Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Hai lần đi Đại Lí

Hai lần đi Đại Lí 
Tôi nhận lời nhà thơ Hữu Thỉnh đi Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) dự Diễn đàn văn học Côn Minh giữa các nhà văn Nam Á, Đông Nam Á với các nhà văn Trung Quốc (từ 11 đến 15 tháng 6 năm 2015) bởi một trong số những lí do là sau Hội nghị, Ban tổ chức bố trí để đoàn nhà văn Việt Nam đi thăm Sở Hùng và Đại Lý, nơi cách đây hơn 15 năm tôi đã từng qua, nơi ghi lại trong tôi những ấn tượng lạ lùng, khó phai mờ, như  những vết khắc của dao lửa. Mười lăm năm hơn, so với một đời người không thể coi là ngắn, bao nhiêu những dâu bể, thăng trầm không phải cái gì cũng được lưu giữ trong kí ức. Bụi thời gian, sự chọn lọc của sự thức tỉnh của lí trí, của sự thấm ngấm của tình cảm đã xóa đi, đã vùi lấp, đã hóa sương khói mù mờ không ít. Tôi bắt đầu nhớ lại mùa xuân năm 1999.
I. Đại lý hành
Tôi chọn cái tựa trên cho phần một này một phần vì bị ám ảnh bởi bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ của Kim Dung và bài của Quách Phong, một nhà nghiên cứu trẻ công tác tại đài phát thanh truyền hình châu Đại Lý, viết về chuyến thăm Đại Lý của nhà văn rất nổi tiếng này. Nhưng cái chính bởi là do mảnh đất đầy những huyền thoại, gợi về một vương quốc cổ Nam Chiếu.
Ngày bé, không rõ nhờ đâu tôi kiếm được một mớ những trang sót lại của cuốn giáo khoa lịch sử cũ, đọc thấy đoạn nói quân Nam Chiếu từ Vân Nam xuống đánh phá nước ta, trong đó có bức tranh minh hoạ vẽ Cao Biền cưỡi ngựa oai phong lẫm liệt. Tương truyền, Cao không chỉ là một viên tướng tài mà còn là một thầy địa lý am hiểu thuật phong thuỷ. Những trang sách không đầu không cuối đó cùng những chuyện dân gian đã để lại trong tôi ấn tượng khó gì có thể xoá được.
Theo sử Trung Quốc, vào đầu thời Đường, nước Nam Chiếu còn thu mình ở vùng đất Đại Lý bây giờ, chưa mở mang sang phía đông. Mãi tận mùa đông năm 763 công nguyên, vua Nam Chiếu đi tuần du đến Côn Minh, thấy xứ sở phì nhiêu, tươi tốt nên vào mùa xuân năm 765 mới sai con trưởng đến đó dựng thành luỹ. Cũng vào thời gian này, nước ta thuộc Đường, gọi là quận Giao Châu, năm 768 thì đổi thành An Nam đô hộ phủ.
Vương quốc Nam Chiếu tiếp tục mở mang bờ cõi, từ năm 846 đã không ít lần đưa quân sang Việt Nam đánh phá, cướp bóc, hai lần đánh chiếm phủ thành. Lần thứ hai là vào năm 863, sau khi chiếm phủ thành An Nam, vua Nam Chiếu đã cắt bộ hạ là Đoàn Tù Thiên ở lại làm tiết độ sứ. Không biết có phải họ Đoàn này sau sẽ trị vì nước Đại Lý khoảng từ thế kỉ thứ 10 đến thế kỉ thứ 12 (tương ứng với triều đại Tống) mà Kim Dung đã viết trong Thiên Long bát bộ và Truyện anh hùng xạ điêu hay không ?
Dù sao, giờ đây nước Nam Chiếu cũng như Đại Lý đã thành lịch sử. Vì thế Đại Lý hành có gì đó đượm phong vị… xưa xưa.
Chúng tôi đến Côn Minh vào những ngày trời đẹp, không khí đang xuân, vạn vật đang vào thời kì phát dục, tươi tốt- thực ra Côn Minh bốn mùa đều như vậy, cho nên còn gọi Xuân Thành- với một chương trình làm việc dầy đặc. Vậy mà một người bạn Trung Quốc, nữ sỹ Đỗ Thuỵ Liên đã gợi ý chúng tôi nên thu xếp đi thăm Đại Lý, Lệ Giang một phen. "Đó là vùng đất rất đẹp, nhiều người Trung Quốc mơ cũng không đến được. " Đỗ Thuỵ Liên nói nhỏ với tôi như thế.
Vốn tính ưa phiêu lưu, nghe nói đến Đại Lý, những kí ức tuổi thơ trỗi dậy cùng với những trang tiểu thuyết của Kim Dung khiến tôi mê liền, nhưng thoạt đầu lại hơi ngần ngại. Là vì nghe nói đường từ Côn Minh đi Đại Lý rất xa, nhiều đèo dốc cheo leo. Nhà làm phim tư nhân Chu Thụ kể, một đạo diễn ở xưởng phim Châu Giang (Quảng Đông) lên Côn Minh nhờ ông đưa đi thăm Đại Lý, lúc trở về không dám ngồi ô tô, vì sợ rơi xuống vực.
Tôi đem chuyện nói lại với các đồng nghiệp cùng đi. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn đã giúp tôi hạ quyết tâm. Anh bảo, thời cơ chỉ có một, hãy nắm lấy. Tôi nhớ, năm 1981 trong đợt công tác lên Lai Châu, tôi đã theo một anh thiếu uý trèo đèo lội suối lên đến Mường Tè, theo chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lai Châu là Hoàng Cao, một nhà quân sự yêu thơ, đi Sìn Hồ, Phong Thổ. Đứng trước phong cảnh đẹp hùng vĩ miền Tây Bắc, tôi đã tự hẹn với mình, nhất định phải trở lại thăm những nơi đó. Nhưng rồi tôi chẳng tìm được dịp nào quay trở lại nữa. Nguyễn Hoàng Sơn nói đúng. Có thời cơ thì đừng bỏ lỡ.
Vậy là chúng tôi quyết định đi Đại Lý. Đem công việc đến Đại Lý mà làm. 
Hoá ra sự ngần ngại của tôi là thừa. Con đường cao tốc từ Côn Minh qua Sở Hùng đến Đại Lý dài khoảng 600 km vừa mới được thông xe. Sáng sớm xe chúng tôi khởi hành ở Côn Minh, xế trưa đã đến thủ phủ châu Đại Lý, một châu tự trị dân tộc Bạch.
Thủ phủ châu tự trị, thành phố Đại Lý - còn gọi là Hạ Quan - nằm ở cuối giữa một bên là hồ Nhĩ Hải (có chiều rộng 3 đến 9 km, dài 42 km với tổng diện tích là 250 km2), một bên là dẫy Thương Sơn với hàng chục đỉnh cao xanh biếc. Sở dĩ gọi là Hạ Quan vì ở giữa phía đầu trên của Nhĩ Hải và Thương Sơn còn có một thành phố gọi là Thượng Quan. Đây là trung tâm văn hoá chính trị của châu, của vùng đất hội tụ ba con sông Kim Sa, sông Nộ và sông Lan Thương, có nguồn nước từ những đỉnh núi tuyết vĩnh cửu tiếp trợ, làm nên những thung lũng phì nhiêu, và những cánh rừng đại ngàn của diện tích 29.459 km2, chiếc nôi vĩ đại của trên 3 triệu người, đông nhất là người Bạch, người Hồi, người Di.
Bước xuống xe ở Đại Lý là thấy gió. Gió lộng ngổn ngang cả trời. Tôi đã nếm cái gió ở thành phố Bao Đầu (Nội Mông), miên man gió và cát, phụ nữ không chừa một ai, đều dùng khăn che kín đầu kín mặt mỗi khi qua đường. Lạc đà nện gót bộ hành cùng với ô tô. Gió Đại Lý cũng ù ù ào ào, nhưng hiền hơn gió Bao Đầu, có lẽ vì không có gió cát. Sau khi gặp gỡ lãnh đạo Cục phát thanh-truyền hình châu Đại Lý (chính ở đây, Quách Phong đã tặng tôi bản thảo đang chuẩn bị đưa in sách của anh), chúng tôi đi thăm thành cổ.
Thành cổ Đại Lý gọi tắt là Du còn gọi là Tử Thành nằm cách Hạ Quan 12 km, được xây dựng vào năm 1382 (đời Minh), có chu vi là 12 dặm, cao 7,5 m, dầy 6 m. Cũng giống như nhiều thành cổ khác, Đại Lý có bốn cổng thành: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên có thành lầu mái cong kiểu cách. Thời gian và những biến thiên lịch sử đã phá hỏng phần nhiều, chính quyền địa phương chỉ mới tu tạo lại được hai cổng thành Nam và Bắc. Có năm con phố chạy nối từ thành Nam đến thành Bắc.
Chúng tôi đã đến thăm cổng thành Nam vào một buổi sáng tháng năm, lất phất mưa. Khi người ta bắt tay xây thành này vào năm 1382, thì nước Nam Chiếu cổ đã không còn nữa. Đô thành của nước Nam Chiếu cổ không phải ở chỗ này, sử Trung Quốc ghi là thành Dương Thư Dương Miết (dường như vốn là bãi chăn thả dê vì nghĩa của những từ trên là dê kêu). Người ta cho rằng nó ở phía tây thành Đại Lý cổ bây giờ. Nhưng chắc chắn vùng đất với Thương Sơn và Nhĩ Hải này phải là trung tâm kinh tế xã hội thời kì đó.
Trong thành Đại Lý và xung quanh có nhiều danh thắng cổ tích. Phía nam có di chỉ thành Thái Hoà, bia Nam Chiếu Đức hoá, chùa Cảm Thông, di tích Tử thành của Đỗ Văn Tú (một thủ lãnh dân tộc Hồi cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống quân Thanh, đồng thời với cuộc khởi nghĩa Thái Bình thiên quốc) và Đại Thạch am. Phía tây thành có chùa Sùng Thánh ba tháp, chùa Hoằng Thánh một tháp, Bia Nguyên Thế Tổ bình Vân Nam. . .
Chùa Sùng Thánh ba tháp cách cổ thành 2 km, nằm dưới chân đỉnh ứng Lạc dãy Thương Sơn. (Chùa Sùng Thánh xây dựng thời Nam Chiếu, lúc Phật giáo rất thịnh hành, đến nay chỉ còn lại ba tháp). Chùa xây mới ở tót trên đỉnh núi, tầng tầng lớp lớp, to rộng đúng phong cách Trung Quốc bây giờ. Tôi chỉ xin nói đến ba tháp. Tháp chủ trong ba tháp gọi là Thiên Tầm, cao 69,13 mét gồm 16 tầng được xây dựng vào khoảng đời Đường, tương tự tháp Đại Tiểu Nhạn ở Tây An. Đáy tháp Thiên Tầm hình chữ nhật, chia làm hai tầng, tầng dưới có chu vi 33,5 m, tầng trên chu vi 21 m. Tầng thứ nhất là tầng cao nhất, cao 13,45 m, cửa đông cách mặt bằng đáy tháp 2 m; cửa tây cách gần 6 m, tường tháp dầy 3,3m. Từ tầng 2 đến tầng 15 có cấu tạo tương tự. Tầng 16 là đỉnh tháp, cao 8 m. Trên tháp có khắc bốn chữ "Vĩnh trấn sơn xuyên". Hai tháp nhỏ ở phía nam và bắc sau tháp chủ, cách nhau 97,5 m, cách tháp chủ 70 m, cùng hình bát giác với 10 tầng, có chiều cao là 43 m. Vé một người vào tham quan là 10 tệ.
Vào thời điểm chúng tôi tới thăm tháp Thiên Tầm, trời bỗng mưa nặng hạt. Những cửa hàng bán đồ lưu niệm thưa thớt khách. Một chủ quán tha thiết mời chúng tôi mua một cái gì đó. Tôi ngắm nghía chọn một con dao găm, vật dụng mà người Bạch thường mang bên mình. Vỏ và chuôi dao được bọc bằng đồng thau, chạm hình rồng và phượng, có dây đeo trang trí, gọi là dao găm Bảo Long Ngọc Phụng. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn cũng mua một con. Tôi không ngờ, có mặt tôi ở đó, người chủ đã bán cho bạn tôi rẻ tới 10 tệ. Khi mọi người đi khỏi, tôi đã nán lại kì kèo, cuối cùng người bán hàng không rõ có phải là người dân tộc Bạch không, đã tặng tôi một đồng bạc giả cổ, cười rằng, cầm lấy mà làm lưu niệm. Đành nhận, coi đó là một bài học mua bán. Cho đến nay tôi vẫn giữ được con dao, còn bài học mua bán thì đã quên béng ở đâu rồi, vào ngay ngày hôm đó.
Nhà văn Văn Hán Đỉnh, phó trưởng Ty phát thanh- điện ảnh- truyền hình tỉnh Vân Nam, người có nhã ý mời chúng tôi đi Đại Lý- Lệ Giang, rất thích sưu tầm đồ cổ, nói với tôi rằng, đá Đại Lý nổi tiếng thế giới. Người ta dùng loại đá hoa văn thuỷ mặc để làm bình hoa, bình phong, tranh phong cảnh. Sách Thái bình quảng kí ghi rằng vào năm 875 có người báo ở Tây Nhĩ Hà, thổ dân đã dùng đá trắng để tạc tượng Phật. Đá trắng là đá Đại Lý. Năm 1116, trong các thứ đồ cống dâng vua Tống của vua Đại Lý là Đoàn Hoà Dự có ngựa và đá Đại Lý.  Máccô Pôlô, một nhà thám hiểm người Italia đã qua Vân Nam. Những ghi chép về Vân Nam của Máccô Pôlô có nhắc nhiều đến vàng sa khoáng và ngựa của Đại Lý .
Đời Minh, năm 1639, Từ Hạ Khách du Đại Lý, khi xem tranh đá, tượng đá ở chùa Sùng Chính cùng các kiến trúc bằng đá khác ở đây đã phải kinh ngạc hạ bút: "Tòng thử Đan Thanh nhất gia giai vi tục bút, nhi họa uyển khả phế hề".  (Đại ý là tạo vật kì diệu sinh ra những hoa văn kì thú đến mức cây bút hạng nhất Đan Thanh cũng trở thành thường, xưởng vẽ có khi phải xếp xó.) Văn Hán Đỉnh nói với tôi: "Có người tự hỏi, chẳng biết có phải nhờ Đại Lý mà đá Đại Lý nổi tiếng hay không? Tôi thì khẳng định rằng, nhờ đá Đại Lý mà Đại Lý nổi tiếng."
Đá Đại Lý được lấy ở Thương Sơn cao hơn mực nước biển 3.000 mét. Nói là từ thời Đường, người Bạch ở Thương Sơn đã khai thác đá hoa, đưa về mài dũa làm thành những đồ mĩ nghệ đẹp hiếm có là mới căn cứ vào sách. Đến đời Nguyên thì vật chứng về việc sử dụng đá Đại Lý còn để đến ngày nay, đó là bia Nguyên thế tổ bình Vân Nam, đặt trên lưng rùa đá tại nơi xưa Nguyên Thế Tổ đã trú quân.
Thời Tống, nước Đại Lý bề ngoài thần phục, hàng năm cung phụng cho Trung Nguyên, nhưng bên trong là cát cứ, miền đất này chưa mang tên Vân Nam. Đến khi Hốt Tất Liệt lên ngôi thấy không thể để tình trạng cát cứ đã thân đưa quân tiến theo sông Kim Sa diệt nước Đại Lý, bắt Đoàn Hưng Trí, đặt tỉnh Vân Nam. Sự thể là như vậy. 
Những cửa hàng bán các đồ vật lưu niệm làm bằng đá hoa Thương Sơn nằm dọc hai bên con phố dẫn chúng tôi ra cửa Nam thành cổ. Tôi cùng Nguyễn Hoàng Sơn ghé vào một cửa hàng, choáng ngợp trước những bình hoa, những bức bình phong, những bức tranh đá... Hoa đá muôn hình vạn trạng, chẳng hề lặp lại. Đúng như Từ Hạ Khách miêu tả: bút bút linh dị, vân giai năng hoạt, thuỷ như hữu thanh…(Nét bút vô cùng linh hoạt, mây như có thể bay, nước như reo thành tiếng).
Khách vào xem chủ yếu là người địa phương, rất đông, nhưng mua thì ít. Có lẽ vì giá đắt. Tôi lựa mua một lọ hoa có mầu chủ là mầu mận chín, hí hửng nghĩ là đẹp, trong khi Sơn mua một lọ hoa không chỉ to hơn, lẽ dĩ nhiên là đắt hơn, nhưng mầu sáng. Dọc đường chúng tôi cứ phải ôm khư khư hai chiếc bình hoa vào lòng, ngầm sợ vì một lí do gì đó rơi vỡ thì uổng. Về đến phạn điếm, đặt hai chiếc bình cạnh nhau so, của tôi nhỏ hơn vì ít tiền hơn là điều chẳng có gì đáng phải bàn đến. Vấn đề là mầu sắc. Hoàng Sơn chê của tôi tối, muốn coi phải bật đèn mới coi được. Tôi bỗng ngã ngửa. Thì ra thế thật. Cái đồng bạc giả cổ mà người bán hàng dưới chân tháp Thiên Tầm mới cho tôi trước đó ít phút đã rơi biến đâu mất, tìm nửa buổi không thấy. Văn Hán Đỉnh giải thích: " Sở dĩ hoa văn kì lạ, mầu sắc quyến rũ là do trong quá trình vận động của vỏ trái đất, những khoáng vật mầu và chất hữu cơ đã xâm nhập vào mà tạo nên. Hình dáng hoa văn cũng như mầu sắc nhiều vẻ sinh động như thế không chỉ do số lượng khoáng vật và chất hữu cơ có trong đá quyết định. Chúng còn phụ thuộc vào áp lực cạnh tác động trong quá trình tạo sơn. Tất nhiên, dù đá có hoa văn mầu sắc thế nào, nếu không có bàn tay và con mắt, nhất là óc tưởng tượng của người nghệ sĩ thì đá vẫn chỉ là đá."
Người bán hàng nói: "Đá Đại Lý có nhiều loại: Đá Điểm Thương, đá Tinh Tửu, đá Phượng Hoàng. Khách du thì căn cứ vào hoa văn mà lựa chọn. Có hai loại hoa văn chính: mây và hoa. Riêng hoa thì có hoa xuân, hoa thu và hoa thuỷ mặc. Đá hoa thuỷ mặc lấy ở đỉnh Lan Phong núi Thương Sơn, được mệnh danh là vua của các loại đá. Với hai mầu cơ bản là trắng và đen, đá hoa thuỷ mặc, thông qua bàn tay nghệ nhân trở nên thanh cao thoát tục, sự đậm nhạt khô ướt, hư thực đan xen, bay bổng và dậy sóng đã làm nên cái thần giống như cái thần của tranh thuỷ mặc Trung Quốc."
Phía ngoài cửa Nam người ta bầy cơ man nào là hoa, phần lớn đều trồng trong chậu. Nom không chán mắt. Vân Nam nổi tiếng là "Vương quốc của thực vật". Bây giờ thì tôi không còn ngạc nhiên khi gặp một cô kĩ sư công tác ở Công viên Thủ Lệ, Hà Nội lại sang Côn Minh nghiên cứu về cây và về hoa. Thế kỉ thứ 19 các nhà nghiên cứu châu Âu đã tới đây. Đó là những người Anh, người Pháp, người Đức, người Thuỵ Sĩ... Các giống hoa nổi tiếng châu Âu như đỗ quyên, báo xuân, sơn trà, lan, bách hợp. . . có nguồn gốc từ Vân Nam. Ở Tây Âu người ta nói, không có hoa Vân Nam thì không thành vườn hoa.
Đại Lý nổi danh với hoa mã anh, đỗ quyên, sơn trà. Nghe nói ở Vân Nam thì sơn trà Đại Lý có nhiều loại nhất và lâu đời nhất. Hoa trà nở vào khoảng từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Quí nhất làtrà đồng tử diện, ba ngày đầu mới nở hoa nom yêu như mặt bé trai, sau đó nở trắng như chiếc chén ngọc, chứa 9 nhuỵ 18 cánh.  Mãn khai hoa xoè to như chiếc bát, trắng như tuyết. Trà tùng tử lân cánh mỏng như lụa, mầu trắng hồng phát sáng, dịu dàng. Trà tử bào sắc cực sâu, tím mà cận đen, cánh có "chỉ vàng", "chỉ bạc", đúng là một thứ hoa trà hiếm có. Trà mẫu đơn, hoa cứng hơn mẫu đơn, sắc như nước thu, như phù dung khiến say lòng người. Những loại trà vừa nói đều có tuổi thọ dài và mọc cao, khó trồng trong bồn. Duy chỉ có trà hận thiên cao là thấp. Có cây đã quá hoa giáp mà cao chưa đầy thước, cánh hoa phớt hồng, mọc tầng tầng. Còn có trà điệp sí nở như cánh bướm sắp bay. Còn có trà liễu diệp ngân hồng thướt tha.Còn có trà tảo đào hồng nở sớm. Còn có kim biên mẫu đơn,  thông thảo phiến. . . Tất cả là 35 loại trong tổng số 80 loài trà trên thế giới. Trà sống đến 200 tuổi là thường. Hiện nay ở Đại Lý, người ta còn giữ được những cây sơn trà sống trên hai trăm tuổi. Quách Phong kể, cây sơn trà già nhất Đại Lý cao 16 mét, đường kính 0, 4 mét.
Vân Nam quả là đất kì hoa dị thảo. Văn Hán Đỉnh nói, ở Xi xoang bản na có loài hoa biết múa theo âm nhạc, tiết tấu nhanh thì quay nhanh, tiết tấu chậm thì quay chậm. Khi nhạc ngừng thì hoa cũng ngừng múa ngay. Gọi là hoa khiêu vũ. Tôi nghe mà nửa tin, nửa ngờ. Về nhà tra sách hướng dẫn du lịch của NXB Đại học Vân Nam in tháng 12 năm 1995 thấy gần đúng, không phải hoa mà là cỏ, cỏ khiêu vũ. Trong ghi chép du lịch của Từ Hạ Khách, đọc thấy một cây hoa lạ ở Thượng Quan, bông như hoa sen, một năm nở 12 lần, năm nhuận thì nở 13 lần. Cả cây chỉ nở 12 bông, mỗi bông có 12 cánh mầu hồng tươi, đẹp dị thường. Có lẽ chẳng ngoa.  
Người Đại Lý yêu hoa, chỗ nào cũng trồng hoa, mỗi năm vào ngày 14-2 nông lịch thì tổ chức hội hoa, gọi là "Hội ngắm hoa". Trước đó, các nhà đem các bồn hoa bầy ra ngoài cổng, xếp thành những "núi hoa". Dương Thăng Am đời Minh trong Chơi núi Điểm Thương có viết: Hương phong mãn đạo. phương khí sũng nhân. Dư thời như tuý nhi tỉnh, như mộng nhi giác, như cửu ngoạ nhi khởi tác. (Đại ý là, gió hương tràn đầy, người ngập trong khí thơm, ngỡ như say mà tỉnh, như mộng mà thực, như nằm lâu vùng trở dậy). Xem thế đủ biết, hội ngắm hoa vui thú thế nào.
Đêm ấy chúng tôi ngủ ở khách sạn Hạ Quan. Quách Phong đọc cho nghe mấy câu:
Hạ Quan phong, Thượng Quan hoa, gió Hạ Quan thổi hoa Thượng Quan
Thương Sơn tuyết, Nhĩ Hải nguyệt, trăng Nhĩ Hải rãi tuyết Thương Sơn.
Quách Phong giải thích. Do Thương Sơn với 19 đỉnh cao dựng đứng như tấm bình phong, cản đường khí đối lưu từ tây sang đông, Hạ Quan nằm trên bờ sông Tây Nhĩ  đổ vào Nhĩ Hải và khe hẹp giữa hai đỉnh Tà Dương và Viên Lao của Thương Sơn vì thế gió đặc biệt lớn.  Nhưng kì lạ một điều, dù bên ngoài gió to đến đâu, khi vào nhà đóng cửa lại là im gió. Vì thế dân gian còn có câu, Hạ Quan gió thổi không vào cửa.    
Thơ ca ở Đại Lý cực phong phú. Bộ "Điền nam thi lược" do hai anh em họ Viên người Vân Nam biên soạn trong hơn 10 năm (từ 1790 đến 1803) gồm 47 quyển: Quyển 1 chép thơ cổ, thơ thời Hán đến Nguyên, quyển 2-14 chép thơ thời Minh, quyển 15-47 chép thơ đời Thanh. Theo Quách Phong, đó là bộ tổng tập đầu tiên đồ sộ về thơ ca Vân Nam. Cũng theo anh, trong số 25 dân tộc thiểu số ở Vân Nam, ngoài người Hồi, người Mãn, người Mông Cổ dùng tiếng Hán từ lâu, còn các dân tộc khác đều có ngôn ngữ riêng. Nhưng nhiều dân tộc không có chữ viết như người Hani, Lahủ, Nu, Độc long. . .
Người Tráng, người Dao, người Bạch… đã dựa vào gốc chữ Hán để sáng tạo ra chữ viết của mình. Thời Minh, có nhà thơ dân tộc Bạch tên là Dương Phố đã dùng chữ Hán để diễn đạt nghĩa và âm tiếng Bạch, viết bài văn bia "Sơn hoa" dài 500 chữ. Có lẽ cũng giống các cụ ta xưa, mượn gốc chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm chăng? Bài văn bia của Dương Phố ngâm vịnh bằng tiếng Bạch thấy niêm luật, âm điệu đều rất chỉnh.
Nhưng dân tộc có chữ viết cho đến nay còn giữ được là dân tộc Na xi. Chữ tượng hình. Chữ tượng hình Na xi có 2200 từ, mỗi chữ tượng trưng cho một vật hoặc một sự việc hoặc một ý nghĩa. Dùng chữ tượng hình để viết một câu chẳng khác gì vẽ một bức tranh, nó chỉ có tác dụng gợi ý, không có một cách đọc cố định. Chữ tượng hình được dùng để viết kinh Đông Ba. Vì thế nói được tiếng Na xi, biết các chữ tượng hình nhưng chưa hẳn đã đọc được kinh Đông Ba. Loại chữ tượng hình vừa kể trên đã có khoảng 1000 năm lịch sử.
Người Na xi ở Lệ Giang, dưới chân Ngọc Long tuyết sơn. Ông chủ tịch Hội nghiên cứu văn hoá Đông Ba đã tặng tôi một đôi liễn viết bằng chữ tượng hình, ý nói tình hữu nghị là bền vững mãi. Bức liễn ấy do một nhà Đông Ba học nổi tiếng Trung Quốc đang sống ở Lệ Giang viết. Tôi mù tịt về đạo Đông Ba, chỉ biết với những chữ như thế người ta đã viết ra 1500 cuốn sách kinh. Ngày nay, người ta đã dịch được khá nhiều những cuốn kinh đó.
Người Na xi còn có một loại chữ viết tiêu chuẩn không dùng tượng hình mà kí âm, tổng cộng có đến 2400 kí hiệu. Tuy nhiên dùng nhiều nhất chỉ có 500 từ.
Lệ Giang của người Na xi nằm trên đường tiến quân của Ngột Lương Hợp Thai, một lộ quân của Hốt Tất Liệt đánh vào Đại Lý. Cơn lốc ấy không quét nổi văn hoá của người Na xi, quả là kì diệu.  
Thăm Đại Lý, không biết có bước nào của tôi dẫm trùng bước của Kim Dung? Năm trước, năm 1998, nhà văn Kim Dung lần đầu tiên đã đến thăm Đại Lý. Ông được nghe kể rằng, Lý Ánh Đức, chủ tịch châu đã nói: "Tuyên truyền cho Đại Lý, những năm 1950 chủ yếu là nhờ phim Năm đoá kim hoa (phim này đã chiếu ở Việt Nam những năm 1960), từ sau những năm 1970 thì nhờ tiểu thuyết Thiên long bát bộ vàTruyện anh hùng xạ điêu  của Kim Dung.
Bí thư tỉnh uỷ Vân Nam Lĩnh Hồ An, tháng 2 năm 1998 nhân đến kiểm tra Đại Lý cũng gợi ý: "Nên chăng nghiên cứu khai thác nội dung của Thiên long tự trong tiểu thuyết của Kim Dung mà thiết kế, tạo dựng một điểm du lịch. . . "
Từ Đại Lý trở lại Côn Minh, tôi đã vào thăm khóm nhà người Bạch dựng trong làng văn hoá, cách trung tâm thành phố không xa, để được dự khán một buổi giới thiệu nghệ thuật uống trà, gọi là tam đạo trà.
Bước vào phòng trà, bạn được mời ngồi xuống ghế, trên bàn trước mặt để ba đĩa nhỏ, bầy ngũ hương vị, được chào mừng bằng bản nhạc đón khách. Ngay lúc đó, trước mắt bạn hiện ra các thiếu nữ Bạch, mặc y phục dân tộc, từng cặp từng cặp bưng khay trà dịu dàng cung kính nâng ngang mày, chào mời tuần thứ nhất, khổ trà.  Khổ trà (đắng), là thứ trà đặc sản của Đại Lý được hái và sao nhỏ lửa, pha bằng nước Nhĩ Hải. Nghe kể, trà này được sao công phu, vừa sao vừa vò, đủ 99 lần vì thế còn gọi là công phu trà. Uống tuần khổ trà, thưởng thức vị đắng thanh mát khiến người thư thái nhẹ nhàng. Trong khi bạn thưởng thức trà, các thanh niên nam nữ người Bạch hát tặng bạn các bài dân ca Bạch, gọi chung là Bạch tộc điệu.
Tiếp đó là tuần trà thứ hai, điềm trà (ngọt). Trà ngọt được chế biến từ sò sữa đặc sản Nhĩ Hải sao khô tán nhỏ, thêm hạnh đào, đường phèn, mật tiễn rồi hãm bằng nước trà nóng, uống có vị ngọt, giầu chất dinh dưỡng. Lúc này ban nhạc biểu diễn những bài tình ca, vũ công múa điệu "Bá vương tiên".
Và rồi là tuần trà thứ ba, hồi vị trà. Hồi vị trà có chất liệu gồm chè tuyết xanh, bỏ thêm mật ong, hồ tiêu, sinh khương… Uống trà này bạn sẽ thấy có vị đắng mát, thơm ngọt, cay tê. Dư vị trà ngân mãi.
Những cô thiếu nữ người Bạch da trắng nõn nà, mỗi lần bưng trà đến mời cứ khiến tôi ngỡ là mình đang ở vào một thế giới khác, ngẩn ngơ tâm trạng Từ Thức lạc vào động tiên. Hương trà thơm, âm thanh của những thứ nhạc cụ, tiếng hát trong trẻo như ru, như quyến rũ. Vẫn biết làng văn hoá là một địa điểm du lịch, những cô gái, như có người kể, làm công việc gần như chuyên nghiệp, nhưng sao nhiệt tình và chân thành đến thế?
Đến lúc chia tay, cô gái mời trà hát một bài dân ca (chắc cũng là Bạch tộc điệu). Tôi nhờ chép lại và tạm dịch như sau:
Anh và em
uống chung một giếng
ngắm chung bồn hoa
Hoa nở đẹp
Em là mưa
từ phương Bắc tới
Anh là gió
thổi tự Nam lên
Mưa gió gặp nhau
Trăm năm chồng vợ.
II. Người Hán, người Di và người Hồi
Lần này, sau hơn 15 năm, tôi lại ngược đường theo hướng tây đi Sở Hùng, Đại Lý, nhưng qui mô của đoàn người Tây tiến đông đảo và thật là đa màu da, sắc tộc: Lào, Campuchia, Miến Điện, Việt Nam và Trung Quốc. Đoàn Việt Nam chúng tôi có nhà văn Nguyễn Trí Huân (trưởng đoàn), nhà LLPB- đại tá Hồng Diệu, nhà văn- Phó Chủ tịch Hội VHNT Lao Cai Đoàn Hữu Nam, nhà văn Nguyễn Văn Đệ (Thanh Hóa), nhà văn- dịch giả Đào Kim Hoa và tôi. Cùng đi với chúng tôi ngoài các nhà văn tỉnh Vân Nam còn có các nhà văn Bắc Kinh, Tứ Xuyên…
Tôi đi Sở Hùng, Đại Lý lần này không còn cái cảm giác háo hức khám phá một vùng đất mới của hơn 15 năm trước nữa. Lần trước, cái ý muốn khám phá về một vùng đất lừng danh trong sử sách và văn chương nhưng chưa từng mơ ước đặt chân tới, đã gần như làm chủ và dẫn dắt tôi suốt chặng đường. Lần này thì khác. Tôi muốn tìm kiếm và kết bạn.
Trịnh Thiên Sơn là người đầu tiên tôi làm quen. Đó là một hán tử tuổi trung niên, có vóc dáng cao lớn của người miền Bắc, trầm tĩnh, khác hẳn với Lưu Hiến Bình, nguyên trưởng ban đối ngoại Hội nhà văn Trung Quốc,  thạo tiếng Nga, rất hay đùa tếu. Buổi chiều ngày 12 tháng 6, sau khi dự lễ khai mạc Triển lãm kinh tế Trung Quốc- Nam Á lần thứ ba, sau khi ngồi trong chiếc đại xa cồng kềnh, trên đường cao tốc có tốc độ hạn chế tối đa đối với xe con là 120 km/h, nhưng đối với đại xa thì chỉ được bò ở phạm vi từ 60 đến 80 km/h, vượt chặng đường khoảng hơn 100 km dài, chúng tôi đến thành phố Sở Hùng, cũng là trung tâm của châu tự trị Sở Hùng của người Di.
Ngay lập tức Ban tổ chức cho đoàn đi thăm một thôn văn hóa dân tộc Di. Ấn tượng của tôi là hơi bị choáng ngợp, vì nói theo lối dân dã là nó “hoành tráng” quá. Có thể nói đó là một công trình được đầu tư không nhỏ để trưng bày về văn hóa và lịch sử của dân tộc Di. Tôi biết Lưu Hiến Bình từ năm 2012, khi đến thăm Hội nhà văn Trung Quốc ở  Bắc Kinh, nên gợi ý với anh, để Ban tổ chức cho vào thăm các gia đình người Di, coi họ sống và sinh hoạt như thế nào. Lưu Hiến Bình cười bảo, những đặc sắc văn hóa đều được phô ra ngoài rồi, vào trong nhà hơi bị rắc rối. Người bạn nguyên là Trưởng ban đối ngoại Hội nhà văn Trung Quốc nói đúng. Chúng tôi đang dừng chân trên một trái đồi lớn, với một quảng trường, tượng đài, các bức phù điêu kể với người xem các đặc trưng văn hóa lịch sử của dân tộc Di. Tôi thất vọng nói, tôi muốn biết người dân ở thôn văn hóa này sống thế nào, làm gì để sống. Khi chúng tôi nói chuyện, một hán tử trung niên cao lớn đứng bên, nghiêng đầu lắng nghe, chắc nhận ra vẻ thất vọng của tôi, bèn chen vào, nói dân thôn này được chính phủ nuôi. Rồi thêm, trước kia đây là một thôn nhỏ, chính phủ đầu tư tiền xây dựng thôn văn hóa đặc biệt, trở thành điểm du lịch, đường vào thôn giờ đây đang được mở rộng, hi vọng dân thôn sẽ trở thành những nhân viên của công ti du lịch tương lai. Nhìn sang quả đồi thấp đối diện, những dẫy nhà được xây theo phong cách của người Di còn mới toanh, nom rất bắt mắt, nhưng sao mà vắng người, chỉ có tiếng nhạc Di tộc điệu được phát trên các loa truyền thanh làm huyên náo một khoảng không gian.
Tấm phù hiệu Diễn đàn đeo trước ngực hán tử trung niên ghi tên Trịnh Thiên Sơn, đại biểu của Hội nhà văn tỉnh Vân Nam. Mỗi lần lên xe, anh đều ngồi phía sau cùng với Lưu Hiến Bình và Luowu Laqie (dân tộc Di, Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật châu Lạng Sơn, Phó Chủ tịch Hội nhà văn tỉnh Tứ Xuyên, tôi sẽ kể sau).
Trong lúc chờ cơm ở thôn Di, tôi hỏi thăm công việc và gia cảnh Trịnh Thiên Sơn. Anh kể, anh làm việc ở Nhật báo Vân Nam, là nhà phê bình văn học, phụ trách ban văn nghệ của tờ báo. Trịnh Thiên Sơn nói, giờ đã rời khỏi vị trí quản lí, chuyển qua chuyên sâu nghiên cứu quốc học. Anh hỏi tôi, cơ duyên nào cho nói thạo tiếng Trung Quốc vậy? Tôi nói, được quân đội Việt Nam cử đi học kĩ sư pháo ở Nam Kinh hồi thế kỉ trước, giữa những năm 1960. Thực ra học kĩ thuật thì ngôn ngữ cũng hạn chế lắm, có người sau bốn, năm năm học tập vẫn không nói được tiếng nước người, còn tôi vì yêu văn học Trung Quốc, tự học rồi sau này làm phim hợp tác, cùng lăn lộn với người bản địa nên có khả quan hơn. Hán tử Trịnh mắt sáng lên, nói phụ thân anh cũng học ở Học viện kĩ thuật pháo binh Nam Kinh, nhưng tốt nghiệp trước tôi chừng dăm bẩy năm, nghĩa là phụ thân anh và tôi là đồng môn. Năm nay ông đã ở lứa tuổi U 90, hiện sống ở Côn Minh. Tôi ước đoán, nghe giọng anh không phải giọng Vân Nam? Đúng, tôi dân gốc Hồ Nam, anh nói, nơi có hồ Động Đình ấy. Bố tôi vào thời kì cách mạng văn hóa bị tố cáo là con nuôi địa chủ, bị đuổi khỏi quân đội, bị hạ phóng xuống nông thôn, bị đưa về Vân Nam, phải  bỏ nghề pháo binh đi đào mương dẫn thủy nhập điền.
Tôi nói, thời kì ấy tôi sống ở Trung Quốc nên chứng kiến nhiều chuyện quái gở, chuyện đám hồng vệ binh giải tán đảng của Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, phá phách Di Hòa Viên và Tử Cấm Thành, đánh nhau bằng vũ khí hạng nặng, nhà văn Lão Xá bị đập chết ném xuồng hồ nước ở Bắc Kinh. Trịnh Thiên Sơn trầm giọng, nét mặt thoáng vẻ u ám như có đám mây đen kéo qua. Anh kể, bố anh là con nhà nông dân một nghèo hai kiệt, nghĩa là trên răng dưới cát tút, được một gia đình địa chủ do không có người nối dõi nhận làm con nuôi, cho ăn học, có chút chữ nghĩa. Đội quân nông dân của Mao Trạch Đông đuổi được Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan, đề ra chính sách cải tạo giới trí thức, tư sản, tạo ra mối nhân duyên của cha và mẹ anh, sự kết hợp giữa một thanh niên xuất thân nghèo khó với một tiểu thư đài các thuộc giòng dõi cao quí tầng lớp quan lại từ thời Minh- Thanh. Ngày phụ thân anh bị đuổi khỏi quân đội giữ chức vụ gì, cấp bậc quân hàm có khơ khớ không, tôi bỗng nổi trí tò mò. Trước khi cách mạng văn hóa xẩy ra, để hạ uy thế quân đội, Mao Trạch Đông cho hủy mọi thứ cấp hàm, từ nguyên soái đến binh nhì đều chỉ đeo một ngôi sao đỏ trên mũ, hai miếng tiết đỏ trên ve áo. Ở thời điểm ấy cha anh ở cấp phó trung đoàn trưởng.
Trịnh Thiên Sơn tỏ ra hiểu văn hóa Trung Quốc sâu sắc, nhưng biết cách diễn đạt nó một cách giản dị. Anh nói, văn thơ Trung Quốc xưa, chẳng hạn như thơ Đường là thứ văn ngôn, giống như những tầng quặng càng đào sâu càng thấy tầng mạch sâu xa. Văn thơ bạch thoại là thứ văn khẩu ngữ, là thứ văn nói, đại chúng dễ hiểu. Mặc dù ngày nay, người ta cố tình làm cho nó rắc rối lên, phức tạp hóa nó thêm, nhưng nó vẫn là văn thơ khẩu ngữ.
Bữa ăn người Di ở Sở Hùng dọn đãi khách trong một Kejian (khách sạn) ở tầng trệt, có nhiều phòng nhỏ, dưới nền đất được trải một thứ cỏ lá kim xanh mướt, theo phong tục trọng khách của đồng bào. Hán tử Trịnh ngó tôi hỏi, ở Việt Nam có dân tộc Di không? Tôi đáp, có nhưng tên gọi khác, dân tộc Lô Lô. Trịnh cười bảo, ở Trung Quốc, rất nhiều dân tộc được đặt tên sau khi Mao Trạch Đông lên cầm quyền, nhiều tên dân tộc trước đây (thời Dân Quốc Tưởng Giới Thạch) đến thời đại Cộng hòa Nhân dân liền bị coi là khó nghe, nên các lãnh tụ đặt cho một tên mới. Chẳng hạn Di ( - 19 nét) là tên do Mao Trạch Đông đặt vào năm 1956. Trước đây dân tộc này có tên cũng cùng âm đọc là Di ( - 7 nét), trong từ man di người Hán vẫn dùng với ý khinh miệt để chỉ những dân tộc ở phía tây nam Trung Quốc, Hán sử gọi là Tây Nam Di.  Chữ Trung Quốc là chữ tượng hình, chữ Di mà Mao Trạch Đông chọn tầng trên là chữ phòng, tầng giữa gồm chữ mễ (gạo) và chữ tơ (vải) để nói rằng dưới chế độ mới đời sống người Di sẽ no (có cơm ăn) ấm (có áo mặc). 
Tại Diễn đàn văn học Côn Minh có nhiều nhà thơ người Di xuất hiện. Đại diện đến từ Bắc Kinh là Phó Chủ tịch, Bí thư Ban bí thư Ban chấp hành Hội nhà văn Trung Quốc, Viện trưởng Viện văn học Lỗ Tấn, nhà thơ Jidi Majia. Đến từ Tứ Xuyên là nhà thơ Luowu Laqie. Hai nhà thơ này cùng là người Di ở châu tự trị Lạng Sơn.
Dân tộc Di trên thế giới có khoảng hơn 9 triệu người, thì riêng ở Trung Quốc chiếm khoảng hơn 8,7 triệu, còn lại cư trú rải rác ở Việt Nam, Lào, Miến Điện, Thái Lan… Tôi nói với Trịnh Thiên Sơn, không hiểu sao các văn nhân các dân tộc ít người, phần lớn đều làm thơ. Những nhà văn dân tộc ít người viết tiểu thuyết nổi tiếng cũng có, ở Trung Quốc như A Lai (dân tộc Tạng), ở Nga như Aimatop, nhưng nhìn chung là ít. Hán tử Trịnh gúc gắc đầu, nói nhận xét đáng chú ý. Văn chương của các dân tộc ít người phần lớn là văn chương truyền khẩu, các thi nhân của dân tộc sống trong nguồn mạch ấy, nên có điều kiện phát huy tốt hơn. Viết văn xuôi đòi hỏi phải có một tầm văn hóa rộng, có một vốn ngôn ngữ phong phú, các nhà văn dân tộc ít người thường gặp khó khăn, chỉ có tài năng vượt trội mới làm chủ được.
Giờ xin nói về Luowu Laqie. Nhà thơ cũng là một hán tử trung niên cao lớn, so với Trịnh Thiên Sơn một chín một mười, có nước da ngăm đen, ít nói. Tại Diễn đàn văn học Côn Minh nhiều nhà văn đã đọc tham luận, còn anh đóng vai thính giả. Khi thăm chùa Sùng Thánh Tam tháp, sau cò kè bớt một thêm hai, tôi mua được một cái vòng mã não chỉ có 80 đồng nhân dân tệ. Mặc dù người bán hàng đã dùng mã não rạch một rạch dài trên tấm kính để chứng tỏ là hàng thật, tôi vẫn chưa dám tin. Gặp Lưu Hiến Bình, tôi kể chuyện mua bán, rồi hỏi có biết phân biệt mã não thật giả không. Lưu lắc đầu, trỏ vào Luowu Laqie. Nhà thơ người dân tộc Di, quê gốc ở châu Lạng Sơn, tỉnh Từ Xuyên rút từ trong túi ngực một chiếc kính phát ra tia sáng mầu đỏ, soi lên những viên đá hồng, rồi nói, hàng thật, đá mã não Mông Cổ. Vậy là tôi quen thêm một người Di, ở tít tận Lạng Sơn, Tứ Xuyên giáp ranh Tây Tạng.
Trịnh Thiên Sơn đã giải thích tôi nghe về tên gọi dân tộc Di, nhưng hình như vẫn chưa đủ. Tôi bèn hỏi Luowu Laqie. Anh cười, sự thay đổi danh xưng của một dân tộc gắn với sự biến thiên của lịch sử. Trước năm 1950, dân tộc Di được gọi là Lô Lô, nhưng trước nữa thì gọi là Lô Luở (“”), trong tiếng Di âm chữ “” có nghĩa là hổ âm chữ“” nghĩa là long - dân tộc Long Hổ- ý nói một dân tộc dũng cảm, mạnh mẽ.
Dân tộc Di khởi mạnh từ 3000 năm trước, nhưng chế độ chiếm hữu nô lệ kéo dài mãi cho đến thời nhà Thanh, triều đại Khang Hy, Ung Chính mới bị phá vỡ. Trịnh Thiên Sơn học y rồi chuyển sang viết bình luận văn học, nghiên cứu quốc học, còn Luowu Laqie thuộc thế hệ sinh những năm 1950, học hết phổ thông trung học thì được tuyển vào lính (1977), vì yêu văn hóa dân tộc mình mà làm thơ, tác phẩm đầu tay của anh ra đời năm 1982. Luowu Laqie là tên cha mẹ chọn cho anh, sau này anh còn lấy tên Hán là Diệu Quân, nhưng nay ít dùng, tra trên mạng cũng tần suất thấp. Luowu Laqie nói, tác phẩm văn học, chẳng hạn thi ca đối với anh là rất có ý nghĩa, có phẩm cách và giá trị riêng, nó mang tín hiệu văn hóa của dân tộc anh, nó chứa đựng sức mạnh văn hóa, sức mạnh tinh thần, sức mạnh đạo đức.
Tôi hỏi anh về các nhà thơ, nhà văn dân tộc Di quê anh. Anh nói, dân tộc Di có số nhân khẩu đứng hàng thứ sáu trong các dân tộc thiểu số Trung Quốc, chưa đầy 9 triệu, nhưng các nhà thơ Di bằng tài năng và khát vọng vươn lên của mình, có chỗ đứng xứng đáng trong nền văn học Trung Quốc. Chẳng hạn nhà thơ đồng hương Jidi Majia, nhưng anh lại bảo anh muốn kể về một nhà thơ nữ khác, nhà thơ A Lôi. A Lôi chuyên viết tản văn, mà tản văn chính là một thứ thơ, thơ văn xuôi, hoặc nói khác đi, văn xuôi của chị tràn ngập chất thơ. Chị viết về một cái làng người Di nhỏ bé ở châu tự trị Lạng Sơn có cái tên nghe đã thơ rồi, làng Bohei Geke. A Lôi khác nhiều nhà văn khác, chị không chỉ sáng tác bằng ngôn ngữ Hán, mà còn viết nhiều bằng ngôn ngữ của chính dân tộc mình. Vì thế các đồng nghiệp Tứ Xuyên gọi chị là “nhà văn song ngữ”. Nếu có dịp đọc A Lôi, anh sẽ thấy đậm đặc chất Di vùng Lạng Sơn, trong tình yêu quê hương, trong chất văn hóa thâm hậu bản sắc, anh có thể bắt gặp ở đó những yếu tố về nhân loại học, dân tộc học, xã hội học nữa.
Luowu Laqie ít kể về mình. Những chi tiết sau đây tôi  tìm thấy trên mạng. Anh đã ba lần giành được giải thưởng Tuấn Mã, giải thưởng văn học các dân tộc ít người Trung Quốc cùng giải thưởng văn học Tứ Xuyên, năm 1997 được chọn là một trong mười thanh niên xuất sắc nhất Tứ Xuyên.
Hôm từ Đại Lý trở về Côn Minh, nhà văn Nguyễn Trí Huân cho tôi một bộ tranh dân gian Đông Hồ và một đĩa dân ca Kinh Bắc chọn lọc. Tôi hãnh diện đem tặng Luowu Laqie. Anh rất thích, đáp lại bèn đọc tặng tôi bài thơ anh mới sáng tác, bài thơ Trong mắt em
Trong mắt em
Ngôi nhà của anh
Phong cảnh
Đẹp khó có gì so sánh
Còn anh?
Phong cảnh trong phong cảnh
Trong mắt em vô tận
Vô biên tâm tư và tình cảm
Trong tim anh
Ngôi nhà của anh
Chất đầy
Tình yêu của anh
Em có nhìn thấy không?
Bốn mùa biến ảo linh diệu
Trong mắt em
Ngôi nhà của anh
Chia tách anh rất xa
Nơi góc bể chân trời
Trong mắt em chỉ có anh
Không có căn phòng của an
Trong trái tim anh
Căn phòng của anh
Cùng nhau lớn lên
Cả máu thịt, hơi thở
Nhịp đập
Cảm xúc của làn da 
Thật lòng anh khát vọng em
Có thể bước vào căn phòng của anh.
Ở phía tây Côn Minh, cách khoảng nửa ngàn cây số có một cái thôn với tên rất ư hấp dẫn, thôn Đông Liên Hoa (nôm na là thôn Đông Hoa Sen), một thôn được chính quyền địa phương gọi là thôn đặc sắc của người Hồi theo đạo Islam. Người Hồi hình như ở rải rác khắp Trung Quốc, theo nguyên tắc đại phân tán, tiểu tập trung. Chiếc đại xa chở chúng tôi phải len lách một cách khó khăn mới rẽ được vào một quảng trường khá rộng so với qui mô thôn, quảng trường Hoa Sen.
Nói đến người Hồi và đạo Islam, là nói đến những bí ẩn muốn khám phá. Tôi hỏi nhà nghiên cứu quốc học Trịnh Thiên Sơn, người Hồi có phải là người Ba Tư không, họ có phải là con cháu trực hệ của người Duy Ngô Nhĩ? Câu hỏi của tôi như gãi trúng chỗ ngứa, như khơi đúng mạch nghiên cứu, khiến anh hào hứng. Trung Quốc thời cổ không có nhiều dân tộc như bây giờ. Dân tộc Hán cũng chỉ xuất hiện sau khi nhà Đông Hán ra đời. Vào giữa thế kỉ thứ 7 sau công nguyên, các thương nhân người Ba Tư và người Arap theo đường biển và đường bộ vào định cư ở ven biển như Quảng Châu (Quảng Đông), Tuyền Châu (Phúc Kiến), ở sâu trong nội địa như Trường An (Thiểm Tây), Khai Phong (Hà Nam). Đến thế kỉ 13, khi quân Mông Cổ tiến đánh Tây vực, họ vào Trung Quốc nhiều thêm. Những người Ba Tư, Arap sống chung với người Hán, Mông Cổ, Duy Ngô Nhĩ, Tạng, Thái, Bạch cùng nhiều dân tộc ở các vùng biên viễn, hỗn huyết hình thành dần một dân tộc thống nhất- dân tộc Hồi. Người Hồi theo đạo Islam, tin tưởng chỉ duy nhất có thánh Ala thống trị.
Tại sao lại gọi là Hồi, một câu hỏi lí thú, tôi sẽ nói sau. Hán tử Trịnh, nêu một câu hỏi rồi tạm gác để thu hút sự chú ý của tôi. Bởi vì lúc ấy, trong số những người trong thôn ra đón chúng tôi, có một vị toàn thân trang phục Hồi, gương mặt lớn, mũi cao, mắt nâu, cười nói tự nhiên như một ông chủ, lão bản. Tôi đoán ông là trưởng thôn, nên nói trước hàm chứa sự gợi ý. Hôm qua, tôi nói, chúng tôi được đưa đến thăm một thôn văn hóa của tộc người Di, chỉ xem bên ngoài, không thể vào nhà, nên khó để biết cuộc sống bên trong. Ông chủ cười to, tôi họ Mã, cứ gọi tôi là ông Mã, hôm nay các bạn có thể vào xem bên trong các ngôi nhà.
Trịnh Thiên Sơn kiên trì đợi tôi hồi tâm trở lại. Anh nói, ngôn ngữ thông dụng của người Hồi hiện nay là Hoa ngữ, ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ Arap. Trong các hoạt động tôn giáo, trong sinh hoạt hàng ngày người Hồi vẫn dùng nhiều cụm từ tiếng Arap và tiếng Ba Tư. Từ “Hồi” được rút ra từ cách người Trung Quốc thời xưa gọi đạo Islam là Hồi Hồi Giáo. Chữ Hồi gồm hai chữ KHẨU lớn và nhỏ, diễn giải theo nghĩa chữ nhằm nhắc nhở phải bảo đảm nói đi đôi với làm, phù hợp với tín ngưỡng của đạo Islam.
Nếu anh đã đọc các tiểu thuyết cổ Trung Quốc nói về thời Tùy Đường hoặc tiểu thuyết dã sử Kim Dung thấy hay nhắc đến Hồ khách, Phồn khách, Hồ thương. Đấy thực ra là để chỉ những người buôn đến từ bán đảo Arap và Trung Á. Những khách buôn này nếu ở lại Trung Quốc, thì chỗ ở của họ gọi là Phồn phường, theo thói quen đó, ngày nay chỗ ở người Hồi cũng gọi là Hồi phường. Xét tổng thể, người Hồi ở Trung Quốc có dây mơ rễ má với người Apganitan, Uzbekitan, Tadikitan, Iran, Kiecgikitan, Azecbaigian, Kadactan, Irac, Thổ Nhĩ Kì… theo đạo Islam, và đều có một kiêng kị chung: cấm ăn thịt lợn. Người Hồi có hàng ngàn năm chung sống với người Hán, dùng Hoa ngữ đã thành truyền thống, nhưng vẫn bảo lưu được đặc trưng văn hóa dân tộc của mình, là điều đáng khâm phục.
Ông Mã đưa chúng tôi đi thăm một số nơi quan trọng của thôn Hồi, như đền thờ Hồi giáo, nơi cư dân thôn nghe giảng kinh bằng tiếng Arap hàng tuần vào thứ 6. Theo ông Mã, thôn Đông Liên Hoa được xây dựng cách đây hơn sáu trăm năm, tức là vào đời Minh. Những cư dân đầu tiên của thôn Đông Liên Hoa là những nhà buôn người Hồi, chuyên dùng ngựa để chuyên chở hàng hóa đi các nước Đông Nam Á. Ở cái thôn nhỏ bé của vùng Tây Nam Trung Quốc này, ngày xưa đứng đầu là ba anh em họ Mã, Mã Như Đới, Mã Như Thanh, Mã Như Hải lập ra 7 đội chuyên chở bằng ngựa với mấy trăm con, in dấu chân khắp các vùng nam bắc, đem về sự giầu có cho thôn.
Nhà cửa của cư dân thôn Đông Liên Hoa được xây dựng theo một kiến trúc độc đáo không hoàn toàn giống người Hán, có đặc sắc của một mã bang. Thôn Hồi ở tập trung như một khu phố, có biển chỉ đường, ngày nay được chính quyền xây dựng như một thôn đặc biệt, nhà nước Trung Quốc không thể không đầu tư, hiển nhiên để cho khách du lịch, khách nước ngoài tham quan. Tuy biết thế, nhưng tôi vẫn hỏi ông Mã, ông sống bằng nghề gì? Ông cười to, sống bằng nghề buôn, người Hồi chủ yếu sống bằng nghề buôn.
Ông Mã là hậu duệ của ông tổ Mã Như Đới. Trước giải phóng (năm 1950), Mã Gia là một nhà buôn lớn. Khi quân Giải phóng tiến vào Đại Lí, phụ thân ông đã bỏ chạy sang Thái Lan. Chính quyền mới phân chia dinh cơ của phụ thân ông cho 8 gia đình nông dân. Sau này, do chính sách khuyến khích Hoa kiều đầu tư về nước, người ta đã trả tòa nhà ấy cho phụ thân ông, bây giờ ông kế thừa phát triển nó.
Hôm ấy chúng tôi ăn bữa tối ở nhà ông. Căn nhà lớn ông cha để lại được xây dựng theo nguyên tắc “nhất điêu, lưỡng viện, tam môn, tứ các, ngũ đường, lục thiên tỉnh”, trên một diện tích cỡ cả mẫu đất. Nơi gian chính giữa sang trọng, ông Mã bầy mâm mời riêng lãnh đạo Hội nhà văn Vân Nam, huyện Nguy Sơn và các trưởng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma. Thức ăn chủ lực được dọn lên là thịt dê, thịt bò, cá có vẩy, có một số loại rau thơm như rau thơm Việt Nam nhưng đều được đảo qua dầu. Ông Mã đi lại tiếp khách, luôn hỏi có hợp khẩu vị không. Tôi chọn ăn món cá và một ít thịt bò, bánh sữa dê rán, để ý ngắm phiến đá Đại Lí lớn khắc chữ lớn THẾ THỦ THANH CHÂN, biểu hiện rõ ý chí và tín ngưỡng của gia chủ. Sát bên phiến đá lớn là một cái hồ bán nguyệt trồng sen, hoa nở tỏa chiếu ánh hồng ấm áp.
Người dân tộc Hồi có những đóng góp to lớn về các mặt văn hóa, khoa học kĩ thuật đối với đất nước Trung Quốc, đồng thời cũng là những người đưa văn minh Trung Hoa đến với thế giới. Về văn học thì sao? Tại Diễn đàn văn học Côn Minh, các nhà văn người dân tộc ít người xuất hiện khá đông. Người dân tộc Tạng có Đan Tăng và Jimi Pingjie; dân tộc Di có Jidi Majia và Luowu Laqie, dân tộc Thổ Gia có Ye Mei, dân tộc Hani có Ge Bu. Không có nhà văn người dân tộc Hồi. Tra ở trên mạng tôi tìm kiếm được mấy tên nhà văn người dân tộc Hồi như Hốt Đạt, Trương Thừa Chí, có cảm giác hình như ít.
III. Cổ mộ và chùa  miếu
Lần đầu (1999) đến thăm thành cổ Đại Lí, xứ các vua Nam Chiếu từng trị vì và từng đưa quân sang đánh phá nước ta (thuộc Đường), tôi đã được biết đó không phải là đất phát tích của Nam Chiếu. Thời đó, miền đất ở phía tây Côn Minh này còn trong chế độ bộ lạc, gồm 6 bộ lạc lớn, mỗi bộ lạc gọi là Chiếu, bộ lạc mạnh nhất ở phía Nam gọi là Nam Chiếu. Vua Nam Chiếu là Xinu Luo, người dân tộc Di núi Nguy Sơn, thi hành một chính sách khôn khéo, được sự hỗ trợ của vua Đường, ngày càng mạnh lên. Đến đời thứ tư, vua Nam Chiếu là Piluo Ge dùng vũ lực thống nhất 6 Chiếu, di đô về Đại Lí, dựng lên quốc gia Nam Chiếu đỉnh lập với nhà Đường.
Lần này, do nhã ý của Ban tổ chức, chúng tôi được đưa đi thăm thành cổ Nam Chiếu và Nguy Sơn, tận mắt thấy đất gốc của vị vua thống nhất 6 Chiếu làm thành nước Nam Chiếu hùng mạnh một thời. Nguy Sơn là một huyện tự trị của người Di và người Hồi. Thành cổ Nam Chiếu ở dưới chân Nguy Sơn là di tích được xếp hạng, trở thành điểm du lịch thu hút khách thập phương.
Thời nước Nam Chiếu, người dân bản địa chưa sùng bái Khổng Tử, Khổng giáo chưa bén mảng, quan quân Nam Chiếu không ít lần tiến đánh vào Thành Đô đất Thục, cướp bóc sản vật, bắt tù binh đưa về, đạo Giáo, đạo Phật thâm nhập dần, cho đến khi nước Đại Lí ra đời thì đạo Phật mới trở thành quốc giáo.
Chúng tôi đi bộ dọc theo phố cổ Nam Chiếu, nhưng e rằng kiến trúc là kiến trúc của các thời đại vua chúa sau này, thời Minh- Thanh gì đó. Trịnh Thiên Sơn kéo tôi đi qua một dãy phố đang sửa và mở rộng đường, ghé vào một khuôn viên rộng, chất đầy những nguyên vật liệu. Anh bảo, đây là Văn miếu thờ Khổng Tử. Và kể thêm, thời cách mạng văn hóa, người ta đã phá đi không ít chùa chiền, văn miếu, những biểu tượng được coi là đại diện cho tư tưởng phản động. Ngôi văn miếu này, lẽ ra đã chịu chung số phận với những ngôi văn miếu, chùa chiền xấu số khác, nhưng may ngày đó người ta trưng dụng nó để đặt trường phổ thông trung học, nên thoát khỏi cơn bão táp điên rồ ấy. Còn bây giờ người ta đổ tiền vào xây dựng lại, và mở to thêm. Văn miếu vừa để làm một điểm du lịch vừa để tôn vinh Khổng giáo.
Chuyện mở rộng, xây to không chỉ văn miếu chùa chiền trên những di tích có sẵn, nhiều nơi ở Trung Quốc, người ta còn xây mới hoàn toàn, đôi khi có chủ trương hẳn hòi như ông Bí thư tỉnh Vân Nam Lĩnh Hồ An đã từng chỉ thị cho thuộc cấp.
Một lần, nhà văn Lưu Nghiệp Quỳnh tự lái chiếc xe Dawoo Lanos mầu xanh lên Tam Đảo đem phim tham khảo chiếu cho chúng tôi xem, đã thốt lên như một thách thức, rằng chưa lái xe ngược dốc lên Tam Đảo thì chưa thể coi là biết lái xe. Hôm trước khi đi Côn Minh, tôi đã lái xe lên Tam Đảo trong suốt hơn chục kilomet sương mù dầy đặc như sữa, mới cảm thấy được sự hấp dẫn của những khúc quanh, những con dốc, những cua tay áo. Nguy Sơn Nam Chiếu là ngọn núi có độ cao trên 3000 mét so với mặt biển. Dốc dài quanh co, nhưng đường mở rất rộng, lát bê tông phẳng êm, xe đại xa chở chúng tôi bám theo hai chiếc xe con hiệu VW (Đức) của cán bộ huyện Nguy Sơn phăm phăm lên đỉnh. Từ đó chúng tôi đi bộ thăm nơi tu hành của các tu sĩ Đạo giáo.
Trên đỉnh Nguy Sơn trời mưa. Mưa rất to. Dưới hiên của dẫy nhà ngang có nhiều gian, tôi thấy ba ông lão đầu cạo trọc tếu và một bà già tóc hoa râm đang ngồi xoa mạt chược, chầu rìa là một hán tử trung niên. Chắc họ là người địa phương hoặc những người giúp việc. Lần trước đi Đại Lí cùng chúng tôi có một cô là cán bộ đối ngoại của Sở Phát thanh- Điện ảnh- Truyền hình tỉnh, rất mê mạt chược. Đêm đến, xong công việc là cô mò đi xoa mạt chược, hai ba giờ sáng mới về.
Chúng tôi đội mưa đi tiếp lên đỉnh núi. Dưới chân đền thờ là một quảng trường rộng có dựng những bức tường trên khắc tranh nổi kể lịch sử các vua Chiếu. Dưới chân núi, dọc đường đi đến nơi sinh sống và tu hành của các đạo sĩ, chúng tôi bắt gặp những cổ mộ, nằm cũ kĩ nép vào sườn núi. Trịnh Thiên Sơn nói với tôi, đó là mộ của các đạo sĩ. Cổ mộ nghĩa là những mộ được chôn cất cách rất xa thời tôi và bạn đang sống, gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ và tưởng tượng. Những đạo sĩ nằm dưới đất kia là một phần của lịch sử được phô ra mọi người nhìn thấy, nhưng chắc chắn những bí mật họ mang theo là rất lớn so với cái ta biết nhưng chẳng bao giờ biết được cho tường tận.
Nói đến Đạo giáo, tôi lại nhớ đến hình ảnh những đạo sĩ luyện khí công, luyện thái cực quyền, luyện thuốc trường sinh, mơ đến cuộc sống không già, nhớ đến vị tổ sư cưỡi trâu xanh đi vào núi, Lão Tử. Tôi cảm thấy Lão Tử gần với mình hơn. Khổng Tử đối với tôi là một cái gì xa lạ.
Ngày 15 tháng 6 chúng tôi rời Đại Lí trở lại Côn Minh để hôm sau về nước, chợt nhớ đến việc bà thông gia ủy thác cho, mua một loại thuốc quí của Nhà thuốc Đồng Nhân Đường, Bắc Kinh. Thuốc an cung ngưu hoàng hoàn. Hiểu ra một điều đơn giản, nhưng hiểu cho đến chân tơ kẽ tóc không phải dễ, sự bí ẩn của đất nước Trung Hoa, sự ngoắt ngoéo của lịch sử và sự hữu hạn của đời sống con người.
Hà Nội  20/6/2015
Hà Phạm Phú
Theo http://nhavanvatacpham.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...