Đối tượng của phê bình trong
Khác với nghiên cứu văn học, phê
bình văn học luôn luôn hướng đến các hiện tượng văn học đương đại. Nguyên lý thì
như vậy song văn học đương đại là gì và nhà phê bình hiện nay cần chú ý đến những
hiện tượng nào lại là vấn đề không hẳn dễ nhận được sự nhất trí.
1. Suy nghĩ về thế hệ trong lịch sử văn
học:
Để bắt đầu, tôi xin dẫn một sự kiện chưa được
giới phê bình chú ý đúng mức. Hầu như ít nhà phê bình để ý rằng hiện nay tại
các câu lạc bộ thơ văn của cán bộ về hưu, thơ Đường luật từ lâu đã trở lại. Các
cụ sáng tác thơ Đường luật, xuất bản thơ Đường luật. Thơ Đường luật ở cuối thế
kỷ XX đầu thế kỷ XXI? Đó là một sự thật. Khoan chưa bàn về trình độ nghệ thuật
hay chất Đường thi của các sáng tác này. Sự kiện này buộc ta phải suy nghĩ
nghiêm túc. Về mặt thế hệ, tác giả của thơ Đường luật Việt Nam đương đại thuộc
về thế hệ độc giả của thơ Mới, nay lại trở về với thể thơ tưởng chừng đã đi vào
bảo tàng lịch sử. Nhu cầu tư tưởng, đạo đức – thẩm mĩ riêng của thế hệ chống
Pháp và chống Mỹ đã hình thành như thế nào đó để cho họ lại tìm thấy hứng thú ở
thể thơ Đường luật, một thể thơ của nhà nho truyền thống. Trong khi lớp nhà thơ
trẻ sinh sau ngày miền Nam giải phóng đang làm thơ tự do, thơ không vần thì một
bộ phận của thế hệ cha anh lại thấy thơ Đường luật một phương tiện chuyển
tải xúc cảm. Tôi không nói tất cả thế hệ cha anh mà chỉ nói rằng có một bộ phận,
một bộ phận quan trọng. Nhưng thể loại không phải là câu chuyện hình thức. Lịch
sử và lý luận văn học đã chứng minh rằng thể loại tồn tại do yêu cầu của nội
dung. Cấu trúc thể loại trên của nền văn học Việt Nam đương đại chỉ
là một hình ảnh giúp dễ hình dung nhất cấu trúc thế hệ trong xã hội ta, thế hệ ở
đây được hiểu không phải thuần tuý theo nghĩa tuổi tác mà theo nghĩa thẩm
mỹ.
Trong bất cứ một nền văn học dân tộc nào, thuộc
bất cứ thời đại nào cũng tồn tại đồng thời nhiều thế hệ khác nhau. Quyền tồn tại
và bộc lộ của mọi thế hệ là thiêng liêng và đáng trân trọng. Sự phát triển
không ngừng của đời sống văn học tuỳ thuộc vào sự tương quan giữa các thế hệ. Lịch
sử văn học đã biết không ít nhà văn, nhà thơ có những đóng góp to lớn cho văn học
dân tộc ở vào độ tuổi không còn trẻ. Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo khi
đã 48 tuổi, Nguyễn Du viết Truyện Kiều cũng vào lúc hơn 40 tuổi.
Nhưng nếu nhìn lịch sử văn học theo cách nhìn thế hệ thì có thể thấy bức
tranh với những đợt sóng kế tục của các thế hệ trẻ tuổi. Văn học giai đoạn
1932-1945 là nền văn học được xây dựng bởi thế hệ trẻ ở vào độ tuổi từ khoảng
20-30 gì đó. Quy luật độ tuổi và vấn đề thế hệ lại lặp lại trong văn học giai
đoạn chống Mỹ. Tất nhiên nên hiểu thế hệ theo nghĩa lực lượng chủ yếu,
nòng cốt chứ không theo nghĩa tuyệt đối. Làm nên những thành tựu cho một
thời đại văn học mới tuy có công của tất cả các nhà văn thuộc mọi thế hệ nhưng
về cơ bản, công đầu vẫn thuộc về thế hệ trẻ. Tại sao lại như vậy? Hãy để cho lịch
sử trả lời câu hỏi này. Lấy ví dụ thế hệ văn học 1932-1945. Lúc đó, thế hệ các
nhà nho cuối cùng không thể làm chủ văn đàn. Mẫu hình nhà nho đã thất bại cả về
mặt chính trị lẫn về phương diện văn học. Lớp trí thức Tây học tuy vẫn có sự
kính trọng các bậc cha anh nhưng quan niệm mĩ học nho giáo truyền thống đã
không thuyết phục được thế hệ trẻ. Thế hệ này được tự do xây dựng về cơ bản hệ
thống giá trị riêng cho thế hệ của mình. Đó là một trong những nguyên nhân quan
trọng khiến cho một thế hệ trẻ tuổi trong vòng hơn chục năm xây dựng được cả một
nền văn học đáng kính nể.
Đến văn học giai đoạn chống Mỹ cứu nước, tuy
không thể lược quy tất cả các tác giả vào một thế hệ duy nhất nhưng vẫn có thể
thấy chiếm vị trí nòng cốt là những nhà văn nhà thơ trưởng thành dưới mái trường
xã hội chủ nghĩa. Thế hệ này bên cạnh sự kế thừa, lại có nền học vấn riêng, vốn
liếng văn học riêng, được đào luyện trong môi trường xã hội riêng, khác,
rất khác với thế hệ 1932-1945 và do đó họ có nhiều điểm mới khác. Điều
này cũng đã dẫn đến sự đổi mới, những đặc điểm mới, những thành tựu mới của thế
hệ văn học chống Mỹ. Đây là câu chuyện dài cần được phân tích thấu đáo
hơn nữa mà ở bài viết này chúng ta chưa thể làm được. Điều quan trọng theo tôi
là quan điểm về thế hệ cần được vận dụng để phân tích đời sống văn học hiện
nay.
Hiện đã có thể nói đến một thế hệ mới
trong văn học Việt Nam chưa? Theo tôi là có thể. Cách đặt vấn đề dường như làm
mếch lòng nhiều người vì có cảm tưởng là đã vô tình đặt thế hệ trước, thế hệ
cha chú ra ngoài cuộc sống văn học. Thực ra không phải thế. Nhiều nhà văn nhà
thơ của thế hệ chống Mỹ, thậm chí thế hệ chống Pháp hiện vẫn có thể có
đóng góp đáng kể cho văn học nước ta. Nói về thế hệ ở đây là nói về hướng phát
triển, nói về tương lai của một nền văn học trong vòng mươi năm tới. Trong bối
cảnh nền kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế và bùng nổ
thông tin, trong bối cảnh có sự khác biệt ngày càng lớn giữa các thế hệ thì đời
sống văn học cũng có những biến động hết sức quan trọng mà tiếc rằng do thiếu
nghiên cứu xã hội học văn học nghiêm túc, chúng ta
chưa đánh giá đầy đủ thực tế này. Chúng tôi cảm thấy dường như đang diễn ra một
quá trình phân hoá hết sức mạnh mẽ và quá trình này là tất yếu trong cấu trúc của
công chúng của nền văn học đương đại. Đã đến lúc không thể nói đến một nền văn
học toàn dân, một nền văn học duy nhất. Nền kinh tế thị trường, giao lưu quốc tế,
kỷ nguyên công nghiệp hoá đã làm cho cấu trúc của công chúng văn học trở nên đa
dạng, phức tạp. Các thế hệ khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau đang trở
nên khác nhau trong lựa chọn món ăn văn chương nghệ thuật hệt như người ta đến
với các nhà hàng với đủ mọi món ăn, cách ăn dân tộc và quốc tế xuất hiện khắp
nơi thay thế cửa hàng ăn uống nhân dân đơn điệu thời bao cấp. Câu hỏi đặt ra
là: phê bình văn học nên ứng xử như thế nào với thực tế đó? Có nên xây dựng một
thực đơn duy nhất cho tất cả các thực khách văn chương không? Có nên buộc thế hệ
trẻ phải làm thơ Đường luật không, có nên chế nhạo thế hệ cha chú làm thơ
Đường luật như một số nhà thơ Mới đã từng nói về thể thơ này hồi nửa đầu thế kỷ
XX? Xét về mặt học thuật thuần tuý là không thể được. Chúng ta là những người
duy vật nên phải nghĩ một cách duy vật. Nền tảng của quan niệm thẩm mĩ của các
thế hệ khác nhau đã hình thành trong các môi trường, không gian văn hoá xã hội
khác nhau. Về căn bản, không gian nông nghiệp lúa nước chi phối cách cảm nghĩ,
quan niệm thẩm mỹ của thế hệ cha chú. Nhưng không gian văn hoá truyền thống
đang bị giải thể mạnh mẽ, xuất hiện không gian văn hoá kỹ thuật, công nghiệp ở
đó thế hệ trẻ có những thay đổi quan trọng trong cách cảm nhận thế giới và
tương quan giữa con người với thế giới. Biểu tượng cánh nhạn của văn học trung
đại đã từng bị bỏ qua, trở thành sáo rỗng ở đầu thế kỷ XX và được thay thế bằng
phong thư. Nhưng trong thế kỷ điện thoại và internet, hình ảnh phong thư cũng
không tránh khỏi trở nên sáo mòn, không có nội dung. Khi các phương tiện giao
thông và đường xá hiện đại rút ngắn khoảng cách không gian quả đất thì hầu như
biến mất cảm xúc biệt ly trong thơ. Các cây cầu làm biến mất biểu tượng về bến
sông đưa khách. Đường xuyên núi làm mất biểu tượng “quan san”.
Những cuộc thi trí tuệ khác nhau trên truyền hình ngay từ buổi đầu tiên đã âm thầm định hướng lựa chọn giá trị cho thế hệ trẻ. Khi các thiết chế luật pháp khuyến khích mọi công dân làm giàu chính đáng thì cái nhìn miệt thị đồng tiền cũng sẽ biến mất theo, trước hết làm biến mất từ “con buôn” đầy miệt thị vốn phổ biến một thời và cho ra đời khái niệm “nhà doanh nghiệp”. Những liệt kê như thế có thể rất dài. Điều cần nói là không phải tất cả mọi thế hệ đều thích ứng như nhau với không gian đổi mới. Chỉ có thế hệ trẻ sinh ra quãng từ trước sau 1980 và lớn lên đúng vào dịp đất nước hội nhập, đổi mới là có khả năng thích ứng cao nhất với thực tế này. Kết quả là có một số ngôn từ, một số biểu tượng, một số đề tài ưa thích nào đó của thế hệ này có thể không được thế hệ khác ưa thích. Nhà phê bình cần nắm bắt thực tế này để hiểu sự vận động của đời sống văn học và không lấy chuẩn mực của người này áp đặt cho người khác. Tất nhiên tôi không tuyệt đối hoá sự khác biệt. Sự kế thừa vẫn là một thực tế quan trọng, nhưng dường như nhiều nhà phê bình hiện nay lại có xu hướng nhấn mạnh thái quá tính chất kế thừa, dẫn đến chỗ áp đặt và vô tình khắt khe với sự thay đổi. Tương lai của nền văn học nằm trong tay thế hệ trẻ. Chỉ có nghiên cứu khách quan thế hệ trẻ, nhà phê bình hiện đại mới có thể có cái nhìn khách quan về nhu cầu tất yếu đổi mới và có những hướng dẫn chuyên môn phù hợp. Tiếc rằng công cuộc chuyển giao thế hệ lần này diễn ra khá phức tạp. Rất ít nhà phê bình văn học dành sự quan tâm đúng mức đến sáng tác văn học của thế hệ mới. Các nhà phê bình có tên tuổi hầu như dành thời gian cho việc tổng kết các thành tựu nghệ thuật quá khứ và rất ít bộc lộ chính kiến trước sự phát triển của thực tế sáng tác của thế hệ mới. Người ta than phiền về việc văn học Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có nhiều tác phẩm lớn xứng tầm vóc dân tộc nhưng ít người nghĩ đến việc xây dựng, bồi dưỡng lực lượng cho nền văn học tương lai. Dường như thế hệ chống Mỹ chưa tin tưởng vào thế hệ mới, chưa thật sự muốn bàn giao cho thế hệ mới.
Những cuộc thi trí tuệ khác nhau trên truyền hình ngay từ buổi đầu tiên đã âm thầm định hướng lựa chọn giá trị cho thế hệ trẻ. Khi các thiết chế luật pháp khuyến khích mọi công dân làm giàu chính đáng thì cái nhìn miệt thị đồng tiền cũng sẽ biến mất theo, trước hết làm biến mất từ “con buôn” đầy miệt thị vốn phổ biến một thời và cho ra đời khái niệm “nhà doanh nghiệp”. Những liệt kê như thế có thể rất dài. Điều cần nói là không phải tất cả mọi thế hệ đều thích ứng như nhau với không gian đổi mới. Chỉ có thế hệ trẻ sinh ra quãng từ trước sau 1980 và lớn lên đúng vào dịp đất nước hội nhập, đổi mới là có khả năng thích ứng cao nhất với thực tế này. Kết quả là có một số ngôn từ, một số biểu tượng, một số đề tài ưa thích nào đó của thế hệ này có thể không được thế hệ khác ưa thích. Nhà phê bình cần nắm bắt thực tế này để hiểu sự vận động của đời sống văn học và không lấy chuẩn mực của người này áp đặt cho người khác. Tất nhiên tôi không tuyệt đối hoá sự khác biệt. Sự kế thừa vẫn là một thực tế quan trọng, nhưng dường như nhiều nhà phê bình hiện nay lại có xu hướng nhấn mạnh thái quá tính chất kế thừa, dẫn đến chỗ áp đặt và vô tình khắt khe với sự thay đổi. Tương lai của nền văn học nằm trong tay thế hệ trẻ. Chỉ có nghiên cứu khách quan thế hệ trẻ, nhà phê bình hiện đại mới có thể có cái nhìn khách quan về nhu cầu tất yếu đổi mới và có những hướng dẫn chuyên môn phù hợp. Tiếc rằng công cuộc chuyển giao thế hệ lần này diễn ra khá phức tạp. Rất ít nhà phê bình văn học dành sự quan tâm đúng mức đến sáng tác văn học của thế hệ mới. Các nhà phê bình có tên tuổi hầu như dành thời gian cho việc tổng kết các thành tựu nghệ thuật quá khứ và rất ít bộc lộ chính kiến trước sự phát triển của thực tế sáng tác của thế hệ mới. Người ta than phiền về việc văn học Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có nhiều tác phẩm lớn xứng tầm vóc dân tộc nhưng ít người nghĩ đến việc xây dựng, bồi dưỡng lực lượng cho nền văn học tương lai. Dường như thế hệ chống Mỹ chưa tin tưởng vào thế hệ mới, chưa thật sự muốn bàn giao cho thế hệ mới.
Quy luật lịch sử về các thế hệ văn học nếu
đúng như tôi hình dung tất nhiên sẽ hoạt động nhưng nếu như chúng ta chủ động vận
dụng quy luật thì sự vận động của văn học về phía trước sẽ tăng tốc hơn. Trong
việc này, có phần trách nhiệm của phê bình văn học.
2. Nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong tác
phẩm và vấn đề phê bình
Tham gia vào quá trình hình thành một tác phẩm
văn học, có các nhân tố tạm gọi là nhân tố bên ngoài tác phẩm như tác động, chi
phối của đời sống chính trị- xã hội, tiểu sử và quan hệ xã hội, lập trường tư
tưởng của tác giả. Thực chất đây là những nhân tố ngoài văn học. Nhưng cũng có
những nhân tố thuần tuý nghề nghiệp mà chúng tôi tạm gọi là nhân tố bên
trong của tác phẩm. Đó là các yếu tố thi pháp như kết cấu, việc lựa chọn chủ đề,
đề tài, điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ và hệ biểu tượng, các môtip tự sự… Phê
bình một tác phẩm cần quan tâm đầy đủ cả hai loại nhân tố này. Nhưng phê bình
văn học của ta vẫn có truyền thống đề cao các nhân tố ngoài tác phẩm, ngoài văn
học. Đã đành rằng nhiều yếu tố ngoài tác phẩm là rất quan trọng. Chẳng hạn,
quan niệm về con người luôn quyết định các biện pháp nghệ thuật miêu tả nhân vật
hay kết cấu tác phẩm. Nhưng khi phê bình một tác phẩm mà chỉ nói đến cấp độ
quan niệm chứ không đề cập đến khía cạnh nghề nghiệp, khía cạnh kỹ thuật thì thực
chất đã đơn giản hoá công việc phê bình, gây cảm tưởng về sự dễ dàng của phê
bình, hễ cứ có lập trường tư tưởng vững vàng là có khả năng “rung chuông”
đối với tác giả. Việc quá chú trọng đến các nhân tố ngoài tác phẩm nhiều lúc đã
dẫn việc phê bình hướng vào tư cách, vào đời tư của tác giả hơn là bản thân chất
lượng nghệ thuật của tác phẩm. Chúng ta chưa có nhiều những công trình phê bình
thể hiện phẩm chất chuyên môn cao của nhà phê bình. Chính ở chỗ này, nhà phê
bình đồng thời phải là nhà nghiên cứu. Bằng sự hiểu biết và khả năng tổng kết
kinh nghiệm nghệ thuật của dân tộc và nhân loại, nhà phê bình cần phải chỉ ra
cho nhà văn đâu là lý do của sự thất bại, đâu là nguyên nhân thành công. Trong
sự lựa chọn đề tài hay trong cách tổ chức kết cấu, trong cách dùng biểu tượng
và ngôn từ hay trong nhịp điệu tác phẩm v.v… và v.v…
Chúng ta đã có nhiều nhà phê bình “gác cửa”, đây là một điều tốt, nhưng cũng cần có những nhà phê bình về chuyên môn, học thuật. Cần tăng cường nhiều công trình phê bình dành cho bản thân tác phẩm, phân tích cơ cấu của chính tác phẩm. Ở nước ta còn rất ít những công trình phê bình vận dụng một cách hệ thống, có ý thức thành tựu của khoa nghiên cứu văn học sử, lý luận văn học. Nhà phê bình bằng thành quả tổng kết lịch sử văn học hãy cho lời khuyên về việc chọn đề tài, về việc xử lý các mô tip, về ngôn ngữ, về phân tích tâm lý… Hãy hạn chế sự khen chê chiếu lệ hoặc nhằm mục đích vụ lợi ít chất chuyên môn, khi đó chắc phê bình sẽ lấy lại được vị thế vốn có của mình. Đặc biệt trong cơ chế thị trường, một tác phẩm để có thể giáo dục tốt nhất thiết phải thông qua chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí. Những tổng kết về các yếu tố kỹ thuật nghề nghiệp dẫn đến sự thành công của nhiều tác phẩm văn học cần được vận dụng để phê bình sáng tác văn học đương đại.
Chúng ta đã có nhiều nhà phê bình “gác cửa”, đây là một điều tốt, nhưng cũng cần có những nhà phê bình về chuyên môn, học thuật. Cần tăng cường nhiều công trình phê bình dành cho bản thân tác phẩm, phân tích cơ cấu của chính tác phẩm. Ở nước ta còn rất ít những công trình phê bình vận dụng một cách hệ thống, có ý thức thành tựu của khoa nghiên cứu văn học sử, lý luận văn học. Nhà phê bình bằng thành quả tổng kết lịch sử văn học hãy cho lời khuyên về việc chọn đề tài, về việc xử lý các mô tip, về ngôn ngữ, về phân tích tâm lý… Hãy hạn chế sự khen chê chiếu lệ hoặc nhằm mục đích vụ lợi ít chất chuyên môn, khi đó chắc phê bình sẽ lấy lại được vị thế vốn có của mình. Đặc biệt trong cơ chế thị trường, một tác phẩm để có thể giáo dục tốt nhất thiết phải thông qua chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí. Những tổng kết về các yếu tố kỹ thuật nghề nghiệp dẫn đến sự thành công của nhiều tác phẩm văn học cần được vận dụng để phê bình sáng tác văn học đương đại.
Đấy là nói về phê bình văn học dành cho người
sáng tác. Còn đối với phê bình dành cho độc giả, nhiệm vụ của nhà phê bình là bằng
kinh nghiệm tổng kết văn học sử, hướng dẫn cho độc giả khám phá thế giới nghệ
thuật của tác phẩm. Nhà phê bình ở đây có vai trò lớn trong việc hình thành
phương pháp đọc tác phẩm, hình thành tâm thế tiếp nhận văn học, xây dựng
thị hiếu văn học đúng đắn. Để làm được như vậy, nhà phê bình phải có công tâm
và phải có chuyên môn. Một công trình phê bình tốt bao giờ cũng khơi gợi được
tình yêu văn chương ở người đọc. Dường như chúng ta vẫn thiếu những công trình
phê bình văn học dành cho người đọc văn học theo hướng đó.
3. Văn hoá tranh luận trong phê bình:
Gần đây, người ta cũng nói nhiều đến văn hoá
tranh luận trong phê bình văn học. Tranh luận là hiện tượng lành mạnh của đời sống
văn hoá, khoa học kỹ thuật nói chung nhưng tranh luận như thế nào lại là vấn đề
cần bàn. Điều đáng buồn là nhiều trường hợp tranh luận, thay vì việc phản bác
các luận điểm có tính học thuật bằng lý trí tỉnh táo, thay vì việc chứng minh
cái sai bằng lý lẽ thuyết phục để bên tranh luận “tâm phục khẩu phục” thì người
ta lại tranh luận bằng xúc cảm, để cho xúc cảm lấn át lý trí, không hiếm
khi dẫn đến chỗ mạt sát, lăng mạ người được phê bình. Trong bài phê bình tranh
luận kiểu này, những từ ngữ đời sống, ngôn ngữ cãi vã, qui kết thường lấn át
các hệ vấn đề văn học, thưa thớt các thuật ngữ thuần tuý nghề nghiệp, chuyên
môn. Tranh luận văn học lẽ ra là công việc cần tính chuyên môn sâu thì lại
biến thành việc của những người lợi khẩu. Tranh luận như vậy thật sự ít thúc đẩy
sự phát triển của nền văn học và tôi cho rằng thực chất đó chưa phải là tranh
luận về nghề nghiệp văn chương mà là mới dừng lại ở khu vực vấn đề bên ngoài
văn chương.
Trần Nho Thìn
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét