Con đường tuổi thơ
Thùy An và 2 cô bạn Trung Hoa: A Nga - A Hôn (1951)
Phương Hoa đi Huế vào, báo tin: “Nghe nói, đường Gia Hội mình
sẽ là điểm du lịch…”, “Thôi mi ơi, tao nghe cái điệp khúc ni đã mấy chục lần rồi.”.
“Rứa thì nói chuyện khác, mi nhớ con Mộng Lan không? Bây giờ nó làm chủ Siêu thị,
tiền bạc tỉ, rồi con Như Sương nữa, nó gửi lời thăm mi.” “Như Sương à? Hình như
nó có học Mai Khôi với tụi mình?”, “Thì nó chớ ai. Phiền mi ghê, đầu óc mi bị
lão hoá rồi hả?” “Mấy chục năm không ra Huế, mấy đứa con nít bây giờ biến thành
bà nội, bà ngoại hết, nhớ sao nổi.”, “Nhưng nhiều đứa còn nhắc đến mi đó.”
Phương Hoa nói thiệt không? Bạn bè thời xa lắc xa lơ, hình ảnh
nhạt nhoà theo năm tháng, kẻ đi người ở, biết ai còn nhớ đến ai? Riêng tôi, thời
gian qua, chỉ đọng lại trong tâm tư tiếng ríu rít của bầy trẻ nhỏ quây quần bên
nhau cùng đủ thứ trò chơi, và con đường Gia Hội cùng hai hàng cây xanh ngời
bóng mát đã âm thầm chứng kiến chúng tôi lớn lên từng ngày.
Nhớ mặt tiền ngôi trường dòng Mai Khôi hoành tráng, vòm cổng
cong cong với hai cánh cửa sắt sơn màu nâu nhạt, bên trong là khoảng sân rộng,
những phòng học tường quét vôi vàng, bảng đen vuông vức, bàn ghế chỉnh chu. Trường
có cửa sau nhìn ra giòng Hương Giang mát mẻ, nên mỗi chiều tan học, chúng tôi
thường rủ nhau ra bờ sông hái lá gai về ép mỏng làm bươm bướm hoặc đuổi theo bầy
chuồn chuồn ớt bay là đà trên đám lục bình tím biếc trôi xuôi. Phương Hoa, Mộng
Lan, Như Sương… và tôi là bạn cùng trường lớp. Chương trình cấp 1 nhẹ tênh.
Chúng tôi chơi nhiều hơn học, suốt ngày theo soeur Thérèse tập tành ca múa, giọng
soeur chuyên hát thánh ca nghe trong veo và cao vút… Trời xanh xanh mát,
hương thơm thơm ngát, cùng nhau ta múa điệu ca…Thích nhất là vào điệp khúc hai
bè… Sáng bắt bướm hái hoa, kêu la nô đùa, chiều lại ra dạo chơi vườn hoa.
Tối quyến luyến má ba, vui ca bên đèn, bảy giờ đêm nằm ngủ mơ thấy tiên…(bài Tuổi
Thơ –nhạc sĩ Lê Thương) . Bè trên “thấy tiên”, bè dưới “thấy tiền”, hai nhóm
bàn luận sôi nổi, không biết thấy “cái gì” sẽ thích hơn?
Nhớ đường Gia Hội có chùa Tường Quang không gian yên bình mát
mẻ. Những ngày rằm, mồng một, tôi thường theo mẹ lên chùa lễ Phật. Ấn tượng sâu
sắc còn ghi dấu trong tôi đến bây giờ là bức tranh Phật Bà có 18 cánh tay treo
trong sảnh đường. Mẹ tôi kể rằng, ngày xưa có 18 tên cướp chuyên làm điều ác,
sau nghe lời Phật dạy, cải tà qui chánh, xin qui y theo ngài. Phật Bà bèn hoá
phép ra 18 cánh tay cầm dao xuống tóc cùng một lần cho chúng, dẫn độ chúng đi
theo con đường lương thiện.
Nhớ những ngày nghỉ học, chúng tôi thường tụ tập trên lề đường
với những trò chơi đánh thẻ, lò cò, ù mọi, ô làng… Dường như tất cả kỷ niệm tuổi
thơ tôi đều tập trung về con đường này. Ngoài những bạn bè cùng lớp, bạn tôi
còn có cả người… nước ngoài! Viết đến đây, không thể không nhắc đến A Hôn, cô bạn
người Hoa, con gái của một đại gia buôn gạo, giàu nhất nhì thành phố Huế. Nhà
nó đối diện nhà tôi. Đó là cửa hàng Đại Sanh –một cơ ngơi đồ sộ, bề ngang rộng
gấp mấy lần những căn nhà bên cạnh, còn bề dài thì sâu hun hút, gạo chất đầy từ
trước ra sau. Mỗi lần chơi năm mười, chúng tôi thường trèo lên những bao gạo,
len vào các ngõ ngách để trốn cho thật kín, không hề nghĩ đến chuyện, lỡ một
bao gạo bị mất thăng bằng thì điều gì sẽ xãy ra? Nhà A Hôn thuê rất nhiều người
làm, trong đó có một anh đầu bếp từ Hồng Kông sang, làm bánh tuyệt ngon. Cuối
tuần anh trổ tài, A Hôn thường rủ tôi qua cùng nhâm nhi thưởng thức.
Hồi đó, lòng đường Gia Hội không rộng như bây giờ, lại ít xe
cộ nên chúng tôi không cần cảnh giác, một ngày băng qua băng về nhà nhau cả chục
lần. A Hôn rất đẹp, mũi cao, da trắng, môi đỏ, mắt tròn to đen thẳm với hai
hàng mi cong vút. Có thể nói, nó là hoa khôi trong đám nhí chúng tôi. Càng lớn,
nhan sắc A Hôn càng rực rỡ. Hôm từ giã Huế theo gia đình trở về Hồng Kông, A
Hôn bảo với tôi là sẽ thi tuyển vào lớp diễn viên Điện Ảnh, nhưng sau này,
không nghe thấy tiếng tăm gì cả. Có lẽ bạn tôi không địch nổi với các ngôi sao
thời đó như Lâm Đại, Chân Trân, Trịnh Phối Phối… Các bạn người Hoa của tôi còn
có A Nga con chú Tắc bán nhang đèn, A Peng con thím Nọt bán kẹo bánh… Chúng nó
là những người bạn tốt, nhưng đôi khi cũng làm tôi bất bình vì cái tội “phân biệt
chủng tộc”, bởi chúng thường khen những bài hát tiếng Hoa hay hơn tiếng Việt mỗi
lần chúng dẫn tôi đi xem văn nghệ tổ chức tại trường chúng. Đó là ngôi trường
Tàu kiến trúc kiểu mới, đối diện chùa Tường Quang, chuyên dạy con em người Hoa.
Chiều chiều, tôi thường đứng trên balcon nhìn xuống đám bạn người Hoa đồng phục
áo trắng váy đen sắp hàng đôi ra về, dọc theo lề đường rất trật tự.
Nhớ một gia đình Ấn Độ sinh sống trên con đường này, cách nhà
tôi vài căn, có hai người con đều là bạn tôi. Đó là Bi Bi và Áp Pi La Hấu.
Chúng lai Ấn, mẹ người Việt Nam, cha là người Bombay, có cửa hàng vải trên đường
Trần Hưng Đạo. Nhà chúng khá giả, nhưng trong bữa cơm, không bao giờ có thịt
heo. Mẹ chúng xem ra không chung thủy với đạo của chồng, nên mỗi lần ông đi
buôn xa, bà thường mua thịt quay về tẩm bổ cho chúng. Bi Bi là chị, hiền lành,
còn thằng em Áp Pi La Hấu thật lí lắc và ranh mãnh. Có lần nó cho tôi trái banh
tennis chơi đánh thẻ, mới nửa ngày, nó đã chạy qua nhà nằng nặc đòi lại, khóc
lóc om sòm đến nỗi mẹ tôi phải can thiệp. Tôi làm khó, nói theo kiểu người Huế:
“Cho có danh có giá, cắn ba hòn đá tao trả lại cho.” Thế là không nói không rằng,
nó chạy ra ngoài lượm ba cục đá. Bỏ từng cục vào miệng, nó cắn rôm rốp khiến
tôi hết hồn. Không lý răng nó bằng thép? Sau này mới biết, đó chỉ là mấy cục
bùn khô! Chơi với chị em Bi Bi, tôi được tham quan ngôi chùa Ấn Độ, cạnh trường
Tàu. Những ngày lễ, chúng còn dẫn tôi vào điện thờ cúng bái. Sợ nhất là bức tường
có khắc nhiều hình tượng, các vị thần mặt đỏ và những con rắn khổng lồ da tím
ngắt, giương cặp mắt to đùng nhìn chòng chọc vào tôi.
Nhà tôi ở giữa hai rạp ciné Châu Tinh và Gia Hội. Nhớ ngày
khai trương, rạp Gia Hội mở nhạc ra rả từ chiều đến tối. Chương trình giới thiệu
phim “Trái Tim Thành Nữu Ước” của Mỹ in trên giấy đẹp nhưng chỉ phát cho người
lớn khiến bọn nhóc chúng tôi đành đứng nhìn ngẩn ngơ. Rạp Châu Tinh ra đời sau,
chiếu toàn phim hay, hấp dẫn nhất là các loại phim kinh điển như “Cuốn Theo Chiều
Gió”, “Kỳ Nghĩ Hè Ở La Mã”… Hình ảnh các diễn viên nổi tiếng thời đó như Clark
Gable, Audrey Hepburn, Liz Taylor… được phóng to treo trước rạp thu hút mắt
nhìn. Mỗi lần rạp đổi phim là chúng tôi lại tranh nhau đến quầy vé, xin tờ bướm
in hình ảnh và nội dung phim về lập bộ “sưu tầm”, cứ vài tháng lại đem ra so
sánh, xem ai nhiều hơn ai! Ba mẹ tôi có thói quen xem phim hằng tuần, và lúc
nào tôi cũng được ăn theo. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ phim “Quo Va Dis” (không
biết nhan đề tiếng Việt là gì?), có Robert Taylor đóng vai chính, thật hoành
tráng và lộng lẫy. Nhưng mê nhất vẫn là loạt phim hoạt hình của Walt Disney như
Công Chúa Ngủ Trong Rừng, Nàng Bạch Tuyết, Bambi…
Rạp Gia Hội còn là một sân khấu lớn, mỗi lần có đoàn Cải
Lương hoặc Đại Nhạc Hội ở Sài Gòn lưu diễn ra Huế là rạp ngừng chiếu phim, sẵn
sàng phục vụ các thượng đế. Rất nhiều lần, chúng tôi chạy theo xem mặt các nghệ
sĩ lớn như Trần Văn Trạch, Thái Thanh, Thái Hằng, Út Trà Ôn, cô Bảy Phùng Há…
Huế có gánh Hát Bội chuyên hát những vở tuồng cổ, nhưng không trình diễn ở rạp
Gia Hội. Mỗi chiều thứ bảy và chủ nhật, các đào kép hoá trang rất uy nghi, ngồi
từng cặp trên xe xích lô, chạy ngang đường nhà tôi phát tờ rơi, người lớn sai
con nít ra lượm vào xem.
Gia Hội –con đường nhỏ giữa lòng thành phố cổ kính với mùa
Xuân tươi xanh lộc mới, mùa Hè rộn rã tiếng ve, mùa Thu trăng sao vời vợi và
mùa Đông mưa dầm gió bấc… đã chia sẻ cùng tôi từng niềm vui nỗi buồn thời thơ ấu.
Gần nửa thế kỷ qua đi, dù đường đã được cách tân, thay tên đổi họ, hội nhập vào
bước phát triển chung của đất nước, nhưng đối với những người con xa xứ, da đã
nhăn, tóc đã bạc, thì đó vẫn là không gian xưa ngập tràn kỷ niệm khó quên.
Thùy An




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét