Thu vàng
Thu vàng - Cung Tiến - Hồng Nhung
Mùa thu năm ngoái, vào tuần thứ ba tháng mười, một người bạn
của tôi rủ đi coi lá vàng trên con đường Blue Ridge Parkway chạy vòng từ tiểu
bang North Carolina đến Virginia, tiếp đó đi lên phía bắc của tiểu bang Vermont
tiếp giáp với Canada. Thế ra lá vàng vào mùa thu miền đông bắc ở Mỹ chắc chắn
là đẹp lắm, phải đi. Chúng tôi thay nhau lái xe qua nhiều đồi núi bao la, bát
ngát, đèo cao, lũng thấp, và rừng.
Rừng núi có hàng trăm loại cây, nhiều nhất là cây phong, hàng
trăm màu sắc chen lẫn nhau, đặc biệt là màu vàng. Trời đất huy hoàng lộng lẫy,
chúng tôi phải dừng xe lại nhiều lần để nhìn cảnh vật cho rõ hơn, cho kỹ hơn.
Nhìn gần, nhìn xa. Bàng hoàng vì cảnh đẹp. Những lá phong to bảng, những lá cây
khác mà tôi không biết tên, óng ả khoe màu trong không gian trong suốt; những
cung bậc vàng, hồng, đỏ, tím tô lên núi non từ chân đến đỉnh, trùm lên những ngọn
đèo cheo leo, những thung lũng thăm thẳm, trông như những tấm thảm khổng lồ lộng
lẫy. Thỉnh thoảng trận gió thổi qua, đám mây vờn lại, cơn nắng thay phiên nhấp
nháy, những tấm thảm ấy rung lên nhè nhẹ, uốn mình cong cong, trông như lượn
sóng. Mùa thu tại nơi thắng cảnh này không “rơi” mà run rẩy, mà uốn éo, khác với
tên gọi của mùa thu mà người Mỹ thích dùng - the fall. Thế thu cũng
có nghĩa là rơi chứ? Tôi nghĩ ngay đến mấy câu thơ của Bích Khê:
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
Hai câu dưới đã được Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam cho
là “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”.
Bích Khê đã thảng thốt kêu lên “Ô!” khi thấy buồn vương vào
cây ngô đồng - cái buồn nặng quá làm lá ngô đồng rụng. Hay nó chỉ nhuộm lá cho
lá vàng rơi, hay nó khiến cho sắc vàng rơi trùm cả trời đất, cho thu mênh mông,
còn nó, cái buồn, thì ở lại với cành, với cây sắp sửa trơ trụi với mùa đông
đang lấp ló ở chân trời. Cái buồn quả có sức nặng, chẳng hạn trong câu nói
thông thường, buồn nặng trĩu cả lòng. Một thi sĩ khác, Huy Cận, cũng nói đến
cái buồn bằng một ngôn ngữ độc đáo trong câu thơ nổi tiếng:
Tay anh em hãy tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi
Cây ngô đồng có một ít tại Huế đặc biệt là trong Đại Nội. Vua
Minh Mạng rất quý cây ngô đồng nên cho khắc nó vào một trong cửu đỉnh. Ngô đồng
có nhiều ở Tàu, còn cây phong thì thường được thấy ở các nước thuộc miền ôn đới,
hàn đới như Tàu, Nhật, Mỹ, Canada, v.v. chứ không có ở Việt Nam ta. Bích Khê chết
sớm, chưa hề đi ra khỏi nước. Thế mà kỳ diệu thay, với cảm hứng và tưởng tượng,
nhà thơ tài hoa bạc mệnh của chúng ta đã chỉ cho ta thấy thu vàng cùng với buồn
rơi mênh mông mà ta tìm gặp ở xứ lạ quê người.
Nhưng có phải mùa thu chỉ muốn về với rừng phong, rừng ngô đồng
mênh mông, bát ngát? Hoặc chỉ ở những nơi ấy mùa thu mới chịu phô bày dung nhan
làm ngơ ngẩn cả thế gian? Không hẳn thế. Cái to lớn không nhất thiết gây xúc cảm
hơn cái nhỏ bé. Tảng đá không nhất thiết đắt giá hơn viên ngọc.
Thu vẫn rung chuyển cả lòng người khi nó đến với chiếc ao bèo
nho nhỏ lạnh lẽo nước trong veo tại một làng quê xa xôi hẻo lánh của Nguyễn
Khuyến, có chút lá vàng rơi trước gió, có chiếc thuyền câu be bé, có ngõ trúc quanh
co, có cụ già bâng khuâng nhìn trời trở mình tựa gối mặc cho cá đớp động:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo ...
Thu vẫn sáng rực trong giếng vàng của Quách Tấn mà, một
lần nữa, xin trích dẫn lời Hoài Thanh:
Ta không thấy gì, ta không nghe gì. Nhưng ta biết thế giới
này giàu sang lắm. Chốc chốc một cảnh rực rỡ vụt hiện ra trước mắt ta rồi vụt
biến đi:
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng
Ta có thể lơ đãng không thấy rõ sương trên bến Phong Kiều,
trăng trên dòng Xích Bích. Không thấy cả cái giếng sầu rụng. Nhưng sắc vàng
kia! Cái sắc vàng trong giây phút chiếu sáng cả trời thơ!
Ngọn gió thu phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay ngang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng
Thoạt tiên lá bay, về sau vàng bay khiến ta nghĩ tới mấy câu
thơ trên của Bích Khê.
Lẽ dĩ nhiên mùa thu xuất hiện rất nhiều trong văn thơ Việt
Nam chứ không phải chỉ ở dăm ba câu ngắn ngủi trích dẫn trên. Hay là ta thử đọc
trọn một bài thơ về thu.
Một buổi xế trưa thu hiện hình vào những giọt sương nõn nà đậu
quanh thềm, rồi đi theo cơn nắng nhỏ bâng khuâng như muốn níu kéo buổi chiều
dang dở trở lại. Thu vờn lên lớp sương khói hư vô bao phủ đầu cây hạnh trong
đó, trên một cành biếc, con chim ý nhi đôi chân run run đậu. Thu cũng ngao du
bay xa trong gió thầm mây lặng, trong cơn mưa trưa vừa tạnh, khiến cho ngày mau
xế tà, khiến cho tiếng chim mơ hồ rơi xuống những giọt buồn trên sông vắng.
Nhưng không phải chỉ có thế, thu còn tọc mạch len lén vào khuê phòng của một
thiếu nữ đang ngừng kim thêu chiếc áo gấm vàng, “sắc mạnh huy hoàng”, mơ màng
nhìn đoá cúc cũng đang nở vàng theo ở lưng dậu khi gió thu qua, và nghĩ đến
ngày chàng vinh quy bái tổ, mặc chiếc áo mình sắp thêu xong.
Trên đây là đoạn viết lại thành văn xuôi, một cách vụng về, một
trong những bài thơ hay nhất về mùa thu, mùa thu vàng, tác giả là Xuân Diệu.
Xin được chép toàn bài thơ:
Thu
Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.
Hư vô bóng khói trên đầu hạnh
Cành biếc run run chân ý nhi.
Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà.
Buồn ở sông xanh nghe đã lại
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm
Hây hây thục nữ mắt như thuyền
Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
(Xuân
Diệu)
Theo http://www.tienve.org/




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét