng, vội vã, vắt, vơi, đứng tuổi… được dùng thật tinh tế, điệu nghệ, mới mẻ, bắt đầu bất ngờ và dừng lại cũng quá bất ngờ, đóng đấy mà mở đấy, câu chữ nhè nhẹ mà gợi mở mênh mông. Đây là một trong những bài thơ hay nhất về mùa thu trong thơ Việt Nam.
Hữu Thỉnh không chỉ giỏi về chi tiết, đắt về câu chữ, mới về hình tượng, điều quan trọng là ông đã phổ vào thiên nhiên tâm thế con người, lấy thiên nhiên làm bà đỡ cho những tư tưởng, chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc:
Xuân về chưa đủ lá
Mưa ẩm cả hồn anh
(Tám câu)
Mây đen đi đóng Cổng trời
Lá non mong thấy mặt người sau mưa
(Em)
Hoặc:
Anh đi tìm một ngày cau ấp bẹ
Hoa ngủ mê trong lá mơ hồ
(Im lặng)
Đâu còn cảnh vật nữa, những câu thơ đôn hậu man mác một niềm vui, một nỗi buồn của một phận người.
Ngoài đời, Hữu Thỉnh có vẻ luôn ở thế “Động” của người có một núi côngviệc lôi kéo. Nhưng đọc thơ Hữu Thỉnh tôi lại thấy cái “Tĩnh” của tâm hồn nhà thơ. Ông như chiếc giếng khơi ở đầu làng quê Trung du Bắc bộ, mạch nguồn luôn trong vắt, mát lành:
Mặc ai xô dạt mỗi ngày
Múc đau lòng giếng, vẫn đầy sao hôm
(Những người đi lại phía tôi)
Đọc thơ HữuThỉnh tôi cảm thấy như khi cầm bút, hay ngồi bên bàn phím máy tính, luôn có một ma lực, bùa yêu hút nhà thơ về phía mặt trời trung du quê ông. Nơi đó giúp ông khám phá, sáng tạo thi tứ, câu chữ, hình tượng mới cho thơ. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn từng viết: “Thơ Hữu Thỉnh đi vào lòng người chính vì nó thấm đẫm tâm hồn Việt, tràn đầy chi tiết Việt trong đời sống làng quê Việt Nam”. Hữu Thỉnh là một nhà thơ từ chân quê đi thẳng tới hiện đại. Những câu thơ xa rộng, trí tuệ “nguyên mùi rơm tươi” của ông có đóng góp rất quan trọng cho thơ ca Việt Nam đương đại.
Cảnh và người làng quê trung du Bắc Bộ được Hữu Thỉnh thổi hồn với nhiều hình ảnh đẹp, câu chữ lung linh, xếp tầng những hàm nghĩa mới. Những câu thơ vừa mơ mộng sương khói cổ điển, vừa ẩn chứa hình tượng, cấu tứ hiện đại. Dòng sông Thương đã chảy vào thơ bao thi nhân chảy vào thơ Hữu Thỉnh với một cảm nhận riêng:
Nước vẫn nước đôi dòng
Chiều vẫn chiều lưỡi hái
Những gì sông muốn nói
Với Hữu Thỉnh mùa xuân không bắt đầu ở hoa lá, hội hè đình đám, trai thanh gái tú, mà bắt đầu ở cơn mưa phùn lất phất trên mảnh ruộng lúa chiêm đang hồ hởi lên xanh giữa đôi bờ cỏ cũng đang xanh thả sức:
Mùa xuân hẳn bắt đầu
Trên quê mình lất phất
Mấp máy lúa chiêm lên
Cỏ đôi bờ thả sức
Đọc thơ Hữu Thỉnh, tôi miên man giữa cảnh sắc trung du, những sườn đồi cọ xòe lá, vườn chè mát ánh trăng thanh, triền sông mùa cạn, dòng chảy lơ thơ biêng biếc trong những câu thơ tài hoa:
Sông gầy đê doãi chân ra
Mặt trời ngủ sớm, tiếng gà dậy trưa?...
Sóng miên man hao hụt cả dòng sông…
Cuối năm rơm rạ nằm mơ ngủ
Sông nhớ người xưa thưa thớt trôi
Những câu thơ bùa ngải, từ dùng bất ngờ, tạo thành sức hút mê đắm người đọc, biểu hiện tài năng cùng với vốn sống phong phú, óc quan sát tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ. Câu thơ như bức tranh sơn dầu vẽ đụn rơm vàng bên cây cau soi bóng dòng sông nước lặng tờ, cao cao có vầng trăng mỏng mảnh. Thơ có họa, họa ngân thành thơ là vậy.
Mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh là mùa thu của miền trung du quê ông. Không lẫn vào đâu được cái màu trong xanh, lững lờ trôi của sông Cầu, sông Thương, dáng núi mờ biếc xa xa của Tam Đảo, sườn đồi nghiêng nghiêng mảnh vườn lốm đốm lá vàng bay. Những ngôi nhà mái rạ, mái cọ vương vít sợi khói lam chiều nằm thảnh thơi dưới vòm tre ngà. Cái giàn mướp trước sân loe xoe hoa vàng ẩn trong một làn sương mỏng tang khiến con tim sững sờ:
Sương mỏng thế ai mà bình tĩnh được
Lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu
(Bầu trời trên giàn mướp)
Bài thơ “Sang thu” rất nổi tiếng của Hữu Thỉnh, đã được đưa vào sách giáo khoa văn học, là kết tinh cảm xúc, hình tượng, chi tiết, ngôn ngữ thơ của Hữu Thỉnh. Dòng sông, vòm trời, đám mây nhẹ nhõm, ngọn gió se se, hương ổi thơm thơm, cánh chim vội vội như hư như thực trong không gian chớm lạnh của mùa thu Bắc bộ ùa vào tâm hồn nhạy cảm nhà thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Gió chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Những động từ, trạng từ, tính từ: phả, chùng chình, dềnh dàng, vội vã, vắt, vơi, đứng tuổi… được dùng thật tinh tế, điệu nghệ, mới mẻ, bắt đầu bất ngờ và dừng lại cũng quá bất ngờ, đóng đấy mà mở đấy, câu chữ nhè nhẹ mà gợi mở mênh mông. Đây là một trong những bài thơ hay nhất về mùa thu trong thơ Việt Nam.
Hữu Thỉnh không chỉ giỏi về chi tiết, đắt về câu chữ, mới về hình tượng, điều quan trọng là ông đã phổ vào thiên nhiên tâm thế con người, lấy thiên nhiên làm bà đỡ cho những tư tưởng, chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc:
Xuân về chưa đủ lá
Mưa ẩm cả hồn anh
(Tám câu)
Mây đen đi đóng Cổng trời
Lá non mong thấy mặt người sau mưa
(Em)
Hoặc:
Anh đi tìm một ngày cau ấp bẹ
Hoa ngủ mê trong lá mơ hồ
(Im lặng)
Đâu còn cảnh vật nữa, những câu thơ đôn hậu man mác một niềm vui, một nỗi buồn của một phận người.
Ngoài đời, Hữu Thỉnh có vẻ luôn ở thế “Động” của người có một núi côngviệc lôi kéo. Nhưng đọc thơ Hữu Thỉnh tôi lại thấy cái “Tĩnh” của tâm hồn nhà thơ. Ông như chiếc giếng khơi ở đầu làng quê Trung du Bắc bộ, mạch nguồn luôn trong vắt, mát lành:
Mặc ai xô dạt mỗi ngày
Múc đau lòng giếng, vẫn đầy sao hôm
(Những người đi lại phía tôi)
Đọc thơ HữuThỉnh tôi cảm thấy như khi cầm bút, hay ngồi bên bàn phím máy tính, luôn có một ma lực, bùa yêu hút nhà thơ về phía mặt trời trung du quê ông. Nơi đó giúp ông khám phá, sáng tạo thi tứ, câu chữ, hình tượng mới cho thơ. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn từng viết: “Thơ Hữu Thỉnh đi vào lòng người chính vì nó thấm đẫm tâm hồn Việt, tràn đầy chi tiết Việt trong đời sống làng quê Việt Nam”. Hữu Thỉnh là một nhà thơ từ chân quê đi thẳng tới hiện đại. Những câu thơ xa rộng, trí tuệ “nguyên mùi rơm tươi” của ông có đóng góp rất quan trọng cho thơ ca Việt Nam đương đại.
Nguyễn Ngọc Quế



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét