Sau giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tuần báo Văn nghệ năm
2006 - 2007, Hồ Thị Ngọc Hoài (tên thật là Hồ Thị Hoài) dường như biến mất. Người
ta không thấy chị xuất hiện trên mặt báo, ra sách, …
- như cái cách mà nhiều
tác giả thường làm. Bởi thông thường, sau một cuộc thi văn học – nhất là cuộc
thi ấy lại do những địa chỉ văn chương hàng đầu của cả nước tổ chức như Tuần
báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội – đây sẽ là cơ hội quý giá để xác lập
tên tuổi cho những cây bút mới.
Một tác giả trẻ, sau khi liên tục đoạt giải tại các cuộc thi văn chương “tiết lộ”:
các nhà sách còn đưa sẵn tiền đặt hàng anh. Anh viết gì họ cũng sẵn sàng in. Điều
đó cũng dễ hiểu. Sau cuộc thi, người đoạt giải được cấp một “bằng chứng nhận”
chất lượng. Báo Tết đặt hàng. Nhà sách đặt hàng. Truyền hình cũng đặt lịch phỏng
vấn, mời tọa đàm…Người viết bỗng dưng thành “người của công chúng”, dù muốn hay
không.
Thế nên cái sự lặng lẽ biến mất của Hồ Thị Ngọc Hoài khiến
không ít người ngỡ ngàng, và lấy làm tiếc. Vì dường như chị đang đáng rơi mất
cơ hội vàng ngọc của mình.
Trong sự luyến tiếc ấy, có người tự hỏi: Hồ Thị Ngọc Hoài bây
giờ ở đâu?
Thực ra Hồ Thị Ngọc Hoài không biến mất. Chị chọn cho mình một
góc lặng lẽ. Lặng lẽ sống, lặng lẽ chiêm nghiệm và lặng lẽ viết - chậm. Người sống
quanh chị chỉ biết chị là một cô giáo dậy văn yêu trẻ.
Số phận của Hồ Thị Ngọc Hoài khá lạ. Mê văn chương từ những
ngày còn trên ghế nhà trường, chị cũng âm thầm thử viết rồi cất biệt đi. Nhưng
số phận chị không xuôi chèo mát mái. Đang học đại học, chị bỗng quyết định bỏ
ngang, ở nhà lấy chồng sinh con. Phụ nữ phàm đã có gia đình, thì những chuyện
con cái, nội trợ chi phối khá nhiều thời gian. Hồ Thị Ngọc Hoài cũng không nằm
ngoài quy luật ấy. Cả ngày quay cuồng với những công việc không tên và có tên.
Văn chương ngỡ phải xếp lại để nhường cho những lo âu thường nhật. Nhưng lạ
thay, khi chị càng chị dìm đam mê ấy xuống thì nó càng dội lên như sóng mùa biển
động. Chị kiên nhẫn đợi đến ngày con cứng cáp, để quyết định đi học trở lại.
Nhưng vì ngày trước chị bỏ học nửa chừng, nên nay sự học lại phải bắt đầu từ đầu.
Nhưng chị không ngại. Chị cũng không nản. Điểm thi đại học bị chấm sai, chị làm
đơn gửi Bộ GD&ĐT để yêu cầu phúc tra. Kết quả là chị tiếp tục bước chân vào
giảng đường đại học. Trường học cách nhà cả trăm cây số. Hàng tuần đi học xa
nhà, thương con như xát muối trong lòng. Nhưng chị không đành lòng ở nhà quanh
quẩn với việc nội trợ. Chị muốn học để mở mang đầu óc. Học để có cơ hội đọc nhiều
hơn. Càng học càng thấy mình phải học, phải đọc thật nhiều nữa.
Chị kể: Vào đại học lần nữa là một bước ngoặt quan trọng của
tôi. Gian khổ, vất vả… nhưng sự thỏa chí, niềm say mê đã cho tôi sức mạnh. Học,
và vẫn nung nấu, mong mỏi sẽ có ngày lại Viết. Viết gì? Tôi không xác định thật
chắc chắn, cụ thể, vì rằng nếu viết được cái gì cũng đều tốt cả, chỉ biết rằng
nếu muốn viết gì đi nữa, thì cũng phải học, phải đọc đã.
Năm 2001, Hồ Thị Ngọc Hoài chính thức tốt nghiệp đại học, về
dậy cấp ba tại quê nhà - huyện Tân Kỳ. Năm 2002, chị mạnh dạn gửi
truyện ngắn đến báo Văn nghệ. Chị bảo không hiểu sao khi đó mình liều thế.
Vì mình mới chỉ tập tọng viết, nào biết đã biết ra ngô ra khoai. Nhưng chị
thích cảm giác được thử thách. Và chị chọn Tuần báo Văn nghệ. Truyện ngắn (đã mất
bản thảo) viết tiếp sau hai truyện ngắn in trên Tiền Phong Chủ Nhật, được Trưởng
ban văn xuôi Báo Văn Nghệ - nay đã nghỉ hưu là nhà văn Trần Huy Quang khen
nhưng không thấy được đăng. Năm 2006, chị gửi truyện ngắn đến báo Văn nghệ dự
thi. Nhà văn Dạ Ngân sau khi đọc truyện của chị, đã viết thư khen và góp ý chỉnh
sửa, đó chính là Thung Lam, tác phẩm sau đó đã đoạt giải nhất cùng với
truyện ngắn Buổi sáng biến mất của Ngô Phan Lưu.
Chị bảo, lá thư của nhà văn Dạ Ngân đến giờ chị vẫn giữ, chị
khắc ghi cái tâm của nhà văn kể từ đó. Chuyển nhà từ Tân Kỳ, Nghệ An vào TP Hồ
Chí Minh, rất nhiều thứ chị bỏ lại, riêng lá thư của nhà văn Dạ Ngân, chị vẫn
mang theo bên mình.
Nhớ lại hôm nghe tin đoạt giải nhất, chị kể: “Lúc đó mừng đến
nỗi Hoài cứ nhảy lưng tưng, lưng tưng như trẻ nhỏ - một cảm giác chưa từng có”.
Chị thừa nhận, mình chịu áp lực sau giải thưởng này, áp lực
phải viết hay hơn. Nhưng đó là điều thực sự khó, nhất là với người mới viết như
chị. Không biết có phải vì thế mà chị quyết tâm ẩn mình đi?
Chị bảo, là đàn bà, chỉ riêng chuyện con cái thôi mà đã không
đủ thời gian, nên không thể chuyên tâm cho văn chương. Rồi còn công việc giảng
dậy nữa. Ngày đứng lớp, tối về chong chong soạn giáo án. Mà chị thì cầu toàn,
không thể làm việc gì quấy quá, qua loa được. Nhưng cầu toàn quá thì chỉ mình vất
vả, chỉ mình phải chịu khổ, chịu thiệt thòi thôi. Chị tâm sự, cuộc sống nhiều
cái làm cho mình thấy nản, ngay cả chuyện văn chương thời nay đây đó cũng có
khi bị đối xử bạc bẽo. Những tác phẩm đích thực thì chìm khuất, mà những thứ ồn
ào, thị phi ngoài văn học thì hình như đang “quá đà”. Chị bảo những chiêu trò
"khua chiêng gõ mõ" hiện nay làm cho đời sống văn học loạn cả lên,
người đọc khó tìm thấy "châu ngọc". Chứng kiến những chuyện ấy, thử hỏi
không nản làm sao được. Nên chị lặng lẽ làm người quan sát.
Gia đình chị rời Tân Kỳ vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí
Minh. Và chị vừa lưu luyến nghề dạy học, vừa muốn thay đổi, trải nghiệm "vị
trí" mới nên đã dùng dằng, chùng chình. Thay đổi một nghề mình đã từng yêu
nó, từng gắn bó với nó, thay đổi môi trường sống mà từ bé đến lớn, mình đã thuộc
từng gốc cây, ngã rẽ - điều này khiến bản thân chị cũng có lúc hoang mang không
biết ngày mai sẽ ra sao.
Chị muốn một sự thay đổi. Phải thay đổi. Ngay cả trong văn
chương cũng phải thế. Chị muốn có thêm những cơ hội để trải nghiệm, để được đọc
nhiều, viết nhiều, và cũng còn vì cả chuyện kiếm sống nữa. Đó sẽ là thực tế quý
giá cho các trang viết của chị.
Thực tế mà chị chấp nhận trả giá, chứ không phải là một thứ
thực tế ngồi mơ mộng tưởng tượng bên trang viết. Chị muốn hiểu đời sống ở
tầng sâu của nó, trong mọi hoàn cảnh. Vì thế chị có thêm một lần từ bỏ sự ổn định.
Giờ chị đã là một người đàn bà tuổi bốn mươi. Càng ngày chị
càng thấm thía lời nhắc nhở của bậc tiền nhân: sống đã rồi hãy viết. Có nhiều
người trải nghiệm nhiều nhưng họ không cầm bút. Còn người cầm bút đôi khi cuộc
sống của họ lại quá đơn điệu. Nhưng muốn đi dài với nghề này, nhất định phải có
nhiều trải nghiệm, nhiều vốn sống. Hãy thu nạp thực nhiều cho mình rồi hãy viết
cũng không muộn. Việc nóng vội là tuyệt nhiên không được. Cái gì nóng vội cũng
không được, với văn chương thì lại càng không.
Nhìn lại hành trang văn chương khá khiêm tốn của mình: chừng
hơn 10 truyện ngắn đã đăng các báo Văn nghệ, Tiền phong, Tạp chí Văn nghệ quân
đội… Một vài truyện ngắn còn nằm ở dạng bản thảo, bởi vậy Hồ Thị Ngọc Hoài
không tự tin lắm về việc ra một tập truyện ngắn của mình. Không phải ai cũng đủ
sự tỉnh táo khi nhìn nhận về mình – như chị. Sự thẳng thắn của chị khiến ai ngồi
trò chuyện với chị cũng có cảm giác dễ gần, dễ than thiết.
Chị nói thẳng: Trước truyện ngắn Thung Lam, chị rất
"mờ mịt" về tình hình văn chương lúc bấy giờ, dù khi đó đã có 2 truyện
đăng trên Tiền phong. Bút danh của chị cho truyện ngắn đầu tiên trên báo Tiền
Phong là Hoài Ngọc - cũng là bởi vì chị ngại có người nhận ra mình giữa đời thường,
nên chị không kí tên thật là Hồ Thị Hoài. Khi đó chị còn đầy vô tư hồn nhiên để
bắt đầu một câu chuyện.
Hồ Thị Ngọc Hoài kể: Thung Lam được viết trong một lúc
xuất thần. Viết rất nhanh. Viết xong đọc lại, sửa sang, cũng bị “buốt óc”. Bây
giờ chị thèm sức sáng tạo "chiến đấu" được như thế.
*
Lặng im, khước từ hào quang của một giải thưởng văn chương
danh giá, chị dặn mình phải tự nghiêm khắc hơn. Chị chấp nhận im lặng cho một
cơn sóng mới sẽ đến.Vì mọi thứ với chị vẫn chỉ là sự khởi đầu. Niềm đam mê văn
chương của chị vẫn còn nguyên vẹn đó, cồn cào từng ngày từng giờ. Vì chuyện cơm
áo gạo tiền, văn chương có thể tạm lui bước, nhưng rồi sẽ có ngày nó xuất hiện
như xoáy, như lốc.
Từng có người khuyên chị vứt đam mê văn chương đi sống cho nhẹ
lòng. Nhưng tự chị hiểu, văn chương đã là một phần đời sống của chị. Văn chương
giúp chị được sống nhiều hơn. Với chị, điều ấy đã là quá nhiều rồi.
Tôi biết ơn những gì mình đã trải qua. Cả những đau khổ! Thật
sợ khi những đau khổ đến với mình, nhưng khi đã vượt qua nó rồi thì quả như một
nhà văn đã nói: “Đau khổ là tài sản”, và “Chỉ bàng sự đau khổ chúng ta mới học
yêu mến cuộc đời”. Thật đúng! Nhà văn là người nói hộ cho chúng ta rất nhiều.
Ta thấy mình được hiểu, và có thêm sức mạnh.
Ai cũng đi tìm sức mạnh cho mình. Ai cũng có thể cùng lúc bằng
nhiều cách để thu nhận được nhiều sức mạnh. Sức mạnh từ văn chương? Tìm đến văn
chương? Tất nhiên rồi! Ai mê say cái gì thì sẽ tìm thấy sức mạnh ở đó.
PHONG ĐIỆP





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét