Ảnh hưởng của thơ ca phương Tây
trong bài thơ ''Vội vàng'' của Xuân Diệu
Xuân Diệu là một trong ba đỉnh
cao của thơ Mới. Tiếng thơ Xuân Diệu là tiếng thơ của trái tim lớn, một nguồn
tình cảm yêu đời, yêu cuộc sống trần thế thiết tha, luôn khát khao giao cảm với
người, với đời. Cội nguồn của hồn thơ đó ngoài cá tính tự nhiên của nhà thơ còn
bởi những hoàn cảnh riêng và chung chi phối. “Cha Đàng ngoài, mẹ ở Đàng trong”
nên lúc nào Xuân Diệu cũng khao khát được yêu thương. Thêm nữa vẻ đẹp của những
miền đất: Quy Nhơn (quê mẹ), xứ Huế mộng mơ và đất Thăng Long ngàn năm văn vật
(nơi nhà thơ theo học) đã sớm khơi dậy ở Xuân Diệu một tình yêu đời say đắm. Là
một trí thức Tây học, như hầu hết các nhà thơ Mới, Xuân Diệu chịu ảnh hưởng sâu
sắc văn học phương Tây, điều đó được thể hiện đậm nét trong sáng tác của ông trước
Cách mạng tháng Tám.
“Vội vàng” được xem là bài
tiêu biểu nhất cho phong cách thơ Xuân Diệu ở thời kì này. Bài thơ kết tinh tài
năng, cá tính sáng tạo của hồn thơ Xuân Diệu. Sinh thời, khi được hỏi về những
bài thơ hay và tiêu biểu của mình, Xuân Diệu nói: “Nếu hay, phải kể đến Nguyệt
cầm, Đây mùa thu tới, còn tiêu biểu thì phải là bài Vội vàng”. “Vội vàng” là
thi phẩm rất Xuân Diệu. Xuân Diệu ở cặp mắt nhìn đời, nhìn cuôc sống “xanh non,
biếc rờn”, ở nhịp đập gấp gáp của một trái tim yêu đời cháy bỏng, ở niềm khát
khao tận hưởng cuộc sống đến độ cuồng si, ở nhịp thơ hăm hở, cuống quýt và những
hình ảnh táo bạo đầy cảm giác, đậm chất Tây phương. Sự ảnh hưởng chủ nghĩa lãng
mạn và chủ nghĩa tượng trưng trong thơ ca phương Tây đã đem đến cho thơ Mới nói
chung, thơ Xuân Diệu nói riêng, đặc biệt là bài thơ “Vội vàng” một tinh thần,
diện mạo và hơi thở hoàn toàn mới.
1. Ảnh hưởng của chủ nghĩa
lãng mạn:
Ở cái Tôi trữ tình giàu cảm
xúc:
Một trong những đặc điểm nổi
bật nhất, mang đậm dấu ấn riêng của chủ nghĩa lãng mạn chính là việc
đề cao chủ nghĩa cá nhân, đề cao cái “tôi” rất riêng của nhà thơ thay vì cái “ta”
chung trong chủ nghĩa cổ điển. Lần đầu tiên, những ý thức cá nhân, những quan điểm,
khuynh hướng thẩm mỹ, xúc cảm, con mắt cá nhân được đề cao và được coi như là
trung tâm của văn chương. Nghệ sĩ mạnh dạn bày tỏ hình ảnh của chính mình, đưa
một cái “Tôi” nhân vật rất đậm nét vào trong văn chương.
- Sự ra đời của cái Tôi cá
thể là sản phẩm của chủ nghĩa lãng mạn, nó khẳng định và đề cao tiếng nói riêng
tư, coi trọng cảm giác, cảm nhận chủ quan của con người. Cái Tôi là cá nhân tự
ý thức, là bản ngã đòi khẳng định. Bài thơ Vội vàng bộc lộ một cái Tôi yêu đời
và ham sống đến mãnh liệt của Xuân Diệu. Thiên nhiên và sự sống trong bài thơ
chẳng khác gì một mảnh vườn tình ái dìu bước nhà thơ đi trong mê ly. Niềm hân
hoan và sự say đắm của cái Tôi được thể hiện qua nhịp thơ hối hả, thủ pháp liệt
kê, qua cách dùng từ độc đáo, mới mẻ:
“Của ong bướm này đây tuần
tháng mật
Này đây hoa của đồng nội
xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ
phất
Của yến anh này đây khúc
tình si...”
- Cái Tôi ấy ý thức cao về sự
sống: Sống là tận hưởng mọi vẻ đẹp ở thời điểm hương sắc nhất. Sống là trân trọng
từng giây phút, đặc biệt là mùa xuân và tuổi trẻ. Điều này xuất phát từ quan niệm
thời gian tuyến tính và thái độ trân trọng tinh túy, chất lượng cuộc sống.
Thiên nhiên chỉ đẹp nhất giữa mùa xuân và đời người đẹp nhất là tuổi trẻ. Không
thể giữ mãi mùa xuân và tuổi trẻ nên Xuân Diệu đã cuống quýt, đã vội vàng, giục
giã:
“Mau đi thôi, mùa chưa ngả
chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió
lượn
Ta muốn say cánh bướm với
tình yêu...”
Sự vồ vập, cuồng nhiệt với sự
sống trong những câu thơ cuối bài không chỉ bộc lộ lòng yêu đời, ham sống đến
ngất ngư mà còn thể hiện một nhân sinh quan tích cực của Xuân Diệu: Sống một
cách mãnh liệt, yêu cuộc đời một cách nồng say. Hầu hết các nhà thơ Mới đều
chán ghét thực tại, muốn thoát lên tiên, phiêu lưu trong trường tình, muốn quay
về quá khứ tìm vẻ đẹp vàng son đã mất..., chỉ Xuân Diệu là “không muốn đi, mãi
mãi ở vườn trần / Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”. Chính vì lẽ đó mà dù tiếp
thu chủ nghĩa lãng mạn của thơ ca phương Tây, cái Tôi của Xuân Diệu vẫn mang
nét đặc trưng riêng, không nhầm lẫn với các nhà thơ Mới.
Ở sự cách tân ngôn từ, thi
phá:
- Hình ảnh thơ tân kì, giàu
mĩ cảm: “ong bướm”, “hoa” “đồng nội xanh rì”, “cành tơ phơ phất”, “yến
anh”,”ánh sáng chớp hàng mi”,”thần Vui hằng gõ cửa”..Những hình ảnh ấy được sử
với mật độ dày tạo nên một thế giới đầy màu sắc, ánh sáng rộn ràng tươi mới. Cuộc
đời thực nơi trần thế bỗng trở nên non xanh, mơn mởn đầy sức sống, sinh động và
vô cùng quyến rũ.Có những hình ảnh bất ngờ thú vị, chưa từng có trong thơ ca cổ
điển: “tắt nắng đi”, “buộc gió lại” “riết mây đưa và gió lượn”, “say cánh bướm
với tình yêu”,”thâu trong một cái hôn nhiều”... Những hình ảnh vận động đầy mạnh
mẽ khi được ghép cặp với các động từ “buộc”, “riết”,”say”,”thâu”... khiến cho
hình tượng thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu đầy tính nhục thể.
- Thi pháp mới lạ, phá cách:
Tha thiết với mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, Xuân Diệu đã đi đến một cách tân
đáng kể về thi pháp. Nếu thơ văn xưa, coi tự nhiên là chuẩn mực của cái đẹp thì
giờ Xuân Diệu đảo ngược lại: đối với ông, không gì hoàn mĩ bằng con người, nhất
là phụ nữ giữa tuổi xuân. Một quan điểm thẩm mĩ như vậy đã tạo nên trong thế giới
nghệ thuật của Xuân Diệu những hình tượng giàu sức sống và đầy “xuân tình xuân
sắc”. Vẻ đẹp thiên nhiên được quy chiếu về vẻ đẹp của con người nên thiên nhiên
luôn yêu kiều, duyên dáng. Mạch triết luận đan xen với mạch trữ tình khiến bài
thơ vừa mang tính luận giải, vừa phô diễn cảm xúc nồng say
- Nghệ thuật điệp được khai
thác tối đa, trở thành nét đặc sắc của bài thơ.
Từ điệp từ:
Xuân đương tới nghĩa là xuân
đương qua
Điệp cụm từ:
Chẳng bao giờ,ôi! Chẳng bao
giờ nữa..
Đến điệp cấu trúc một
câu:
Này đây hoa của đồng nội
xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ
phất
Điệp cấu trúc hai câu một:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Tất cả cùng cộng hưởng tạo
nên một thế giới nghệ thuật đặc sắc mang đậm dấu ấn cái tôi chủ quan của cá
nhân thi sĩ, xứng đáng là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới.
2. Ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng
trưng:
Sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
trong thơ Xuân Diệu phải kể đến chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng mạn Pháp
thế kỉ XIX mà đại biểu là Bôđơle, Lamactin...
2.1. Sự tương giao giữa các
giác quan:
Các nhà thơ tượng trưng rất
chú trọng đến quan niệm tương ứng các giác quan. Quan niệm này đã trở thành một
nguyên tắc thẩm mỹ trong sáng tạo thơ ca của chủ nghĩa tượng trưng. Valery đưa
ra một định nghĩa về thơ gắn với nguyên tắc tương hợp: “Thơ là sự giao động giữa
âm thanh và ý nghĩa”. Verlaine quan niệm thơ như một bản nhạc mong manh, hư ảo,
huyền hồ. Rimbaud lại cho rằng, người nghệ sĩ phải đến với thơ ca bằng con đường
thấu thị của một kẻ có thiên nhãn: “Thi sĩ phải làm cho mình thành người có
thiên nhãn bằng sự rối loạn lâu dài, rộng khắp và có sự suy tính tất cả các
giác quan,…bởi lẽ các giác quan gắn bó ta với thực tại, trở thành tấm màn chắn
ngăn ta chẳng thấy được gì xa hơn…Nhà thơ có thiên nhãn cần tìm cho mình một
ngôn ngữ thích hợp. Ngôn ngữ này sẽ là của tâm hồn nói với tâm hồn, thâu tóm tất
cả mùi hương, âm thanh, màu sắc của tư duy bám riết lấy tư duy và lôi kéo…”. Với
quan niệm này, Rimbaud để “sự buông thả vô độ cho các giác quan”, giúp cho nhà
thơ nhìn thấu suốt mọi tâm hồn và sự vật. Rất nhiều nhà thơ Mới chịu ảnh hưởng
những quan niệm đó của chủ nghĩa tượng trưng. Tuy nhiên, TS. Trần Huyền Sâm
phát hiện: “Mỗi nhà thơ ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng ở mỗi phương diện
khác nhau, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của mình. Và ngay trong mỗi nhà thơ,
tính chất lãng mạn và tượng trưng luôn giao thoa cùng nhau. Xuân Diệu tìm thấy ở
chủ nghĩa tượng trưng một bản nhạc huyền diệu giữa ánh sáng, hương thơm và màu
sắc. Vũ Hoàng Chương và Bích Khê tìm thấy một thế giới âm nhạc mênh mông, hư ảo.
Hàn Mạc Tử tìm trong thế giới vô thức, siêu thực, bí ẩn” .
Soi vào bài thơ “Vội vàng”,
có thể thấy, bài thơ là một bản hợp tấu của hương thơm và mật ngọt, đường nét
và màu sắc, âm thanh và ánh sáng. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân được miêu tả
như một bữa tiệc trần gian, một thiên đường trên mặt đất, tất cả đang tràn ngập
xuân tình, lên men, dậy hương, gọi mời, quyến rũ:
“Của ong bướm này đây tuần
tháng mật
Này đây hoa của đồng nội
xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ
phất
Của yến anh này đây khúc
tình si
Và này đây ánh sáng chớp
hàng mi
Mỗi sáng sớm thần vui hằng
gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp
môi gần”
Nhìn thiên nhiên bằng cặp mắt
luyến ái nên Xuân Diệu đã hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Vẻ đẹp của
thiên nhiên được quy về vẻ đẹp tình ái nên ngọt ngào mê ly khó cưỡng. Hương hoa
trở thành tuần tháng mật, tiếng chim ca trở thành khúc tình si, ánh mặt trời tựa
rèm mi người thiếu nữ, và thời gian mùa xuân gợi niềm khát khao chiếm hữu như
“một cặp môi gần”. Tất cả được nhà thơ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy, nếm thấy…chứng
tỏ một khả năng cảm nhận với sự hòa điệu của các giác quan tương ứng. Hồn thơ
thi nhân như một cung đàn đã lên đúng tông độ chỉ cần một làn gió thoảng qua, một
mùi hương đưa lại hay một rung động khẽ khàng cũng khiến nó ngân lên những giai
điệu giao hòa.
Cả trong sự phai tàn của cảnh
vật trong dòng trôi của thời gian, Xuân Diệu cũng có những khám phá vô cùng mới
mẻ:
Mùi tháng năm đều rớm vị
chia phôi.
Là người đã tiếp thu ở mức
nhuần nhuyễn phép tương giao của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt
để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm
nhận bằng khứu giác “mùi tháng năm”, bằng cả thị giác “rớm” và nhất là vị giác
“vị chia phôi”. Thời gian là đại lượng phi vật chất nhưng lại được cảm nhận đầy
tính vật chất.
Đặc biệt, trong sự tận hưởng
thiên nhiên, phép tương giao của thơ tượng trưng đã phát huy tối đa sức mạnh để
biểu đạt sự vồ vập, cuồng nhiệt của Xuân Diệu.
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió
lượn
Ta muốn say cánh bướm với
tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái
hôn nhiều...
Niềm khát khao đến tuyệt
đích vô biên, lòng yêu đời và ham sống bồng bột mà nồng nàn, sôi nổi được diễn
tả bằng những động thái hưởng thụ tham lam “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn”...Hòa
vào dòng cảm xúc dạt dào của thi phẩm, người đọc đã bắt gặp một thứ tuyên ngôn
bằng thơ được nói qua cảm giác: Sống là phải tận hiến và tận hưởng, đời người
ngắn ngủi nên phải chạy đua với thời gian, sống “huy hoàng”trong mỗi phút giây.
2.2. Tính nhạc:
- Tính nhạc được tạo nên từ
cách ngắt nhịp “Thơ là một dạng lời nói có hệ thống ngữ điệu đặc biệt”(Timofeep).
Và Xuân Diệu “đã phổ vào thơ lãng mạn Việt nam những giai điệu tân kì đến mê
ly”,”họ gọi thơ ông là một thứ âm điệu cực kì du dương”,”một sự tuyệt tác của
nhạc cảm”,”một nhạc điệu điếng hồn”. Ông sử dụng linh hoạt các cách ngắt nhịp
và liên tục thay đổi cách ngắt nhịp, khi dồn dập gấp gáp hối thúc, khi chậm rãi
ngẩn ngơ, tiếc nuối.
Nói làm chi/rằng xuân vẫn tuần
hoàn
Khi tuổi trẻ/chẳng hai lần/thắm
lại
Còn trời đất/nhưng chẳng còn
tôi mãi
Nên bâng khuâng/tôi tiếc cả
đất trời...
- Tính nhạc đươc tạo nên từ
sự giao thoa, cộng hưởng của những từ ngữ luyến láy xuất hiện với mật độ dày đặc
trong toàn bài.
3. Kết luận:
Như vậy, trong gần mười năm
đầu thế kỷ XX (1932-1945), các nhà thơ của phong trào thơ mới đã tiếp thu và chịu
ảnh hưởng của các nhà thơ lãng mạn Pháp, họ đã tìm đến với thơ ca phương Tây và
chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ thơ ca Pháp, đặc biệt là Xuân Diệu. Xuân Diệu trước
hết đại biểu cho những con người tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ nhà trường,
làm nên một thứ nhân tố mới hình thành trong xã hội. Ông đã làm một cuộc hôn phối
giữa thơ Pháp và thơ dân tộc. Học tập thơ phương Tây, Xuân Diệu không rập khuôn
mà đã có những đóng góp rất riêng về ngôn ngữ, cấu trúc làm nên một phong cách
Xuân Diệu rất Việt Nam. Và với “ Vội vàng” Xuân Diệu đã mang đến một thi phẩm
mang đậm phong cách tân kì của một nhà thơ Mới. Mới từ tư tưởng, quan niệm đến
bút pháp thi ca. Phá bỏ mọi hình thức khuôn sáo, khước từ những mực thước cổ điển.
“Vội vàng” xứng đáng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu trước
cách mạng tháng Tám.
Hà Thị Hoài
Phương - Ng Thị Loan Phụng







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét