Mệt quá đôi chân này/ tìm đến chiếc ghế nghỉ
ngơi… Thân mệt, cơm áo mệt, công danh mệt, cuộc đời mệt và thơ… cũng mệt.
Thế nhưng người đời vẫn lang thang không nghỉ ngơi, còn người thơ thì vật nài
làm phu chữ, trải mình giữa pháp trường trắng; Ai đó lại ngồi tịnh bên thềm
hoang chờ nghe tiếng gọi của tâm thức, hay tịch mịch diện bích mong cầu vô thức
phát sáng. Ôi Thơ là cái chi chi mà mê đắm, mà bí ẩn kiếm
tìm?! Tôi muốn bắt đầu bài viết của mình bằng ý niệm của Sartre, muốn bắt đầu
cuộc nhàn đàm về Thơ không phải từ người sáng tác.
Knock three times! Tôi tin rằng tuyệt đại
đa số chúng ta, trước khi cầm bút, đã gõ, không phải ba mà n lần vào
hư vô câu hỏi: Thơ là gì? Câu hỏi không khó chỉ có đến n câu
trả lời không giống nhau, thậm chí đối nghịch. Một mình Lawrence Ferlinghetti
đã có 52
định nghĩa. Ở đây, xin tạm khoanh vùng một vài định nghĩa làm tiền đề từ đó
phóng chiếu cái hay, dở của thơ.
1.
Ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên của thơ nên
Thơ là thế giới của chữ (mot) và nghĩa (sens de mot). Một chữ đơn lẻ
không làm thành thơ. Bài thơ ngắn lắm cũng là loại haikâu (kiểu Lê Đạt) hay
Haiku của Nhật (17 âm tiết). Đó phải là những con chữ kết tụ thành bầy
đàn và phái sinh ý nghĩa. Theo đó, bài 39
động từ của Đinh Linh không hẳn là một bài thơ đúng nghĩa? Tôi rất
đồng cảm với những phân tích của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng trong Đọc một bài thơ như thế nào. Chữ,
tự nó là những lóng xương hóa thạch, chỉ được phục sinh khi nhà thơ đặt
để chúng trong một mối quan hệ khắng khít đồng chuyển, đồng hiện. Tháp và cổ nếu
chia lìa thì trơ ra, xa lạ nhưng tháp cổ lại đầy mềm mại của một liên
tưởng. Theo Tuổi trẻ Online, Nguyễn Danh Lam lang thang tình cờ gặp hai câu đề
từ của Đặng Hải Yến treo trên blog đã kêu lên “Thật ấn tượng!”
Khi em cởi áo trước mặt trời rất lạ
Thơ anh ngủ ngực em trên lá hoa
Tôi cũng ấn tượng mặc dù cặp đề từ không có một
từ nào mới và lạ, thậm chí quá quen thuộc với áo, mặt trời, ngủ, lá hoa nhưng
chính là sự kết hợp hài hòa của những con chữ đã ru ta vào một cõi dịu dàng.
Câu thơ nói đến hoạt động cởi áo, ngủ mà không một chút sex. Nếu
không khéo tay đan móc, tình huống thơ sẽ xấu đi nhiều lần. Tương tự, câu thơ của
Thanh Thảo cũng đã phát sáng trên vùng biển mê hoặc với ngọn sóng thiếu nữ: Biển
ơi / Người mê hoặc tôi bằng ngọn sóng thiếu nữ / những đường cong chói sáng / tự
xóa bỏ mình. Ẩn dụ đã phát huy tác dụng, khơi gợi một trường liên tưởng lạ
lẫm. Trường hợp Đặc sản ruồi của Phan Nhiên Hạo khác hơn một chút:
Chúng ta đang học cách nuôi ruồi
trên bãi rác lịch sử
Định ngữ lịch sử làm bãi rác thành thơ,
khái quát đuợc bao nhiêu nghĩ suy của thời đại. Những con chữ thô kệch, đời thường
đã bay lên.
Cho nên cộng hợp và phái sinh là
hai thuộc tính của từ trên bình diện đa chiều của thơ. Những con chữ lạ
hóa, trong một kết hợp độc đáo làm thơ phân biệt với văn xuôi, cho
thơ sức mạnh bí ẩn, sự quyến rũ lạ kỳ, là tiếng nói bất thoả hiệp chống lại
sự lãng phí của từ ngữ và sự thừa thãi điên rồ của ấn phẩm, là cái gì hiện hữu
giữa những hàng chữ (Ferlinghetti). Các biện pháp tu từ là tối quan trọng
nhưng nếu người thợ gốm không khéo tay, sản phẩm sẽ không còn hình thù gì để nhận
diện. Tôi rất thích Vỉa từ của Nguyễn Hữu Hồng Minh, nhưng Lỗ thủng
lịch sử của anh cuối cùng chỉ là những xác chữ trương phình được treo lên
dù là rất hậu hiện đại trong thi pháp giễu nhại. Lê
Thị Thấm Vân trong Căn phòng 2.2 - âm thanh sóng hình như
đang giới thiệu của chứ không khoe chữ-nghĩa của một nhà thơ. Nhóm Ngựa
Trời với Dự báo phi thời tiết cũng có một số bài thơ mà ngữ ngôn cứ
muốn căng phồng nhảy cẫng lên trong cơn động dục, rất bạo loạn thời a còng
nhưng tôi không nghe được bất kỳ vọng âm nào; nên phải chăng là sự thừa
thãi điên rồ? Tuy thế, hai bài thơ của Nguyễn Đình Chính với
tôi hoàn toàn không hề là hai bãi thơ (chữ của Nhất Vương). Ở đây, có giao
hợp, bắn đạn tinh trùng, có cả cục cứt nát, nhưng trong bản hợp
âm của những con chữ tưởng chừng bát nháo giễu nhại đó, tiếng nấc lên sùi sụt của
nhân văn là âm chủ đạo. Cho nên con âm tự nó là sinh thể sống động nói chuyện với
tri âm (nhà thơ và người đọc). Các từ phân, rác, nịt ngực, băng vệ sinh,
các bộ phận cơ thể… đặt để ở đây là dung tục, thô thiển, tầm thường, đặt chỗ
kia lại phát sáng, tỏa hương.
Vấn đề thứ hai của chữ và nghĩa đang
phải lên tiếng báo động trong thơ trẻ đương đại là việc lặp lại nhàm và thừa
các con chữ mà người ta đã vắt đến chỉ còn bã (bã mía chữ). "Lỗ rỗng",
"Mùa căng", "Nẻ", "Vọng kinh" (Các tựa bài
thơ của Phương Lan trong Nhóm Ngựa Trời) phải chăng ở đây là tiếng nói của thời
thượng, một thứ ngôn ngữ ước lệ để các tác giả ảo tưởng khoác cho mình cái áo
màu ngũ sắc của Hậu hiện đại hay Hậu Nữ quyền luận? Vấn đề liều lượng của các
loại ngôn ngữ (bóng bẩy, dung tục), rồi việc dụng công đẽo gọt có lẽ cũng cần
phải bàn nhiều. Vì nói như Inrasara, đại ý, nếu chỉ làm mới thơ bằng cách đem
vào quẩn quanh các ngôn từ đời thường dung tục thì thơ sẽ nghèo đến kiết xác và
kết thúc tắc tị. Ngược lại, trong tâm thức thời đại hôm nay mà chỉ ngủ mơ với
các loại từ kiểu phong hoa tuyết nguyệt, mây, mưa, mỹ nhân với thanh
sắc thì ôi thôi, các nhà thơ của chúng ta đã kéo lùi lại tuổi thanh xuân của
ngôn ngữ, nhốt nó vào vòng lao lý trì trệ. Mùa thu, lá thu xào xạc, ngơ
ngác nai… theo tôi, đã đến lúc phải niêm phong để khỏi bất
cập.
Thơ, trước hết là vọng âm của những con chữ
đuợc lạ hóa, lạ lùng, lạ lẫm trong một kết hợp nhuần nhụy. Không có
nghĩa, nghĩa tầm thường/khô cứng/đơn nhất, chữ sẽ chết và tất nhiên, thơ nên quẳng
vào vào sọt rác. Với nghĩa tắc tị/đầy ám muội, thơ sẽ dựng lên bức tường chắn lối
người đọc. Làm thơ, việc đầu tiên chính là sáng tạo những sinh thể chữ biết kêu
vang, có tiếng khóc điệu cười, có đủ thất tình ái ố dục… “Thơ là ngôn ngữ tự lấy
mình làm cứu cánh”. Sartre đã tôn vinh nhà thơ - người sánh vai với Thượng đế
khi sáng tạo ra ngôn ngữ.
2.
Nếu ngôn ngữ tạo được dáng vẻ diện mạo thơ
thì nhịp điệu chính là hơi thở của sinh thể thơ. Nhịp điệu bên ngoài
bao gồm tiết tấu, bằng trắc, độ dài ngắn của câu… kết hợp với nhịp điệu nội tại
(cảm xúc thơ) kích động lên thị giác, thính giác, lên cả nhịp đập của trái tim
ta, mở ra những cảm nhận vô bờ cho người đọc.
Nửa vời trăng mộng mông lung
Đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô
(Bùi Giáng)
Cặp thơ lục bát của Bùi Giáng tiên sinh nếu
chỉ đọc theo nhịp 2-2-2 và 4/4 truyền thống, có lẽ sẽ hạn chế phần nào các lớp
tầng nghĩa. Giả như đọc câu lục theo nhịp 3/3: nửa vầng trăng/ mộng mông
lung và câu tám theo nhịp 1/5/2: đường/ hoa nghi hoặc tháp tùng/ ni
cô, thì cặp thơ sẽ gây nhiều ấn tượng hơn. Chính nhịp điệu biến thơ thành
“cú đập nổi loạn lên cánh cửa của cõi bất đắc nhi tri” (Ferlinghetti).
Trong thời đại của nhịp sống số, nhịp điệu
mang lại cho thơ sức sống mới cũng như tiết tấu của disco, rock, rap với tempo
120-140 phân biệt với Blue, Slow, Boston (60-80). Thơ đương đại gần như đã tách
được khỏi bước đi 2/2/3 của Đường luật, và nhịp phách đều đặn (monotone) của
thơ Tiền chiến và hiện hữu trong nhịp đập nội tại của thơ. Người đọc có thể thấy
trúc trắc, chông chênh, thấy vắt ngang vắt dọc một cách khó hiểu là vì họ chưa
tiếp cận và bắt kịp những làn sóng xô nhau, riết róng của thơ. Đất nước của
Nguyễn Khoa Điềm là một bài thành công về nhịp điệu với những câu dài ngắn đan
xen, những câu chính luận đuợc trải ra trên các dòngkẻ của một nghĩ
suy. Tiết tấu trong Nhật ký kim đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều rơi
trên những phách gõ mơ hồ, chậm chạp, nhúc nhắc mệt mỏi của một ngày sống:
Bay qua bầu trời, cơn mưa
Mộng mị của ngày mồng 6 tháng Bảy
Một thiếu phụ thường bị ngạt thở
Bên ô cửa xa xôi
In mờ bóng một sư tử
Và một ngọn núi
Mọc trên cánh đồng của những thì thầm đêm trước
Một văn bản được soạn sẵn
“Ông hãy đến với em…”
(Chúc thư)
Đó cũng là nhịp điệu cơ bản trong thơ Nguyễn
Quang Thiều, nhịp điệu của niềm tin vào sự tuyệt vọng và rỗng nên không bao giờ
nao nức dù là Ông hãy đến với em. Nếu bạn mà đọc khổ thơ trên với nhịp hối
hả, mạnh mẽ, tức là đã phá hỏng nhịp điệu bên trong của Chúc thư (cùng
cách với Đàm Vĩnh Hưng đã… rống lên với Diễm Xưa hay Thanh Lam ngậm
micro hát Hạ Trắng!) Nhịp điệu, do đó gắn chặt với nội dung và thể loại.
Tân hình thức đã đem vào thơ Việt lối vắt dòng tạo nên nhịp hẫng (một hình thức
đảo phách của âm nhạc) rất tuyệt vời, nhưng lại bị lạm dụng nên những câu thơ của
một số tác giả cứ như ngớ ngẩn lạc điệu.
Vào tiền vệ sáng nay mới
Hay tin ông chết “qua bài
Viết của nguyễn việt chiến phát"
Nhớ liền bài phỏng vấn [dạng
(Một người phu chữ đã chết - Vương Ngọc Minh)
Vắt dòng ở đây hình như chẳng có tác dụng gì,
một kiểu mô phỏng, nhại; trong khi đó với Lê Đạt ngoài câu chữ, tiết tấu thơ
trôi đi đầy gợi cảm:
Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ
Trang tầm xuân
cau
chưa mở nụ ngà
Đàn từ non
âm hé môi cong mỏ hót
Đọc hai khổ thơ, tôi bỗng chợt buồn và áy náy
vì chiền chiện lại hát múa cho họa mi (đã chết)!
Tập Đất vỡ của Vi
Lãng - Biên tập viên Damau.org - không có nhiều chất hậu hiện đại
nhưng mới, rất mới nhờ nhịp điệu tồn tại gắn với cái biểu đạt.
Em bảo bức tranh này như cơn lũ: đất cuốn, cánh
buồm trắng
Ngược gió, con chó tru trơ, sóng ngập trái,
và những thứ
Tủn mủn trên bàn. Ngoài khung, chúng không biết
gì
Về em và tôi: mình đi qua đó, như bóng trong
gương
(Bức Tranh - Đất vỡ)
Cách dùng các loại dấu kết hợp với thủ pháp vắt
dòng có hiệu ứng tạo nên hơi thơ đặc trưng của Vi Lãng, không nhầm lẫn
với ai. Cánh buồm, đất cuốn, tiếng chó tru trơ đều ngang bằng nhau
trong một cảm nhận tủn mủn.
Tiết tấu nhịp điệu còn là sự lý đến muôn đời
của thi ca. Canh tân không phải là đánh liều học đòi người bất chấp trắng đen
thị phi. Ôi thôi, họa hổ bất thành! Muốn thành người đẹp đâu phải cứ
bắt chước Tây Thi nhăn mặt nhíu mày, nhan sắc kiểu này e là phải đánh dấu than
ôi! Xin được dừng lại ở đây nhường đất cho nhà lý luận phê bình…
3.
Hình tượng thơ, cấu tứ và nội dung biểu đạt
là ba mặt của một vấn đề thơ ca hôm nay. Thơ Việt đang lên hay tụt dốc, đang mở
hay đang bế? Rồi thế nào là ngoại vi hay trung tâm, là bảo lưu truyền thống hay
cách tân đổi mới? Tất cả những câu hỏi đó treo lên đang chờ các học giả, nhà
nghiên cứu trả lời. Vĩnh Phúc thô lậu, không dám lạm bàn. Xin nêu một vài trăn
trở, có khi là lạc hậu của mình!
Đề cập đến yếu tính văn chương, Tố Như cảm
thán: "Văn chương tàn tích nhược như ti”. Thi ca, cuối cùng là
gì, vô dụng hay đắc dụng, là đóng cửa với chính mình hay mở ngõ mười phương
thiên hạ, là kêu rên tình ái tình dục hay vút lên một tiếng kêu thương nhân bản?
Tôi thích Allen Ginsberg (1926-1997) với cảm thức phẫn nộ đau buồn đầy chất
bi tráng: “Hồ lơ lại bầu trời sông Rhin, tẩy trắng những đám mây cho tuyết lại
trắng như tuyết/ nạo vét các con sông Hudson, Thames và Nectar, tháo hết cặn bẩn
khỏi hồ Erie/ Sau đó tôi sẽ ném châu Á to bự vào một thùng chứa để rửa sạch
máu cùng chất da cam (Bản dịch của Hoàng Hưng). Không, thơ không làm chính
trị, không là công cụ giai cấp nhưng nếu tách thơ khỏi đời sống ngổn ngang máu
và nước mắt thì thơ còn lại gì? Là nửa chiếc lá che ngang khuôn mặt xấu xí, là
bông hoa tàn rữa của tình em hay là cái cần câu cơm? Đọc Huyền thoại bên
máng lợn của Trần Quang Quý, tôi bỗng nghe ngày ì oạp tiếng mưu
sinh thắc thỏm mà đêm dậy những giấc mơ bay, giấc mơ không cánh: “Từng nghe tiếng
mưu sinh ì oạp lòng máng gỗ/ đèn khuya đỏ mắt đêm/… Tuổi xuân em là nối dài
những chiếc máng lợn/ chiếc máng hầu bao hy vọng/ và một ngày những giấc mơ đến
thật lạ/… từ nơi đây có một người từng ôm giấc mơ bay/ không bay khỏi lõm mòn
máng gỗ”.
Tôi hoàn toàn đồng ý với Nguyễn Quang Thiều: Thơ
là thế giới mà tôi tìm thấy những cơn mơ và sự tự do của mình. Vâng, những giấc
mơ và tự do; nhưng thơ có lẽ không chờ những giấc mơ ám ảnh tình dục,
hay nóng bỏng thù hận, cũng không cần dựng lên những gia huấn ca trơ
lì đạo đức giả. Thơ, khám phá và sẻ chia với đời, với ngườI chứ không phải
thông tin tuyên truyền hay quảng cáo vặt; kiểu như:
Chiều nay em vào shop thời trang
Tìm mua những chiếc xì giấy
Cho chuyến du lịch sớm mai
(Mắt giấy – Nguyệt Phạm)
Ô hay, những chiếc xì giấy một
đời tôi lơ ngơ chưa biết?
Giá cả hiện nay đang lạm phát và thơ của
chúng ta cũng đang lạm phát trầm trọng xét về mặt xuất bản và đăng báo. Nhiều
tác giả in thơ với nhiều mục đích, mục đích có khi ngoài thơ. Theo tôi, có thể
xếp thành mấy loại thơ: Thơ mưu sinh đa phần vần vè ca tụng, nhằm đến
mấy đồng nhuận bút còm với cái danh hảo. Thơ hưu trícủa các cụ (một cách
giải lao), thơ trang điểm của các đại gia để định vị cái nhãn trí thức,
thơ tự sự bộc lộ cái tôi trữ tình (Bay lặng yên, hay Gửi VB…
). Còn lại là thơ thứ… thiệt.
Ba loại đầu không có gì để bàn vì là sản phẩm
nhất định phải có của bất kỳ thời đại nào; thơ tự sự trong chừng mực
nào đó là sản phẩm nghệ thuật đích thực nhưng mâm cỗ thơ ở đây thực sự là tạp
bí lù, đủ món từ tình dụccho không biếu không đến nữ quyền, từ yêu
đương đến nhân sinh xã hội, và cũng khoác nhiều màu áo: truyền thống, hậu hiện
đại, tân hình thức, thơ dự phóng, thơ cụ thể. Mỗi người một tạng, mỗi người một
phong cách viết và lý luận phê bình thì im hơi, không có một cột mốc, tiêu chí
nào định vị, thành ra thơ ngổn ngang tranh luận tranh chấp. Mặc, thơ trẻ cứ
bung phá, tung hê. Người thích thì viết bài chào hàng tụng ca, kẻ không thích
thì dè bỉu, quay lưng. Thơ phân khu vực trung tâm với ngoại vi, hiện đại phóng
lên mạng cười vào mũi truyền thống lẩm cẩm; còn truyền thống chễm chệ trên những
trang thơ từ trung ương đến địa phương, tự đắc. Thơ đang ồn ào giữa chợ! Con ngựa
thơ đang lồng lên. Cần phải có nhiều hơn 100 Hoài Thanh của thời đại mới để kìm
cương? Nhiều người đọc ngơ mắt nai, không biết phương hướng, rối tinh rối mù.
Tôi đã cố gắng sưu tầm Tạp Chí Thơ (Hội Nhà
Văn Việt Nam) để theo dõi. Đọc Thơ ai đọc buổi thu về của Hồ Khải Đại,
số 2/2008: “Mỗi tối thu về trong gió hiu/ Thơ ai đẹp Đầu súng trăng treo/
lòng như sống lại đường ra trận/ tiếng hát dài như tiếng suối reo.” Thơ hay chọn
vào Tuyển thơ như thế ư? Lạ! Hóa ra tác giả đang dâng tặng bông hoa thơ cho
Chính Hữu! Lại đọc chùm thơ của Bùi Ngọc Trình, Tạp Chí Thơ 1/2008, cũng bắt gặp
thơ hay/không hay: “Tình bằng là tình bằng không/ Người nằm dưới mộ bao
đông dãi dầu/ Người nay trăng chếch nửa đầu/ Nửa đời cuốc xẻng còn đâu nửa đời.” (Lỡ
làng cô thanh niên xung phong)
Dù ai có nói ngả nói nghiêng, tôi vẫn
đinh ninh rằng đây là thơ hưu trí và tác giả đang hưu trí. Chuyện
không nói nữa.
NHAN NHƯ NGỌC
Nếu đặt tên khai sinh cho thơ, thơ sẽ có họ Nhan và tên là Như Ngọc. Hồng,
Hoàng, Lam, Bạch… - Ngọc nào cũng rực rỡ sáng trong tinh khiết. Nhan Như
Ngọc. Thơ là nhan sắc. (Người xưa chẳng bảo trong sách có mỹ nhân ư?). Nhan sắc
không thể bị phỉ báng nguyền rủa. Đặt giới tính lên bàn tênh hênh mà mổ xẻ từng
phân ly da thịt hay đem cả một mớ hổ lốn từ kinh nguyệt, phân cứt, tiếng chửi
thề bôi mặt thơ chẳng phải là làm cho thơ vấy bẩn tục lụy? Không thể nhân danh
cái tôi tự do sáng tạo, không thể núp dưới chiêu bài trường phái nọ kia mà phản
thơ, mà làm mất vẻ đẹp của chương, làm lu mờ cái thanh sắc của văn; Cũng
không thể vin vào lập luận thơ hồn nhiên, cảm xúc trực hiện mà mặc
cho dồn nén ẩn ức (refoulement) mở hoác hận thù ngữ ngôn dung tục. Vết
cắt của Trần Tiến Dũng và Hoàng sa Trường sa của Nguyễn Viện
có chung một chủ đề, một tâm tình, một nỗi đau nhưng ánh mắt cô sinh viên cắt cứa
tôi chảy máu còn Hoàng Sa, không hơn không kém, chỉ là một lời chửi tục không
phải thơ?
Mở môi ngôn ngữ hồ đồ. Chân dài eo thon
ngực phì nhiêu nhưng nhan sắc mở môi hồ đồ, đầu mày cuối mắt dâm đãng, chắc chắn
không ai dám tính chuyện trăm năm vuông tròn. Họa chăng là khoảnh khắc mua vui!
Nhan sắc thơ không phải để mua vui - Mua
vui cũng được một vài trống canh chỉ là cách nói của Tố Như khi tiên sinh
đồng thời nhắn bảo thế nhân Ba trăm năm lẽ về sau nữa / Thiên hạ ai người
khóc Tố Như. Do đó, những con chữ tròn vo bụng rỗng, méo mó, căng ra thắt
lại, hì hà hì hục thụ thai/thụ tinh thì dù có dậm dật disco, gào khan những vũ
điệu hoang dại, phát ngôn những dự báo phi thời tiết thì cũng bằng…
không! Tiên học lễ hậu học văn. Và phi nghĩa bất thành lễ. Người
đọc chạm mặt thơ đầu tiên ở cái vỏ bên ngoài (con chữ, nhịp điệu, hình ảnh,
cách trình bày) nhưng ở đây thiếu vắng lễ nghĩa, phi thẩm mỹ thì còn đâu
nói chuyện hòa hợp với đồng cảm. (Xin lạc đề một chút! Tình yêu đến em
không mong đợi gì/ Tình yêu đi em không hề hối tiếc. Khi ca sĩ Mỹ Tâm cất
tiếng hát với dòng sông, thiên hạ đã vỗ tay hà rầm vì giai điệu, vì tiếng
hát (?) nhưng ô hay, lời ca nghe mà ngậm đắng nuốt cay thế nào vì bài
hát đang tung hô tình yêu của người máy, cực kỳ vô cảm!)
Tương tự, thơ không phải chỉ có giai điệu, tiết
tấu, con chữ… Thơ còn phải có hồn vía, và nên chăng là tiếng nói phản tỉnh?
Tôi thích nói chuyện với nhan sắc áo mũ đàng hoàng (không khỏa thân, hợm hĩnh)
và biết chia sẻ hơn là với một chân dài ngốc nghếch tóc vàng tóc đỏ. Nhan sắc
thơ đương đại như thế nào, đã trở thànhnghệ thuật chia sẻ với đời với người
chưa? Xin được nêu một vài ý nghĩ thô lậu, mang tính nhàn đàm.
1.
Diện mạo Thơ Việt Nam *) từ sau 1975 đến nay khá cường tráng và hoành tráng (từ của Nguyễn Việt Chiến);cường tráng về số lượng tác phẩm/tác giả và hoành tráng khi mở ra mười phương mặt người với suy tưởng mới trên nhịp động chuyển của bánh xe công nghiệp và với những thi pháp đặc trưng mang dấu ấn của nhiều trường phái trào lưu từ hiện sinh, siêu thực, ấn tượng, hiện đại, hậu hiện đại… Thơ thứ thiệt đã gần như đoạn tuyệt với thơ mới thời tiền chiến trong cấu tứ, câu chữ, nhịp điệu. Ở đây đã có những khuôn mặt lớn tiêu biểu từ Trần Dần, Lê Đạt đến Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Thi Hoàng, Nguyễn Bình Phương, Inrasara, Trần Quang Quý, Phan Nhiên Hạo, Thường Quán… Mỗi người một vẻ ngẫm ngợi trong tư duy đa chiều và những thể nghiệm cách tân. Một cánh lá rơi, tiếng rao hàng, bông hoa mất ngủ, một mắt liếc, ngày áo cơm rồI sốt gạo, ngành điện "một mình một chợ", nhập siêu, giá trị gia tăng hàng xuất khẩu giảm… Tất cả đi vào thơ, ảo và thực, đánh thức nhịp sống không còn ngái ngủ mơ màng của ngày kỹ trị.
Diện mạo Thơ Việt Nam *) từ sau 1975 đến nay khá cường tráng và hoành tráng (từ của Nguyễn Việt Chiến);cường tráng về số lượng tác phẩm/tác giả và hoành tráng khi mở ra mười phương mặt người với suy tưởng mới trên nhịp động chuyển của bánh xe công nghiệp và với những thi pháp đặc trưng mang dấu ấn của nhiều trường phái trào lưu từ hiện sinh, siêu thực, ấn tượng, hiện đại, hậu hiện đại… Thơ thứ thiệt đã gần như đoạn tuyệt với thơ mới thời tiền chiến trong cấu tứ, câu chữ, nhịp điệu. Ở đây đã có những khuôn mặt lớn tiêu biểu từ Trần Dần, Lê Đạt đến Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Thi Hoàng, Nguyễn Bình Phương, Inrasara, Trần Quang Quý, Phan Nhiên Hạo, Thường Quán… Mỗi người một vẻ ngẫm ngợi trong tư duy đa chiều và những thể nghiệm cách tân. Một cánh lá rơi, tiếng rao hàng, bông hoa mất ngủ, một mắt liếc, ngày áo cơm rồI sốt gạo, ngành điện "một mình một chợ", nhập siêu, giá trị gia tăng hàng xuất khẩu giảm… Tất cả đi vào thơ, ảo và thực, đánh thức nhịp sống không còn ngái ngủ mơ màng của ngày kỹ trị.
Thanh Thảo đã chào buổi sáng bằng
tiếng rao, và, tiếng cười bên đống rác làm nên một ngày hồn
nhiên áo cơm chật vật.thoảng tiếng rao/ ngày sinh một chiếc bánh tẻ/ một
bát khoai khô nấu mật
một người mẹ gầy như ban mai/ một
tiếng cười bên đống rác
(Ngày 12 tháng 3)
Với Trần Anh Thái, Ngày đang mở sáng nhưng
tất cả đều mơ hồ, có chăng ban mai là thật?
Không có vùng sáng nào đặc quyền
Chúng ta bị dối lừa trong lời tụng ca rối rắm,
giấc mơ vấy đục
Gã hề lăng xăng sàn diễn u mê
(Trường ca “Ngày đang mở sáng”)
Trong mơ hồ đó, Trần Tiến Dũng hồn nhiên như
đá lăn lóc giữa cuộc trần gian, chẳng bận tâm, và… ngủ:
Ngủ để quên đói/ Ngủ để quên lốp xe bể/
Không vì mảnh chiếu ở trọ đêm nay sẽ bị vứt
ra đường/ mà ông thức…
(Ông đồ chơi)
Nhưng khi thức giấc, anh cất tiếng gáy nỗi buồn
khi công chính, đạo đức, thẩm mỹ… Mọi thứ đều bị bôi bẩndưới ánh mặt trời,
một nỗi buồn nghe ra lại đầy chính khí hạo nhiên!
Có thể viết gì, thi sĩ!/ Xứ sở chỉ còn màu nắng
đầu ngày là không bị bôi bẩn
Ngửa cổ gáy vào đó nỗi buồn kiêu hãnh/ ngẩng
mặt làm thi sĩ của chính mình (Đôi chân sợ hãi, tôi chọn bước ra)
Đối lại, khi thế giới không còn trăng,
Nguyễn Trọng Tạo ôm đàn hát khúc đồng dao về những quả đắng và sự trả giá:
anh Rock một đời hoa thành quả đắng/ từng
giọt chiến tranh chảy dòng máu trắng
ai đem rao bán vinh quang rẻ tiền/ anh
mua giá đắt một mùa lãng quên.
(Đồng dao cho bạn)
Còn Inrasara, trong Lễ Tẩy trần tháng tư,
lặng lẽ mà đau đớn khắc chạm hình ảnh dân tộc mình hành hương về bên kia
đêm tối, lại vẽ Chân dung nàng Chăm mới lớn bị nhổ khỏi plây / bị
văng vào phố, và ở đó:
Em giặt giũ trong căn gác lạ/ em thợ phụ
trong xưởng máy lạ/ em hoảng hốt trong con hẻm lạ/ em rụng vào đêm lạ.
Lạ đánh thức nỗi sợ của linh hồn ruộng đồng.
Lạ, con rắn quẫy đuôi cắn vào từng lớp xống áo hoang mang!
Riêng nhà thơ công chức Phan Thị Vàng Anh lại
chênh vênh giữa lạ và quen. Cô yêu đến nghẹt thở cái công tắc đèn mỗi ngày nhưng
lại lạ lẫm Hồ Gươm ngay dưới kia nhưng đã thành người lạ. Lạ quen đan
chen, xáo trộn thường ngày buộc mình phải nhận diện mình:
Lấp loá bên kia đường/ Tôi không trốn được
tôi
(Ở khách sạn Phú Gia)
Phải chăng cuộc sống quá nhiều tầng áp lực
nên anh đã lơ đãng đến mức không cài lại khuya áo ngực cho emsau những
phút giây tình ái êm đềm và Dư Thị Hoàn phải khấn nài:
Tôi sẽ khỏi bệnh/ Lại dịu dàng hát bên chiếc
khung thêu ngày ấy/ Không cần Bác sĩ
Không cần những viên thuốc đắt tiền/ Chỉ cần
đôi bàn tay nào run rẩy mang đến
Một nhành hoa dại thôi
Nhành hoa dại ở đây chính là cánh nhất
chi mai của Mãn Giác hôm nào trước thềm xuân tàn tạ. Đọc Tiệc Nửa Đêm
Với Các Đại Gia Và Venus của Phan Nhiên Hạo, tôi chợt thấy sống lưng lành
lạnh khi mắt người là bù lon, ngực bằng sành sứ và tình người đuợc
chiết tính trên lợi nhuận. Hãy nghe phát biểu của một doanh nhân tiêu biểu:
Thưa đại ca, tôi nghĩ đây là thời hữu dụng của
những doanh gia. Chúng ta hãy bán bảo hiểm vì ngày càng có nhiều thứ để mất.
Chúng ta hãy bán hoa vì ngày càng có nhiều kẻ trưởng giả. Chúng ta hãy bán
nhang vì người ta ngày càng mê tín. Chúng ta hãy bán nón vì ngày càng có nhiều
kẻ hói đầu. Nói chung sứ mạng của chúng ta là bán thật nhiều thứ cho đến khi
con người tự bán mình cho chúng ta.
Thực dụng đang ăn mòn rỉa rói. Người bán linh
hồn cho người và bán thân xác cho thời gian. Câu thơ của Ngô Tự Lập quẳng
vào dòng cuốn của tháng năm một tiếng kêu xé trời:
Triệu triệu bầu vú bị chặt đứt khỏi thân mình
đau đớn
Rơi như những trái dừa xanh xuống đất mềm
Những trái dừa xanh cả dưới mồ còn căng mẩy
(Đàn bà những năm sáu mươi)
Không thể cầm giữ dù là một sợi tóc và, nghi
hoặc nở bung mấy mùa. Nguyễn Quang Thiều bị vây bọc bởi giấc mơ và những khúc hồi
tưởng đấy ám thị. Cái chết là ngẫu nhiên như hòn đá rớt xuống cành mai, và,
không có gì để nghi ngờ khi nó biến mất tại chỗ (sur-place):
H đang qua ngã tư
Chỉ còn một bước chân cuối cùng
Sẽ sang bên kia đường
Chợt con bay cuối đàn biến mất
Không ai nhìn thấy H
(Một bài tập làm văn)
Những ngã tư, ngã năm, những con đường của
nhà thơ là Thục đạo nan đá sỏi gập ghềnh, rơm rớm nước mắt và cả máu.
Nầy là bước chân một cậu bé đi qua loang lỗ hoàng hôn:
Nơi những lá cờ đã say ngủ, quên cả mùa di
cư, quên cả những con đường gió
Giờ đập cánh bay lên, lượn quanh cờ ngũ sắc,
theo hình trôn ốc
Và cậu bé đi không phải để dựnglên một lá cờ
khác
Chỉ đi như một trụ cầu để đỡ lấy một giọng
nói.
Bế tắc, Nguyễn Việt Chiến đem những đói khát,
đau khổ cất vào ngăn tim em khi đó là chỗ ẩn trú cuối cùng, hy vọng cuối
cùng:
chẳng con đường nào nâng tôi lên qua những dằn
vặt cũ
chẳng máy giặt nào giặt hộ tôi những đau khổ
cũ
chẳng máy điều hòa nào có thể cứu nổi một sa
mạc cũ
đang phổng phao lớn dần những đói khát trong
tôi
(Để nhớ về em)
Trên một đường link tương tự, Đoàn Mạnh
Phương bắt kịp những tín hiệu khi cảm giác nhai từng ngày trong
miệng, và
Ngày thúc vào sọ não…/ Lướt trên mọi kênh
rãnh giác quan / Xuyên thẳng giữa những cái nhếch mép của nụ cười / và cuối
cùng là bật lên tiếng khóc
(Nhân thế)
Nhân thế trăm năm với giọt lệ nụ cười, với
mưu toan nghi kỵ, với dằn vặt và vấn nạn, những tấn bi hài vẫn là chuyện của
muôn đời được soi chiếu bằng trải nghiệm và hình tượng ngôn ngữ mới. Mùa thu,
tôi muốn về úp mặt ngủ trong tiếng chuông văng vẳng nắng rươm rướm
chiết ra từng tiếng vọng. Hữu thể hay hư vô, vật chất hay tinh thần?
…Trước khi gõ thì tiếng chuông ở đâu
Trước kia hồn ta ở thịt xương nào?
Hỏi vậy vào một sớm mùa thu sao mà văng vẳng
Nắng rươm rướm chiết ra từng tiếng vọng
(Cộng sinh – Thi Hoàng)
Mai Văn Phấn, Đoàn Minh Hải, Nguyễn Bình
Phương, Đỗ Doãn Phương… cũng đã đào xới quá khứ, mở phơi hiện thực bằng những cắt
dán mang màu sắc hậu hiện đại với thủ pháp vắt dòng và giọng điệu giễu nhại:
Và bát tiết canh ở quê nhà cũng/ đã đổi màu
thành thâm tím chỉ có
con ruồi xanh đang đậu trên miệng bát/ là
xanh đẹp trong bốn mùa đợi mong
(Tím Bầm – Đoàn Minh Hải)
Chúng ta đã, đang chấp nhận sống chung với ruồi
xanh ô nhiễm môi trường, ô nhiễm ngày sống. Ruồi xanh, bốn mùa xanh và đẹp?
Câu hỏi bật ra và Đỗ Doãn Phương trả lời:
Hãy thở bằng lá phổi kiểu cây và từ từ lặn đầu
xuống
Im lặng như chiếc đinh đóng ngập vào thớ lõi
Cuộc sống treo lên những túi xách tay
(Biến Thành Cây)
Đây là một cách cảm nhận cũng là một cách thế
sống với những nghịch lý. Mai Văn Phấn cười đau cái lệnh Hoàng thượng loa truyền
đến hôm nay:
Vạn lý Trường Thành còn xây dở?/ Trên không
tiếng hoạn quan truyền chỉ
Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh
hộc máu mồm
Khâm thử!
(Ghi Ở Vạn Lý Trường Thành)
Giễu nhại, nghi hoặc nhưng có khi Mai Văn Phấn
lại lặng đi với một bông hoa vừa bung mở, mở ra các tầng tầng không gian đất với
trời, mở ra như một hạnh ngộ
Trôi qua vô cớ lặng im/ ngọn bấc cạn/
muội dầu trăng trối
Thoảng nghe thang thuốc phân trần…
Bông hoa mở
Bùng vỡ những khoảng đất rộng
(Đất Mở)
Nguyễn Bình Phương vực dậy nỗi buồn từ những
cái bắt tay, chiếc mặt nạ giả nhân nghĩa, giả thân thiện nênmắt là hổ phách, đẹp
dữ tợn:
Buồn chiếu vào ta những ráng mỡ gà/ Cái bắt
tay lỏng lẻo với nụ cười ai ái
Buồn không mang comlê không đợi chờ ai/ Mắt
là hổ phách/ đẹp dữ tợn
(Buồn)
Siêu thị mặt của Trần Quang Quý, dứt
khoát hơn, vạch mặt chỉ tên, phất lên ngọn cờ đổi mới một cách toàn triệt theo
tinh thần của Allen Ginsberg, không chấp nhận những vô tổ chức với phi thẩm mỹ:
Tôi nhặt sông Hồng đổi chỗ cho Tô Lịch thau rửa
cặn phố
nới rộng Hồ Gươm mong tránh cơn bi kịch ao
làng
tôi nhổ những căn nhà siêu mỏng, mái chóp,
mái bằng nhấp nhô thò thụt
hàm răng vô tổ chức bẩm sinh
gặm rách xanh trời, chọc giận mỹ cảm
thay vào đó một con đường, một công viên, một
khu phố biết giã biệt hình ống
(Trò Chơi Hình Khối)
2.
Cứ thế, thơ đương đại chọn cho mình nhiều
góc độ nhìn, nhựng cách thế soi chiếu hiện thực. Chắc chắn ở đây, tôi không có
ý định tầm chương trích cú, chẻ từng sợi tóc thơ mà ngửi hoa hương cũng không
bình chọn, sưu tầm, sắp xếp trật tự thơ hay phân biệt tác giả các dòng thơ. Bởi
lẽ đoạn chót của sắp xếp là phân rã. Những vần thơ trên, tự nó đã lay động tôi
trong khoảnh khắc nào đó với ngồn ngộn nỗi buồn vui, cô đơn nghi hoặc, cả đau
thương tuyệt vọng lẫn niềm tin. Sức lay động đó bắt nguồn trên nền tảng của lương
tâm và sự chân thật trong thơ. Thơ giả và không đeo đẳng lương
tâm, với tôi, là thơ bỏ đi. Tôi thông cảm sâu sắc với định nghĩa thơ của Saint
John Perse: Thơ gợi ra giữa chính thế kỷ này một phận người xứng đáng
hơn của người nguyên thuỷ.Không, thơ không cần hát lời tụng ca chế độ, không cần
vo tròn bóp méo thành đạn thép, đạn đồng, đạn chì… để bắn vào đầu thù. Thơ nhân
sinh, dân quyền, thơ phản kháng, có thể, nhưng thơ phải ở ngoài, ở trên những
thể chế, ý thức hệ mới có thể ngoảnh nhìn nhân gian với sinh lão bệnh tử, với
khổ đau, tình yêu và cô đơn thân phận. Tôi không đọc nổi Nguyễn Quốc Chánh với
các loại nôm na (C. đương thời), nhưng lại thích Phan Nhiên Hạo - trong
các nhà thơ hải ngoại - vì những hình tượng đầy tính nhân văn và dự báo. Giá
như tẩy bớt đi tạp chất chính trị, Thiên đường chuông giấy và Chế
tạo thi ca là những bài thơ hay của một kẻ lưu vong chuyên nghiệp (từ
của Inrasara). Tôi đã đọc TQ 28 và cục cứt thơ - hai bài thơ của Nguyễn
Đình Chính trên bàn Hội Luận này với rất nhiều xúc động mặc cho khá
nhiều ý kiến phản đối về ngôn từ sử dụng, về cái thi pháp đầy chất giễu nhại của
tác giả. Đừng bảo thủ, đừng mang mặt nạ đạo đức và hãy khoan nóng vội, cứ bình
tĩnh đọc thật chậm bài thơ, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tiếng cười như một nỗ
lực che mặt để giấu từng tiếng nấc từng ngọn, từng ngọn như sóng và ngọn
cuối trơ ra, vỗ bờ:
tổ quốc bị thương lê lết/ trốn trong cây hoa
ngũ sắc/ lặng im/ nhìn…
Hoa ngũ sắc và tổ quốc đều bị thương, đen kịt
bùn vây, chạy trốn thiên tai và bão táp. Tôi đã cầm, chạm được giọt nước mắt của
Nguyễn Đình Chính thấm ướt trang giấy cuộc đời! Còn nữa:
thơ đứng về phe nước mắt (trên cả tuyệt vời)/ nhưng… cẩn thận nước mắt (cá sấu)
nhân văn thời nay không xài nước mắt/ nhân
văn ăn nhậu tối ngày
nhân văn cười ruồi lặng im
ối thơ ơi là thơ
Thì đây là bài văn tế của thời hiện
đại, một văn tế sống đào huyệt chôn những mặt người, chết dở sống dở,
chôn cả thơ ươn ươn nhàn nhạt làm sao lại có thể là hai bãi thơ. Chữ tự nó
có nghĩa khi cõng trên lưng các tin nhắn nhân văn. Nó hoàn toàn không nhầy nhụa
nhớp nháp trần truồng kiểu thơ Cái l. què của Bùi Chát, hoặc khoe cửa
mình vật vã của Lynh Bacardi trong nhóm “Ngựa trời”:
Âm thanh của đứa trẻ chưa kịp nhìn đời
tiếng rên rỉ dòng nước trắng ứ bầu vú em
vật vã cánh cửa mình chưa kịp khép kìa.
(Chở Thuê)
Mấy câu thơ làm tôi bật cười nhớ Kén rể,
một cái truyện tiếu lâm. Anh chàng công tử dốt đặc cán mai, lý bí trước
yêu cầu đề thi tụng ca nước kiệu của bạch mã, may thay nghe được tiếng địt
của mẹ vợ tương lai như sấm ngang đầu nên xuất khẩu thành thơ:
Bà lớn địt cái tịt/ Ngựa ông chạy xa tít
Chạy lại rồi chạy đi/ Khu bà vẫn chưa khít
Thế là được vợ vì tài thơ!?
Sự phân biệt cơ bản nằm ở lương tâm thơ (mục
đích viết). Tôi không cổ vũ loại thơ có cả phân, kinh nguyệt, và đủ thứ ngôn ngữ
thông tục của tầng lớp dưới; nhưng tôi chấp nhận những thể nghiệm, xúc cảm của
tác giả trong những tình huống cụ thể, với điều kiện thơ phải chia sẻ với người
đọc điều gì đó lớn hơn là tiếng cười (chỉ để buồn cười), lớn hơn một tiếng chửi
(chỉ để thóa mạ) và có ý nghĩa hơn một cú hích cởi trói tình dục. Một nhà thơ nữ,
trong tình huynh đệ, đã chân thành góp ý bài thơ tôi vì, e hèm, mở ra là có băng
vệ sinh và kết thúc là thuốc cường dương!
những viên thuốc cường dương xanh
những tuyên ngôn đỏ rực
thời gian phi nước đại
không hồi xuân
(Lạc)
Tôi đành cười trừ/cười khổ và… im lặng.
3.
Trong nhiều trường hợp, im lặng là vàng vì biết nói thế nào giữa bát nháo hỗn độn của loại thơ mệnh danh là thơ trẻ, thơ hậu nữ quyền, hậu hiện đại. Tôi nhớ cái miệng móm mém của nhà thơ tiền bối Lê Đạt khi trả lời phỏng vấn về thơ trẻ: Nhiều anh trẻ hiện nay văn hóa hơi yếu, nhưng tiếng tăm nổi nhanh hơn văn hoá. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, giờ đã ra đi nhưng có lẽ vẫn còn trăn trở ngậm ngùi: Đêm đêm, tôi chong đèn đọc Thơ trẻ. Tôi muốn tìm hiểu họ, những nhà thơ Việt của tương lai, nhưng thú thực, khó lòng hiểu nổi. Tôi không hiểu được họ, không bởi lỗi ở họ, mà vì tôi không tới được họ. Cùng nói một ngôn ngữ tiếng Việt với nhau mà không hiểu được nhau, sao lại thế? (“Thơ trẻ… mất ngủ”, Văn Nghệ Trẻ, số 51, 21/12/2003). Sao lại thế? Một câu hỏi kêu đau!
Trong nhiều trường hợp, im lặng là vàng vì biết nói thế nào giữa bát nháo hỗn độn của loại thơ mệnh danh là thơ trẻ, thơ hậu nữ quyền, hậu hiện đại. Tôi nhớ cái miệng móm mém của nhà thơ tiền bối Lê Đạt khi trả lời phỏng vấn về thơ trẻ: Nhiều anh trẻ hiện nay văn hóa hơi yếu, nhưng tiếng tăm nổi nhanh hơn văn hoá. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, giờ đã ra đi nhưng có lẽ vẫn còn trăn trở ngậm ngùi: Đêm đêm, tôi chong đèn đọc Thơ trẻ. Tôi muốn tìm hiểu họ, những nhà thơ Việt của tương lai, nhưng thú thực, khó lòng hiểu nổi. Tôi không hiểu được họ, không bởi lỗi ở họ, mà vì tôi không tới được họ. Cùng nói một ngôn ngữ tiếng Việt với nhau mà không hiểu được nhau, sao lại thế? (“Thơ trẻ… mất ngủ”, Văn Nghệ Trẻ, số 51, 21/12/2003). Sao lại thế? Một câu hỏi kêu đau!
Lạc kênh! Tôi cũng cảm thấy mình lạc kênh giữa
cơn lốc thơ trẻ và cả những tuyên ngôn nẩy lửa. Cao Hải Hà, khi trả lời phỏng vấn
về vụ đem treo những lốc ảnh nude của mình trên blog, đã hồn nhiên vô tội: Tôi
là nghệ sĩ, có thể được tự do bay bổng trong cảm hứng của mình, miễn không làm
tổn hại gì đến xã hội. Tự phong danh hiệu nghệ sĩ rồi tự do khoe mông má
ngực… đàn ông và tự tin không làm tổn hại xã hội!!! Chuyện không nói
nữa. Đọc một loạt bài của Trần
Hoàng Thiên Kim, từ Sau giấc ngủ, Thời gian, Bài ca đêm chỉ thấy nỗi
cô đơn ăm ắp cả thân thể, khuôn mặt lạnh, tim lạnh và rồi em như xác
chết còn anh một vệt môi dịu dàng. Cứ thế và nữ sĩ tung hô lên: Mặc
dầu có những hạn chế nhỏ khi bộc lộ cái tôi cá nhân cô đơn, buồn bã, nhưng thơ
nữ trẻ đương đại đã có những khoảnh khắc thăng hoa của cái tôi cô đơn. (Nhận
định về thơ trẻ Sài Gòn , Vietbao.net). Tôi thực sự không hiểu cái khoảnh
khắc thăng hoa ấy có nằm trong một xác chết với cái tim lạnhhay
không?
Thú thật, tôi đã đào xới các mạng, tìm kiếm đến
mờ mắt những câu thơ hay của các khuôn mặt tên tuổi từ Nguyễn Vĩnh Tiến,
Vi Thùy Linh, Hồ Huy Sơn, Phan Huyền Thư, Trương Quế Chi, Nhóm Ngựa Trời, Nhóm
Mở miệng… và chỉ thấy ở đó rất nhiều những con chữ phùng mang trợn mắt không hồn
vía, những rêu rao tình dục, những giễu nhại hồ đồ phi thẩm mỹ. (Bùi Chát đem cả
Cáo Bình Ngô mà lếu láo lắp ghép từ Lý Liên Kiệt đến Lý Thường Kiệt - Bình
luận & hù doạ bắp ngô báo cáo tóm lược?), còn Khương Hà thì mang cả chăn gối
ra hù mấy ông già yếu sinh lý: “Chiếc drap trải giường sau cơn cuồng lạc
trơ trơ vô cảm giữa mớ hỗn loạn bầy nhầy…”. Ôi thôi thế sự đảo điên, cháu
con nó cười vào mặt ông cha! Chỉ một click chuột, thế gian trần truồng sẽ hiện
ra nhiều hơn 35 kiểu, cần chi đến những câu thơ mệnh danh là giải phóng tình dục,
là nữ quyền luận. Tôi đã đọc được một comment của một bạn đọc sau khi đọc Căn
phòng 22. âm thanh sóng của Lê Thị Thấm Vân: Làm thơ thế này thì… gái
điếm làm hay hơn! Cái đầu óc lú lẫn của tôi cũng nghĩ suy như thế.
May mà trong dòng chảy trẻ hóa, vẫn còn vài
khuôn mặt, những vần thơ của nỗi niềm. Này là hình ảnh bà vắt ngang dọc trong nỗi
nhớ của Nguyễn Vĩnh Tiến
Bà ví lông gà, vàng như vườn cải/ Ông ví mặt
trời, như lời mối lái,
Ai ví tình yêu, như trò nghịch dại/ Bà lên kẻ
chợ, có buồn được đâu
Ra về lúc lắc, héo mòn một xâu/ Ra về lúc lắc,
héo mòn một xâu…
Chiều nay tôi đưa bà ra đầu làng/ Đầu làng
mình chợt nổi trận gió to…
(Bà Tôi)
Đám mây của Lê Vĩnh Tài là biểu tượng đồng thời
của nước mắt và niềm tin:
nơi nàng nằm xuống/ hơi ấm đã đóng thành nước
mắt
nó lo nàng ngạt thở/ nhưng nó không mất hy vọng
về bầu trời/ và ngôi sao và mây trắng mơ hồ
(Bài Thơ Tả Đám Mây)
Mùa thu trong mắt Lãng Thanh thật lạ. Những lá
sen tàn báo hiệu một mùa thu sinh sôi:
Nuớc cọ bầy rêu, đá núi nhăn mày Phật
Lá sen tàn là hoa nở đầu thu
(Mùa Thi I)
Nữ sĩ Dương Anh Xuân nhìn thiên hạ tóc rối đầu
bù (vì không đủ thời gian điểm phấn gương soi?), bằng một cái nhìn thấu suốt
nhân tình và lòng nhẹ tênh, thênh thang.
Một ngày khật khưỡng bước ra đường/Ha
hả cười nhìn thiên hạ đáng thương
Đầu bù tóc rối/ Nồng nồng mồ hôi
Lải nhải ba hoa với những ngôi nhà cau có/
Có chó gì phải buồn
Niềm vui giống như những con chuồn chuồn/
Cánh thì mỏng mà nỗi đau lại lớn
(Ngày Cười)
Đặc biệt là Phan Trung Thành, anh đã chuyển
điệu từ giọng thơ tình sang màu nhân sinh khi đã chứng ngộ chữ tình chẳng là cái
chi chi giữa tang thương dâu bể với bao nhiêu thăng trầm thế sự. Đồng
Hồ Một Kim đã khởi đi trên những suy tưởng lắng sâu xây dựng trên nền tảng
hiện thực bộn bề.
anh yêu phố yêu đời bầm dập/ cà phê lạc
soong/ nhạc lạc soong/ vỉa hè lạc soong
em bên lề mong ngóng lạc soong/ ngã tư Bốn
xã/ nhà liền mồ mả/ cổng chợ cổng chùa
nhà thương trại hòm/ bụi đè lên bụi/ nơi ta
nhập cư/ xe rác nghiền nát
chào em rau má khép nép /cho một cốc nhớ
thương!
(Đồng Hồ Một Kim)
Bên cạnh là Võ Mạnh Hảo với một bút lực mạnh
mẽ mở ra những hình tượng liên tưởng giàu chất trí tuệ. Mùa treo lên đẹp đẽ với
nhiều gam màu và âm sắc âm hưởng thi vị:
Lũ ong bầu nhộn nhạo làm tổ tháng tư
Vào một ngày nắng thuỗn ra hình những quả mướp
Hờ hệt treo lên nhánh mùa hè
Ở một nơi từng hố sâu được phủ đầy rơm và dấu
chân gà giẫm lên tất thảy
(Mùa)
Rồi còn đó những tác giả trẻ vô danh, lặng lẽ
lầm lụi trên đường cày, không làm mày làm mặt. Thạch Thảo Bình Dương đã chào Mùa
xuân bật thức trên những đôi chân kiến nhẫn nại:
Bò đi bò đi những chú kiến trên đôi chân nhẫn
nại
Ngọn râu vễnh chào ánh ngày ấm áp truyền vang
thông điệp
Những hạt cơm không để lãng phí một ngày
Và em u mê khi dán vào môi anh.
(Tạp chí Sông Hương, tháng 3/2008)
Chạy trốn, em, chạy trốn, rơm rạ mùa
màng/sóng giằng xé nước tham lam cuốn, hút nhấn chìm/ Em khóc/ nước mắt tan
thành bọt/ sóng xô bờ, bờ xô người vào cuộc bể dâu
Trước mặt là bão/ sau lưng là lũ/ trên
chênh vênh sống chết
Em chỉ chưa đánh mất chính mình
(Sông Hương, tháng 12/2007)
Còn câu thơ của Đặng Hải Yến đánh rơi giữa
trưa tình mộng cũng đầy dịu dàng dù trời thắp lửa:
Nắc nẻ cười vỡ mo nang trưa đầy lửa/ Ta treo
ngược ý tưởng lên mây
Ba hồn bảy vía/ Đong đưa đong đưa
Chú tiểu học đòi/ Sư nữ ôm giấc mơ tình mộng
(Trưa Bản Mông)
Không cần bẻ chữ, vắt dòng, không cần thổi
phù cơn mê muội chữ với ấm a ấm ớ tắc tị, không cần khoác áo hậu hiện đại hay
trình diễn, dự phóng, họ, những người thơ trẻ cũng làm ta da diết với cuộc đời
này. Tôi trân trọng những vần thơ trên. Thế hệ trẻ đã cố gắng đổi mới, không phải
chỉ bằng cách phản thơ đến nhảm nhí kiểu của Khúc Duy:
Chưa có thịt bò ăn/ phải làm sao
có, chưa có thịt
người ăn phải làm sao, có làm/thì mới
có con/ không dưng ai dễ banh mồng chổng khu
Hay phá thơ bằng việc mở miệng chửi
thề của Nguyễn Quốc Chánh:
Ðó là cảnh khắp nơi. Cái chết trong mỗi người.
Sợ và chìm vào tăm tối. Sự dã man dàn hàng ngang. Chặt! Chặt! Chặt! Cái con cặc!
(Tai Nạn Đương Thời)
Giá như bỏ đi câu đính kèm, câu thơ rất
giàu ấn tượng với tôi. Mà tại sao lại thêm cái khúc đệm ấy làm gì nhỉ?
Chỉ với chặt chặt chặt cũng đã thúc phản kháng đến cao trào?
Phỏng nhại là sáng tạo, cắt dán là sáng tạo.
Sáng tạo bằng cảm thức mới, tinh thần mới. (Inrasara ) Và đây là bài thơ
tiêu biểu mà nhà phê bình giới thiệu đính kèm chú thích: Hậu
hiện đại, người ta tỏ tình kiểu khác.
yêu rồi mà/ khỏi phân bua
nửa đêm vui vẻ chạy đi mua condoms
(Nắng Chia Nửa Bãi Chiều Rồi - Nguyễn
Hoàng Nam)
Thơ cần phải tiết chế cảm xúc để khỏi nhảm
nhí chăng? Thôi, bó tay chấm com! Không lẽ đây là món đặc sắc của hậu hiện
đại?
4.
Thơ hay/dở, rồi thơ và cái giống thơ, phản thơ chỉ cách nhau một sợi tóc và chắc chắn không có cột mốc định vị. Nhưng theo tôi, thơ phải là nhan sắc và nhan như ngọc thì có dễ tính đến mấy cũng không thể gọi méo miệng, sứt môi, lé mắt, lùn tịt… là đẹp, là phì nhiêu nhan sắc. Nhân danh các chủ nghĩa và trường phái, một số tác giả đang có khuynh hướng bỏ quên nội dung để đeo đẳng hình thức, làm lạ hóa, mặc cho những con chữ của mình những chiếc áo kỳ quái, kỳ dị, tắc tị mù mờ và gọi đó là thơ.
Thơ hay/dở, rồi thơ và cái giống thơ, phản thơ chỉ cách nhau một sợi tóc và chắc chắn không có cột mốc định vị. Nhưng theo tôi, thơ phải là nhan sắc và nhan như ngọc thì có dễ tính đến mấy cũng không thể gọi méo miệng, sứt môi, lé mắt, lùn tịt… là đẹp, là phì nhiêu nhan sắc. Nhân danh các chủ nghĩa và trường phái, một số tác giả đang có khuynh hướng bỏ quên nội dung để đeo đẳng hình thức, làm lạ hóa, mặc cho những con chữ của mình những chiếc áo kỳ quái, kỳ dị, tắc tị mù mờ và gọi đó là thơ.
Bài thơ À
há của Vương Ngọc Minh là điển hình cho cái gọi là… à há?
1,
Giở tấm vải đậy bức tranh lên, vừa thấy,
em buột miệng liền: ô, mark rothko!
- có cảm giác như “việc ăn cắp vặt của mình bị
phát giác, bị thộp cổ”, tôi đứng chết trân.…
… dưng không chúng ta lại đi tìm ý nghĩa của
từng cọng mì ăn liền, lúc đấy tôi cho: giá như em đừng can, để mặc tôi hô “cứt,
cứt” thì giờ thùng mì gói chúng ta có thể mang trả lại được.
- cũng vậy, lúc tôi vo đầu, bứt tóc nói: em
nên nhớ… em luôn là nguyên cớ dựng tôi dậy bất cứ lúc nào… bất cứ đâu…; nếu em
đừng đáp trả: sao lại nông nỗi thế này… ôi… anh yêu…, thì tôi sẽ không nói tiếp:
em có biết (!) gió từ biển ùn ùn thổi ngang mặt tôi đêm ngày…; và em, đúng thế,
em sẽ thôi đáp rằng: vâng! em vẫn sống cạnh bên… anh yêu.
2,
trời ơi, tôi không hiểu rồi, chữ sẽ đưa tôi về
đâu [còn màu sắc nữa!]
… đến nước này mà em vẫn còn nói: hành động
vo đầu bứt tóc… chả nói lên chi cả… anh yêu…; lúc này tôi nghĩ, giá như em cứ
hô “cứt, cứt”…
Tôi không biết có bao nhiêu phần trăm độc giả
chịu đọc loại thơ đầy chữ nghĩa này và giả như đọc xong/lỡ đọc, tôi tin trong đầu
người đọc còn lại chỉ có mỗi vọng âm duy nhất của điệp khúc cứt cứt. Tác
giả đã dựng lên bức tường lửa dối lừa gạt gẫm thây kệ người đọc nên còn đó
nỗi buồn, những ám ảnh và mặc cảm.
Nên/cần chăng hiểu những thi sĩ hậu hiện đại
theo phân tích của Như Huy?
1. Bởi luôn tìm cách gắn bó với hiện thực và
hiện tại, nên sở hữu khả năng hài hước
2. Bởi luôn tìm cách khai triển khả năng hài
hước, nên sở hữu ngôn ngữ
3. Bởi luôn tìm cách thực-hiện-ngôn-ngữ, nên
sở hữu khả năng thấy-ra, cùng lúc cả sự vô lý và hữu lý trong mọi biến cố
4. Bởi luôn thấy ra, cùng lúc, cả sự vô lý và
hữu lý trong mọi biến cố, nên Sở hữu khả năng bất lực
(Sở hữu khả năng bất lực, trích
talawas.org)
Thời đại nào, con người nấy. Cần chấp nhận đổi
mới để tồn tại, chấp nhận mọi trường phái trào lưu để không lạc hậu nhưng thơ thứ
thiệt thì không thể phóng đảng, phá tán, thóa mạ. Thơ cần có văn hóa để
không lộn xộn giữa một thế giới đã quá nhiều hỗn độn, bôn chôn.
Xin mượn tiếng ha ha trong Bây giờ có
người làm thơ như thế của Nguyễn
Đức Thiện để kết luận:
Ha, ha, ha, thơ
Là một công nghệ huếnh lên, vo tròn, cưỡng hiếp,
bắn chém, và đồng tính luyến ái
Đáng thương thay chữ ơi, bay chỉ còn là công
cụ
Đáng thương thay, thơ ơi.
Ta chẳng hiểu được bay, và nhất định, bay chẳng
hiểu gì ta…
Khoái thật, sướng thật, mê ly thật
CÓ PHẢI THẾ KHÔNG
Nhưng quả là tôi dốt
Không biết làm thơ để mọi người chẳng thể hiểu
gì
Vâng, chữ đã thành công cụ để giễu
nhại, cười đùa cuộc nhân sinh lấm lem nước mắt. Người ta cũng đã chạy theo phấn
son hình thức mà bỏ quên cái bên trong cảm xúc, chạy theo lố lăng để hy vọng nổi
tiếng cùng với tai tiếng! Ta chẳng hiểu được bay, và nhất định,
bay chẳng hiểu gì ta. Thơ đang bị bán rẻ gây nạn lạm phát, nạn phân biệt
trung tâm với ngoại vi, truyền thống và hiện đại, xô người đọc vào mấy ngã hỗn
mang! Thơ đang buổi chợ chiều, một mớ hỗn độn của chợ chiều thi ca (Dư
Thị Hoàn). Ôi thôi, đi suốt cuộc trần gian, hỏi thơ là gì? Là tấm lòng, là chia
sẻ, thế thôi! Chuyện không nói nữa vì hôm nào Đưa em về dưới mưa, nói năng
chi cũng thừa! **)
* Trong tinh thần hội nhập, khái niệm
"Thơ Việt Nam” xin hiểu là thơ làm bằng tiếng Việt của người Việt không
phân biệt Bắc Trung Nam, trong nước hay hải ngoại.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét