Xưa kia tôi chưa biết "đi săn" là thế nào. Nhưng mà
từ thuở nhỏ, tôi vẫn ao ước có một khẩu súng để có thể được đi săn luôn luôn.
Những khi trông thấy hoặc một chiếc xe hơi sau lưng có buộc một con hổ, một con
nai, với bọn người đội mũ cát két tay giữ súng ngồi trên, hay là một nhà thiện
xạ đeo súng sau lưng cưỡi xe "bình bịch" có đèo một chùm giẽ giun ở
tay lái, vênh vang đi qua các phố xá thì lòng tôi lại nao nao lên kính phục và
thèm muốn. Thú đi săn đối với tôi có một sức ám ảnh mạnh như là của ngọt đối với
những ông nghiện, cái quần soóc đối với những gái tân thời, huy chương phẩm hàm
đối với những ông trọc phú, thịt chó hầm rựa mận đối với các nhà sư chân tu. Đến
nỗi cái tục đi săn cát két ở Tarascon tả trong sách của A. Daudet cũng làm cho
tôi ước ao, khao khát...
Do những lẽ ấy, tôi không trở nên một nhà thiện xạ bao giờ.
° ° °
Nhưng mà nỗi khổ tâm của tôi là có rất nhiều bạn có súng, hay
đi săn, và ai ai cũng hơi hơi thiện xạ một chút. Cách đây vài năm, tôi về nhà
quê với một người bạn thì được bạn rủ đi bắn chim. Các ngài cứ việc tưởng tượng
cái sướng trong lòng tôi, bữa ấy!
Sau khi đi quanh các hàng rào tre của làng đã hai lần, không
gặp một con chim gáy, một con cò, một con quạ, chúng tôi đành vác súng về
không. Đến cổng làng, gặp một con chào mào đậu ngay ở một cành tre, tôi giơ
súng lên, thì bạn tôi vội nhặt một hòn đất ném cho con chim bay trước đi! Rồi bạn
cắt nghĩa:
- Bắn thế, có trúng chăng nữa cũng là phí đạn.
Tôi tức đến cực điểm, tưởng có thể tuyệt giao với bạn ngay được.
Than ôi! Cơ sự mà đến như thế, thì cái tình bạn hữu ở đời thật quả chỉ là một
danh từ điêu trá của văn chương. Tôi không thể nào tha thứ cho sự phản trắc ấy
của bạn được, vì lẽ, đối với tôi, điều cốt yếu chỉ là được bắn một phát mà
thôi, còn trúng hay trệch, chim thịt ngon hay không ăn được, cái ấy tôi không
quan tâm. Giữa lúc tôi bực mình chưa tiện nói ra, thì bạn lại nói:
- Có lẽ số chúng nó chưa chết nên hôm nay bác đi săn mà không
một con nào lai vãng đây cả. Chứ mọi hôm, cò cũng nhiều, gáy cũng nhiều.
Tưởng bạn nói thật, tôi cũng nguôi giận. Rồi bạn lại cắt
nghĩa rằng bữa nay bạn đi săn bằng ban, nghĩa là đạn một chứ không phải đạn
ghém trong cát tút. Như vậy bắn chim nhỏ rất khó trúng. Đạn ghém thì, sau khi bị
thúc khỏi miệng súng, những viên chì nhỏ nổ ra theo một vòng rộng như một cái
nón, con chim rất khó lòng mà bay thoát, một khi tầm súng ngắm đừng quá sai.
Sắp về đến nhà, tôi lại trông thấy một con chích chòe thấp
thoáng trong một cây ổi. Tức thì tôi giằng lấy khẩu súng ở tay bạn mà rằng:
"Đi săn mà lại không bắn một phát nào thì lọ lắm". Lần này, bạn để
yên...
