Trước hết cần có sự phân biệt
thể loại “phê bình” và “nghiên cứu”, ở ta. Tôi nhấn mạnh là ở Việt Nam ta, bởi
vì trong tiếng Tây chữ “criticism” là bao hàm cả hai, nhưng ở ta nói phê bình
và nghiên cứu là khác nhau. Phê
bình văn học, hiểu theo ở ta, là khen chê một tác phẩm khi nó vừa ra đời,
xem nó hay dở thế nào, cố nhiên là theo những tiêu chuẩn thẩm mỹ nhất định. Phê
bình là cái đó, tại đây, ngay lúc này. Một tiểu thuyết vừa ra, một truyện ngắn
vừa đăng, một bài thơ vừa xuất hiện, người đọc, và cả các nhà văn nhà thơ, muốn
chờ nghe ý kiến nhà phê bình xem hay dở thế nào. Nguyễn Du không biết, không cần
biết, “tam bách dư niên hậu” cuốn truyện Đoạn trường tân thanh của
mình sẽ sinh ra bao nhiêu công trình khảo cứu, nghiên cứu, nơi thực hành kiểm
nghiệm các lý thuyết văn học của mỗi thời đại, nhưng ông cần, rất cần (tôi dám
chắc thế) những lời phẩm bình, nhận xét của những bạn văn tri âm tri kỷ đương
thời, những “siêu người đọc”, nói theo ngôn ngữ thời nay. Trong lĩnh vực này,
nhà phê bình giỏi phải là người có “con mắt xanh” biết “anh hùng đoán giữa trần
ai”, phát hiện và đề cao những giá trị đang tức thời nhưng sẽ là lâu dài, giúp
người đọc cảm, hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương. Hoài Thanh
là nhà phê bình đúng nghĩa của từ này, khi sống giữa lòng Thơ mới ông đã “đọc tất
cả một vạn bài thơ và trong số ấy có non một vạn bài dở” để chọn ra những tác
phẩm, những tác giả ông thấy là xuất sắc, tiêu biểu, góp thành Thi nhân Việt
Nam với những nhận xét, phẩm bình, đánh giá, nhiều phần tinh tế, chính
xác, có phát hiện. Thời gian đã khẳng định cách đọc phê bình và cách viết phê
bình của Hoài Thanh. Rất nhiều những chuyên luận, luận văn về sau này nghiên cứu
sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật, thế giới thơ ca của Xuân Diệu, Huy Cận,
Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh…, các tác giả có độ lùi thời gian, có quá
trình nghiền ngẫm phân tích, có các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới mẻ,
đưa lại nhiều khám phá mới về các tác gia Thơ mới, kết quả những nghiên cứu đó
cho thấy những tiên cảm, nhạy cảm của Hoài Thanh với tư cách nhà phê bình đối
với các nhà Thơ mới là đúng, nhiều khi là đúng cơ bản. Thử lấy một thí dụ. Viết
về Xuân Diệu, ông chỉ ra hai đặc điểm của nhà thơ này: “say đắm tình yêu, say đắm
cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quít, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của
mình”, và, “mới nhất trong các nhà thơ mới”. Tất cả các nghiên cứu sau này về
Xuân Diệu, có thể nói, không ra ngoài nhận định xác đáng này của Hoài Thanh.
Tôi không tuyệt đối hóa phê
bình văn học của Hoài Thanh. Nhưng câu than phiền “văn học bây giờ thiếu phê
bình hoài thanh”, Hoài Thanh viết thường, như một tính từ, là có cơ sở, nhất
là khi trên thị trường văn học đang “lạm phát” đủ các loại tuyển thơ kèm lời
bình, mà chất lượng và giá trị phần lớn rất thấp. Chê rằng Hoài Thanh sau thời
Thơ mới không còn theo nổi phong trào, không bắt kịp sự phát triển của văn học,
không tinh tường thẩm định tác phẩm, điều đó khí đơn giản và dễ dàng. Nó đúng
như là… nó đúng. Mỗi nhà phê bình chỉ sống với một thời, thời của họ, và nếu họ
tổng kết được văn học thời họ sống bằng những tác giả tác phẩm xuất sắc, tiêu
biểu, ấy là họ đã có công lao vĩ đại cho thời mình, và các thời sau. Hoài Thanh
làm được điều đó. Ngay cả ở thời kỳ sau này, khả năng thính nhạy phê bình của
Hoài Thanh vẫn có lúc tỏa sáng, như trường hợp ông có ngay bài viết khen ngợi,
cổ vũ Lưu Quang Vũ (1966), Nguyễn Duy (1972), khi hai tác giả này chỉ mới xuất
hiện những chùm thơ đầu tiên. Bây giờ có các công trình nghiên cứu Lưu Quang
Vũ, Nguyễn Duy, khi họ đã là những nhà thơ nổi tiếng, đó là việc thường tình.
Hoài Thanh cũng đã có lúc có dự định làm một tuyển thi nhân Việt Nam mới thời
sau 1945, nhưng hoàn cảnh đã không chiều ông, vả, cũng nói thật, ông bất lực,
vì thời của ông đã qua. Nhưng, những người đến sau ông, sao không ai làm được
như ông cho thời của họ? Vì văn học đã phức tạp hơn? Vì các lý thuyết đã nhiều
hơn? Vì tài năng ít hơn, nhạt hơn? Vì gì đi nữa, văn học vẫn để lộ ra khoảng trống
phê bình, nghiên cứu chưa thay thế và bù đắp được.
Đây đang nói sự phân
biệt phê bình và nghiên cứu. Nhà phê bình sống trong/cùng văn học thời mình, đi
theo một hệ thống mỹ học, lựa chọn một phương pháp tiếp cận, dựa vào cảm nhận
cá nhân, để tìm cách đọc các tác phẩm đang được sáng tạo ra. Phê bình là đọc
nhanh, nghiên cứu là đọc chậm. Phê bình là tiếp xúc động, nghiên cứu là tiếp
xúc tĩnh. Phê bình là làm việc với cái sống, nghiên cứu là làm việc với cái chết.
Phê bình là ở thì hiện tại, nghiên cứu là ở thì quá khứ. Phê bình là tìm kiếm
cái cần khẳng định, nghiên cứu là khẳng định cái đã tìm thấy. Phê bình hỏi giá
trị là gì, nghiên cứu hỏi giá trị thế nào. Phê bình là khi P. Corneille
(1606-1684) tung ra vở bi kịch Le Cid năm 1636 phải có ngay trên mặt
báo một câu “cả Paris đang nhìn Rodrige bằng đôi mắt của Simen, nghiên cứu là
giữa thế kỷ 20 lấyLe Cid làm đối tượng kiểm nghiệm hệ thống tiếp cận, như
các nhà phê bình mới ở Pháp đã làm. Nhóm “phê bình mới”,
hiểu theo sự phân biệt này, thực chất là những trường phái nghiên cứu mới. Nội
một việc họ lảng tránh văn học đương đại, tìm về văn học cổ điển, để áp dụng hệ
thống “phê bình mới” của mình đối lập với “phê bình cũ”, hay “phê bình đại học”
(R. Barthes), đã cho thấy rõ. Ở ta không gọi những M. Bakhtin, R. Jakobson, R.
Barthes, J. Derrida… là các nhà phê bình văn học, vì như thế dễ gây hiểu nhầm,
họ là những nhà nghiên cứu văn học. R. Jacobson phân tích bài thơ “Les Chats” của
C. Beaudelaire, R. Barthes viết cuốn “S/Z” phân tích một truyện của H. Balzac,
đó là nghiên cứu, đâu phải phê bình.
Mà không riêng gì ở Việt
Nam. Một nhà nghiên cứu người Nga, bà Natalia Fedorovna Rjevskaya, cũng vấp phải
sự nhập nhằng phê bình/nghiên cứu này khi đi vào tìm hiểu đời sống văn học Pháp
những năm 60-70. Bà viết: “Vấn đề là ở chỗ tiếng Pháp không có khái niệm
“nghiên cứu văn học”, còn từ phê bình (la critique) của nó có nội dung rộng hơn
của tiếng Nga và được dùng để chỉ toàn bộ hoạt động phê bình nghiên cứu nói
chung. (Từ Pháp “la critique” trong trường hợp này tương đương với từ Anh
“Criticism”). Để phân biệt các hiện tượng được biểu thị bằng khái niệm phê
bình, người Pháp dùng các tính ngữ và chia ra phê bình báo chí, phê bình học
thuật, phê bình đại học (tính ngữ “đại học” ở đây không mang nghĩa đơn nhất như
R. Barthes và nhóm ông gán cho). Có lẽ gần nhất với cách nghiên cứu văn học mà
tiếng Nga biểu thị bằng khái niệm “nghiên cứu văn học” là phê bình học thuật,
nhưng nó không trùng với khái niệm trên về khối lượng, vì chỉ bao hàm một phạm
vi hiện tượng hẹp hơn. Các nhà cấu trúc luận phần nào học theo các nhà hình thức
luận Nga cố thử xây dựng “khoa học về văn học” (la science de littérature hay
la science littéraire) và phân định rạch ròi – thật ra chủ yếu chỉ trong các bản
tuyên bố và tuyên ngôn – phê bình có nhiệm vụ diễn dịch tác phẩm bằng cách lý
giải một trong các ý nghĩa của nó, và khoa học về văn học nhằm mục đích giải
thích tổ chức của tác phẩm hiểu như là một hình thức “rỗng”, không có nghĩa. Cả
“khoa học về văn học”, cũng như “phê bình học thuật”, cũng chỉ có thể so với một
trong các bộ phận hợp thành của nghiên cứu văn học – với lý luận văn học, còn nếu
chính xác hơn nữa – thì chỉ với thi pháp. Có lẽ, gần nhất với quan niệm của
chúng ta về nghiên cứu văn học – đó là khái niệm “lịch sử văn học” (histoire
littéraire) do G. Lanson đưa ra và ông cương quyết tách nó khỏi lịch sử của
văn học”. Vì vậy trong công trình của mình N. F. Rjevskaya phải giới thuyết
cách dùng hai từ “phê bình” và “nghiên cứu”. Bà quan niệm phê bình là “sự giải
thích và đánh giá hiện tượng văn học như một sự kiện của quá trình văn học đương
đại mà bản thân nhà phê bình có tham gia vào để tìm cách tác động lên nó bằng
cách này hay cách khác”, còn nghiên cứu là “sự tìm hiểu bản chất và đặc trưng của
hiện tượng văn học, cũng như nguồn gốc và chức năng hoạt động của nó, đồng thời
hiện tượng văn học được xem xét như một bộ phận hợp thành của quá trình lịch
sử-văn học mà nó gắn bó chặt chẽ và nếu nằm ngoài thì nó không có nghĩa”(1).
Từ quan niệm như trên, tôi
thấy, phê bình văn học là một nghề, ngoài học vấn sâu và rộng, cần sự trung thực
và bản lĩnh, bởi vì người viết phê bình phải trực ngôn, phải phát ngôn từ chính
mình, phải “cá cược” tất cả học vấn và uy danh của mình vào những nhận xét mình
đưa ra về một tác giả, một tác phẩm ngay khi mới xuất hiện, còn chưa có động
tĩnh gì trên văn đàn, hoặc đã bị nhiễu tạp xâu xé giữa nhiều luồng đánh giá
khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chính ở đây bộc lộ cái thiếu và cái yếu của
phê bình văn học hiện nay. Thiếu một bầu không khí sinh hoạt văn chương dân chủ,
bình đẳng, công bằng cho hoạt động phê bình diễn ra lành mạnh. Yếu trình độ lý
thuyết của bản thân phê bình để biết phát hiện và hướng đạo văn học về mặt
chuyên môn.
Trước hết nói về cái thiếu.
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, phong trào Thơ mới thời kỳ 1932–45 đã
phát lộ và nẩy nở nhiều thi tài ở tuổi đời còn rất trẻ. Chế Lan Viên tuổi chưa
đầy 17 ra tập thơ Điêu tàn ngạo nghễ tuyên bố với độc giả: “Nếu, khi
sách đọc xong mà cái Buồn, cái Chán, cái Hãi Hùng cũng ùa nhau đến bọc lấy hồn
anh, làm cho anh phải cười, phải gào, phải khóc thì xin anh chớ hẹp hòi gì mà
cười cho mênh mang, gào cho vỡ cổ, khóc cho hả hê rồi gửi cái cười, cái gào,
cái khóc ấy cho không trung. Tôi nằm ngủ ở trong sao, nghe được, tung mây ngồi
dậy, vồ lấy cái quà quý báu ấy rồi say sưa, rồi ngây ngất, rồi điên cuồng vỗ
lên đầu sao Khuê, sao Đẩu, lên cả Nguyệt Cầu mà bảo chúng nó rằng: – Ha, ha,
bay ôi! Loài người thành thi sĩ như ta cả rồi!”. Huy Cận 23 tuổi viết trong Kinh
cầu tự cũng ngạo nghễ không kém: “Ta nhớ lại những bà mẹ may áo cho con,
trừ hao dài rộng: “lớn lên thì vừa”. Kẻ đọc ta ơi! (ta không muốn gọi ngươi là
người bạn đọc) đứng phiền lòng nhé! Ta đang may áo trừ hao cho người đây!”.
Trong một không khí sinh hoạt văn chương mà người sáng tác được nói và nói được
như vậy, phê bình cũng rất ngạo nghễ tự tin. Thế Lữ đề tựa Thơ thơ của
Xuân Diệu viết: “Và từ đây chúng ta đã có Xuân Diệu. Loài người hãy hiểu con
người ấy!”. Một lời khen, một lời khẳng định, một lời bảo vệ “nhà thơ mới nhất
trong các nhà thơ mới” đến thế là tót vời, tột cùng. Không phải Xuân Diệu phải
khuôn theo kích thước tiêu chuẩn của loài người, mà ngược lại, loại người phải
cố vươn tầm mình lên để hiểu nhà thi sĩ mới xuất hiện. Khi ấy Xuân Diệu mới 22
tuổi, và Thơ thơ là tác phẩm đầu tay của ông. Chế Lan Viên kiêu
cho mình rồi, khi phê bình thơ bạn còn kiêu cho bạn hơn nữa để cam đoan với người
đương thời rằng những cái mực thước, vừa phải của thời này sẽ mất đi, còn lại
chút gì ấy là thơ Hàn Mặc Tử. Năm 1939 ấy Chế là 19 tuổi, và Hàn là 27, sắp mất.
Còn nhà phê bình chính hiệu Hoài Thanh cũng ngạo nghễ không kém khi làm tuyển Thi
nhân Việt Nam. Tôi nhắc lại những thí dụ của một thời mà ai cũng đọc cả rồi,
“biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, nhưng là để gợi một suy nghĩ hôm nay. Phan Huyền
Thư sinh 1972 được coi là lớp thơ trẻ hiện thời, chị có một bài viết muốn rạch
ròi thẳng thắn kẻ vạch ranh giới giữa thế hệ thơ mình và thế hệ thơ đi trước
nhan đề: “Xin lỗi, thơ của tôi không dành cho bạn”. Chị lấy ý này từ chuyện nhà
thơ Auden (Anh) kể rằng nếu có người hỏi ông làm thơ cho ai ông sẽ hỏi lại bạn
có đọc thơ tôi không, nếu bảo có ông hỏi tiếp bạn có thích thơ tôi không, nếu bảo
không ông đáp thơ tôi không dành cho bạn. Bài viết của Phan Huyền Thư đã gây ra
vài sự phê phán, chủ yếu của các bậc cả bậc trên, phê là cô ấy sao kiêu căng thế,
sao muốn tạo mâu thuẫn thế hệ thế. Trường hợp Vi Thùy Linh thì mới thật tiêu biểu
và nhiều người đã biết. Có thể thấy ở trường hợp này cái thiếu đang nói đến ở
đây lộ ra khá rõ. Thơ Vi Thùy Linh ở độ tuổi hai mươi đã khuấy đảo được dư luận
văn học bởi cảm xúc mãnh liệt và cách diễn tả táo bạo, đặc biệt khi chị thám hiểm
trong thơ miền tình dục của tình yêu. Lẽ ra phê bình ở đây có thể bàn luận đa
chiều và sâu sắc, qua sáng tác của một cây bút nữ trẻ nhiều đam mê khát vọng,
những vấn đề cấp thiết đang mở ra trước văn học nước nhà như tinh thần nữ quyền
(feminism), sự cách tân thơ. Nhưng không, phê bình cớ rộ lên chủ yếu chỉ là những
bài phê Linh và thơ Linh dưới cái nhìn đạo đức xét nét, có lúc nặng lời khủng
khiếp như một tờ báo giáo dục “giật tít” một bài viết là “Khi xác thịt tràn qua
câu chữ”. Những người đề cao thơ Linh thì bị cho là phe cánh, là trục lợi, là bốc
đồng. Và không khí phê bình đó đã khiến tập thơ thứ ba của Vi Thùy Linh bị tắc ở
khâu giấy phép đã mấy năm nay, dù chiểu theo luật xuất bản hiện hành và xét dưới
cái nhìn phê bình văn học thực sự thì không có lý do gì để không cho tập thơ đó
ra đời. Mỗi thế hệ văn chương sẽ có những nhà phê bình của mình. Hãy để họ được
lên tiếng thành thật, đừng độc quyền thẩm định, đánh giá đối với họ, càng không
nên nhân danh một cách viết cách đọc này mà bài trừ, phủ nhận những cách viết
cách đọc khác. Phán xét văn chương hãy để thời gian và công chúng. Chúng ta có
một tờ báo Văn nghệ Trẻ nhưng tiếc thay đó lại không phải là diễn đàn
của những người viết trẻ; những vấn đề của văn học trẻ chưa bao giờ được bàn luận
thực chất và rốt ráo trên đó.
Cái thiếu của phê bình văn học
hiện nay là vậy: thiếu một không khí phê bình cho các ý kiến khác nhau, thậm
chí đối lập nhau, được nói ra công khai, tự do, bình đẳng, bình quyền, chỉ chịu
sự giám định và kiểm nghiệm duy nhất của phẩm chất văn chương, mà cái này thì
không phải một sớm một chiều là biết ngay được. Giá trị những lời của Chế Lan
Viên, Thế Lữ, Huy Cận tôi dẫn ra ở trên phải mãi sau này mới được chứng thực.
Tôi nói tới cái yếu của phê
bình văn học hiện nay: yếu lý thuyết văn học. Một tác phẩm văn chương viết theo
lối hiện đại vẫn được phân tích, mổ xẻ, bình giá theo những tiêu chuẩn cách đọc
như đối với một tác phẩm viết theo lối cổ điển. Còn những bài lý luận thì rặt
theo kiểu đại luận, chung chung và cũ rích. Bài phê bình nào cũng giống bài phê
bình nào: tóm tắt nội dung tác phẩm và phán vài câu về nghệ thuật vô thưởng vô
phạt. Còn nhớ mười lăm năm trước sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ra đời đã gây rối
loạn và khủng hoảng cho phê bình văn học nước nhà quanh chuyện tìm cách đọc. Tỷ
như vấn đề “người kể chuyện không đáng tin cậy” trong truyện
của Thiệp chẳng hạn. Bây giờ, một phần tư thế kỷ sau, áp dụng lý thuyết văn
chương hậu hiện đại để xem xét mới thấy có lẽ nhà văn này đã đi bước hậu hiện đại
đầu tiên trong văn học Việt Nam. Tôi xin trích dịch đoạn sau đây nói về một
phương diện của chủ nghĩa hậu hiện đại để hiến mọi người nghĩ thêm về Nguyễn
Huy Thiệp khi phê bình: “Chủ nghĩa hậu hiện đại đánh dấu bước chuyển từ các
quan niệm nhận thức luận (Tôi có thể giải thích cái thế giới mà tôi
là một thành phần trong đó như thế nào? Cái gì là có thể biết, tri thức đáng
tin cậy đến mức nào và đâu là giới hạn của tri thức?) sang các quan niệm bản
thể luận (thế giới là gì? cái gì tạo nên thế giới và cái gì xảy ra khi
biên giới của các loại thế giới khác nhau đang bị vi phạm?). Văn bản hiện đại
thường có những người trần thuật/nhân vật không đáng tin cậy, nhưng chúng không
đáng tin theo cách nào? Chúng ta có thể nói chúng không đáng tin tới mức nào và
theo cách nào? Trong các văn bản hiện đại sự không đáng tin chỉ mãi về cuối mới
được hiểu ra. Còn trong các văn bản hậu hiện đại, độc giả không phải bao giờ
cũng được bảo đảm về mức độ không đáng tin. Nói cách khác, vấn đề ai nói và họ
có nói sự thật không (và họ có biết sự thật thực ra là gì không) thường bỏ ngỏ
và không giải quyết”(2). Soi sáng những sáng tác mới bằng những lý thuyết văn học
mới ngõ hầu có thể giúp được cho sự vận động phát triển của văn học nước nhà
trên con đường đi ra thế giới. Không nắm được những lý thuyết mới thì đến khen
chê một tác giả một tác phẩm cụ thể cũng đã rất khó, nói gì đến khái quát một
xu hướng, một trào lưu, một thời đại văn học. Còn như thấy nhà văn nhà thơ tìm
tòi sáng tạo mà cho là nói ngược viết ngược để gây chú ý nổi tiếng thì đó vẫn
chỉ là phê bình văn học phi lý thuyết. Về mặt này, phê bình văn học ta đến bây
giờ vẫn là đi sau sáng tác. Cuốn tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy của Nguyễn
Bình Phương vừa ra, và nói chung là toàn bộ sáng tác của nhà văn này tính đến
hiện nay, phần lớn vẫn nằm ngoài vùng “phủ sóng” của phê bình. Một nguyên nhân ở
đây là các nhà phê bình thiếu lý thuyết để thâm nhập và khám phá cái thế giới
“hỗn loạn” như một hệ thống nghệ thuật xuyên suốt các tác phẩm của Nguyễn Bình
Phương(3). Rào cản lý thuyết là ngoại ngữ. Nhưng cả khi những bản dịch lý thuyết,
tuy chưa hệ thống và toàn diện, đã được in ra khá nhiều trong nước thì giới phê
bình cũng chưa phải đã chịu tìm đọc, và đọc rồi thì việc tiêu hóa nó và áp dụng
nó còn là thiên nan vạn nan. Nhưng không có lý thuyết thì phê bình chỉ là anh
mù, và ở ta là anh mù cầm cây gậy.
Bao giờ phê bình văn học ở
ta vượt thoát được cái thiếu và cái yếu này? Câu trả lời là: khi xã hội đạt đến
một trình độ dân chủ cao và khi văn học đạt đến một trình độ chuyên nghiệp cao1
([1]) N. F. Rjevskaya.
Literaturovedenie i kritika v sovremennoi francii. Izdatelstvo “Nauka”, M.
1985, tr.26-27.
(2) “Postmodernism marks a
shift from epistemological concerns (How can I interpret this world
of which I am a part? What is knowable, how reliable is knowledge and what are
the limits to knowledge?) to ontological concerns (what is a world?
what constitutes a world and what happens when the boundaries of different
kinds of world are violated?).
The modernist text often
contains unreliable narrators/characters, but in what ways are they unreliable?
Can we tell to what extent they are unreliable and in what ways? In modernist
texts, the unreliability is usually understood, eventually. In postmodernist
texts, readers may not always be sure of the extent of the unreliability. In
other words, questions of who is speaking and whether they are telling the
truth (and whether they know what the truth really is) are often left open,
unresolved.” (tài liệu lấy từ Internet).
(3) Xem các bài viết của
Nguyễn Mạnh Hùng, Đoàn Cầm Thi về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trên mạng
http:// www.talawas. org.
Hà Nội 5.2004
Phạm Xuân Nguyên
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu
văn học





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét