Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Lịch sử cuốn lịch

Lịch sử cuốn lịch
Lịch qua các thời đại
Lịch thời Trung Đại
Lịch ghi lịch sử của Đức năm 1550
Lịch được lập ra năm 753 trước công nguyên, từ chu kỳ mặt trăng, nên có nhiều sai lệch so với chu kỳ mặt trời, phải trải qua nhiều sửa đổi mới có được quyển lịch chính xác như ngày nay.
Năm 532, cha đạo Denys le Petit, hiệu chỉnh bản tính ngày lễ Phục Sinh kể từ khi Đấng Christ ra đời, mà ông định ngày 25/12 năm 753 Rome. Năm Rome thứ 754 trở thành năm 1 (không có năm 0). Kiểu tính toán này được nước Pháp dùng kể từ thế kỷ thứ 8. Sau đó người ta nhận thấy rằng  Denys đã tính lầm ít nhất 4 năm. Năm 2000 đáng lý ra phải là năm 2005.
Năm 1515 Copernic tham dự cuộc sửa đổi lịch.
1582 Gregory III mời các nhà thiên văn Lilio, Clavius và Chacon thành lập một cuốn lịch mới và nhận thấy rằng theo mặt trời thì César tính trễ mất 10 ngày nên giáo hoàng cho nhảy lên 10 ngày cho Rome và các nước Espagne và Portugal: sau ngày 4/10/1582 là ngày 15/10/1582.  Nước Pháp theo trễ hơn, tới 9/12/1582 mới đổi, còn Anh quốc thì đợi đến 2/8 năm 1752 mới thêm 11 ngày (sau ngày 2/9 là 14/9/1752)
Thế kỷ thứ 14, ngày tháng được học ở trường.
Cuối thế kỷ thứ 16 những người có học biết họ hiện đang ở ngày, tháng, năm nào nhờ  quyển lịch và từ đó họ có thể ghi lại những biến cố xảy ra. Không có lịch, sẽ không có lịch sử.
Từ thế k thứ 16 đến thế kỷ 19, Âu châu bành trướng, làm cả thế giới biết tới lịch Grégorien: các dân tộc thuộc địa Mỹ châu, Á châu và Phi châu phải dùng lịch của chính quốc và sau khi đuợc độc lập, họ vẫn tiếp tục dùng lịch này.
Khoảng 1550 những quyển lịch ghi lịch sử  xuất hiện ở Đức:
Thế kỷ thứ 17, lịch được dùng để tổ chức tương lai. Từ năm 1679, Hàn lâm viện khoa học mỗi năm in môt quyển lịch chính thức và từ đó sẽ in lại trong hầu hết các  sách lịch (almanach).
Thế kỷ 19 sổ nhật ký (agenda) và lịch được phổ biến từ từ. Hình thức quyển lịch giống như lịch hiện nay chúng ta dùng: những ngày trong tuần và số ngày trong tháng.
Năm 1834, cha đạo Marc Mastrofini đề nghị ngày cuối năm đó sẽ là "ngày trắng" tức là không tính, để cho mọi ngày khác gom lại đúng 52 tuần lễ (52x7=364 ngày).
1849, Auguste Compte làm lịch gồm 13 tháng đồng đều, tiếp theo 1 "ngày trắng".
Camille Flammarion, sau khi kêu gọi chống lại lịch gregorien, ông làm một quyển lịch muôn đời gồm 12 tháng có những tam cá nguyệt như nhau (calendrier universel)
1884 người ta chia ra các múi giờ: trái đất được chia thành 24 múi xẻ dọc từ Bắc xuống Nam với kinh tuyến Greenwich làm chuẩn.
Từ năm 1922, Hội các quốc gia thành lập một ủy ban nghiên cứu về sự sửa đổi lịch và kết luận là không thay đổi lịch nữa nhưng  phải có một ngày ổn định cho ngày lễ Pâques.
ONU Hội Quốc Liên, thấy rằng  lịch gregorien không thích hợp với sinh hoạt kinh tế hiện tại nên có ý định sửa lịch cho thế kỷ 21 (đã rao một kỷ thi tuyển quốc tế) 
Lịch các nước
A) Lịch La Mã
I) Lịch thời cổ Roma Numa Pompilius:
Từ lúc đầu, lịch được lập ra từ chu kỳ mặt trăng. Năm 753 trước công nguyên, thời kỳ  Roma thành lập, một năm có 10 tháng như sau:
1
Martius
31 ngày
7
Sextilis
29 ngày
2
Aprilis
30 ngày
8
September
29 ngày
3
Maïus
31 ngày
9
October
31 ngày
4
Junius
30 ngày
10
November
29 ngày
5
Quintilis
31 ngày
11
December
29 ngày
 1) Đặt tên tháng:
Lúc đầu, người ta đặt tên theo thứ tự số học nhưng cuối cùng họ quyết định dùng tên các vị thần để thế vài tháng:
Tháng thứ nhất lấy tên thần chiến tranh Mars theo truyện thần thoại Roma vì  thần Mars còn được xem là thần cây cối, mùa xuân và tuổi trẻ. Từ rất lâu, Mars là tháng đầu tiên của năm.
Tháng thứ nhì lấy tên Aperta, biệt hiệu của Apollon, vị thần của nghệ thuật (âm nhạc), của y khoa, của tiên tri và bói toán. Đầu tiên, miền Bắc Hy Lạp, Apollon còn được gọi là Phoebos, thần mặt trời.
Tháng thứ ba là Maïus, tên phổ biến của thần Jupiter
Tháng thứ tư là Junon, vợ của Jupiter
Những tháng khác tiếp tục dùng số [tiếp đầu ngữ la tinh quin (5), sex (6),sept(7), oct (8), no (9) dec (10)]
2) Sửa đổi lịch cho hợp với chu kỳ mặt trời
a) Thêm 2 tháng
 Tổng cộng 10 tháng trên sẽ được một năm 304 ngày, nên người ta phải thêm ngày vô cho những tháng cuối để đủ một năm dương lịch, nhưng  không đặt tên. Cuối cùng  người ta thêm hai tháng để đằng sau tháng December là Januarius, tên của vị vua Roma xưa nhất là Janus và là thần hòa bình. Tháng thêm tiếp theo là Februarius.
Người Roma mê tín, cho là ngày lẻ mang hạnh phúc, nên chọn số ngày lẻ cho mọi tháng:
1
Januarius
31 ngày
7
Sextilis
29 ngày
2
Martius
31 ngày
8
September
29 ngày
3
Aprilis
29 ngày
9
October
31 ngày
4
Maïus
31 ngày
10
November
29 ngày
5
Junius
29 ngày
11
December
29 ngày
6
Quintilis
31 ngày
12
Februarius
27 ngày
b) Thêm 1 ngày cho Februarius
Tổng cộng lại được 354 ngày. Lại số chẵn, nên họ thêm một ngày cho tháng cuối cùng là Februarius, từ 27 thành 28 ngày và được xem như là tháng tệ nhất, lấy tên của Febro, thần của những người chết dưới địa ngục. Đó là tháng của sự chết chóc, trong tháng này, người ta xin tha tội, làm lễ tẩy uế cho người chết và cũng là tháng mang bệnh hoạn (febris, sốt).
1
Januarius
31 ngày
7
Sextilis
29 ngày
2
Martius
31 ngày
8
September
29 ngày
3
Aprilis
29 ngày
9
October
31 ngày
4
Maïus
31 ngày
10
November
29 ngày
5
Junius
29 ngày
11
December
29 ngày
6
Quintilis
31 ngày
12
Februarius
28 ngày
c) Đổi vị trí của Februarius
Khoảng năm 354 TCN, Februarius được đưa lên giữa Januarius và Martius và trở thành tháng thứ 2 trong năm.
1
Januarius
31 ngày
7
Sextilis
29 ngày
2
Februarius
28 ngày
8
Quintilis
31 ngày
3
Martius
31 ngày
9
September
29 ngày
4
Aprilis
29 ngày
10
October
31 ngày
5
Maïus
31 ngày
11
November
29 ngày
6
Junius
29 ngày
12
December
29 ngày
Năm dương lịch 355 ngày này chỉ hơn 1 ngày so với năm âm lịch 354 ngày. Vì năm ngắn hơn thực tế trong lúc nhà nông dựa trên mùa màng để cầy cấy nên họ thêm ngày vô để có lịch thích hợp. Họ quyết định cứ mỗi chu kỳ 4 năm là phải thêm một tháng 13. Tháng bổ sung có tên là Mercedonius, vì họ cho rằng lúc này lính đánh thuê (mercenaire) được trả lương. Tháng này, khi thì 23 ngày  được xếp giữa 24 và 25 tháng Februarius, khi thì 22 ngày  và được xếp giữa 23 và 24 tháng này.
 Nói rõ hơn, trong chu kỳ 4 năm, thì năm đầu có 355 ngày, năm thứ nhì có 355 + 22 = 377 ngày, năm thứ 3 có 355 ngày và năm thứ tư có 378 ngày.
Cách tính lịch này cho cả thảy 1465 ngày cho 4 năm, trong lúc thực tế chỉ có 1461 ngày, nghĩa là dư 4 ngày. Từ năm quá ngắn bước sang  năm quá dài.
Để sửa chữa tình trạng này, năm La Mã 450 (304 TCN) luật Roma đổi lịch mới. Trong chu kỳ 8 năm, người ta chỉ dùng 5 tháng 22 ngày, thay vì 6 tháng 22 ngày. Vì cứ 4 năm là dư 4 ngày, nên 24 năm thì dư một tháng 24 ngày, do đó khi bỏ 1 tháng 22 ngày thì chỉ dư 2 ngày. Để sửa chữa sự thặng dư này, tháng Mercedonius được đổi số ngày để có sự trùng hợp giữa năm trên lịch và  năm thực tế.
II) Lịch Julien
Nhưng sau đó vì lợi ích của những quan viên khi bầu cử, sự sai sót của lịch ngày càng lớn, cuối cùng  năm 708 Roma (46 TCN), điểm phân (équinoxe, xuân phân và thu phân) sai biệt đến 3 tháng. Nghĩa là mùa gặt vào tháng 1, tháng lạnh nhất!
Chính lúc đó danh tướng Roma  Julius Caesar can thiệp. Để chấm dứt sự lạm dụng của các chính trị gia lúc bấy giờ, Julius Caesar phái một nhà thiên văn Hy Lạp tên là Sosigene xứ Alexandrie sửa đổi lịch mùa màng cho thích hợp với lịch (nguồn gốc Ai Cập) thiết lập bởi nhà thiên văn Hy Lạp Eudoxe vào thế kỷ thứ 4 TCN.
Lịch Julien có 365 ngày, chia thành 12 tháng và cứ 4 năm là thêm 1 ngày. Lịch này vẫn còn dùng  cho đến thế kỷ 20 trong  một số nước.
Tuy nhiên với hệ thống này, có quá nhiều năm nhuần bởi vì so với mùa thiên văn thì mỗi năm có khoảng 11 phút sớm hơn. Hình như Caesar biết điều này nhưng ông không coi là quan trọng.
1) Lịch Julien, theo Sacrobosco
1
Januarius
31 ngày
7
Julius
31 ngày
2
Februarius
29-30 ngày
8
Sextilis
30 ngày
3
Martius
31 ngày
9
September
30 ngày
4
Aprilis
30 ngày
10
October
31 ngày
5
Maïus
31 ngày
11
November
30 ngày
6
Junius
30 ngày
12
December
30 ngày
Caesar ra sắc lệnh mỗi năm theo hành trình mặt trời, sẽ có 365 ngày, và vì dư 6 giờ một năm, nên thêm 1 ngày sau 4 năm, để ngày đó vô sau ngày 24 tháng Februariusvà lịch có tên là  sexto ante calendas martiinăm nào chứa ngày nhuần sẽ là năm nhuần. Người ta trải đều xen kẽ một tháng  30 ngày với tháng 31 ngày, trừ tháng  Februarius
1
Januarius
31 ngày
7
Julius
31 ngày
2
Februarius
29-30 ngày
8
Sextilis
30 ngày
3
Martius
31 ngày
9
September
31 ngày
4
Aprilis
30 ngày
10
October
30 ngày
5
Maïus
31 ngày
11
November
31 ngày
6
Junius
30 ngày
12
December
30 ngày
 Sự cải tổ này của Julius nên tháng Quintilis được thay thế bởi tháng Julius. Nhưng sự cải tổ này không được áp dụng đúng. Những nhà làm luật thêm ngày nhuần 3 năm 1 lần thay vì 4 năm như đã tính. Vậy là sau 36 năm, có tới 12 năm nhuần thay vì 9 năm. 
 2) August sửa đổi lịch Julien
May thay August thấy được, nên ra lệnh liên tục 12 năm tới, không được thêm một năm nhuần nào hết. Vậy là lịch julien được trở lại chính xác. Để thưởng cho việc này, năm 746 Roma (8 TCN) thượng viện Roma lấy tên của August đặt thế cho tháng  Sextilis. Sau đó người ta thấy rằng August không thua Julius, nên  san bằng ngày cho tháng August và Julius, nghĩa là lấy bớt 1 ngày của tháng Februarius bỏ qua  tháng Julius, tức  là cả hai được 31 ngày.
1
Januarius
31 ngày
7
Julius
31 ngày
2
Februarius
28-29 ngày
8
August
31 ngày
3
Martius
31 ngày
9
September
31 ngày
4
Aprilis
30 ngày
10
October
30 ngày
5
Maïus
31 ngày
11
November
31 ngày
6
Junius
30 ngày
12
December
30 ngày
Sau đó để tránh một lúc  3 tháng 31 ngày liên tục, người ta lấy bớt 1 ngày của September bỏ qua October và cũng như vậy cho tháng November  và December: 
1
Januarius
31 ngày
7
Julius
31 ngày
2
Februarius
28-29 ngày
8
August
31 ngày
3
Martius
31 ngày
9
September
30 ngày
4
Aprilis
30 ngày
10
October
31 ngày
5
Maïus
31 ngày
11
November
30 ngày
6
Junius
30 ngày
12
December
31 ngày
Kể từ ngày đó, số ngày, tháng vẫn giữ từ ngày hoàng đế August cai trị cho tới ngày nay.. 
  3) Cách chia ngày, tháng, tuần
  a) Ngày, tháng
Những ngày trong tháng được rải ra thành 3 phần không đều nhau: từ Calendas cho tới Nonas, từ  Nonas cho tới Idus và những Idus ở cuối tháng..
- Kalendis: ngày đầu của tháng. Tên nó từ chữ  Calare (công bố) bởi vì ngày này mà người ta đem công bố những  ngày quan trọng.
-  Idus: từ chữ  étrusque iduare nghĩa là phân chia. Những Idus đánh dấu giữa tháng. Ngày 15 cho những tháng Martius, Maius, Julius và October. Ngày 17 cho những tháng khác. Nhớ là người Roma không thích ngày chẵn.
-  Nonis: ngày thứ 9 trước ngày Idus. Thí dụ tháng Martius có ngày Idus bắt đầu từ ngày 15, thì ngày Nonis là  trước ngày (15-9 = 6)  thứ 6, tức là thứ 5. Thành ra ngày Nonis bắt đầu từ ngày thứ 5 hay 7 của tháng.
Người Roma thường nói ngày từ  sự đánh dấu 3 loại ngày trên. Thí dụ  ngày 2 tháng 1 thì nói " ngày thứ 4  trước Nonas  tháng Januarias" (ante diem quartum nonas Januarias)...
Pridie: Trước ngày "đánh dấu" thì gọi là Pridie. Thí dụ Pridie Nonas thì cho ngày hôm trước của ngày nonas.
Thí dụ ngày 4 tháng 1: Pridie Nonas Januarias
Còn ngày trước ngày pridie lại là ngày thứ 3 trước Nonas cũng như ta nói "trong 8 nghĩa là sau 1 tuần lễ
- PostridieSau ngày "đánh dấu" thì gọi là postridie. Thí dụ  ngày 2/1: ngày thứ 4  trước Nonas  tháng Januarias" (ante diem quartum Nonas Januarias)
hay còn gọi là  sau ngày Kalendas tháng Januarias (postridie kalendas Januarias)
Còn ngày cuối tháng thì gọi là trước ngày kalendas (pridie  Kalendas) 
1
Kalendis Januariis
2
ante diem quartum Nonas Januarias
ou postridie kalendas Januarias
3
Ante diem tertium Nonas Januarias
4
Pridie Nonas Januarias
5
Nonis januariis
6
Ante diemoctavum Idus Januarias
ou postridie Nonas Januarias
7
Ante diem septimum Idus Januarias
8
Ante diem sextum Idus Januarias
9
Ante diem quintum Idus Januarias
10
Ante diem quartum Idus Januarias
11
Ante diem tertium Idus Januarias
12
Pridie idus Februarias
13
Idibus Januariis
14
ante diem undevicesimum Kalendas Februarias
ou postridie idus Januarias
15
ante diem duodevicesimum Kalendas Februarias
16
ante diem septimum decimum Kalendas August
17
ante diem sextum decimum Kalendas August
18
ante diem quintum decimum Kalendas August
19
ante diem quartum decimum Kalendas August
20
ante diem tertium decimum Kalendas August
21
ante diem duodecimum Kalendas Augusts
22
ante diem undecimum Kalendas August
23
ante diem decimum Kalendas August
24
ante diem nonum Kalendas August
25
ante diem octavum Kalendas August
26
ante diem septimum Kalendas August
27
ante diem sextum Kalendas August
28
ante diem quintum Kalendas August
29
ante diem quartum Kalendas August
30
ante diem tertium Kalendas August
31
Pridie Kalendas August
 b) Ý nghĩa chữ la tinh  những số:
2: pridie (PR)
3: tertium (III)
4: quartum (IV)
5: quintum (V)
6: sextum (VI)
7: septimum (VII)
8: octavum (VIII)
9: nonum (IX)
10: decimum (X)
11: undecimum (XI)
12: duodecimum (XII)
13: tertium decimum (XIII)
14: quartum decimum (XIV)
15: quintum decimum (XV)
16: sextum decimum (XVI)
17: septimum decimum (XVII)
18: duodevicesimum (XVIII)
19: undevicesimum (XIX)
 c) Cấu trúc của năm: 
Januarius
Augustus
December
Aprilis
Junius
September
November
Martius
Maius
Julius
October
Februarius
(năm thường)
Februarius
(năm nhuận)
1
Kalendis
Kalendis
Kalendis
Kalendis
Kalendis
2
IV
IV
VI
IV
IV
3
III
III
V
III
III
4
Pridie Nonas
Pridie Nonas
IV
Pridie Nonas
Pridie Nonas
5
Nonis
Nonis
III
Nonis
Nonis
6
VIII
VIII
Pridie Nonas
VIII
VIII
7
VII
VII
Nonae
VII
VII
8
VI
VI
VIII
VI
VI
9
V
V
VII
V
V
10
IV
IV
VI
IV
IV
11
III
III
V
III
III
12
Pridie Idus
Pridie Idus
IV
Pridie Idus
Pridie Idus
13
Idibus
Idibus
III
Idibus
Idibus
14
XIX
XVIII
Pridie Idus
XVI
XVI
15
XVIII
XVII
Idibus
XV
XV
16
XVII
XVI
XVII
XIV
XIV
17
XVI
XV
XVI
XIII
XIII
18
XV
XIV
XV
XII
XII
19
XIV
XIII
XIV
XI
XI
20
XIII
XII
XIII
X
X
21
XII
XI
XII
IX
IX
22
XI
X
XI
VIII
VIII
23
X
IX
X
VII
VII
24
IX
VIII
IX
VI
VI
25
VIII
VII
VIII
V
bis VI
26
VII
VI
VII
IV
V
27
VI
V
VI
III
IV
28
V
IV
V
Pridie Kalendas
III
29
IV
III
IV
31
Pridie Kalendas
30
III
Pridie Kalendas
III
31
4 năm một lần
31
Pridie Kalendas
31
Pridie Kalendas
31
http://www.louisg.net/C_mesopotamiens.htm
d) Tháng đầu tiên trong lịch Roma
Joannes Lamentius Lydus,  (nửa đầu thế kỷ thứ VI)  viết trong De mensibus (tháng) rằng người Roma phân biệt giữa năm tôn giáo bắt đầu tháng 1, năm truyền thống bắt đầu tháng 3, cũng như ta bây giờ, đầu năm âm lịch là tháng 2, đầu năm học là tháng 9 vậy.
e) Những ngày trong Tuần:
Đối với người Hébreux Chúa đã tạo ra con người trong 6 ngày và nghỉ vào ngày thứ 7.
Từ thời Trung cổ, người ta mới bắt đầu  dùng tuần lễ
Thời Cộng hòa Roma (509 TCN đến 27 TCN) và Haut Empire (27 TCN đến 236), tuần lễ được chia ra làm 8 ngày, ghi thứ tự từ A đến H trên những  quyển lịch. 
 Người Babylone lấy tên của 7 hành tinh khám phá ra lúc bấy giờ. Người Roma dùng mỗi hành tinh để hiến cho thần với  hành tinh liên hệ:
Chữ Latin
Chữ Ý
Giải thích
Solis dies
Domenica
Chúa nhật, ngày của Mặt trời, hành tinh hiến cho Apollon. Tiếng Pháp chữ "dimanche" viết theo "dies domenicus", ngày của Chúa, ngày dành để cầu nguyện và xem như là ngày đầu của một tuần.
Lunae dies
Lunedi
Thứ hai, ngày của Mặt trăng
Martis dies
Martedi
Thứ ba,  ngày của/3/, hành tinh cung hiến cho thần Chiến tranh vì là hành tinh màu đỏ.
Mercurii dies
Mercoledi
 Thứ tư,  ngày của Mercure , thần thương mại, du lịch, vận tốc, Mercure cũng là sứ thần của các vị thần.
Jovis dies
Giovedi
Thứ năm, ngày của Jupiter, hành tinh lớn nhất của hệ Mặt trời. Jupiter là súy chủ các vị thần, cai trị Olyme, nơi đó thần là những cơn sấm sét.
Veneris dies
Venerdi
Thứ sáu, ngày của Vénus, hành tinh hiến cho nữ thần Tình yêu planète dédiée
Saturni dies
Sabbato
Thứ bảy  ngày của Saturne, hành tinh xa xôi nhất và chậm nhất của hệ Mặt trời, cung hiến cho vị thần xa xưa nhất đã dạy loài người về ngành canh nông
Constantin, hoàng đế Roma từ 324 đến 337, với chỉ dụ Milan, ông cho phép tự do lễ lạc tại nhà thờ. 
Năm  312, Constantin, vô đạo Thiên chúa giáo ra lệnh chấm dứt những sự truy hại những người theo đạo Thiên chúa.Ông sửa đổi 3 điều:
- Thêm vô ngày Chúa nhật, ngày nghỉ cho tuần lễ 7 ngày (chỉ dụ 321).
- Công nhận chính thức các lễ Thiên chúa có ngày quy định.
- Công nhận chính thức lễ Pâques
Đế quốc Roma bắt những nước bị đô hộ phải dùng lịch julien như Grèce (Hy Lạp), Égypte (Ai Cập), Espagne (Tây ban nha), Gaules
III) Lịch Gregorien
Tuy vậy, lịch này tính trên căn bản 1 năm là 365 ngày và đúng 6 giờ, nhưng thực tế một thế kỷ giảm mất nửa giây và thí dụ thời Julius là 365 ngày 5 giờ 48 phút và 56 giây, qua cuối thế kỷ 16 là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút 47 giây cho tới thế kỷ thứ 20 thì còn 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây. Nếu tính theo lịch julien chẵn 365 ngày 6 giờ thì với sai số 11 phút cho 1 năm thì cứ 128 năm là sai 1 ngày.
Vào thời cải cách lịch julien, xuân phân tới  vào ngày 25 tháng 3
Năm 325  vào ngày 21 cho tới thế kỷ thứ 16 thì  xuân phân tới vào ngày 10 cùng tháng   Khi lịch ghi ngày 21 xuân phân thì xuân phân thực sự đã trôi qua 10 ngày rồi. Người ta làm lễ Pâques quá trễ. Và nếu như khoảng cách ngày càng lớn, người ta có thể làm lễ Pâques 1, 2, 3 tháng sau ngày thiên văn và ngày tháng trên lịch sẽ không còn tương ứng với các mùatrong năm...
Bởi vậy phải thay đổi để sửa sai. Lúc này các giáo hoàng tại Roma thay các hoàng đế, bởi vậy kỳ này giáo hoàng Gregory XIII ra tay. Năm 1582 ông  ra sắc lệnh hủy bỏ 10 ngày của lịch julien.
Để tránh lịch sai như lần trước, giáo hoàng quyết định 4 năm mới thêm 1 ngày nhuần.
Lịch này gọi là lịch grégorien, được áp dụng cho những  nước  theo Thiên chúa giáo và cho nước Pháp ngay tức thời. Tại Roma, Espagne và Portugal, cũng như các nhà thờ Thiên chúa giáo thì ngày hôm sau của thứ năm 4/10/1582 là 15/10/1582. Dưới triều đại của Henri III, ngày hôm sau của ngày chúa nhật 9/12/1582 là ngày thứ hai 20/12/1582.  Nước Anh phải đợi đến 3/9/1752 mới áp dụng, Nga năm 1918, Hy Lạp năm 1923,  Chỉ 26 năm sau ngày cải cách lịch của giáo hoàng Gregory XII, Québec đã áp dụng (năm 1608), Nhật: 1873, Trung quốc 1912, Hy Lạp, Roumanie: 1820...
Ngày nay lịch grégorien được áp dụng cho hầu hết các nước.
B) Lịch Gaulois:
1) Lịch của xã Coligny
Năm 1897 tại xã Coligny, giữa Ain và Jura trên con đường từ Lyon tới Strasbourg người ta khám phá một kho chứa hơn 550 mảnh bằng đồng, có lẽ  của những người đào kiếm kim loại. Trong số mảnh đồng tìm được, có khoảng 400 miếng ghép thành tượng thần lớn, và 150 miếng ghép thành quyển lịch. Cả thảy được bảo tàng viện Lyon mua ngay và trùng tu lại. Lịch gồm có bề dài 150 cm và 80 cm bề ngang, chia làm chu kỳ 5 năm (gọi là "lustre"), mỗi năm 12 tháng xen kẽ 30 và 29 ngày. Nhưng để hòa hợp với năm mặt trời, phải thêm 2 thángnhuận (30 ngày).
Đây là loại lịch theo chu kỳ quay của cả mặt trăng và mặt trờitrong chu kỳ  5 năm (lustre) gồm 3 năm có 12 tháng 29 và 30 ngày và 2 năm có 13 tháng (hai tháng thêm vô đều có 30 ngày)
250 năm sau lịch cải cách julien, những người gaulois vẫn còn dùng lịch cũ của họ không ghi những ngày lễ tôn giáo.
Quyển lịch viết bằng tiếng gaulois, nhưng khắc thành chữ và số La Mã, gồm 16 cột, hơn 2000 chữ mà hơn một nửa số chữ được giữ nguyên và được xem như bài viết dài nhất bằng tiếng gaulois được biết cho tới nay.
Nếu tính những chữ lập lại thì có 60 chữ gaulois khác nhau. Nhiều chữ không rõ nghĩa. Thí dụ chữ atenoux không biết có phải là "trở về tăm tối"?, mat  anmat có phải là "thuận lợi" và "bất lợi" hay là "đầy đủ" và "thiếu"?
Những người gaulois tính cứ mỗi "thế kỷ", tức là 30 năm (vì theo họ, 30 năm là một đời người, gồm 6 lustre, mỗi lustre là 5 năm) là phải bỏ 30 ngày dư để có một năm trung bình là 365,2 ngày.
Một năm được chia thành 2 lục cá nguyệt và mỗi tháng được chia thành hai lần 15 ngày cách nhau bằng chữ atenoux và trước mỗi ngày chừa một lỗ  để nhét vô một cái chốt chỉ ngày đang dùng. Ngày được ghi từ số I đến XV trước chữa ATENOVX (chữ V = U), và sau chữ này là từ I tới XIII hay XV.
Người gaulois tính ngày từ lúc trời xẩm tối. Không thấy có chữ "tuần lễ" hay "mùa màng".
Năm bắt đầu vào tháng 11
62 tháng được chia thành 16 cột. Có 14 tên tháng: tên của 12 tháng  lập lại 5 lần, 2 tên còn lại chỉ xuất hiện có 1 lần. 
Đây là tên của 12 tháng:
 X... (tháng nhuận đầu tiên), SAMON, DUMAN, RIUROS, ANAGANTIO, OGRON, CUTIOS, CIALLOS B.IS (tháng nhuận thứ 2), GIAMONI, SIMIVIS, EQUOS, ELEMBIU, AEDRINI et CANTLOS.
Chi tiết năm gaulois không được xác định rõ rệt.
Lịch  này phức tạp, kiểu chữ và số cho thấy lịch này lập ra khoảng thế kỷ thứ 2 tức là 2 thế kỷ sau lịch julien. Và vì lịch được khám phá chung với tượng thần, nên người ta cho đây là lịch tôn giáo được đặt trong đền thờ.  
2) Lịch Cộng hòa Pháp:
Lịch Cộng hòa được thiết lập bởi hiệp ước 5/10/1793.
Lịch bắt đầu ngày 22/9/1792, ngày thành lập chế độ Cộng hòa.
Một năm chia ra làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 3 lần 10 ngày =30 ngày
Thêm 5 ngày: 360 + 5 = 365 có tên Vertu, Génie, Travail, Opinion và Récompenses
Một ngày thêm vào những năm nhuần là lễ quốc khánh  
Những tháng mùa Thu:
Những tháng mùa Xuân:
  • vendémiaire (tháng mùa gặt)
  • Brumaire (tháng sương mù)
  • Frimaire (tháng sương giá)
  • Germinal (tháng nẩy mầm)
  • Floréal (tháng hoa)
  • Prairial (tháng đồng cỏ)
Những tháng mùa Đông:
Những tháng mùa Hè:
  • Nivôse (tháng tuyết)
  • Pluviôse (tháng mưa)
  • Ventôse (tháng gió)
  • Messidor (tháng mùa gặt)
  • Thermidor (tháng nóng)
  • Fructidor (tháng trái cây)
Napoléon hủy bỏ lịch này vào ngày 1/1/1806 và thay trở lại lịch grégorien.
Dân chúng bị lẫn lộn không biết tính ngày, nhưng đành phải chịu vì nếu không sẽ bị tử hình. Tuy nhiên có người lại cho đó có chất thơ nên đặt ra bài hát 
Lịch này trên lý thuyết bắt đầu từ 22/9/1792, nhưng được dùng sau 1 năm. Kéo dài tới ngày 31/12/1805, nghĩa là 13 năm 3 tháng. Sau đó lại được Paris dùng từ ngày 6 đến 23/5/1871 (nghĩa là từ ngày 16 floréal tới 3 prairial năm LXXIX)
BẢNG ĐỔI LỊCH CỘNG HÒA RA LỊCH GREGORIEN
NĂM
I
II
III *
IV
V
VI
VII *
VIII
IX
X
XI *
XII
XIII
XIV
CỘNG HÒA
NĂM
1792
1793
1794
1795
1796
1797
1798
1799
1800
1801
1802
1803
1804
1805
1806
GREGORIE
Ier VENDEMIAIRE
22
22
22
23
22
22
22
23
23
23
23
24
23
23
R
(Septembre)
E
Ier BRUMAIRE
22
22
22
23
22
22
22
23
23
23
23
24
23
23
T
(octobre)
O
Ier FRIMAIRE
21
21
21
22
22
21
21
22
22
22
22
23
23
23
U
(novembre)
R
Ier NIVÔSE
21
21
21
22
21
21
21
22
22
22
22
23
22
22
(décembre)
A
Ier PLUVIÔSE
20
20
20
21
20
20
20
21
21
21
21
22
21
U
tháng 1
Ier VENTÔSE
19
19
19
20
19
19
19
20
20
20
20
21
20
C
tháng 2
A
Ier GERMINAL
21
21
21
21
21
21
21
22
22
22
22
22
22
L
tháng 3
Ier FLOREAL
20
20
20
20
20
20
20
21
21
21
21
21
21
G
tháng 4
R
Ier PRAIRIAL
20
20
20
20
20
20
20
21
21
21
21
21
21
E
tháng 5
G
Ier MESSIDOR
19
19
19
19
19
19
19
20
20
20
20
20
20
O
tháng 6
R
Ier THERMIDOR
19
19
19
19
19
19
19
20
20
20
20
20
20
I
tháng 7
E
Ier FRUCTIDOR
18
18
18
18
18
18
18
19
19
19
19
19
19
N
tháng 8
http://www.nithart.com/calrepub.htm
Ngày 1 tháng Floreal năm Cộng hòa thứ VI là  20 tháng 4 năm 1797
Vậy ngày 17 Floréal = 1 Floréal + 16 ngày
vậy 20 tháng 4 năm 1797 + 16 = 6/5/1797
Lịch Cộng hòa năm 1794 do 
Louis-Philibert Debucourt vẽ (fr.wikipedia.org)
Tháng Cộng hòa
Năm VIII
1799-1800
Năm IX
1800-1801
Năm X
1801-1802
Năm XI
1802-1803
Năm XII
1803-1804
Năm XIII
1804-1805
Năm XIV
1805
1 Vendémiaire
15 Vendémiaire
1 Brumaire
15 Brumaire
23/9/1799
7/10/1799
23/10/1799
6/11/1799
23/9/1800
7/10/1800
23/10/1800
6/11/1800
23/9/1801
7/10/1801
23/10/1801
6/11/1801
23/9/1802
7/10/1802
23/10/1802
6/11/1802
24/9/1803
8/10/1803
24/10/1803
7/11/1803
23/9/1804
7/10/1804
23/10/1804
6/11/1804
23/9/1805
7/10/1805
23/10/1805
6/11/1805
1 Frimaire
15 Frimaire
1 Nivôse
15 Nivôse
22/11/1799
6/12/1799
22/12/1799
5/1/1800
22/11/1800
6/12/1800
22/12/1800
5/1/1801
22/11/1801
6/12/1801
22/12/1801
5/1/1802
22/11/1802
6/12/1802
22/12/1802
5/1/1803
23/11/1803
7/12/1803
23/12/1803
6/1/1804
22/11/1804
6/12/1804
22/12/1804
5/1/1805
22/11/1805
6/12/1805
22/12/1805
1 Pluviôse
15 Pluviôse
1 Ventôse
15 Ventôse
21/1/1800
4/2/1800
20/2/1800
6/3/1800
21/1/1801
4/2/1801
20/2/1801
6/3/1801
21/1/1802
4/2/1802
20/2/1802
6/3/1802
21/1/1803
4/2/1803
20/2/1803
6/3/1803
22/1/1804
5/2/1804
21/2/1804
6/3/1804
21/1/1805
4/2/1805
20/2/1805
6/3/1805

1 Germinal
15 Germinal
1 Floréal
15 Floréal
22/3/1800
5/4/1800
21/4/1800
5/5/1800
22/3/1801
5/4/1801
21/4/1801
5/5/1801
22/3/1802
5/4/1802
21/4/1802
5/5/1802
22/3/1803
5/4/1803
21/4/1803
5/5/1803
22/3/1804
5/4/1804
21/4/1804
5/5/1804
22/3/1805
5/4/1805
21/4/1805
5/5/1805

1 Prairial
15 Prairial
1 Messidor
15 Messidor
21/5/1800
4/6/1800
20/6/1800
4/7/1800
21/5/1801
4/6/1801
20/6/1801
4/7/1801
21/5/1802
4/6/1802
20/6/1802
4/7/1802
21/5/1803
4/6/1803
20/6/1803
4/7/1803
21/5/1804
4/6/1804
20/6/1804
4/7/1804
21/5/1805
4/6/1805
20/6/1805
4/7/1805

1 Thermidor
15 Thermidor
1 Fructidor
15 Fructidor
20/7/1800
3/8/1800
19/8/1800
2/9/1800
20/7/1801
3/8/1801
19/8/1801
2/9/1801
20/7/1802
3/8/1802
19/8/1802
2/9/1802
20/7/1803
3/8/1803
19/8/1803
2/9/1803
20/7/1804
3/8/1804
19/8/1804
2/9/1804
20/7/1805
3/8/1805
19/8/1805
2/9/1805

Bổ túc ngày thứ 5 Bổ túc ngày thứ 6
22/9/1800
22/9/1801
22/9/1802
22/9/1803
23/9/1803
22/9/1804
22/9/ 1805

Tháng Cộng   Hòa
Năm II
1793-1794
Năm III
1794-1795
Năm IV
1795-1796
Năm V
1796-1797
Năm VI
1797-1798
Năm VII
1798-1799
1 Vendémiaire
15 Vendémiaire
1 Brumaire
15 Brumaire 
22/9/1793
6/10/1793
22/10/1793
5/11/1793
22/9/1794
6/10/1794
22/10/1794
5/11/1794
23/9/1795
7/10/1795
23/10/1795
6/11/1795
22/9/1796
6/10/1796
22/10/1796
5/11/1796
22/9/1797
6/10/1797
22/10/1797
5/11/1797
22/9/1798
6/10/1798
22/10/1798
5/11/1798
1 Frimaire
15 Frimaire
1 Nivôse
15 Nivôse
21/11/1793
5/12/1793
21/12/1793
4/1/1794
21/11/1794
5/12/1794
21/12/1794
4/1/1795
22/11/1795
6/12/1795
22/12/1795
5/1/1796
21/11/1796
5/12/1796
21/12/1796
4/1/1797
21/11/1797
5/12/1797
21/12/1797
4/1/1798
21/11/1798
5/12/1798
21/12/1798
4/1/1799
1 Pluviôse
15 Pluviôse
1 Ventôse
15 Ventôse
20/1/1794
3/2/1794
19/2/1794
5/3/1794
20/1/1795
3/2/1795
19/2/1795
5/3/1795
21/1/1796
4/2/1796
20/2/1796
5/3/1796
20/1/1797
3/2/1797
19/2/1797
5/3/1797
20/1/1798
3/2/1798
19/2/1798
5/3/1798
20/1/1799
3/2/1799
19/2/1799
5/3/1799
1 Germinal
15 Germinal
1 Floréal
15 Floréal
21/3/1794
4/4/1794
20/4/1794
4/5/1794
21/3/1795
4/4/1795
20/4/1795
4/5/1795
21/3/1796
4/4/1796
20/4/1796
4/5/1796
21/3/1797
4/4/1797
20/4/1797
4/5/1797
21/3/1798
4/4/1798
20/4/1798
4/5/1798
21/3/1799
4/4/1799
20/4/1799
4/5/1799
1 Prairial
15 Prairial
1 Messidor
15 Messidor
20/5/1794
3/6/1794
19/6/1794
3/7/1794
20/5/1795
3/6/1795
19/6/1795
3/7/1793
20/5/1796
3/6/1796
19/6/1796
3/7/1796
20/5/1797
3/6/1797
19/6/1797
3/7/1797
20/5/1798
3/6/1798
19/6/1798
3/7/1798
20/5/1799
3/6/1799
19/6/1799
3/7/1799
1 Thermidor
15 Thermidor
1 Fructidor
15 Fructidor
19/7/1794
2/8/1794
18/8/1794
1/9/1794
19/7/1795
2/8/1795
18/8/1795
1/9/1795
19/7/1796
2/8/1796
18/8/1796
1/9/1796
19/7/1797
2/8/1797
18/8/1797
1/9/1797
19/7/1798
2/8/1798
18/8/1798
1/9/1798
19/7/1799
2/8/1799
18/8/1799
1/9/1799
Bổ túc ngày thứ 5 Bổ túc ngày thứ 6
21/9/1794
21/9/1795
22/9/1795
21/9/1796
21/9/1797
21/9/1798
21/9/1799
22/9/1799
3) Cách tính ngày lễ Pâques:
Hội nghị giám mục  Nicée (concile de Nicée) họp vào năm 325 để xác định ngày  xuân phân: 21 tháng 3 và định ngày lễ Pâques: " Ngày Chúa nhật tiếp theo ngày thứ 14 của tuần trăng". Những năm trước 1583 thì người ta lấy lịch julien tính ngày lễ Pâques. Còn những năm sau 1583 khi có lịch gregorien thì người ta tính lễ pâques theo lịch này. Ngày lễ có thể thay đổi từ 22/3 cho tới 25/4 (35 ngày, nghĩa là ngày lễ Pâques có thể là 1 trong 35 ngày đó)
Bên Pháp ngày 1 tháng tư ấm, hơi gió và mưa lất phất, mọi người được quyền quên chiếc áo ấm dày, thô nặng nề. Hoa thủy tiên đã nứt lên từ tháng một, trải qua nhiều lần tuyết phủ, hoa đầu tiên vui mừng  báo hiệu mùa xuân. Mọi cây khác nhìn xa thấy vẫn chỉ là những cành không lá đen đủi, nhưng thiệt ra chúng đã ôm đầy nụ từ hai tháng trước như đã ngầm chuẩn bị với nhau, lần lượt nở vào tháng Tư.  Tháng Tư đúng là mùa Xuân, hoa lá sống trở lại sau khi ngủ  một giấc dài 6 tháng, giống như tháng Giêng của Việt Nam
Cho nên ngày 1 tháng 4 mùa xuân vừa mới bắt đầu nên tùy triều đại và tùy miền, người ta lấy ngày đầu xuân là 1 tháng tư với lý do sự đổi mới với mùa xuân vừa mới bắt đầu.
Năm 1564, Charles IX, lúc đó 14 tuổi, quy định ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm thay vì 1 tháng 4. Quyết định này được áp dụng  năm 1567.
Poisson d'Avril:
Sự thay đổi này làm xê dịch ngày trao đổi quà tết. Có những người vẫn chưa quen hay vẫn còn nghi ngờ ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm, nên vẫn tiếp tục trao tặng quà nhau vào ngày 1 tháng 4.  Sau đó họ vẫn tiếp tục trao nhau những món quà nhỏ cốt để vui cười với nhau, rồi dần dần tới chuyện dùng mưu mẹo để giăng bẫy...
Tại sao lựa con cá ?
Nếu những trò đùa được biết dưới tên "cá tháng 4", là vì ở thế kỷ 16, quà tặng nhau thường là thức ăn. Ngày này là ngày cuối tuần chay, thời kỳ này người có đạo Thiên chúa bị cấm ăn thịt. Cá là món ăn thường xuyên.  Sự đùa nghịch  ngàu càng phát triển, một trong những quá cáp là con  cá giả.
Các nước khác...
Truyền thống đùa giỡn ngày 1 tháng 4 bắt đầu ở phương Tây và từ từ lan dần. Mỗi nước biểu thị một cách khác. Người Anh đặt tên là April's fool day, chỉ chọc phá buổi sáng thôi và người bị bẫy là "cộng  mì ống". Xứ Tô Cách Lan thì gấp hai lần Pháp vì họ giỡn cho tới ngày 2/4. Ngoài ra còn có một loại cá tháng tư  bên Ấn độ, xảy ra ngày 31/3 và họ gọi là lễ Huli.
C) Các lịch khác:
1) Lịch đạo Hồi
Nhà tiên tri Mahomet theo truyền thống, rời khỏi đền thờ đêm 15 cho tới 16 tháng 7 năm 622 (lịch hiện tại). Niên đại Hồi giáo lấy sự ra đi đó để dùng làm điểm khởi đầu. Lịch Hồi là âm lịch và gồm 12 tháng xen kẽ 30 hay 29 ngày. Chu kỳ 30 năm với 11 năm có 355 ngày và 19 năm với 354 ngày.
Tháng cuối cùng, là tháng của Aïd el Kébir có thêm 1 ngày  cho những năm lạ thường hay những năm phồn thịnh, theo chu kỳ 30 năm cho những  năm 2, 5, 7, 10, 13, 16, 18, 21, 24, 26, 29
Lịch này sai lệch rất nhiều so với dương lịch
Kỷ nguyên đạo Islam gọi là hégire bắt đầu năm 622 của kỷ nguyên đạo thiên chúa (ngày mà Mohamet ra đi)
100 năm hégire tương đương với 97 năm 8 ngày và 4 giờ theo dương lịch
100 năm dương lịch tương đương với 103 năm 24 ngày và 12 giờ theo đạo Hồi.
2 Lịch Do thái

Tên tháng
Do thái
Ngày
Nissan
ניסן
30
Iyar
איר
29
Sivan
סיון
30
Tamouz
תמוז
29
Av
אב
30
Eloul
אלול
29
Tishri
תשרי
30
Heshvan
חשון
thay đổi 29/30
Kislev
כסלו
thay đổi 29/30
Tevet
טבת
29
Shvat
שבט
30
Adar (Chỉ năm nhuần thôi)
אדר
30
Adar 2, hay vé-adar
(năm thường thì tháng này gọi làAdar)
ואדר
29
  • Nissan (Theo kinh thánh, Nissan là tháng đầu tiên của năm)
Theo nguyên tắc của âm dương hiệp lịch.  Lịch Do thái có phép tính ngày lễ Rô'sh Hashshânâh (ngày Tết của họ) một cách hết sức phức tạp. Hồi giáo cũng dùng âm lịch, nhưng cộng thêm ngày cho trùng hợp với chu kỳ của mặt trăng mà không sửa chữa theo sự vận hành của trái đất quanh mặt trời. Do đó 1410 năm theo âm lịch Hồi giáo chỉ tương ứng với 1368 năm dương lịch. Ðạo Bahâ'i lại dùng một lịch, dựa trên âm lịch và ngày đầu năm là ngày xuân phân (vernal equinox). Ðiểm đặt biệt là lịch này gồm 19 tháng, mỗi tháng 19 ngày (một năm có 361 ngày), và có thêm 4 ngày mỗi năm chen vào giữa các tháng và sau bốn năm thì thêm một ngày nữa như năm nhuận dương lịch.
 3) Lịch Việt Nam và Trung quốc
Người Việt nam dùng âm lịch để tính lễ tiết và chọn ngày cho các công việc quan trọng như cưới hỏi, xây nhà, mở cửa tiệm làm ăn...   Âm lịch này giống như âm lịch của Trung quốc nghĩa là dựa trên chu kỳ của mặt trăng và phối hợp với sự chuyển động của trái đất quanh mặt trời. Mỗi năm có 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu, 29 ngày. Cứ 19 năm thì nhuận 7 lần, mỗi lần nhuận một tháng. Tháng đầu năm là tháng giêng và tháng cuối năm là tháng chạp không bao giờ được lấy làm tháng nhuận. Ngày đầu năm, ngày  mùng một Tết, là ngày đầu tuần trăng thứ nhì sau ngày tiết Ðông chí (Winter solstice, thường xem như là ngày mà đêm dài nhất trong năm). Tùy theo tuần trăng ở ngày Ðông chí mà ngày đầu năm sẽ đến trong khoảng 30 đến 59 ngày sau ngày đó. Do đó ngày mùng một Tết chỉ có thể nằm trong khoảng 20 tháng 1 đến 21 tháng 2 dương lịch.  Tháng âm lịch thường đi sau tháng dương lịch một hay hai thứ, như tháng ba âm lịch ứng với tháng tư hoặc tháng năm dương lịch.
Năm âm lịch không tính theo số mà dùng tên ghép gồm hai chữ.   Chữ đầu là một trong 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quý).  Chữ thứ nhì là một trong 12 địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão hay Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi).  Mười hai địa chi là tên 12 con vật. Âm lịch Việt nam khác âm lịch Trung quốc ở chỗ năm Sửu thì theo lịch Việt nam là năm con trâu, còn Trung quốc là con bò, còn năm Mão hay Mẹo ở Việt nam là năm con mèo, thì trong lịch Trung quốc lại là năm con thỏ. Vì bội số chung của 10 (thiên can) và 12 (địa chi) là 60, nên cứ 60 năm, tên các năm lại được lập đúng trở lại.  Và cũng vì thế mà mỗi can chỉ đi chung với sáu năm trong 12 địa chi, hay mỗi năm theo địa chi chỉ có thể đi chung với 5 can mà thôi. Thí dụ như can Giáp chỉ đi chung với các năm Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân và Tuất, còn can Ất chỉ đi chung với các năm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu và Hợi.
Trần Ngọc Thùy Trang (cựu chủ tịch UVSA) có nhận xét là các năm bắt đầu bằng can Canh có số đơn vị là 0, Tân có số đơn vị là 1... theo số năm dương lịch, nhưng không rõ sự tương ứng.   Thật ra đó là sự tương ứng một gióng một (correspondence one to one): vì hệ thống số đang dùng theo thập phân, từ 0 đến 9, nên số hàng đơn vị mỗi năm ứng với mười thiên can, không xê dịch, không thay đổi được.   Năm có can Canh luôn luôn ứng với năm dương lịch có số cuối là 0 (như Canh Thìn là 1940, 2000; Canh Ngọ là 1990, Canh Thân là 1980...), Tân ứng với số cuối là 1 (Tân Tỵ là 1941, 2001; Tân Mùi là 1991, Tân Dậu là 1981...), Nhâm ứng với số cuối là 2 (Nhâm Ngọ là 1942, 2002, Nhâm Thân là 1992, Nhâm Tuất là 1982...),  Quý, với số cuối là 3 (Quý Mùi là 1943, 2003; Quý Hợi là 1983, Quý Dậu là 1993...), Giáp ứng với số cuối là 4 (Giáp Thân là 1944, 2004; Giáp Tuất là 1994, Giáp Dần là 1974...)  vân vân. Cứ mười hai năm làm một giáp (great year),  60 năm làm một vận niên lục giáp (cycle) và 3600 năm làm một kỷ nguyên (epoch) 
**
4
5
6
7
8
9
0
1
2
3
Giáp
Ất
Bính
Ðinh
Mậu
Kỷ
Canh
Tân
Nhâm
Quý
1984
1996
1972
Sửu
1985
1997
1973
Dần
1974
1986
1998
Mão
1975
1987
1999
Thìn
1964
1976
1988
2000
Tỵ
1965
1977
1989
2001
Ngọ
1954
1966
1978
1990
2002
Mùi
1955
1967
1979
1991
2003
Thân
2004
1956
1968
1980
1992
Dậu
2005
1969
1981
1993
Tuất
1994
2006
1958
1970
1982
Hợi
1995
2007
1971
1983
 ** Số tương ứng với 10 thiên can.
Mỗi năm âm lịch lại chia ra làm 24 tiết 
Tiết (âm lịch)
Dương lịch (khoảng)
Số ngày giữa hai tiết   
Lập xuân            
4 tháng 2  
15
 thủy
19 tháng 2 
15
Kinh trập 
6 tháng 3
(năm nhuận, 16 ngày) 15
Xuân phân 
21 tháng 3
15   
Thanh minh
5 tháng 4
15  
Cốc vũ              
20 tháng 4
15
Lập hạ       
6 tháng 5       
16 
Tiểu mãn
21 tháng 5
15 
Mang chủng  
6 tháng 6
16  
Hạ chí       
21 tháng 6
15  
Tiểu thử   
7 tháng 7
16 
Ðại thử    
23 tháng 7
16 
Lập thu  
8 tháng 8
16
Xử thử
23 tháng 8
15
Bạch lộ     
8 tháng 9
16 
Thu phân        
23 tháng 9
15  
Hàn lộ            
8 tháng 10
15 
Sương giáng    
23 tháng 10 
15
Lập đông  
7 tháng 11 
15
Tiểu tuyết   
22 tháng 11 
15 
Ðại tuyết  
6 tháng 12
14 
Ðông chí             
22 tháng 12
16     
Tiểu hàn   
5 tháng1 
14  
Ðại hàn       
20 tháng 1   
15
Tổng          cộng        
 365
* Thanh minh trong tiết tháng ba trong truyện Kiều là trong tháng ba âm lịch đến sau tiết xuân phân khoảng hai tuần.
  4) Lịch Nhật bản
Ngoài Việt nam và Trung quốc còn có Nhật bản cũng dùng âm lịch như trên.
Người Nhật gọi tiết là ki. Xuân phân theo tiếng Nhật là Shunbun, Hạ chí là Geshi, Thu phân là Shuubun và Ðông chí là Touji. 
Tên tháng trong lịch Nhật lúc đầu không theo cách đếm số mà theo mùa màng hay công việc đồng áng.  Tháng giêng là MuTsuki có nghĩa là mùa xuân thái hòa, tháng ba là Yayohi, có nghĩa là cỏ mọc xanh rì, tháng sáu là Mina Tzuki, tháng tưới nước (đưa nước vào ruộng),  tháng 8 là Ha Tzuki, tức là tháng của lá cây. Ðặc biệt là tháng 10 được gọi là tháng của các vị thần, KaNa Tzuki vì theo truyền thuyết các thần về họp mặt tại đền Izumo trong phủ Shimane. Vì vậy người ta vẫn coi tháng 10 là tháng không có thần thánh bảo hộ ở các phủ khác. 
Tháng âm lịch có ba tuần, theo con trăng: thượng tuần, trung tuần và hạ tuần. Riêng âm lịch Nhật chia tuần lễ theo bảy ngày từ năm 807.  Năm 806 nhà sưKoubou Daishi cho biết là không thể tính chính xác ngày xấu, ngày tốt trong lịch Nhật vì không biết được ngày bí mật, tiếng Nhật là Mitsubi.  Thật ra Mitsubi do chữ Mitsu, âm từ tiếng thổ âm Samarkand mee-ruu  là Sunday.  Từ đó lịch Nhật bản áp dụng tuần lễ bảy ngày theo tên Mặt trời và tên sáu hành tinh (planets) trong Thái dương hệ. Trong hồi ký viết năm 1007, Michinaga Fujiwara đã ghi lại ngày 23 tháng 9 là ngày thứ ba (Kayoubi), ngày của Hỏa tinh.
Cho đến nay, người Nhật bản, người Trung quốc, và người Việt Nam đều dựa vào âm lịch để giải quyết các việc quan trọng trong đời sống, và âm lịch đã thật sự có một ảnh hưởng sâu đậm trong ba nước này.
Theo http://www.maxreading.com/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Gợi mở một triết học Phồn Sinh

Gợi mở một triết học Phồn Sinh Trường ca Phồn Sinh của nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu được nhà xuất bản Hội nhà văn in năm 2018, đến nay đã có ...