Tôi giơ súng lên. Con chích chòe lúc ấy quay đuôi lại phía
tôi, ngửa cổ hót mấy tiếng trước gió rất vui vẻ. Trước cái ngực trắng của nó,
có một sợi lông vũ nhẩy ra ngoài cái trật tự của những lông mượt mà và phong
phanh theo làn gió đìu hiu. Tôi cảm động lắm, biết mình sắp làm một điều ác, rồi
sẽ phải hối hận như người đi bắn trong bài thơ La mort du bouvreuil. Nhưng dẫu
là ác, mà thấy hứng thú, thích chí, âu ta cũng cứ làm! Tôi ngắm rất đúng. Đùng
một tiếng, một làn khói lam toả ra ở miệng súng rồi tan ngay. Tôi tưởng con
chích chòe phải rơi xuống ngay đấy. Nhưng không, nó không chết mà cũng không
bay đi. Lúc súng nổ, nó giật mình, nhảy lên một cái rồi quay đầu nhìn về phía
có tiếng nổ, với hai con mắt kinh ngạc (thật thế, nó cũng biết kinh ngạc, tôi
xin cam đoan như thế). Như vậy thì có lẽ lúc viên đạn sắp xuyên qua lưng nó thì
nó nhẩy lên, để cho viên đạn đi đến chỗ không địa chỉ rồi thì nó lại đậu vào
chính cái chỗ viên đạn đã đi qua, lúc trước. Thật là một kỳ công của loài chim!
Tôi quay lại xin bạn viên đạn khác, thì thấy bạn đương hai tay ôm bụng, đầu gục
xuống ngực. Chung quanh cái mũi dọc dừa của bạn, đầy những vết nhăn là vết
nhăn...
Tôi sợ hãi quá đi mất! Chết! Cái gì thế? Một tai nạn gì thế?
Hay là viên đạn đã chạy giật lùi, đã trúng vào bạn đứng đằng sau tôi? Không! ấy
là bạn tôi cười! Nhìn thấy mặt tôi, bạn mới thẳng người lên, phá ra cười ầm ỹ.
Nghe thấy tiếng cười, con chích chòe trên cây hoảng sợ, vụt bay đi. Nó không để
cho tôi thời giờ xin đạn để bắn nó phát nữa.
Về nhà, cả ngày hôm ấy, tôi dùng thời giờ để cãi nhau với bạn
rằng lỗi là ở hòn đạn. Nếu tôi bắn đạn ghém, chắc con chim đã đi đời rồi. Hiểu
cái ê chề của tôi bữa ấy là vô cùng, bạn tôi đem số tử vi của tôi ra xem rồi kết
luận là bữa ấy tôi không đi vào hung tinh nên không bắn được chim. Vì bạn là một
ông thầy số làm phúc rất giỏi nên tôi cũng được an ủi.
Sở dĩ tôi có thuật cuộc đi săn chim chích chòe này thì các
ngài mới hiểu rõ cuộc đi săn khỉ tôi kể dưới đây.
° ° °
Cách đây hai tháng, vào lúc tôi nghỉ dưỡng bệnh đau phổi ở Bắc
Cạn thì cuộc săn khỉ đã xảy ra ở Khao Kỳ. Tại sao tôi nói xảy ra, rồi các ngài
sẽ hiểu...
Khao Kỳ là một cửa động cách xa tỉnh lỵ Bắc Cạn chừng 20 cây
số, trên con đường thuộc địa từ Ngân Sơn đi ngược về Hà Nội. Nghe đồn ở đấy có
rất nhiều bú dù. Nhiều đến nỗi chúng thường từ trên núi leo xuống cửa động, rủ
nhau vào ruộng để ăn trộm mía hoặc bắp ngô.
Bữa ấy nhằm ngày chủ nhật nên các bạn tôi rủ nhau tổ chức một
cuộc đi chơi có săn bắn: bắn khỉ ở Khao Kỳ và nhân thể đi thăm động. Anh Diễm,
bạn tôi, có đủ mọi thứ tư cách: chó săn, xe hơi, một khẩu súng hai nòng. Cứ
trông cách thức chúng tôi sửa soạn thì rõ ra một cuộc đi săn vĩ đại. Trước hết
chưa chi hãy đi săn những thức ăn. Bánh tây, giò, chả, hộp cá, rượu vang, đầy cả
mấy cái túi vải. Một cuộc đi săn xa tỉnh lỵ 20 cây số, phải biết! Cho nên phải
có đủ những điều kiện nó làm cho chúng tôi hóa ra những tay thiện xạ hùng hồn.
Có chó săn, có xe hơi, chưa cho là đủ, chúng tôi lại gọi một người thợ ảnh để
chụp kỷ niệm nữa. Long trọng biết bao! Anh Diễm đã tuyên ngôn: "Chúng ta sẽ
để anh Phụng bắn phát súng thứ nhất là phát súng danh dự!". Đã vậy mà đạn
bạn ưa dùng lại là đạn ghém, thì bảo tôi có sướng hay không! Nghĩ đến cuộc đi
săn chích chòe, tôi doạ tôi: "Chuyến này, phải biết!". Trong cái óc
nông nổi của tôi thì đi săn không có gì là khó khăn. Ngắm cho đúng, ai mà không
ngắm được? Kẻ nào không bắn nổi một phát súng, ấy chỉ là đồ ngu!
Từ sáng sớm, bọn sáu người chúng tôi và con chó săn cao lớn
đã lên ngồi xe. Chiếc xe này là một chiếc Mathis cũ, bé nhỏ. Bạn tôi mua nó có
một trăm rưởi bạc, và do thế, bị cả tỉnh ghen ghét, cho là ăn chơi như đế
vương! Lúc tậu xe, anh Diễm có nói: "Đáng lẽ thì để trăm rưởi cưới vợ lẽ
cho nó ra vẻ một người Việt Nam xứng đáng và hoàn toàn, nhưng sau tôi lại nghĩ
thà tậu xe để đi săn và đi chơi có lẽ hơn, nên không lấy vợ lẽ nữa!". Than
ôi! Có xe hay có vợ lẽ, bạn tôi cũng chỉ là một khổ chủ. Cái xe thỉnh thoảng lại
giận dữ với anh. Những cái rầy rà nó gây cho anh ở dọc đường có khi lại rầy rà
hơn cả những cái rầy rà gây ra bởi một người vợ lẽ nữa.
Cho nên bữa ấy, cái xe đình công bằng cái còi. Bấm điện thế
nào cũng không thèm kêu. Đến nỗi lúc xe qua chợ, có cô thổ đứng nghênh ngang giữa
đường làm cho sáu người chúng tôi phải kêu: "ếp! ếp!". Tuy vậy những
người hàng phố cũng cau mày nhìn khổ chủ để ghen ghét về cái tội ăn chơi đế
vương. Người ta không thể nào tha thứ được cho anh Diễm, chỉ là một viên chức,
mà lại có xe ôtô nhà, mặc lòng anh đã phải ếp.
Nửa giờ sau, chiếc xe đế vương ấy đến động Khao Kỳ. Anh chàng
thổ, người gác am và gác đền, đã đón chúng tôi:
- Bẩm các quan, mời các quan hãy đi xem động đã, chứ bú dù
thì chốc nữa chúng mới kéo nhau xuống ruộng.
Tôi chẳng thấy thú vị gì trong cuộc đi xem động. Trèo một
trăm thước thềm đá, vào cửa động, nhìn các mầu, các vân của đá, các bàn thờ Phật,
những nhũ đá có hình rồng, hình rùa, với những tên các ngài đến du lịch quét bằng
vôi trắng khắp mọi chỗ, ngần ấy cái không khiến cho tôi khỏi nóng ruột về cái
thú đi săn.
Tôi thúc giục người thợ ảnh lúc chụp chúng tôi, tôi thúc giục
cả các bạn hữu nào thích ngắm cảnh, và bị họ ghét. Một giờ sau, chúng tôi ra khỏi
động, xuống cái am mà người ta gọi là "đền ngoài". Chẳng nói gì đến
săn nữa, bạn hữu tôi lấy các thức ăn đem ra, chén phè phỡn! Tôi rất không bằng
lòng các bạn, vì cái lương tâm thiện xạ của tôi. Tôi cho rằng người Việt Nam
mình chỉ được cái bộ ăn thôi, chứ không bao giờ làm nổi trò trống gì cả. Tôi tức
rằng việc đi săn mà tôi cho là rất hệ trọng, thì lại bị họ rẻ rúng như thế.
Nhưng mà các bạn thân của tôi mặc kệ tôi. Tôi chỉ còn có con chó săn là cùng ý
kiến.
Ăn xong, như một sự cố nhiên, có một vài người say rượu. Họ
thấy nhức đầu. Họ nằm lăn ra ngủ. Ông nào chưa ngủ thì cũng kêu: Mệt lắm! Người
nào không nhức đầu, không ngủ, thì uể oải châu đầu vào ống quần để nhặt cỏ may.
Anh Diễm cũng nằm dài ra cái giường tre mà nói:
- Thôi, chả săn bắn gì nữa, chốc tôi còn cầm lái xe về, nếu
không giữ sức khỏe thì nguy hiểm...
Thưa các ngài, như vậy thì bảo tôi có nên giết quách các bạn
thân của tôi đi không? Tức quá, tôi lôi anh Diễm lên, bắt anh phải chỉ bảo tôi
mọi cách mở súng, lắp đạn, đậy súng... Tôi hỏi anh thổ thì hắn đáp:
- Bẩm quan, bây giờ thì khỉ nó xuống ăn trộm ngô rồi còn gì!
Tuy vậy anh Diễm cũng bảo tôi:
- Thôi, súng đấy, đạn đấy, anh cứ việc ra ruộng mà săn. Để
tôi ngủ một lát.
Tôi đáp anh như một người có điều gì đáng tự phụ:
- Được lắm! Thế thì còn gì bằng nữa!
Rồi tôi theo anh chàng thổ, lội cỏ may mà ra ruộng, vừa đi vừa
vỗ đầu con chó.
° ° °
Hắn chợt bảo tôi:
- Quan đi sẽ chứ! Quan cúi đầu xuống kẻo chúng trông thấy, lại
lên núi mất. Khỉ là một giống tinh lắm.
Chúng tôi chỉ đi cách am chừng vài chục bước. Trước mặt chúng
tôi là một quả núi cao lừng lững, có cây cối mọc hỗn loạn, um tùm. Chợt anh
chàng thổ khẽ nói:
- Kìa! Chỗ bụi kia thấy động đậy! Dễ chúng đấy!
Tôi định thần trông ra phía hắn trỏ. Quả là bụi cây có động đậy
thật, xong tôi không trông thấy một con khỉ nào. Tôi bèn hỏi:
- Hay là người nào?
Hắn đáp:
- Đâu làm gì có người nào!
- Thế ta bắn chứ?
Hắn cắt nghĩa:
- Chỗ nào xanh là lá cây. Chỗ nào mầu củ nâu là khỉ. Lông khỉ
hơi vàng. Quan cứ chỗ nào hơi vàng mà ngắm.
Chẳng nghĩ ngợi gì nữa, tôi bèn để súng lên vai. Tôi ngắm
đúng chỗ có mầu củ nâu trong bụi xanh. Tôi bấm cò, súng nổ đùng một tiếng. Sườn
núi cũng đáp bằng một tiếng đùng, do tiếng vang hắt lại.
Con chó săn chạy đến chỗ ấy lập tức.
Trên sườn núi thấy tiếng xào xạc của mấy con chim hoàng oanh
vừa bay vừa kêu thất thanh. Rồi thì, từ cái bụi xanh, bỗng thấy hiện ra một thiếu
nữ thổ với cái áo dài xanh, cái váy xanh, mặt mũi vừa ngơ ngác vừa tức giận:
- Rõ khéo khỉ ở đâu ấy! Đùa thế à? Chết người ta thì làm sao?
Thì ra đó là một thiếu nữ của rừng xanh đương lúi húi cắt cỏ
cho ngựa, khi thấy trời râm lại thì bỏ nón ra, gài lên một cành cây. Tôi đã bắn
trúng cái nón.
Tôi đương vừa lo sợ, vừa hổ thẹn, vừa mừng rỡ nữa, tim đương
đập thình thình trong ngực, thì cô sơn nữ ấy đã giơ cái nón ra, kêu:
- Bắt đền đấy! Thủng nát cả nón người ta ra rồi đây này! Rõ đồ
khỉ!
May đâu con chó săn cắn gâu gâu lên bênh vực tôi.
Tôi quay lại nhìn anh thổ để đổ lỗi cho hắn, thấy mặt hắn ngẩn
ra một cách hết sức vô duyên. Thấy cái mặt giận dữ kia với cái mặt ngây dại này
đều không phải là thuộc sự văn minh nên tôi không thèm xin lỗi cũng như không
thèm trách mắng.
Thấy tiếng súng nổ và tiếng đàn bà chu chéo vang cả một góc rừng,
các bạn tôi đều choàng dậy, chạy đến, tưởng dễ thường một vụ án mạng nào đã xảy
ra...
Khi hiểu chuyện, họ lăn ra cỏ may để mà cười. Tôi đi săn khỉ,
chính tôi bị gọi là khỉ.
° ° °
Về tỉnh, khi những người quen thuộc hỏi thăm tin tức về cuộc
đi săn khỉ rất vĩ đại ấy, bạn Diễm đã nói một cách rất tự nhiên:
- Được một con!
Thành thử tôi cũng phải đáp như thế với người khác.
Thưa các ngài, từ đấy trở đi, không bao giờ tôi khao khát sự
đi săn nữa. Tôi tự cho mình đã đủ từng trải. Tôi đã dùng từ súng một nòng đến
súng hai nòng, từ đạn một đến đạn ghém, từ đi chân không đến đi xe hơi, từ
không có chó đến có chó, và bắn từ chim muông đến mãnh thú...
Và, cũng từ đấy, mỗi khi trông thấy những tay thiện xạ có hổ,
báo, hươu, nai sau ôtô hay giẽ giun ở tay lái xe bình bịch, tôi chẳng ngại lẩm
bẩm như một nhà triết học ghét sự tàn sát:
- Chà! Rõ đồ dã man!
1937
Máu mê
Còn mười lăm phút nữa thì tan sở. Thụy ngồi uể oải tựa đầu
vào thành ghế nhìn ra sân tòa Bưu điện bằng cái cửa sổ nhỏ. Những chiếc xe nhà
đen đã bắt ra phố để phát hành thơ từ chuyến ban đêm. Những chiếc xe hơi to lù
lù có chữ P.T.T. đã lấy hàng hoá, giấy má, các nơi, bây giờ rầm rộ qua sân để
vào kho colis postaux. ở buồng bên cạnh, những tiếng "tịch tịch te" của
tin dây thép vẫn khua lên như mưa rào. Thụy sung sướng thấy rằng hôm nay, cả
ngày, mình không có khách, không phải làm nhiều, cũng như đa số các viên chức
trung thành được sung sướng sau một ngày được ngồi yên mà đọc chuyện kiếm hiệp,
hay là cắn móng tay, hay là dùng chốt đinh ghim để lấy ráy tai. Phòng Thụy làm
là phòng giao hàng theo lĩnh hóa giao ngân, mà hôm nay, khách đến lấy chỉ ba bốn
người, tiền thu chưa được hai chục bạc. Do thế, Thụy đã được ngồi đeo kính đen
mà ngủ gần cả buổi sáng để làm lại cái sức khỏe tiêu phí vào một canh đỏ đen
đêm trước.
Còn năm phút nữa, Thụy sắp đứng lên mặc áo, thì một bạn đồng
nghiệp vào với một đống sổ sách. Thụy ký nhận, bắt người kia ký nhận, rồi hai
bên bắt tay nhau, chúc nhau bữa chiều ăn cơm ngon. Trước khi đi, người bạn đồng
sự còn nói:
- Này, thằng Cú Vọ nó đã đi thanh tra về rồi đấy. Mai thì nó
đến khám két của anh... Tôi biết đích xác như thế.
Cái tin sét đánh ấy khiến Thụy tái xanh cả mặt. Thụy không ngờ
rằng viên thanh tra Tây lại về nhanh như thế... Nghĩa là ngày mai, Thụy sẽ vào
tù: chàng đã mượn tạm của két ngót ba trăm bạc, mà lệ Nhà nước là không ai được
giữ trong két trên ba trăm.
Tức khắc chàng giở sổ ra cộng và được con số: 322đ56. Chàng đếm
tiền trong quỹ và được con số nhỏ lắm 32đ56. Thế nghĩa là chàng đã thụt két
đúng hai trăm chín mươi đồng bạc! Chàng kinh hoàng. Sao mà lại nhiều thế? Mới
thua có ba canh mà đã nhiều đến thế ư? Thì ra những lúc thua cay mà phải
"vay tạm" Thụy không hề quan tâm đến những con số. Sau một cuộc
"họa lai thần ám" đến thế thì người ta chỉ còn một cách: vào tù!
Thụy tần ngần ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bỏ nốt vào túi số tiền
hơn ba chục bạc còn sót trong két. Chàng mặc áo ngoài, tắt đèn, khóa cửa buồng,
ra về với mấy chục viên chức khác.
° ° °
- Ê, Chung! Chờ tao đã!
Chung, một viên chức ở buồng điện thoại, bạn thân của Thụy,
nghe tiếng gọi bèn dừng lại. Thụy nói:
- Hãy đi đằng này với tao!
Rồi chàng quay lại bảo người phu xe nhà đương kéo cái xe sơn
đồi mồi đi theo mình:
- Mày về thưa với bà rằng chiều hôm nay ông đi xơi cơm hàng
nhé! Thôi, cho về, để tao đi xe hàng.
Hai người gọi một xe. Lúc lên ngồi, Chung gắt:
- Khỉ quá! Giả dụ mày bảo trước tao từ sáng có hơn không!
- Đến chính tao cũng không bảo tao trước nữa là...!
Chiếc xe kéo hai người đến một phố Tây. Trông thấy một toán
tù nhân đi làm cỏ vê giữa bốn năm người lính khố xanh bồng súng và cầm roi, Thụy
thở dài, hỏi bạn:
- ở tù khổ lắm, nhỉ mày nhỉ?
Chàng nghĩ đến địa vị mình: một ông phán hạng sáu; có xe nhà,
có vợ đẹp, có con khôn... Ngày mai thì chàng sẽ như bọn tù kia: bị giam hãm, bị
xích tay đi các phố xá, làm những công việc nhục nhã... Chàng rùng mình hối hận,
nhưng dễ thường muộn rồi. Nhưng Chung chỉ phì cười mà đáp:
- Mày nói như thật ấy!
Một lát, thấy Thụy chỉ cho phu xe con đường không đi thẳng về
Hàng Buồm, Chung hỏi:
- Ơ hay! Đi đâu mà lăng nhăng thế này?
- Đi chén, nhưng mà cho phép tao lại đằng này hỏi tí việc đã.
Thụy muốn đến nhà lão Hàn Bầu, một tay trọc phú, chủ một dược
phòng nổi tiếng, một tay "vua thuốc lậu" đã làm cho nhiều người tuyệt
đường con cái, có huy chương, có bài ngà, có nhiều giấy bạc trong két, có nhiều
chất vô vị trong những chai thuốc bổ, và có những giấy văn tự hai mươi nhăm phần
trăm tiền lãi cho vay. Xưa kia, Thụy đã được tiến cử đến vay, và đã trả sòng phẳng.
Lần này, Thụy lại đến... Nếu được thì càng hay, bằng không thì vào tù.
Xe đỗ trước một hiệu thuốc có máy phóng thanh đương hát bài
Anh Khóa và có một số đông những người ngu dại đứng nghe những câu quảng cáo mà
chủ hiệu thuê một người đưa chen vào những đĩa hát. Hai người vào. Bà chủ nhà gọi
pha nước rối rít và kêu:
- Thưa ông, cậu cháu đi ba hôm nữa mới về ạ.
Thụy vội lau những giọt mồ hôi thình lình chảy ra ở thái
dương. Chàng nói chuyện trời nắng trời mưa mất nửa giờ để có thể đến lúc có gan
hỏi vay ngay người vợ lão Hàn, một người không có hề giao thiệp với ai về tiền
nong.
- Thưa ông, giá có sẵn thì tôi cũng vượt quyền cậu cháu đưa hầu
ông, song mới hôm qua, có mấy trăm lại giả mấy vạn lọ thuốc đau mắt rồi! Ông để
đến ngày kia hay ngày kìa thì ông quay lại.
Thụy lo sợ vô cùng, xấu hổ vô cùng. Chàng xoay xoay mũ, ấp
úng nói mấy câu cảm ơn vô duyên, rồi cùng Chung bước ra. Thụy bảo phu xe:
- Bây giờ kéo chúng tôi lên Hàng Buồm.
- Mày vay tiền để làm gì thế?
Giữa lúc ấy, Thụy cũng không cắt nghĩa cái cảnh ngộ của mình
cho người bạn thân, cho rằng có nói cũng vô ích. Chung không thể chạy đâu cho
chàng trong một đêm những ba trăm bạc được. Thụy đã muốn vui chơi với bạn cho
thật thỏa thích đêm cuối cùng để hôm sau vào tù cho cam lòng, nếu nói ngay, sợ
cuộc vui mất vui. Chàng chỉ đáp một cách thản nhiên:
Thụy đòi rượu Mai Quế Lộ thượng hảo hạng, gọi những món ăn rất
đắt, những món Chung chưa hề thấy ai gọi đến cả: Bách điểu qui sào, Tam sà đại
hội, Ngũ hổ nhập thiên thai, vân vân. Lại có cả món Ngũ tộc cộng hòa và món Tam
dân chủ nghĩa nữa. Nghe những cách mệnh danh lố bịch ấy, Chung phì cười.
Thụy cười nhại, đáp:
- Cơm Tây còn có món Poisson à la Mussolini nữa là! Đông Tây
gặp nhau ở chỗ cái bụng.
Thụy ăn như một kẻ mới ở tù ra, tuy chàng mới chỉ là kẻ sửa
soạn vào tù. Chàng uống như một cái phễu. Chàng nói lảm nhảm như một nhà sư lúc
đi phá giới ở nhà ả đào. Chung cũng hơi ngạc nhiên về thái độ ấy nó khác thường
lắm. Nhưng Chung không hỏi kỹ, vì sự thực, chính Chung cũng choáng váng hơi
men, cười nói huyên thiên. Lúc trả tiền, Thụy bất bình rằng ăn uống như thế mà
chưa hết 15 đồng. Chàng quay vào, gọi hầu sáng, thưởng cho một đồng bạc.
Lúc ra cửa hiệu, sáu người ăn mày đều được Thụy cho mỗi người
một hào. Khi hai cây thịt bị vứt lên một chiếc xe, Thụy nói:
- Đi hát!
- Mày còn bao nhiêu tiền?
- Còn độ mười lăm đồng giở lên.
- Sao mày lắm tiền thế mà lúc nãy còn đi vay? Sao mày chướng
thế?
- Tao không chướng thế thì sao tao lại đáng mặt cho đời gọi
là thằng Thuỵ?
Đến một nhà ở Khâm Thiên, Thụy đòi bàn đèn và rượu sâm banh,
chứ không đánh trống. Hai người hút thuốc phiện như hai cái ống khói, và tuyệt
nhiên không thèm sờ mó đến một chị em nào cả. Các cô đào rất lấy làm ngạc
nhiên. Có nhiều ả thấy khách quá dễ, đâm nhờn. Họ lẻn ra đường chuyện với nhân
tình mà Thụy và Chung cũng không buồn để ý.
Mười hai giờ đêm.
Chung đã nhắm nghiền mắt bên bàn đèn thì Thụy nói:
- Chung ơi, mày là người bạn thân nhất đời của tao... Mày có
hiểu cái vui chơi tối hôm nay của tao có mục đích gì không?
- Tao chỉ hơi ngạc nhiên, và cũng sắp hỏi mày đấy.
- Chung ơi, đêm nay là đêm cuối cùng sung sướng của chúng
ta... Rồi ngày mai thì tao không cùng đi một con đường đời với mày nữa!
- Thật đấy, Chung ạ. Bây giờ thì đã đến lúc tao nói: mai thế
nào thanh tra nó cũng khám két tao, nghĩa là tao vào tù. Cái két còn tiền nữa
thì đêm nay tao còn ăn chơi sang trọng hơn nữa để thết mày cho bõ, nhưng chỉ
còn có hơn ba chục. Vậy tao yêu cầu mày một điều là khi tao vào tù rồi thì mày ở
ngoài thỉnh thoảng giúp đỡ vợ con tao, cho đến lúc tao được ra... Chung ơi, vào
tù, vì thụt két, điếm nhục gia thanh, để vợ con đói khát... rồi thất nghiệp, rồi
khốn khổ...
Thụy ngừng lại để khóc hậm hực. Chung ngồi nhỏm lên, hiểu cả
sự nghiêm trọng của tình thế. Chung lo sợ hơn là chính mình sẽ phải vào tù.
Chung cũng ứa nước mắt.
Sau cùng, Chung đứng lên nói:
- Nếu còn có một cách thôi thì ta cũng nên không vì một lẽ gì
mà không thử. Đây này, mày còn hơn mười lăm đồng, phải không? Thì chi chầu hát
một chục thôi! Tao còn năm đồng nữa đây, thế là chúng ta có một chục... Đi gỡ!
Phải gỡ chứ! Biết đâu...
- Thôi, ăn thua gì! Nhọc xác! Để tao ngủ yên một đêm rồi mai
vào tù! Dạo này tao đen, tao biết!
- Không! Phải đi gỡ! Tao nhất định thế.
Chung lôi cổ Thụy dậy cho kỳ được.
° ° °
Sòng bạc vẫn đông đủ như mọi đêm. Con bạc cũng vẫn như mọi
đêm, nghĩa là từ ông phủ hưu trí đến ông "vua thuốc lậu", những tay
sát phạt nhau mỗi canh bạc trăm, bạc nghìn cả. Bốn năm chục người ghê gớm trong
đó không ai chịu nói khẽ và cứ to tiếng gắt mắng người khác là nói to.
Một giờ đầu, Thụy và Chung được hai trăm. Nửa giờ sau, được
hai trăm nữa. Một giờ sau nữa thì lại được trăm nữa. Chủ sòng làm một câu:
- Thôi hẳn đêm nay hai bác vét cả làng.
Chung đếm lấy ba trăm bạc bỏ vào ví, chỗ thừa để mặc cho Thụy
"húc" với viên phủ hưu trí. Chung ngồi về phía sau cho con bạc khỏi
soi bói mình. Sau cùng, chàng đứng lên, ra bàn ăn lê, táo. Thụy cứ được, cứ được
mãi, dễ đến tất cả là tám trăm. Chung không để ý.
Đến lúc Thụy bắt đầu thua, chỉ còn trước mặt độ một trăm
thôi, Chung đâm tiếc của, cấu đùi bảo bạn đứng lên. Thụy nhất định cứ ngồi. Cái
bát bị ném đi, Thụy mất nốt trăm bạc. Chàng quay lại bảo bạn:
- Cho tao vay hai chục.
- Không!
- Hai chục thôi, tao lậy mày!
- Nhất định không! Cờ bạc thua hàng mười hôm liền, hôm nay được
có trăm bạc, phải thôi đi chứ. Húc mãi như thế để tự tử à? Có ai lại đánh bạc
như mày bao giờ?
Thụy đứng lên, vái lấy vái để:
- Hai chục nữa thôi, tao lạy mày! Chung lùi ba bước, quả quyết
đáp:
- Tao nhất định không đấy! Thụy chạy đến móc túi bạn.
Chung đẩy Thụy ra. Cáu tiết, Thụy ôm lấy Chung định cướp giật
số bạc trong túi áo. Chung hết sức mới đẩy được Thụy ra lần thứ hai. Đến lượt
Chung phải van xin:
- Tao lạy mày nữa. ấy trước sau chỉ được có trăm bạc thôi,
tao còn phải giả tây đen ngày mai, không có nó cho tao vào tù.
Chung tưởng nói thế thì bạn tỉnh ngộ, thì bạn hiểu cái tình
thế hiểm nghèo giữa hai con đường: yên lành và tù tội. Nhưng, Thụy không còn biết
nghĩa lý gì nữa, lại xô vào, giằng co với Chung. Bốn năm chục con bạc bắt đầu
nói: "Đồ ăn non!". Lão phủ hưu trí có đầy sát khí ở mặt và hai lưỡi
dao găm ở mắt. Anh chủ sòng cay lắm, như sắp chết điếng. Bọn tạ sắp sửa xông
vào cướp... Họ muốn phá sòng! Một vài người đàn bà bắt đầu kêu thất thanh.
Tức thì, nắm chặt bàn tay, đã đến lúc phải tỏ rằng mình cũng
còn có một vài miếng, Chung đấm luôn cho Thụy một cái vào giữa quai hàm! Nhưng
Thụy lại còn xông đến lần nữa. Thụy hóa điên! Chung lại nắm tay trái đấm luôn
vào cái quai hàm bên kia. Thụy ngã dúi xuống đất.
Chung đút hai tay vào túi quần, vênh mặt, ung dung nói với cả
bọn con bạc:
- Đấy, mời các ngài xem thằng này là thằng nào. Bạn thân cũng
có thể đánh chết được, nếu vào lúc cần thì đánh chết!
Cho thế chưa là đủ, Chung lấy con dao vẫn dùng gọt bút chì, cầm
ở tay. Chàng mở lưỡi dao nhọn, doạ:
- Mày mà mò đến chân lông tao thì tao xin cam đoan là sẽ có một
vụ án mạng!
Chung nói xong đi, ra. Thụy ngồi lên ôm mặt, nhăn nhó, Chung
bảo sõng:
- Mày có về thì về, hay ở lại thì cũng tùy mày.
Rồi ra thẳng, con dao vẫn lăm lăm trong tay.
° ° °
Hôm sau, lúc ông thanh tra khám két, Thụy vẫn là một viên chức
đúng luật lắm. Các bạn đồng sự hỏi thăm một bên má tím bầm của chàng. Thụy đáp
là ngã gác.
Buổi trưa, lúc tan sở, Chung lại tìm Thuỵ. Chàng cảm động nói
với bạn:
- Mày mới thật là bạn tốt. Nếu mày không đánh ông đến trẹo
quai hàm thì... than ôi! Tao cám ơn mày lắm.
Một người nghe thấy tưởng Thụy nói đùa. Chính ra chàng nói một
cách rất đứng đắn.
Và từ đấy, làng đen đỏ không thấy mặt Thụy trong số những nạn
nhân. Chàng đã hiểu vì lẽ gì, bọn con bạc không bao giờ lại có thể khá được.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét