Lịch sử cuốn lịch
Lịch qua các thời đại
Lịch ghi lịch sử của Đức năm 1550
Lịch được lập ra năm 753 trước
công nguyên, từ chu kỳ mặt trăng, nên có nhiều sai lệch so với chu kỳ mặt trời, phải trải qua nhiều sửa đổi mới có được quyển lịch chính xác như ngày nay.
Năm 532, cha đạo Denys le Petit, hiệu chỉnh bản tính ngày lễ Phục Sinh kể
từ khi Đấng Christ ra đời, mà ông định ngày 25/12 năm 753 Rome. Năm Rome thứ
754 trở thành năm 1 (không có năm 0). Kiểu tính toán này được nước Pháp dùng kể
từ thế kỷ thứ 8. Sau đó người ta nhận thấy rằng Denys đã tính lầm ít nhất
4 năm. Năm 2000 đáng lý ra phải là năm 2005.
Năm 1515 Copernic tham
dự cuộc sửa đổi lịch.
1582 Gregory III
mời các nhà thiên văn Lilio, Clavius và Chacon thành lập một cuốn lịch mới và
nhận thấy rằng theo mặt trời thì César tính trễ mất 10 ngày nên giáo hoàng cho
nhảy lên 10 ngày cho Rome và các nước Espagne và Portugal: sau ngày 4/10/1582
là ngày 15/10/1582. Nước Pháp theo trễ hơn, tới 9/12/1582 mới đổi, còn
Anh quốc thì đợi đến 2/8 năm 1752 mới thêm 11 ngày (sau ngày 2/9 là 14/9/1752)
Thế kỷ thứ 14, ngày
tháng được học ở trường.
Cuối thế kỷ thứ 16
những người có học biết họ hiện đang ở ngày, tháng, năm nào nhờ quyển
lịch và
từ đó họ có thể ghi lại
những biến cố xảy ra. Không có lịch, sẽ không có lịch sử.
Từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ 19, Âu châu bành
trướng, làm cả thế giới biết tới lịch Grégorien: các dân tộc thuộc địa Mỹ châu,
Á châu và Phi châu phải dùng lịch của chính quốc và sau khi đuợc độc lập, họ
vẫn tiếp tục dùng lịch này.
Khoảng 1550 những
quyển lịch ghi lịch sử xuất hiện ở Đức:
Thế kỷ thứ 17, lịch
được dùng để tổ chức tương lai. Từ năm 1679, Hàn lâm viện khoa học mỗi năm in môt quyển lịch
chính thức và từ đó sẽ in lại trong hầu hết các sách lịch (almanach).
Thế kỷ 19 sổ nhật ký
(agenda) và lịch được phổ biến từ từ. Hình thức quyển lịch giống như lịch hiện
nay chúng ta dùng: những ngày trong tuần và số ngày trong tháng.
Năm 1834, cha đạo Marc
Mastrofini đề nghị ngày cuối năm đó sẽ là "ngày trắng" tức là không tính, để cho mọi ngày khác gom lại đúng 52 tuần lễ (52x7=364 ngày).
1849, Auguste Compte
làm lịch gồm 13 tháng đồng đều, tiếp theo 1 "ngày trắng".
Camille Flammarion,
sau khi kêu gọi chống lại lịch gregorien, ông làm một quyển lịch muôn đời gồm
12 tháng có những tam cá nguyệt như nhau (calendrier universel)
1884 người ta chia ra
các múi giờ: trái đất được chia thành 24 múi xẻ dọc từ Bắc xuống Nam với kinh
tuyến Greenwich làm chuẩn.
Từ năm 1922, Hội các
quốc gia thành lập một ủy ban nghiên cứu về sự sửa đổi lịch và kết luận là
không thay đổi lịch nữa nhưng phải có một ngày ổn định cho ngày lễ
Pâques.
ONU Hội Quốc Liên,
thấy rằng lịch gregorien không thích hợp với sinh hoạt kinh tế hiện tại
nên có ý định sửa lịch cho thế kỷ 21 (đã rao một kỷ thi tuyển quốc tế)
Lịch
các nước
A)
Lịch La Mã
I) Lịch thời cổ Roma Numa
Pompilius:
Từ lúc đầu, lịch được lập ra từ chu kỳ mặt trăng. Năm 753 trước công nguyên, thời kỳ Roma
thành lập, một năm có 10 tháng như sau:
1
|
Martius
|
31 ngày
|
7
|
Sextilis
|
29 ngày
|
2
|
Aprilis
|
30 ngày
|
8
|
September
|
29 ngày
|
3
|
Maïus
|
31 ngày
|
9
|
October
|
31 ngày
|
4
|
Junius
|
30 ngày
|
10
|
November
|
29 ngày
|
5
|
Quintilis
|
31 ngày
|
11
|
December
|
29 ngày
|
1) Đặt tên tháng:
Lúc đầu, người ta đặt
tên theo thứ tự số học nhưng cuối cùng họ quyết định dùng tên các vị thần để
thế vài tháng:
Tháng thứ nhất lấy tên
thần chiến tranh Mars theo truyện thần thoại Roma vì
thần Mars còn được xem là thần cây cối, mùa xuân và tuổi trẻ. Từ rất lâu, Mars
là tháng đầu tiên của năm.
Tháng thứ nhì lấy
tên Aperta, biệt hiệu của Apollon, vị thần của nghệ thuật (âm nhạc), của y khoa, của tiên tri và
bói toán. Đầu tiên, miền Bắc Hy Lạp, Apollon còn được gọi là Phoebos, thần mặt
trời.
Tháng thứ ba là Maïus, tên phổ biến của thần Jupiter
Tháng thứ tư là Junon, vợ của Jupiter
Những tháng khác tiếp
tục dùng số [tiếp đầu ngữ la tinh quin (5), sex (6),sept(7), oct (8), no (9) dec (10)]
2) Sửa đổi lịch cho hợp với chu kỳ mặt trời
a) Thêm 2 tháng
Tổng
cộng 10 tháng trên sẽ được một năm 304 ngày, nên người ta phải thêm ngày vô cho
những tháng cuối để đủ một năm dương lịch, nhưng không đặt tên. Cuối
cùng người ta thêm hai tháng để đằng sau tháng December là Januarius, tên
của vị vua Roma xưa nhất là Janus và
là thần hòa bình. Tháng thêm tiếp theo là Februarius.
Người Roma mê tín, cho
là ngày lẻ mang hạnh phúc, nên chọn số ngày lẻ cho mọi tháng:
1
|
Januarius
|
31
ngày
|
7
|
Sextilis
|
29 ngày
|
2
|
Martius
|
31 ngày
|
8
|
September
|
29 ngày
|
3
|
Aprilis
|
29 ngày
|
9
|
October
|
31 ngày
|
4
|
Maïus
|
31 ngày
|
10
|
November
|
29 ngày
|
5
|
Junius
|
29 ngày
|
11
|
December
|
29 ngày
|
6
|
Quintilis
|
31 ngày
|
12
|
Februarius
|
27
ngày
|
b) Thêm 1 ngày cho Februarius
Tổng cộng lại được 354
ngày. Lại số chẵn, nên họ thêm một ngày cho tháng cuối cùng là Februarius, từ
27 thành 28 ngày và được xem như là tháng tệ nhất, lấy tên của
Febro, thần của những người chết dưới địa ngục. Đó là tháng của sự chết chóc,
trong tháng này, người ta xin tha tội, làm lễ tẩy uế cho người chết và cũng là
tháng mang bệnh hoạn (febris, sốt).
1
|
Januarius
|
31 ngày
|
7
|
Sextilis
|
29 ngày
|
2
|
Martius
|
31 ngày
|
8
|
September
|
29 ngày
|
3
|
Aprilis
|
29 ngày
|
9
|
October
|
31 ngày
|
4
|
Maïus
|
31 ngày
|
10
|
November
|
29 ngày
|
5
|
Junius
|
29 ngày
|
11
|
December
|
29 ngày
|
6
|
Quintilis
|
31 ngày
|
12
|
Februarius
|
28
ngày
|
c) Đổi vị trí của Februarius
Khoảng năm 354 TCN,
Februarius được đưa lên giữa Januarius và Martius và trở thành tháng thứ 2
trong năm.
1
|
Januarius
|
31 ngày
|
7
|
Sextilis
|
29 ngày
|
2
|
Februarius
|
28
ngày
|
8
|
Quintilis
|
31 ngày
|
3
|
Martius
|
31 ngày
|
9
|
September
|
29 ngày
|
4
|
Aprilis
|
29 ngày
|
10
|
October
|
31 ngày
|
5
|
Maïus
|
31 ngày
|
11
|
November
|
29 ngày
|
6
|
Junius
|
29 ngày
|
12
|
December
|
29 ngày
|
Năm dương lịch 355
ngày này chỉ hơn 1 ngày so với năm âm lịch 354 ngày. Vì năm ngắn hơn thực tế
trong lúc nhà nông dựa trên mùa màng để cầy cấy nên họ thêm ngày vô để có lịch
thích hợp. Họ quyết định cứ mỗi chu kỳ 4 năm là phải thêm một tháng 13. Tháng bổ sung có tên là Mercedonius, vì họ cho rằng lúc này lính đánh thuê (mercenaire) được trả
lương. Tháng này, khi thì 23 ngày được xếp giữa 24 và 25 tháng
Februarius, khi thì 22 ngày và được xếp giữa 23 và 24 tháng này.
Nói rõ hơn,
trong chu kỳ 4 năm, thì năm đầu có 355 ngày, năm thứ nhì có 355 + 22 = 377
ngày, năm thứ 3 có 355 ngày và năm thứ tư có 378 ngày.
Cách tính lịch này cho
cả thảy 1465 ngày cho 4 năm, trong lúc thực tế chỉ có 1461 ngày, nghĩa là dư 4
ngày. Từ năm quá ngắn bước sang năm quá dài.
Để sửa chữa tình trạng
này, năm La Mã 450 (304 TCN) luật Roma đổi lịch mới. Trong chu kỳ 8 năm, người
ta chỉ dùng 5 tháng 22 ngày, thay vì 6 tháng 22 ngày. Vì cứ 4 năm là dư 4 ngày,
nên 24 năm thì dư một tháng 24 ngày, do đó khi bỏ 1 tháng 22 ngày thì chỉ dư 2
ngày. Để sửa chữa sự thặng dư này, tháng Mercedonius được đổi số ngày để có sự
trùng hợp giữa năm trên lịch và năm thực tế.
Nhưng sau đó vì lợi
ích của những quan viên khi bầu cử, sự sai sót của lịch ngày càng lớn, cuối
cùng năm 708 Roma (46 TCN), điểm phân (équinoxe, xuân phân và thu phân)
sai biệt đến 3 tháng. Nghĩa là mùa gặt vào tháng 1, tháng lạnh nhất!
Chính lúc đó danh tướng
Roma Julius Caesar can thiệp. Để chấm dứt sự lạm dụng của các chính trị gia
lúc bấy giờ, Julius Caesar phái một nhà thiên văn Hy Lạp tên là Sosigene xứ Alexandrie sửa đổi
lịch mùa màng cho thích hợp với lịch (nguồn gốc Ai Cập) thiết lập bởi nhà thiên
văn Hy Lạp Eudoxe vào thế kỷ thứ 4 TCN.
Lịch Julien có 365
ngày, chia thành 12 tháng và cứ 4 năm là thêm 1 ngày. Lịch này vẫn còn
dùng cho đến thế kỷ 20 trong một số nước.
Tuy nhiên với hệ thống
này, có quá nhiều năm nhuần bởi vì so với mùa thiên văn thì mỗi năm có khoảng
11 phút sớm hơn. Hình như Caesar biết điều này nhưng ông không coi là quan
trọng.
1) Lịch Julien, theo
Sacrobosco
1
|
Januarius
|
31 ngày
|
7
|
Julius
|
31 ngày
|
2
|
Februarius
|
29-30 ngày
|
8
|
Sextilis
|
30 ngày
|
3
|
Martius
|
31 ngày
|
9
|
September
|
30 ngày
|
4
|
Aprilis
|
30 ngày
|
10
|
October
|
31 ngày
|
5
|
Maïus
|
31 ngày
|
11
|
November
|
30 ngày
|
6
|
Junius
|
30 ngày
|
12
|
December
|
30 ngày
|
Caesar ra sắc lệnh mỗi
năm theo hành trình mặt trời, sẽ có 365 ngày, và vì dư 6 giờ một năm, nên thêm
1 ngày sau 4 năm, để ngày đó vô sau ngày 24 tháng Februarius, và
lịch có tên là sexto ante calendas martii, năm
nào chứa ngày nhuần sẽ là năm nhuần. Người ta trải đều xen kẽ một
tháng 30 ngày với tháng 31 ngày, trừ tháng Februarius
1
|
Januarius
|
31 ngày
|
7
|
Julius
|
31 ngày
|
2
|
Februarius
|
29-30 ngày
|
8
|
Sextilis
|
30 ngày
|
3
|
Martius
|
31 ngày
|
9
|
September
|
31
ngày
|
4
|
Aprilis
|
30 ngày
|
10
|
October
|
30 ngày
|
5
|
Maïus
|
31 ngày
|
11
|
November
|
31 ngày
|
6
|
Junius
|
30 ngày
|
12
|
December
|
30 ngày
|
Sự cải tổ này
của Julius nên tháng Quintilis được thay thế bởi tháng Julius. Nhưng sự cải tổ
này không được áp dụng đúng. Những nhà làm luật thêm ngày nhuần 3 năm 1 lần
thay vì 4 năm như đã tính. Vậy là sau 36 năm, có tới 12 năm nhuần thay vì 9
năm.
2)
August sửa đổi lịch Julien
May thay August thấy
được, nên ra lệnh liên tục 12 năm tới, không được thêm một năm nhuần nào hết.
Vậy là lịch julien được trở lại chính xác. Để thưởng cho việc này, năm 746 Roma
(8 TCN) thượng viện Roma lấy tên của August đặt thế cho tháng Sextilis.
Sau đó người ta thấy rằng August không thua Julius, nên san bằng ngày cho
tháng August và Julius, nghĩa là lấy bớt 1 ngày của tháng Februarius bỏ
qua tháng Julius, tức là cả hai được 31 ngày.
1
|
Januarius
|
31 ngày
|
7
|
Julius
|
31
ngày
|
2
|
Februarius
|
28-29 ngày
|
8
|
August
|
31
ngày
|
3
|
Martius
|
31 ngày
|
9
|
September
|
31 ngày
|
4
|
Aprilis
|
30 ngày
|
10
|
October
|
30 ngày
|
5
|
Maïus
|
31 ngày
|
11
|
November
|
31 ngày
|
6
|
Junius
|
30 ngày
|
12
|
December
|
30 ngày
|
Sau đó để tránh một
lúc 3 tháng 31 ngày liên tục, người ta lấy bớt 1 ngày của September bỏ
qua October và cũng như vậy cho tháng November và December:
1
|
Januarius
|
31 ngày
|
7
|
Julius
|
31 ngày
|
2
|
Februarius
|
28-29 ngày
|
8
|
August
|
31 ngày
|
3
|
Martius
|
31 ngày
|
9
|
September
|
30
ngày
|
4
|
Aprilis
|
30 ngày
|
10
|
October
|
31 ngày
|
5
|
Maïus
|
31 ngày
|
11
|
November
|
30 ngày
|
6
|
Junius
|
30 ngày
|
12
|
December
|
31 ngày
|
Kể từ ngày đó, số
ngày, tháng vẫn giữ từ ngày hoàng đế August cai trị cho tới ngày nay..
3) Cách chia ngày, tháng, tuần
a) Ngày, tháng
Những ngày trong tháng
được rải ra thành 3 phần không đều nhau: từ Calendas cho tới Nonas, từ
Nonas cho tới Idus và những Idus ở cuối tháng..
- Kalendis: ngày đầu của tháng. Tên nó từ chữ
Calare (công bố) bởi vì ngày này mà người ta đem công bố những ngày quan
trọng.
- Idus: từ chữ étrusque iduare nghĩa là
phân chia. Những Idus đánh dấu giữa tháng. Ngày 15 cho những tháng Martius,
Maius, Julius và October. Ngày 17 cho những tháng khác. Nhớ là người Roma không
thích ngày chẵn.
- Nonis: ngày thứ 9 trước ngày Idus. Thí dụ tháng
Martius có ngày Idus bắt đầu từ ngày 15, thì ngày Nonis là trước ngày
(15-9 = 6) thứ 6, tức là thứ 5. Thành ra ngày Nonis bắt đầu từ ngày thứ 5
hay 7 của tháng.
Người Roma thường nói
ngày từ sự đánh dấu 3 loại ngày trên. Thí dụ ngày 2 tháng 1 thì nói
" ngày thứ 4 trước Nonas tháng Januarias" (ante diem
quartum nonas Januarias)...
- Pridie: Trước ngày "đánh dấu" thì gọi là Pridie. Thí dụ Pridie
Nonas thì cho ngày hôm trước của ngày nonas.
Thí dụ ngày 4 tháng 1:
Pridie Nonas Januarias
Còn ngày trước ngày
pridie lại là ngày thứ 3 trước Nonas cũng như ta nói "trong 8 nghĩa là sau
1 tuần lễ
- Postridie: Sau ngày "đánh dấu" thì gọi là postridie. Thí dụ
ngày 2/1: ngày thứ 4 trước Nonas tháng Januarias" (ante diem
quartum Nonas Januarias)
hay còn gọi là sau
ngày Kalendas tháng Januarias (postridie kalendas Januarias)
Còn ngày cuối tháng
thì gọi là trước ngày kalendas (pridie Kalendas)
1
|
Kalendis Januariis
|
2
|
ante diem quartum
Nonas Januarias
ou postridie
kalendas Januarias
|
3
|
Ante diem tertium
Nonas Januarias
|
4
|
Pridie Nonas
Januarias
|
5
|
Nonis januariis
|
6
|
Ante diemoctavum
Idus Januarias
ou postridie Nonas
Januarias
|
7
|
Ante diem septimum
Idus Januarias
|
8
|
Ante diem sextum
Idus Januarias
|
9
|
Ante diem quintum
Idus Januarias
|
10
|
Ante diem quartum
Idus Januarias
|
11
|
Ante diem tertium
Idus Januarias
|
12
|
Pridie idus
Februarias
|
13
|
Idibus Januariis
|
14
|
ante diem
undevicesimum Kalendas Februarias
ou postridie idus
Januarias
|
15
|
ante diem
duodevicesimum Kalendas Februarias
|
16
|
ante diem septimum
decimum Kalendas August
|
17
|
ante diem sextum
decimum Kalendas August
|
18
|
ante diem quintum
decimum Kalendas August
|
19
|
ante diem quartum
decimum Kalendas August
|
20
|
ante diem tertium
decimum Kalendas August
|
21
|
ante diem duodecimum
Kalendas Augusts
|
22
|
ante diem undecimum
Kalendas August
|
23
|
ante diem decimum
Kalendas August
|
24
|
ante diem nonum
Kalendas August
|
25
|
ante diem octavum
Kalendas August
|
26
|
ante diem septimum
Kalendas August
|
27
|
ante diem sextum
Kalendas August
|
28
|
ante diem quintum
Kalendas August
|
29
|
ante diem quartum
Kalendas August
|
30
|
ante diem tertium
Kalendas August
|
31
|
Pridie Kalendas
August
|
b) Ý nghĩa chữ la tinh những số:
2: pridie (PR)
|
3: tertium (III)
|
4: quartum (IV)
|
5: quintum (V)
|
6: sextum (VI)
|
7: septimum (VII)
|
8: octavum (VIII)
|
9: nonum (IX)
|
10: decimum (X)
|
11: undecimum (XI)
|
12: duodecimum (XII)
|
13: tertium decimum
(XIII)
|
14: quartum decimum
(XIV)
|
15: quintum decimum
(XV)
|
16: sextum decimum
(XVI)
|
17: septimum decimum
(XVII)
|
18: duodevicesimum
(XVIII)
|
19: undevicesimum
(XIX)
|
c) Cấu trúc của năm:
Januarius
Augustus
December
|
Aprilis
Junius
September
November
|
Martius
Maius
Julius
October
|
Februarius
(năm thường)
|
Februarius
(năm nhuận)
|
|
1
|
Kalendis
|
Kalendis
|
Kalendis
|
Kalendis
|
Kalendis
|
2
|
IV
|
IV
|
VI
|
IV
|
IV
|
3
|
III
|
III
|
V
|
III
|
III
|
4
|
Pridie Nonas
|
Pridie Nonas
|
IV
|
Pridie Nonas
|
Pridie Nonas
|
5
|
Nonis
|
Nonis
|
III
|
Nonis
|
Nonis
|
6
|
VIII
|
VIII
|
Pridie Nonas
|
VIII
|
VIII
|
7
|
VII
|
VII
|
Nonae
|
VII
|
VII
|
8
|
VI
|
VI
|
VIII
|
VI
|
VI
|
9
|
V
|
V
|
VII
|
V
|
V
|
10
|
IV
|
IV
|
VI
|
IV
|
IV
|
11
|
III
|
III
|
V
|
III
|
III
|
12
|
Pridie Idus
|
Pridie Idus
|
IV
|
Pridie Idus
|
Pridie Idus
|
13
|
Idibus
|
Idibus
|
III
|
Idibus
|
Idibus
|
14
|
XIX
|
XVIII
|
Pridie Idus
|
XVI
|
XVI
|
15
|
XVIII
|
XVII
|
Idibus
|
XV
|
XV
|
16
|
XVII
|
XVI
|
XVII
|
XIV
|
XIV
|
17
|
XVI
|
XV
|
XVI
|
XIII
|
XIII
|
18
|
XV
|
XIV
|
XV
|
XII
|
XII
|
19
|
XIV
|
XIII
|
XIV
|
XI
|
XI
|
20
|
XIII
|
XII
|
XIII
|
X
|
X
|
21
|
XII
|
XI
|
XII
|
IX
|
IX
|
22
|
XI
|
X
|
XI
|
VIII
|
VIII
|
23
|
X
|
IX
|
X
|
VII
|
VII
|
24
|
IX
|
VIII
|
IX
|
VI
|
VI
|
25
|
VIII
|
VII
|
VIII
|
V
|
bis VI
|
26
|
VII
|
VI
|
VII
|
IV
|
V
|
27
|
VI
|
V
|
VI
|
III
|
IV
|
28
|
V
|
IV
|
V
|
Pridie Kalendas
|
III
|
29
|
IV
|
III
|
IV
|
31
|
Pridie Kalendas
|
30
|
III
|
Pridie Kalendas
|
III
|
31
|
4 năm một lần
|
31
|
Pridie Kalendas
|
31
|
Pridie Kalendas
|
31
|
d) Tháng đầu tiên trong lịch Roma
Joannes Lamentius Lydus, (nửa đầu thế kỷ thứ VI) viết
trong De mensibus (tháng) rằng người Roma phân biệt giữa năm tôn giáo bắt đầu
tháng 1, năm truyền thống bắt đầu tháng 3, cũng như ta bây giờ, đầu năm âm lịch
là tháng 2, đầu năm học là tháng 9 vậy.
e) Những ngày trong Tuần:
Đối với người Hébreux
Chúa đã tạo ra con người trong 6 ngày và nghỉ vào ngày thứ 7.
Từ thời Trung cổ, người ta mới bắt
đầu dùng tuần lễ
Thời Cộng hòa Roma
(509 TCN đến 27 TCN) và Haut Empire (27 TCN đến 236), tuần lễ được chia ra làm
8 ngày, ghi thứ tự từ A đến H trên những quyển lịch.
Người Babylone
lấy tên của 7 hành tinh khám phá ra lúc bấy giờ. Người Roma dùng mỗi hành tinh
để hiến cho thần với hành tinh liên hệ:
Chữ
Latin
|
Chữ
Ý
|
Giải
thích
|
Solis dies
|
Domenica
|
Chúa nhật, ngày của
Mặt trời, hành tinh hiến cho Apollon. Tiếng Pháp chữ "dimanche"
viết theo "dies domenicus", ngày của Chúa, ngày dành để cầu nguyện
và xem như là ngày đầu của một tuần.
|
Lunae dies
|
Lunedi
|
Thứ hai, ngày của
Mặt trăng
|
Martis dies
|
Martedi
|
Thứ ba, ngày
của/3/, hành tinh cung hiến cho thần Chiến tranh vì là hành tinh màu đỏ.
|
Mercurii dies
|
Mercoledi
|
Thứ tư,
ngày của Mercure , thần thương mại, du lịch, vận tốc, Mercure cũng là sứ
thần của các vị thần.
|
Jovis dies
|
Giovedi
|
Thứ năm, ngày của
Jupiter, hành tinh lớn nhất của hệ Mặt trời. Jupiter là súy chủ các vị thần,
cai trị Olyme, nơi đó thần là những cơn sấm sét.
|
Veneris dies
|
Venerdi
|
Thứ sáu, ngày của
Vénus, hành tinh hiến cho nữ thần Tình yêu planète dédiée
|
Saturni dies
|
Sabbato
|
Thứ bảy ngày
của Saturne, hành tinh xa xôi nhất và chậm nhất của hệ Mặt trời, cung hiến
cho vị thần xa xưa nhất đã dạy loài người về ngành canh nông
|
Năm 312,
Constantin, vô đạo Thiên chúa giáo ra lệnh chấm dứt những sự truy hại những
người theo đạo Thiên chúa.Ông sửa đổi 3 điều:
- Thêm vô ngày Chúa
nhật, ngày nghỉ cho tuần lễ 7 ngày (chỉ dụ 321).
- Công nhận chính thức
các lễ Thiên chúa có ngày quy định.
- Công nhận chính thức
lễ Pâques
Đế quốc Roma bắt những
nước bị đô hộ phải dùng lịch julien như Grèce (Hy Lạp), Égypte (Ai Cập),
Espagne (Tây ban nha), Gaules
Tuy vậy, lịch này tính
trên căn bản 1 năm là 365 ngày và đúng 6 giờ, nhưng thực tế một thế kỷ giảm mất
nửa giây và thí dụ thời Julius là 365 ngày 5 giờ 48 phút và 56 giây, qua cuối
thế kỷ 16 là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút 47 giây cho tới thế kỷ thứ 20 thì còn 365
ngày 5 giờ 48 phút 46 giây. Nếu tính theo lịch julien chẵn 365 ngày 6 giờ thì
với sai số 11 phút cho 1 năm thì cứ 128 năm là sai 1 ngày.
Vào thời cải cách lịch julien, xuân phân tới vào ngày 25
tháng 3
Năm 325 vào ngày
21 cho tới thế kỷ thứ 16 thì xuân phân tới vào ngày 10 cùng
tháng Khi lịch ghi ngày 21 xuân phân thì xuân phân thực sự đã trôi
qua 10 ngày rồi. Người ta làm lễ Pâques quá trễ. Và nếu như khoảng cách ngày
càng lớn, người ta có thể làm lễ Pâques 1, 2, 3 tháng sau ngày thiên văn và ngày
tháng trên lịch sẽ không còn tương ứng với các mùatrong năm...
Bởi vậy phải thay đổi
để sửa sai. Lúc
này các giáo hoàng tại Roma thay các hoàng đế, bởi vậy kỳ này giáo hoàng Gregory XIII ra tay. Năm 1582 ông ra sắc lệnh hủy bỏ 10
ngày của lịch julien.
Để tránh lịch sai như
lần trước, giáo hoàng quyết định 4 năm mới thêm 1 ngày nhuần.
Lịch này gọi là lịch
grégorien, được áp dụng cho những nước theo Thiên chúa giáo và cho
nước Pháp ngay tức thời. Tại Roma, Espagne và Portugal, cũng như các nhà thờ
Thiên chúa giáo thì ngày hôm sau của thứ năm 4/10/1582 là 15/10/1582. Dưới
triều đại của Henri III, ngày hôm sau của ngày chúa nhật 9/12/1582 là ngày thứ
hai 20/12/1582. Nước Anh phải đợi đến 3/9/1752 mới áp dụng, Nga năm 1918,
Hy Lạp năm 1923, Chỉ 26 năm sau ngày cải cách lịch của giáo hoàng Gregory
XII, Québec đã áp dụng (năm 1608), Nhật: 1873, Trung quốc 1912, Hy Lạp,
Roumanie: 1820...
Ngày nay lịch grégorien được áp dụng cho hầu hết các nước.
B) Lịch Gaulois:
1) Lịch của xã Coligny
Năm 1897 tại xã
Coligny, giữa Ain và Jura trên con đường từ Lyon tới Strasbourg người ta khám
phá một kho chứa hơn 550 mảnh bằng đồng, có lẽ của những người đào kiếm
kim loại. Trong số mảnh đồng tìm được, có khoảng 400 miếng ghép thành tượng
thần lớn, và 150 miếng ghép thành quyển lịch. Cả thảy được bảo tàng viện Lyon
mua ngay và trùng tu lại. Lịch gồm có bề dài 150 cm và 80 cm bề ngang, chia làm chu kỳ 5
năm (gọi là "lustre"), mỗi năm 12 tháng xen kẽ 30 và 29 ngày. Nhưng
để hòa hợp với năm mặt trời, phải thêm 2 thángnhuận (30 ngày).
Đây là loại lịch theo
chu kỳ quay của
cả mặt trăng và mặt trời: trong chu kỳ 5 năm (lustre) gồm 3 năm có
12 tháng 29 và 30 ngày và 2 năm có 13 tháng (hai tháng thêm vô đều có 30 ngày)
250 năm sau lịch cải
cách julien, những người gaulois vẫn còn dùng lịch cũ của họ không ghi những
ngày lễ tôn giáo.
Quyển lịch viết bằng
tiếng gaulois, nhưng khắc thành chữ và số La Mã, gồm 16 cột, hơn 2000 chữ mà hơn một nửa số chữ
được giữ nguyên và được xem như bài viết dài nhất bằng tiếng gaulois được biết
cho tới nay.
Nếu tính những chữ lập lại thì có 60 chữ gaulois khác nhau.
Nhiều chữ không rõ nghĩa. Thí dụ chữ atenoux không biết
có phải là "trở về tăm tối"?, mat và anmat có
phải là "thuận lợi" và "bất lợi" hay là "đầy đủ"
và "thiếu"?
Những người gaulois
tính cứ mỗi "thế kỷ", tức là 30 năm (vì theo
họ, 30 năm là một đời người, gồm 6 lustre, mỗi lustre là 5 năm) là phải bỏ 30 ngày dư để có một năm trung bình là
365,2 ngày.
Một năm được chia
thành 2 lục cá nguyệt và mỗi tháng được chia thành hai lần 15 ngày cách nhau bằng
chữ atenoux và trước mỗi ngày chừa một lỗ để nhét
vô một cái chốt chỉ ngày đang dùng. Ngày được ghi từ số I đến XV trước chữa
ATENOVX (chữ V = U), và sau chữ này là từ I tới XIII hay XV.
Người gaulois tính
ngày từ lúc trời xẩm tối. Không thấy có chữ "tuần lễ" hay "mùa
màng".
Năm bắt đầu vào tháng
11
62 tháng được chia
thành 16 cột. Có 14 tên tháng: tên của 12 tháng lập lại 5 lần, 2 tên còn
lại chỉ xuất hiện có 1 lần.
Đây là tên của 12
tháng:
X... (tháng
nhuận đầu tiên), SAMON, DUMAN, RIUROS, ANAGANTIO, OGRON, CUTIOS, CIALLOS B.IS
(tháng nhuận thứ 2), GIAMONI, SIMIVIS, EQUOS, ELEMBIU, AEDRINI et CANTLOS.
Chi tiết năm gaulois
không được xác định rõ rệt.
Lịch này phức
tạp, kiểu chữ và số cho thấy lịch này lập ra khoảng thế kỷ thứ 2 tức là 2 thế
kỷ sau lịch julien. Và vì lịch được khám phá chung với tượng thần, nên người ta
cho đây là lịch tôn giáo được đặt trong đền thờ.
2) Lịch Cộng hòa Pháp:
Lịch Cộng hòa được
thiết lập bởi hiệp ước 5/10/1793.
Lịch bắt đầu ngày 22/9/1792, ngày thành lập chế độ Cộng hòa.
Một năm chia ra làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 3 lần 10 ngày
=30 ngày
Thêm 5 ngày: 360 + 5 = 365 có tên Vertu, Génie, Travail, Opinion
và Récompenses
Một ngày thêm vào những năm nhuần là lễ quốc khánh
Những
tháng mùa Thu:
|
Những
tháng mùa Xuân:
|
|
|
Những
tháng mùa Đông:
|
Những
tháng mùa Hè:
|
|
|
Napoléon hủy bỏ lịch này vào ngày 1/1/1806 và thay trở lại
lịch grégorien.
Dân chúng bị lẫn lộn không biết tính ngày, nhưng đành phải chịu
vì nếu không sẽ bị tử hình. Tuy nhiên có người lại cho đó có chất thơ nên đặt
ra bài hát
Lịch này trên lý thuyết bắt đầu từ 22/9/1792, nhưng được dùng
sau 1 năm. Kéo dài tới ngày 31/12/1805, nghĩa là 13 năm 3 tháng. Sau đó lại
được Paris dùng từ ngày 6 đến 23/5/1871 (nghĩa là từ ngày 16 floréal tới 3
prairial năm LXXIX)
BẢNG ĐỔI LỊCH CỘNG HÒA
RA LỊCH GREGORIEN
NĂM
|
I
|
II
|
III *
|
IV
|
V
|
VI
|
VII *
|
VIII
|
IX
|
X
|
XI *
|
XII
|
XIII
|
XIV
|
|
CỘNG HÒA
|
|||||||||||||||
NĂM
|
1792
|
1793
|
1794
|
1795
|
1796
|
1797
|
1798
|
1799
|
1800
|
1801
|
1802
|
1803
|
1804
|
1805
|
1806
|
GREGORIE
|
|||||||||||||||
Ier VENDEMIAIRE
|
22
|
22
|
22
|
23
|
22
|
22
|
22
|
23
|
23
|
23
|
23
|
24
|
23
|
23
|
R
|
(Septembre)
|
E
|
||||||||||||||
Ier BRUMAIRE
|
22
|
22
|
22
|
23
|
22
|
22
|
22
|
23
|
23
|
23
|
23
|
24
|
23
|
23
|
T
|
(octobre)
|
O
|
||||||||||||||
Ier FRIMAIRE
|
21
|
21
|
21
|
22
|
22
|
21
|
21
|
22
|
22
|
22
|
22
|
23
|
23
|
23
|
U
|
(novembre)
|
R
|
||||||||||||||
Ier NIVÔSE
|
21
|
21
|
21
|
22
|
21
|
21
|
21
|
22
|
22
|
22
|
22
|
23
|
22
|
22
|
|
(décembre)
|
A
|
||||||||||||||
Ier PLUVIÔSE
|
20
|
20
|
20
|
21
|
20
|
20
|
20
|
21
|
21
|
21
|
21
|
22
|
21
|
U
|
|
tháng 1
|
|||||||||||||||
Ier VENTÔSE
|
19
|
19
|
19
|
20
|
19
|
19
|
19
|
20
|
20
|
20
|
20
|
21
|
20
|
C
|
|
tháng 2
|
A
|
||||||||||||||
Ier GERMINAL
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
22
|
22
|
22
|
22
|
22
|
22
|
L
|
|
tháng 3
|
|||||||||||||||
Ier FLOREAL
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
G
|
|
tháng 4
|
R
|
||||||||||||||
Ier PRAIRIAL
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
21
|
E
|
|
tháng 5
|
G
|
||||||||||||||
Ier MESSIDOR
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
O
|
|
tháng 6
|
R
|
||||||||||||||
Ier THERMIDOR
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
20
|
I
|
|
tháng 7
|
E
|
||||||||||||||
Ier FRUCTIDOR
|
18
|
18
|
18
|
18
|
18
|
18
|
18
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
19
|
N
|
|
tháng 8
|
http://www.nithart.com/calrepub.htm
Ngày 1 tháng Floreal
năm Cộng hòa thứ VI là 20 tháng 4 năm 1797
Vậy ngày 17 Floréal =
1 Floréal + 16 ngày
Lịch Cộng hòa năm 1794
do
Louis-Philibert Debucourt vẽ (fr.wikipedia.org)
Tháng Cộng hòa
|
Năm VIII
1799-1800
|
Năm IX
1800-1801
|
Năm X
1801-1802
|
Năm XI
1802-1803
|
Năm XII
1803-1804
|
Năm XIII
1804-1805
|
Năm XIV
1805
|
1 Vendémiaire
15 Vendémiaire
1 Brumaire
15 Brumaire
|
23/9/1799
7/10/1799
23/10/1799
6/11/1799
|
23/9/1800
7/10/1800
23/10/1800
6/11/1800
|
23/9/1801
7/10/1801
23/10/1801
6/11/1801
|
23/9/1802
7/10/1802
23/10/1802
6/11/1802
|
24/9/1803
8/10/1803
24/10/1803
7/11/1803
|
23/9/1804
7/10/1804
23/10/1804
6/11/1804
|
23/9/1805
7/10/1805
23/10/1805
6/11/1805
|
1 Frimaire
15 Frimaire
1 Nivôse
15 Nivôse
|
22/11/1799
6/12/1799
22/12/1799
5/1/1800
|
22/11/1800
6/12/1800
22/12/1800
5/1/1801
|
22/11/1801
6/12/1801
22/12/1801
5/1/1802
|
22/11/1802
6/12/1802
22/12/1802
5/1/1803
|
23/11/1803
7/12/1803
23/12/1803
6/1/1804
|
22/11/1804
6/12/1804
22/12/1804
5/1/1805
|
22/11/1805
6/12/1805
22/12/1805
|
1 Pluviôse
15 Pluviôse
1 Ventôse
15 Ventôse
|
21/1/1800
4/2/1800
20/2/1800
6/3/1800
|
21/1/1801
4/2/1801
20/2/1801
6/3/1801
|
21/1/1802
4/2/1802
20/2/1802
6/3/1802
|
21/1/1803
4/2/1803
20/2/1803
6/3/1803
|
22/1/1804
5/2/1804
21/2/1804
6/3/1804
|
21/1/1805
4/2/1805
20/2/1805
6/3/1805
|
|
1 Germinal
15 Germinal
1 Floréal
15 Floréal
|
22/3/1800
5/4/1800
21/4/1800
5/5/1800
|
22/3/1801
5/4/1801
21/4/1801
5/5/1801
|
22/3/1802
5/4/1802
21/4/1802
5/5/1802
|
22/3/1803
5/4/1803
21/4/1803
5/5/1803
|
22/3/1804
5/4/1804
21/4/1804
5/5/1804
|
22/3/1805
5/4/1805
21/4/1805
5/5/1805
|
|
1 Prairial
15 Prairial
1 Messidor
15 Messidor
|
21/5/1800
4/6/1800
20/6/1800
4/7/1800
|
21/5/1801
4/6/1801
20/6/1801
4/7/1801
|
21/5/1802
4/6/1802
20/6/1802
4/7/1802
|
21/5/1803
4/6/1803
20/6/1803
4/7/1803
|
21/5/1804
4/6/1804
20/6/1804
4/7/1804
|
21/5/1805
4/6/1805
20/6/1805
4/7/1805
|
|
1 Thermidor
15 Thermidor
1 Fructidor
15 Fructidor
|
20/7/1800
3/8/1800
19/8/1800
2/9/1800
|
20/7/1801
3/8/1801
19/8/1801
2/9/1801
|
20/7/1802
3/8/1802
19/8/1802
2/9/1802
|
20/7/1803
3/8/1803
19/8/1803
2/9/1803
|
20/7/1804
3/8/1804
19/8/1804
2/9/1804
|
20/7/1805
3/8/1805
19/8/1805
2/9/1805
|
|
Bổ túc ngày thứ 5 Bổ
túc ngày thứ 6
|
22/9/1800
|
22/9/1801
|
22/9/1802
|
22/9/1803
23/9/1803
|
22/9/1804
|
22/9/ 1805
|
Tháng
Cộng Hòa
|
Năm II
1793-1794
|
Năm III
1794-1795
|
Năm IV
1795-1796
|
Năm V
1796-1797
|
Năm
VI
1797-1798
|
Năm
VII
1798-1799
|
1 Vendémiaire
15 Vendémiaire
1 Brumaire
15 Brumaire
|
22/9/1793
6/10/1793
22/10/1793
5/11/1793
|
22/9/1794
6/10/1794
22/10/1794
5/11/1794
|
23/9/1795
7/10/1795
23/10/1795
6/11/1795
|
22/9/1796
6/10/1796
22/10/1796
5/11/1796
|
22/9/1797
6/10/1797
22/10/1797
5/11/1797
|
22/9/1798
6/10/1798
22/10/1798
5/11/1798
|
1 Frimaire
15 Frimaire
1 Nivôse
15 Nivôse
|
21/11/1793
5/12/1793
21/12/1793
4/1/1794
|
21/11/1794
5/12/1794
21/12/1794
4/1/1795
|
22/11/1795
6/12/1795
22/12/1795
5/1/1796
|
21/11/1796
5/12/1796
21/12/1796
4/1/1797
|
21/11/1797
5/12/1797
21/12/1797
4/1/1798
|
21/11/1798
5/12/1798
21/12/1798
4/1/1799
|
1 Pluviôse
15 Pluviôse
1 Ventôse
15 Ventôse
|
20/1/1794
3/2/1794
19/2/1794
5/3/1794
|
20/1/1795
3/2/1795
19/2/1795
5/3/1795
|
21/1/1796
4/2/1796
20/2/1796
5/3/1796
|
20/1/1797
3/2/1797
19/2/1797
5/3/1797
|
20/1/1798
3/2/1798
19/2/1798
5/3/1798
|
20/1/1799
3/2/1799
19/2/1799
5/3/1799
|
1 Germinal
15 Germinal
1 Floréal
15 Floréal
|
21/3/1794
4/4/1794
20/4/1794
4/5/1794
|
21/3/1795
4/4/1795
20/4/1795
4/5/1795
|
21/3/1796
4/4/1796
20/4/1796
4/5/1796
|
21/3/1797
4/4/1797
20/4/1797
4/5/1797
|
21/3/1798
4/4/1798
20/4/1798
4/5/1798
|
21/3/1799
4/4/1799
20/4/1799
4/5/1799
|
1 Prairial
15 Prairial
1 Messidor
15 Messidor
|
20/5/1794
3/6/1794
19/6/1794
3/7/1794
|
20/5/1795
3/6/1795
19/6/1795
3/7/1793
|
20/5/1796
3/6/1796
19/6/1796
3/7/1796
|
20/5/1797
3/6/1797
19/6/1797
3/7/1797
|
20/5/1798
3/6/1798
19/6/1798
3/7/1798
|
20/5/1799
3/6/1799
19/6/1799
3/7/1799
|
1 Thermidor
15 Thermidor
1 Fructidor
15 Fructidor
|
19/7/1794
2/8/1794
18/8/1794
1/9/1794
|
19/7/1795
2/8/1795
18/8/1795
1/9/1795
|
19/7/1796
2/8/1796
18/8/1796
1/9/1796
|
19/7/1797
2/8/1797
18/8/1797
1/9/1797
|
19/7/1798
2/8/1798
18/8/1798
1/9/1798
|
19/7/1799
2/8/1799
18/8/1799
1/9/1799
|
Bổ túc ngày thứ 5 Bổ
túc ngày thứ 6
|
21/9/1794
|
21/9/1795
22/9/1795
|
21/9/1796
|
21/9/1797
|
21/9/1798
|
21/9/1799
22/9/1799
|
3) Cách tính ngày lễ Pâques:
Hội nghị giám
mục Nicée (concile de Nicée) họp vào năm 325 để xác định ngày xuân
phân: 21 tháng 3 và định ngày lễ Pâques: " Ngày Chúa nhật tiếp theo ngày thứ 14 của
tuần trăng". Những năm trước 1583 thì người ta lấy lịch
julien tính ngày lễ Pâques. Còn những năm sau 1583 khi có lịch gregorien thì
người ta tính lễ pâques theo lịch này. Ngày lễ có thể thay đổi từ 22/3 cho tới
25/4 (35 ngày, nghĩa là ngày lễ Pâques có thể là 1 trong 35 ngày đó)
Bên Pháp ngày 1 tháng
tư ấm, hơi gió và mưa lất phất, mọi người được quyền quên chiếc áo ấm dày, thô
nặng nề. Hoa thủy tiên đã nứt lên từ tháng một, trải qua nhiều lần tuyết phủ,
hoa đầu tiên vui mừng báo hiệu mùa xuân. Mọi cây khác nhìn xa thấy vẫn
chỉ là những cành không lá đen đủi, nhưng thiệt ra chúng đã ôm đầy nụ từ hai
tháng trước như đã ngầm chuẩn bị với nhau, lần lượt nở vào tháng Tư.
Tháng Tư đúng là mùa Xuân, hoa lá sống trở lại sau khi ngủ một giấc dài 6
tháng, giống như tháng Giêng của Việt Nam
Cho nên ngày 1 tháng 4
mùa xuân vừa mới bắt đầu nên tùy triều đại và tùy miền, người ta lấy ngày đầu
xuân là 1 tháng tư với lý do sự đổi mới với mùa xuân vừa mới bắt đầu.
Năm 1564, Charles IX,
lúc đó 14 tuổi, quy định ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm thay vì 1 tháng 4.
Quyết định này được áp dụng năm 1567.
Poisson d'Avril:
Sự thay đổi này làm xê
dịch ngày trao đổi quà tết. Có những người vẫn chưa quen hay vẫn còn nghi ngờ
ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm, nên vẫn tiếp tục trao tặng quà nhau vào ngày 1
tháng 4. Sau đó họ vẫn tiếp tục trao nhau những món quà nhỏ cốt để vui
cười với nhau, rồi dần dần tới chuyện dùng mưu mẹo để giăng bẫy...
Tại sao lựa con cá ?
Nếu những trò đùa được
biết dưới tên "cá tháng 4", là vì ở thế kỷ 16, quà tặng nhau thường
là thức ăn. Ngày này là ngày cuối tuần chay, thời kỳ này người có đạo Thiên
chúa bị cấm ăn thịt. Cá là món ăn thường xuyên. Sự đùa nghịch ngàu
càng phát triển, một trong những quá cáp là con cá giả.
Các nước khác...
Truyền thống đùa giỡn
ngày 1 tháng 4 bắt đầu ở phương Tây và từ từ lan dần. Mỗi nước biểu thị một
cách khác. Người Anh đặt tên là April's fool day, chỉ chọc phá buổi sáng thôi
và người bị bẫy là "cộng mì ống". Xứ Tô Cách Lan thì gấp hai
lần Pháp vì họ giỡn cho tới ngày 2/4. Ngoài ra còn có một loại cá tháng
tư bên Ấn độ, xảy ra ngày 31/3 và họ gọi là lễ Huli.
C)
Các lịch khác:
1) Lịch đạo Hồi
Nhà tiên tri Mahomet
theo truyền thống, rời khỏi đền thờ đêm 15 cho tới 16 tháng 7 năm 622 (lịch
hiện tại). Niên đại Hồi giáo lấy sự ra đi đó để dùng làm điểm khởi đầu. Lịch
Hồi là âm lịch và gồm 12 tháng xen kẽ 30 hay 29 ngày. Chu kỳ 30 năm với 11 năm
có 355 ngày và 19 năm với 354 ngày.
Tháng cuối cùng, là
tháng của Aïd el Kébir có thêm 1 ngày cho những năm lạ thường hay những
năm phồn thịnh, theo chu kỳ 30 năm cho những năm 2, 5, 7, 10, 13, 16, 18,
21, 24, 26, 29
Lịch này sai lệch rất
nhiều so với dương lịch
Kỷ nguyên đạo Islam
gọi là hégire bắt đầu năm 622 của kỷ nguyên đạo thiên chúa
(ngày mà Mohamet ra đi)
100 năm hégire tương
đương với 97 năm 8 ngày và 4 giờ theo dương lịch
100 năm dương lịch
tương đương với 103 năm 24 ngày và 12 giờ theo đạo Hồi.
2) Lịch Do thái

Tên tháng
|
Do thái
|
Ngày
|
Nissan
|
ניסן
|
30
|
Iyar
|
איר
|
29
|
Sivan
|
סיון
|
30
|
Tamouz
|
תמוז
|
29
|
Av
|
אב
|
30
|
Eloul
|
אלול
|
29
|
Tishri
|
תשרי
|
30
|
Heshvan
|
חשון
|
thay đổi 29/30
|
Kislev
|
כסלו
|
thay đổi 29/30
|
Tevet
|
טבת
|
29
|
Shvat
|
שבט
|
30
|
Adar (Chỉ năm nhuần thôi)
|
אדר
|
30
|
Adar 2, hay vé-adar
(năm thường thì tháng
này gọi làAdar)
|
ואדר
|
29
|
- Nissan
(Theo kinh
thánh, Nissan là tháng đầu tiên của năm)
Theo nguyên tắc của âm dương hiệp lịch. Lịch Do thái
có phép tính ngày lễ Rô'sh Hashshânâh (ngày Tết của họ) một cách hết sức phức
tạp. Hồi giáo cũng dùng âm lịch, nhưng cộng thêm ngày cho trùng hợp với
chu kỳ của mặt trăng mà không sửa chữa theo sự vận hành của trái đất quanh mặt
trời. Do đó 1410 năm theo âm lịch Hồi giáo chỉ tương ứng với 1368 năm
dương lịch. Ðạo Bahâ'i lại dùng một lịch, dựa trên âm lịch và ngày đầu
năm là ngày xuân phân (vernal equinox). Ðiểm đặt biệt là lịch này gồm 19
tháng, mỗi tháng 19 ngày (một năm có 361 ngày), và có thêm 4 ngày mỗi năm chen
vào giữa các tháng và sau bốn năm thì thêm một ngày nữa như năm nhuận dương
lịch.
Người Việt nam dùng âm lịch để tính lễ tiết và chọn ngày
cho các công việc quan trọng như cưới hỏi, xây nhà, mở cửa tiệm làm
ăn... Âm lịch này giống như âm lịch của Trung quốc nghĩa là dựa
trên chu kỳ của mặt trăng và phối hợp với sự chuyển động của trái đất quanh mặt
trời. Mỗi năm có 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu, 29
ngày. Cứ 19 năm thì nhuận 7 lần, mỗi lần nhuận một tháng. Tháng đầu
năm là tháng giêng và tháng cuối năm là tháng chạp không bao giờ được lấy làm
tháng nhuận. Ngày đầu năm, ngày mùng một Tết, là ngày đầu tuần
trăng thứ nhì sau ngày tiết Ðông chí (Winter solstice, thường xem như là ngày
mà đêm dài nhất trong năm). Tùy theo tuần trăng ở ngày Ðông chí mà ngày
đầu năm sẽ đến trong khoảng 30 đến 59 ngày sau ngày đó. Do đó ngày mùng một Tết chỉ có thể nằm trong khoảng 20
tháng 1 đến 21 tháng 2 dương lịch. Tháng âm lịch thường đi sau tháng dương lịch một hay hai thứ, như tháng ba âm
lịch ứng với tháng tư hoặc tháng năm dương lịch.
Năm âm lịch không tính theo số mà dùng tên ghép gồm hai chữ. Chữ
đầu là một trong 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm
và Quý). Chữ thứ nhì là một trong 12 địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão hay Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi). Mười hai địa chi là tên 12
con vật. Âm lịch Việt nam khác âm lịch Trung quốc ở chỗ năm Sửu thì
theo lịch Việt nam là năm con trâu, còn Trung quốc là con bò, còn năm Mão hay
Mẹo ở Việt nam là năm con mèo, thì trong lịch Trung quốc lại là năm con
thỏ. Vì bội số chung của 10 (thiên can) và 12 (địa chi) là 60, nên cứ 60
năm, tên các năm lại được lập đúng trở lại. Và cũng vì thế mà mỗi can chỉ
đi chung với sáu năm trong 12 địa chi, hay mỗi năm theo địa chi chỉ có thể đi
chung với 5 can mà thôi. Thí dụ như can Giáp chỉ đi chung với các năm Tý,
Dần, Thìn, Ngọ, Thân và Tuất, còn can Ất chỉ đi chung với các năm Sửu, Mão, Tỵ,
Mùi, Dậu và Hợi.
Trần Ngọc Thùy Trang (cựu chủ tịch UVSA) có nhận xét là các năm bắt đầu bằng
can Canh có số đơn vị là 0, Tân có số đơn vị là 1... theo số năm dương lịch, nhưng không rõ sự tương
ứng. Thật ra đó là sự tương ứng một gióng một (correspondence one
to one): vì hệ thống số đang dùng theo thập phân, từ 0 đến 9, nên số hàng đơn
vị mỗi năm ứng với mười thiên can, không xê dịch, không thay đổi
được. Năm có can Canh luôn luôn ứng với năm dương lịch có số cuối
là 0 (như Canh Thìn là 1940, 2000; Canh Ngọ là 1990, Canh Thân là 1980...), Tân
ứng với số cuối là 1 (Tân Tỵ là 1941, 2001; Tân Mùi là 1991, Tân Dậu là
1981...), Nhâm ứng với số cuối là 2 (Nhâm Ngọ là 1942, 2002, Nhâm Thân là 1992,
Nhâm Tuất là 1982...), Quý, với số cuối là 3 (Quý Mùi là 1943, 2003; Quý Hợi là 1983, Quý Dậu là
1993...), Giáp ứng với số cuối là 4 (Giáp Thân là 1944, 2004; Giáp Tuất là
1994, Giáp Dần là 1974...) vân vân. Cứ mười hai năm làm một
giáp (great year), 60 năm làm một vận niên lục giáp (cycle) và 3600 năm
làm một kỷ nguyên (epoch)
**
|
4
|
5
|
6
|
7
|
8
|
9
|
0
|
1
|
2
|
3
|
Giáp
|
Ất
|
Bính
|
Ðinh
|
Mậu
|
Kỷ
|
Canh
|
Tân
|
Nhâm
|
Quý
|
|
Tý
|
1984
|
1996
|
1972
|
|||||||
Sửu
|
1985
|
1997
|
1973
|
|||||||
Dần
|
1974
|
1986
|
1998
|
|||||||
Mão
|
1975
|
1987
|
1999
|
|||||||
Thìn
|
1964
|
1976
|
1988
|
2000
|
||||||
Tỵ
|
1965
|
1977
|
1989
|
2001
|
||||||
Ngọ
|
1954
|
1966
|
1978
|
1990
|
2002
|
|||||
Mùi
|
1955
|
1967
|
1979
|
1991
|
2003
|
|||||
Thân
|
2004
|
1956
|
1968
|
1980
|
1992
|
|||||
Dậu
|
2005
|
1969
|
1981
|
1993
|
||||||
Tuất
|
1994
|
2006
|
1958
|
1970
|
1982
|
|||||
Hợi
|
1995
|
2007
|
1971
|
1983
|
** Số tương ứng với 10 thiên can.
Mỗi năm âm lịch lại chia ra làm 24 tiết
Tiết (âm lịch)
|
Dương lịch (khoảng)
|
Số ngày giữa hai tiết
|
Lập
xuân
|
4 tháng 2
|
15
|
Vũ thủy
|
19 tháng 2
|
15
|
Kinh trập
|
6 tháng 3
|
(năm nhuận, 16 ngày) 15
|
Xuân phân
|
21 tháng 3
|
15
|
Thanh minh
|
5 tháng 4
|
15
|
Cốc vũ
|
20 tháng 4
|
15
|
Lập hạ
|
6 tháng 5
|
16
|
Tiểu mãn
|
21 tháng 5
|
15
|
Mang chủng
|
6 tháng 6
|
16
|
Hạ chí
|
21 tháng 6
|
15
|
Tiểu thử
|
7 tháng 7
|
16
|
Ðại thử
|
23 tháng 7
|
16
|
Lập thu
|
8 tháng 8
|
16
|
Xử thử
|
23 tháng 8
|
15
|
Bạch lộ
|
8 tháng 9
|
16
|
Thu phân
|
23 tháng 9
|
15
|
Hàn lộ
|
8 tháng 10
|
15
|
Sương giáng
|
23 tháng 10
|
15
|
Lập đông
|
7 tháng 11
|
15
|
Tiểu tuyết
|
22 tháng 11
|
15
|
Ðại tuyết
|
6 tháng 12
|
14
|
Ðông
chí
|
22 tháng 12
|
16
|
Tiểu hàn
|
5 tháng1
|
14
|
Ðại hàn
|
20 tháng 1
|
15
|
Tổng cộng
|
365
|
* Thanh minh trong tiết tháng ba trong truyện Kiều là
trong tháng ba âm lịch đến sau tiết xuân phân khoảng hai tuần.
4) Lịch Nhật bản
Ngoài Việt nam và Trung quốc còn có Nhật bản cũng dùng âm lịch như trên.
Người Nhật gọi tiết là ki. Xuân phân theo
tiếng Nhật là Shunbun, Hạ chí là Geshi, Thu phân là Shuubun và Ðông chí là
Touji.
Tên tháng trong lịch Nhật lúc đầu không theo cách
đếm số mà theo mùa màng hay công việc đồng áng. Tháng giêng là MuTsuki có
nghĩa là mùa xuân thái hòa, tháng ba là Yayohi, có nghĩa là cỏ mọc xanh rì,
tháng sáu là Mina Tzuki, tháng tưới nước (đưa nước vào ruộng), tháng 8 là
Ha Tzuki, tức là tháng của lá cây. Ðặc biệt là tháng 10 được gọi là
tháng của các vị thần, KaNa Tzuki vì theo truyền thuyết các thần về họp mặt tại
đền Izumo trong phủ Shimane. Vì vậy người ta vẫn coi tháng 10 là tháng
không có thần thánh bảo hộ ở các phủ khác.
Tháng âm lịch có ba tuần, theo con trăng: thượng tuần,
trung tuần và hạ tuần. Riêng âm lịch Nhật chia tuần lễ theo bảy ngày từ
năm 807. Năm 806 nhà sưKoubou Daishi cho biết là không thể
tính chính xác ngày xấu, ngày tốt trong lịch Nhật vì không biết được ngày bí
mật, tiếng Nhật là Mitsubi. Thật ra Mitsubi do chữ Mitsu, âm từ tiếng thổ
âm Samarkand mee-ruu là Sunday. Từ đó lịch Nhật bản áp dụng tuần lễ
bảy ngày theo tên Mặt trời và tên sáu hành tinh (planets) trong Thái dương hệ.
Trong hồi ký viết năm 1007, Michinaga Fujiwara đã ghi lại ngày
23 tháng 9 là ngày thứ ba (Kayoubi), ngày của Hỏa tinh.
Cho đến nay, người Nhật bản, người Trung quốc, và người
Việt Nam đều dựa vào âm lịch để giải quyết các việc quan trọng trong đời sống,
và âm lịch đã thật sự có một ảnh hưởng sâu đậm trong ba nước này.















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét