Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Trăm nhà - Vài cảm nhận

Trăm nhà - Vài cảm nhận

Ba cuốn: “Lý Bạch - Những bài Đường thi nổi tiếng”, “Đỗ Phủ - Những bài Đường thi nổi tiếng” và “Bạch Cư Dị - Những bài Đường thi nổi tiếng” (NXB Giáo dục - Hà Nội 2008) lấy của tôi gần 3 năm. Sau đó, tôi bỏ ra hơn 5 năm, để dịch lại  và in cuốn “100 nhà thơ Đường” này (tất nhiên là không có ba thi hào nói trên nữa).
Khó quá! Khó thì cũng phải cố. Cố sao cho chọn đúng, dịch sát mà không thô, hầu mong bạn đọc Việt nhiều lứa tuổi, có thể yêu thêm Đường thi - kho châu ngọc, dải Ngân Hà, của thi ca nhân loại. Tôi cũng cố gắng chuốt lại phần dịch nghĩa; so sánh, lọc lựa, bổ sung để các chú thích đầy đủ hơn và in ngay dưới mỗi bài thơ, như vậy thì bạn đọc khỏi phải mất công tìm chú thích trong bài thơ đang đọc ở một bài nào trước đó. Bên cạnh bản dịch của tôi, tôi cũng cho in kèm một số bản dịch khác nhau xưa nay để bạn đọc tiện tham khảo (như là trong ba cuốn “Lý Bạch - Những bài Đường thi nổi tiếng”, “Đỗ Phủ - Những bài Đường thi nổi tiếng” và “Bạch Cư Dị - Những bài Đường thi nổi tiếng” đã in trước đó).
Nay, việc ấy đã xong. Chưa thể “thở phào”, nhưng cũng xin được nghỉ chút cho lại sức, gọi là “ngủ bù” cho khoảng hơn hai ngàn đêm ít ngủ, mất ngủ.
Không biết chữ Hán, tôi đã tham khảo, đã dùng, đã nhờ cậy, đã tra từ điển, đã “thuê” các bản dịch nghĩa, từ nhiều phía, đặc biệt là từ những cuốn mà tôi đã ghi xuất xứ trong sách này. Những nhà làm sách, nhà dịch thuật đi trước đã thúc đẩy tôi, dẫn dắt tôi, “cấp lương” cho quyển sách của tôi. Tôi vô cùng biết ơn họ! Tôi chỉ mong, mình là kẻ sau, nếu thật cố gắng, thì cũng có thể góp một chút công sức, chút tài mọn, vào việc làm cho Đường thi ngày càng “Việt hoá” hơn; làm cho nhiều thế hệ, vốn “đứt mạch” với Hán học lâu ngày (như tôi), không bị thiệt thòi vì không biết, không đọc, không yêu Đường thi.
Không có gì là hoàn hảo. Công việc của tôi cũng vậy. Cuốn sách này cũng vậy. Nếu được bạn đọc yêu thích, đó là phúc của tôi.
Nếu được trỏ ra sai sót, khiếm khuyết nữa, đó là “phúc trùng lai” của tôi.
I- SƠ ĐƯỜNG
Chiếc cò bay với ráng pha
Sông xa cùng với trời xa một màu
Tản Đà dịch, thơ Vương Bột thật là mỹ lệ!
Đầm kia vẫn mây kia rong ruổi
Mà bao thu vật đổi sao rời
Con vua giờ ở đâu rồi
Nước Trường Giang vẫn chảy hoài về đông
Đỗ Trung Lai dịch; (sau đây, những bản dịch không ghi dịch giả đều của ĐTL)
Thơ Vương Bột thật sâu xa khi hoài cổ!
Trên đời còn tri kỷ
Chân trời, gần vẫn gần
Chớ như phường nhi nữ
Bên đường, lệ đẫm khăn
Thơ Vương Bột tiễn bạn là cả một tấm chân tình!
Đây nơi từ biệt
Thái Tử nước Yên
Tóc chàng kiếm khách
Đẩy cả mũ lên
Rồi từ buổi ấy
Kiếm khách không về
Hôm nay sông Dịch
Nước còn tái tê!
Thơ Lạc Tân Vương quả đã lột tả được cái “hùng tâm tráng khí” ngất trời của giới kiếm khách thời Chiến Quốc! Mà cái “hùng tâm tráng khí” ấy, đâu chỉ có ở thời Chiến Quốc? Nó thay hình đổi dạng, nhưng còn mãi trong lòng người ta, cả bây giờ và mai sau. Đó chính là cái “hùng tâm tráng khí” trước nghĩa cả ở đời.
Nhìn đi, nào thấy cổ nhân
Ngoảnh về, chẳng thấy ai gần sau lưng
Đi trong trời đất vô cùng
Ngẫm về nhân thế, đôi dòng lệ sa!
Thơ Trần Tử Ngang là một bể nước mắt của bậc nghệ sĩ “vương giả”, hay đến ngạo nghễ!
Rồi ngày dần sang chiều
Rồi thu đưa hàn khí
Rồi hoa sẽ lìa cành
Thơm, đẹp làm chi nhỉ?
Trần Tử Ngang, như là tiếp nối bài trước, xót xa, “nổi cáu”, trước sự vô nghĩa của thiên tài trong phận người hữu hạn mọi bề! Thi sĩ “nhỏ”, không viết thế được. Vì thế mà ông chia tay bạn cũng ngậm ngùi hơn cả ngậm ngùi: Cổ thụ lồng bóng trăng/ Đêm tàn, sông Ngân chết/ Lạc Dương xa ngàn trùng/ Ngày về nào ai biết! Và, ông hoài cổ cũng đầy thân phận: Đồn hoang, thôi chinh chiến/ Núi chìm vào rừng sâu/ Lòng buồn như chấu cắn/ Vượn kêu dài đêm thâu.
Vi Thừa Khánh thì tinh tế, cảnh nhẹ mà tình sao nặng trĩu! Cánh hoa rơi như phận người trôi: Đạm đạm Trường Giang thủy/ Du du viễn khách tình/ Lạc hoa tương dữ hận/ Đáo địa nhất vô thanh (Trường Giang lặng lẽ về xuôi/ Sầu lên man mác dạ người ra đi/ Lìa cành, hoa cũng phân ly/ Không lời trên đất vọng về nhân gian ).
Đỗ Thẩm Ngôn, viễn tổ (tổ ba đời) của Đỗ Phủ, làm quan lâu năm, tưởng là luôn đắc chí. ấy vậy mà thơ ông trên đường quan lộ lại đầy tâm sự, tâm sự của một ông quan - thi sĩ: Độc hữu hoạn du nhân/ Thiên kinh vật hậu tân/ Vân hà xuất hải thự/ Mai liễu độ giang xuân/ Thục khí thôi hoàng điểu/ Tình quang chuyển lục tần/ Hốt văn ca cổ điệu/ Quy tứ dục triêm cân (Đi làm quan xa nhà/ Sợ xuân về đến thế/ Liễu bên sông tốt tươi/ Mây sớm hồng mặt bể/ Gió ấm oanh vàng ca/ Rau tần xanh như vẽ/ Chợt nghe điệu hát xưa/ Nhớ nhà, khăn đẫm lệ ).
Thẩm Thuyên Kỳ kể về người vợ lính, có chồng đi xa mười năm, không thư từ. Mùa thu, tháng chín, trời lạnh, nằm nghe lá rụng và tiếng chày đập vải vọng về, và ông viết hai câu kết:
Thùy vị hàm sầu độc bất kiến/ Cánh giao minh nguyệt chiếu lưu hoàng (Vì đâu xa mặt cách mày/ Ai làm ra đến nỗi này người ơi/ Thế mà trăng cứ đầy trời/ Rắc vàng xuống khắp cõi người, đêm đêm! ). Cảm hứng chinh phu - chinh phụ, từ thi sĩ này, còn chảy mãi trong thơ Đường và thơ nhiều đời sau. Đến Việt Nam, Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm đã nâng lên thành cả một “Trường ca” bất hủ, là “Chinh phụ ngâm khúc”. Đúng là Người xưa nước mắt chứa chan/ Người nay đẫm lệ ôm đàn phù vân/ Đàn xưa gẩy khúc phong trần? Đàn nay thì cũng mấy lần đứt dây.
Buồn thu, buồn tàn thu, trong thơ - ca Việt, ta cũng nhiều lần nghe. Thơ Đường vô cùng sẵn tâm trạng - cảm hứng này. Nó gắn rất chặt với “Sầu tóc bạc” (Bi bạch phát) trong thơ Lý Bạch xưa, trong thơ Nguyễn Du ở ta sau này... Thế mà từ Sơ Đường, Tiết Tắc đã đặt cả nỗi buồn mùa thu lẫn nỗi “Sầu tóc bạc” vào một bài tứ tuyệt: Khách tâm kinh lạc mộc/ Dạ tọa thính thu phong/ Triêu nhật khan dung mấn/ Sinh nhai tại kính trung (Lòng khách sợ cây rụng lá/ Đêm ngồi nghe gió thu đi/ Sớm dậy nhìn da nhìn tóc/ Thấy đời phơi giữa gương kia ), không có “Bi thu”, không có “Bi bạch phát” bằng chữ, thế mà lại có tất cả! Kiếp người như kiếp lá - xuân trổ, thu tàn - không buồn sợ mà được ư?
“Tống Chi Vấn nhớ nhà”, có lẽ nên có một thành ngữ như vậy. Xa quê, nhớ quê, nhìn về quê, ông có hai câu thơ tuyệt hay, tuyệt đẹp: Minh triêu vọng hương xứ/ Ưng kiến lũng đầu mai (Sớm dậy trông quê, quê chẳng thấy/ Thấy màu mai trắng ở sườn non ). Đến bài “Qua sông Hán”, thì tình quê, với người xa nhà, đã đầy ắp, đã có “kịch tính”, đã thành ra nỗi lo sợ: Lĩnh Ngoại âm thư tuyệt/ Kinh đông phục lập xuân/ Cận hương tình cánh khiếp/ Bất cảm vấn lai nhân (Thư không, lời nhắn cũng không/ Ta chờ hết cả mùa đông, tìm về/ Lập xuân, đến được gần quê/ Sợ không dám hỏi người đi qua đường ). “Nỗi lo sợ” nói trên lớn đến nỗi, không dám hỏi người qua đường về tin tức nhà mình- nhỡ tin xấu thì sao? Nhớ nhà, viết thế là tận cùng!
II- THỊNH ĐƯỜNG
Trương Thuyết, làm đến Tể Tướng - quan đầu triều - có hai câu thơ về mùa xuân đẹp như tranh: Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết/ Kim niên Kế Bắc tuyết như mai (Năm ngoái Kinh Nam mai tựa tuyết/ Năm nay Kế Bắc tuyết như mai). Nhưng thích hơn, là bài “Thục đạo hậu kỳ” (Đường Thục hẹn về): Khách tâm tranh nhật nguyệt/ Lai vãng dự kỳ trình/ Thu phong bất tương đãi/ Tiên chí Lạc Dương thành (Người còn tính tháng tính ngày/ Đi về bấm đốt ngón tay hẹn hò/ Gió thu không đợi không chờ/ Người chửa đóng đồ, gió đã Lạc Dương).
Mượn thu để nói lòng mình, Tô Đĩnh có bài tứ tuyệt rất súc tích: Bắc phong xuy bạch vân/ Vạn lý độ Hà Phần/ Tâm chử phùng dao lạc/ Thu thanh bất khả văn (Gió bắc xua mây trắng/ Đường xa, qua Phần Hà/ Lòng còn như canh hẹ/ Tiếng thu ngoài tai ta ). Thu Trung Hoa đẹp thế, mà gặp lúc lòng dạ ngổn ngang, thì cũng mặc! Tả tâm trạng, tâm tình như thế, lại chỉ bằng bốn câu ngũ ngôn, không thật, không giỏi âm vận, không làm được.
Hạ Tri Chương, quan to, người từng tiến cử Lý Bạch lên Đường Minh Hoàng, viết giúp bao người xa nhà lâu năm: Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi/ Hương âm vô cải mấn mao tồi/ Nhi đồng tương kiến bất tương thức/ Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai (Xa làng, ta vẫn thiếu nhi/ Già rồi mới trở về quê một ngày/ Giọng quê thì vẫn còn đây/ Nhưng còn đâu mái tóc mây thuở nào/ Trẻ quê thấy lạ ra chào/ Cười rằng, khách ở nơi nào sang chơi? ).
Vương Hàn lại bất tử bởi bốn câu, sau này là câu cửa miệng của người đời, khi nói về phận chinh phu, về chất “phong lưu mã thượng” của quân nhân: Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi/ Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi/ Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến, kỷ nhân hồi (Rượu ngon chén ngọc bạn bầy kia/ Chưa cạn, tỳ bà giục ngựa đi/ Chớ cười chiến địa người say ngủ/ Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về ).
Cũng được lưu truyền như thế, còn có bài ngũ ngôn tuyệt cú của Trương Cửu Linh, nhưng là nói về người vợ ở nhà: Tự quân chi xuất hĩ/ Bất phục lý tàn ky/ Tư quân như nguyệt mãn/ Dạ dạ giảm quang huy (Từ buổi chàng xa thiếp/ Thiếp mặc khung cửi tàn/ Lòng như trăng cuối tháng/ Từng đêm dần hao mòn ).
Tiễn bạn, nói lòng mình, Vương Xương Linh viết: Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô/ Bình minh tống khách Sở sơn cô/ Lạc Dương thân hữu như tương vấn/ Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ (Đêm qua mưa lạnh vào Ngô/ Sớm nay núi Sở tôi đưa tiễn người/ Lạc Dương, người chuyển lời tôi/ Tấm lòng băng tuyết vẫn nơi ngọc hồ ). Cũng thi sĩ này, đã viết về những người con gái hái sen tuyệt hay: Hà diệp la quần nhất sắc tài/ Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai/ Loạn nhập trì trung khan bất kiến/ Văn ca thuỷ giác hữu nhân lai (Quần xanh như thể lá sen/ Hoa từ mặt nước hồng lên mặt người/ Chợt nghe ai hát ai cười/ Mới hay đầm ấy có người trong hoa ). Ông cũng viết về nỗi buồn khổ của cung nhân rất xuất sắc: Kim tỉnh ngô đồng thu diệp hoàng/ Châu liêm bất quyển dạ lai sương/ Huân lung ngọc chẩm vô nhan sắc/ Ngọa thính nam cung thu lậu trường (Ngô đồng bên giếng vàng lên lá/ Sương sa không cuốn được rèm châu/ Gối ngọc bên người thôi nhan sắc/ Mỗi giọt thu rơi một giọt sầu ). Đấy là với cung phi “vô nhan sắc”! Còn những mỹ nhân thật thì sao? Ông viết: Phù dung bất cập mỹ nhân trang/ Thuỷ điện phong lai châu thúy hương/ Khước hận hàm tình yểm thu phiến/ Không huyền minh nguyệt đãi quân vương (Phù dung còn thẹn trước dung nhan/ Gió về thu điện ngát muôn hương/ Đưa quạt nén lòng che mặt ngọc/ Treo trăng ở lại đợi quân vương). Đến bài “Khuê oán”, thì kiệt xuất: Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu/ Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu/ Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc/ Hối giao phu tế mịch phong hầu (Có người vợ trẻ vô tư lự/ Ngày xuân trang điểm bước lên lầu/ Nhìn liễu nõn nà bên lối nhỏ/ Tiếc để chồng đi kiếm tước hầu).
Ở Việt Nam ta, khi Nguyễn Gia Thiều viết “trường ca” có một không hai về nỗi lòng cung nhân ,“Cung oán ngâm khúc”, hẳn đã rất cảm phục, rất đồng tâm với thi sĩ này.
Không ra làm quan, an nhàn, tài hoa - tài tử, Mạnh Hạo Nhiên là một “thương hiệu” lớn thời Thịnh Đường, Lý Bạch còn phải làm thơ tặng và gọi ông là “Phu tử”. Xuân miên bất giác hiểu/ Xứ xứ văn đề điểu/ Dạ lai phong vũ thanh/ Hoa lạc tri đa thiểu (Người chợt tỉnh giấc xuân/ Chim quanh nhà ríu rít/ Đêm qua mưa gió về/ Hoa rụng nhiều hay ít? ), là bài điển hình cho phong cách của ông. Di chu bạc yên chử/ Nhật mộ khách sầu tân/ Dã khoáng thiên đê thụ/ Giang thanh nguyệt cận nhân (Thuyền về bãi vắng sông sương/ Chiều buông khói sóng, sầu vương dạ người/ Đồng không cây chạm tới trời / Sông xanh, trăng xuống bên người mà xanh ), lại là một ví dụ nữa. Vào núi thăm bạn, ông viết: ...Thạch đàm khuya động triệt/ Sa ngạn lịch vu dư/ Trúc dữ kiến thuỳ điếu/ Mao trai văn độc thư/ Khoản ngôn vong cảnh tịch/ Thanh hứng thuộc lương sơ/ Hồi dã nhất biều ẩm/ Hiền tai thường yến như (... Nước đầm trong như lọc/ Cát trắng phơi đôi bờ/ Ai buông cần bên trúc/ Ai trong lều ngâm thơ/ Chuyện qua đêm chẳng hết/ Ban mai còn hải hồ/ Nhan Hồi xưa không rượu/ Chẳng thành hiền đấy ư? ). Thật là tao nhã, cao khiết! Nể, phục, thân thiết với Vương Duy - danh thi, danh hoạ đương thời - ông viết tặng bạn: Tịch tịch cánh hà đãi/ Triêu triêu không tự qui/ Dục tầm phương thảo khứ/ Tích dữ cố nhân vi/ Đương lộ thùy tương giả/ Tri âm thế sở hy/ Chỉ ưng thủ tịch mịch/ Hoàn yểm cố viên phi (Chỉ quạnh hiu ở lại/ Ngày từng ngày trôi qua/ Cỏ thơm dù mong hái/ Bạn đâu còn bên ta/ Lên đường cùng ai nhỉ/ Tri âm hiếm lắm mà/ Về cài then cửa cũ/ Giữ vô thanh trong nhà ). Tình bạn đạm mà sâu bền lắm, mới viết ra thế được.
Không thể khác, Vương Duy, bạn thân của Mạnh Hạo Nhiên, người mà đời sau bình rằng “Thi trung hữu hoạ - Hoạ trung hữu thi” (Trong thơ có hoạ - Trong hoạ có thơ), viết thơ tiễn bạn: Vị thành triêu vũ ấp khinh trần/ Khách xá thanh thanh liễu sắc tân/ Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu/ Tây xuất Dương Quan vô cố nhân (Sớm xuân mưa bụi Vị Thành/ Liễu xanh càng lại thêm xanh bên nhà/ Chén này xin cạn cùng ta/ Dời Dương Quan, hỏi ai là cố nhân? ). Bài này, sau cũng thành bài cửa miệng khi các bậc trí giả, thi gia tiễn biệt nhau. Đến bài “Tống biệt”, thì tình gọi ý, nay gọi xưa, người gọi trời, thân thương mà đau đớn: Há mã ẩm quân tửu/ Vấn quân hà sở chi/ Quân ngôn bất đắc ý/ Quy ngọa Nam Sơn thùy/ Đãn khứ mạc phục vấn/ Bạch vân vô tận thì (Xuống ngựa cùng nâng chén/ Hỏi anh đi về đâu/ Anh bảo, không vừa ý/ Về Nam Sơn giải sầu/ Rõ rồi, không hỏi nữa/ Mây trắng đầy trời sâu ). Cáo quan về cửa thung Mạnh Thành, ông cảm thán trước cảnh trời, dấu người: Tân gia Mạnh Thành khẩu/ Cổ mộc dư suy liễu/ Lai giả phục vi thùy/ Không bi tích nhân hữu (Ta về với cửa thung này/ Ai đi, để lại vài cây liễu già/ Rồi ai sẽ đến sau ta/ Nhìn cây người trước sao mà buồn tênh ). Đón người ở quê ra, việc đầu tiên thi nhân hỏi, là khi rời nhà, cây hàn mai bên cửa sổ xưa đã nở hoa chưa! - Quân tự cố hương lai/ Ưng tri cố hương sự/ Lai nhật ỷ song tiền/ Hàn mai trước hoa vị? (Từ làng ra anh biết/ Chuyện quê nhà nắng mưa/ Ngày đi, bên song lạnh/ Mai đã nở hoa chưa? ). Vương Duy tao nhã nhất trong những người tao nhã. Đến bài “Trúc lý quán” thì sự tao nhã càng thêm rõ: Độc toạ u hoàng lý/ Đàn cầm phục trường khiếu/ Thâm lâm nhân bất tri/ Minh nguyệt lai tương chiếu (Mình ta trong bóng mận này/ Chơi đàn thổi sáo xa bay khắp rừng/ Rừng sâu, đất rộng, người không/ Có vầng trăng sáng đến cùng thi nhân ). Rồi đến bài “Điểu minh giản”, thì “bộ tổ tôm” thơ tứ tuyệt uyển nhã của Vương Duy đã hội đủ quân: Nhân nhàn quế hoa lạc/ Dạ tĩnh xuân sơn không/ Nguyệt xuất kinh sơn điểu/ Thời minh tại giản trung (Người nhàn, hoa quế rụng/ Núi mơ màng đêm xuân/ Trăng mọc, chim rừng sợ/ Kêu trong khe mấy lần ). Ta hãy xem thêm mấy “quân bài” ấy nữa của ông: Đào hồng phục hàm túc vũ/ Liễu lục cánh đãi triêu yên/ Hoa lạc gia đồng vị tảo/ Điểu đề sơn khách do miên (Đào hồng, mưa đêm còn ngậm / Liễu xanh đã đầm sương mai/ Hoa rụng, gia đồng chưa quét/ Chim kêu, sơn khách mơ dài ); hoặc: Nhật nhật nhân không lão/ Niên niên xuân cách qui/ Tương hoan hữu tôn tửu/ Bất dụng tích hoa phi (Ngày qua, người già đi/ Năm qua, xuân lại đến/ Có rượu là vui rồi/ Kệ hoa bay bên chén! ); hoặc: Không sơn bất kiến nhân/ Đãn văn nhân ngữ hưởng/ Phản cảnh nhập thâm lâm/ Phục chiếu thanh đài thượng (Núi vắng, người không thấy/ Chỉ nghe được tiếng người/ Rừng sâu, chiều hắt nắng/ Trên rêu xanh ngời ngời ).
Vương Duy sùng Phật. Có phải vì thế mà thơ ông phảng phất thơ Thiền? Hay là ông nhìn đời giống như ẩn sĩ Thôi Hưng Tôn, mà ông từng đề thơ tặng khi thăm nhà ông này trong núi: Lục thụ trùng âm cái tứ lân/ Thanh đài nhật hậu tự vô trần/ Khoa đầu cơ cứ trường tùng hạ/ Bạch nhãn khan tha thế thượng nhân (Cây cao bóng cả trùm bốn mặt/ Rêu xanh chiều xuống không bụi đời/ Dựa tùng xoã tóc hai chân duỗi/ Thế gian không bõ để ta chơi).
Kể thơ thời Thịnh Đường, không thể không kể đến thơ Thôi Hiệu, với bài “Hoàng Hạc lâu” khét tiếng: Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ/ Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu/ Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản/ Bạch vân thiên tải không du du/ Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ/ Phương thảo thê thê Anh Vũ châu/ Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu (Hạc vàng ai cưỡi đi đâu/ Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ/ Hạc vàng bay mất từ xưa/ Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay/ Hán Dương sông tạnh cây bầy /Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non/ Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản Đà dịch). Một bài cao thủ, đủ thành cao thủ!
Bãi Anh Vũ là nơi chôn xác danh sĩ Đông Hán, Nễ Hành - bị Hoàng Tổ giết - cỏ thơm (phương thảo) là vì cỏ được gần tiết tháo của Nễ danh sĩ, cỏ non thì nơi nào chẳng có. Vì thế, bài này phải chăng nên có một phiên bản khác: Người xưa cưỡi hạc lên trời/ Để lầu Hoàng Hạc cho người trần gian/ Không ai còn thấy hạc vàng/ Ngang trời mây trắng vẫn ngàn năm bay/ Hán Dương, sông tạnh cây bầy/ Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ thơm/ Hoàng hôn, ngồi ngóng quê hương/ Sông mờ khói sóng, sầu vương dạ người)
Cũng hoài cổ, cũng ngậm ngùi vì “Bãi bể nương dâu”, Sầm Tham, một nhà thơ “lực lưỡng”, sành biên tái, viết: Lương Viên nhật mộ loạn phi nha/ Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia/ Đình thụ bất tri nhân khứ tận/ Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa (Chiều tối quạ bay đầy Đông Uyển/ Xa trông tiều tuỵ đôi nóc nhà/ Người bỏ đi rồi, cây chẳng biết/ Xuân về còn ở đó đơm hoa ). Đông Uyển (Vườn Đông) cũng còn gọi là Vườn Lương, do Lương Hiếu Vương, con vua Lương Vũ Đế (502-550) đời Lục Triều xây ở thành núi Thư Dương để chiêu mộ hào kiệt. Sầm Tham sành thơ biên tái (biên ải) nên viết thế về nơi này.
Ông còn đến Phong hoả đài Mục Túc ở Tân Cương, bên ngoài Ngọc Môn quan, để viết về tâm tình lính thú ở đây, thực ra, cũng là tâm tình của ông: Mục Túc phong biên phùng lập xuân/ Hồ Lư hà thượng lệ triêm cân/ Khuê trung chỉ thị không tương ức/ Bất kiến sa trường sầu sát nhân (Biên ải, xuân về bên Mục Túc/ Hồ Lư sông lạ, lệ đầm khăn/ Vợ xa thương nhớ mà không biết/ Lòng kẻ chinh nhân cũng chết dần ). Ông tả, vào loại hạng nhất, cảnh hành quân trên sa mạc xa, phía tây Trường An xưa: Tẩu mã tây lai dục đáo thiên/ Từ gia kiến nguyệt lưỡng hồi viên/ Kim dạ bất tri hà xứ túc/ Bình sa vạn lý tuyệt nhân yên (Lên yên định tới cuối trời tây/ Trăng tròn hai bận soi dặm dài/ Đêm nay biết ngủ nơi nào được/ Chỉ cát. Không người. Không khói bay ).
Bài hành điển hình về sa trường của ông là bài “Tẩu mã xuyên hành phụng tống Phong đại phu xuất sư tây chinh”: Quân bất kiến: Tẩu Mã xuyên hành tuyết hải biên/ Bình sa mãng mãng hoàng nhập thiên/ Luân Đài cửu nguyệt phong dạ hống/ Nhất xuyên toái thạch đại như đẩu/ Tùy phong mãn địa thạch loạn tẩu/ Hung Nô thảo hoàng mã chính phì/ Kim Sơn tây kiến yên trần phi/ Hán gia đại tướng tây xuất sư/ Tướng quân kim giáp dạ bất thoát/ Bán dạ quân hành qua tương bát/ Phong đầu như đao diện như cát/ Mã mao đái tuyết hãn khí chưng/ Ngũ hoa liên tiền tuyền tác băng/ Mạc trung thảo hịch nghiễn thuỷ ngưng... (Người không thấy: Sông Tẩu Mã chảy bên bể tuyết/ Sa mạc, cát vàng lên lưng trời/ Luân Đài, gió thu đêm gầm thét/ Dọc sông, đá cuội như đấu nằm/ Theo gió lăn đi đầy mặt đất/ Ngựa Hồ béo trong mùa cỏ vàng/ Kim Sơn, gió tây tung bụi khuất/ Tướng Hán xuất chinh nhằm hướng này/ Đêm cũng như ngày, không cởi giáp/ Giáo gươm sắc lạnh khua lanh canh/ Gió buốt tựa dao nào cắt mặt/ Mồ hôi trộn tuyết lưng ngựa rồi/ Sờ đến, yên cương cứng như sắt/ Hịch đang thảo dở, mực thành băng... ).
Ông tả cảnh lính đồn trú ở “trời Hồ”: Bắc phong quyển địa bạch thảo chiết/ Hồ Phiên bát nguyệt tức phi tuyết/ Hốt như nhất dạ xuân phong lai/ Thiên thụ vạn thụ lê hoa khai/ Tản nhập châu liêm thấp la mạc/ Hồ cừu bất noãn cẩm khâm bạc/ Tướng quân giốc cung bất đắc khống/ Đô hộ thiết y lãnh nan trước/ Hãn hải lan can bách trượng băng/ Sầu vân thảm đạm vạn lý ngưng/ Trung quân trí tửu ẩm qui khách/ Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch/ Phân phân mộ tuyết há viên môn/ Phong xiết hồng kỳ đống bất phiên (Gió bấc tràn qua, cỏ trắng gãy/ Tháng Tám, trời Hồ đầy tuyết bay/ Bỗng gió xuân về một đêm nọ/ Ngàn vạn cành lê hoa nở đầy/ Gió lọt rèm châu, màn chướng ướt/ Áo cừu chăn ấm không đủ dày/ Cung sừng cứng lại không giương được/ Còn mặc làm sao giáp sắt đây/ Hãn Hải băng dày trăm trượng vỡ/ Buồn phủ lên trời vạn dặm mây/ Trung quân đặt tiệc đưa chân khách/ Đàn sáo Hồ, Khương vang trời tây/ Tuyết chiều tơi bời nơi cửa trại/ Cờ hồng băng đóng cũng thôi bay... Đ.T. L dịch)
Sầm Tham quả là nhà thơ của chiến trận, biên ải!
Cao Thích sở trường về thơ đưa tiễn, dù ông cũng viết rất hay về biên tái. Tiễn Lý Thẩm, ông viết: Hoàng điểu phiên phiên dương liễu thùy/ Xuân phong tống khách sử nhân bi/ Oán biệt tự kinh thiên lý ngoại/ Luân giao khước ức thập niên thì/ Vân khai Vấn Thuỷ cô phàm viễn/ Lộ nhiễu Lương Sơn thất mã trì/ Thử địa tòng lai khả thừa hứng/ Lưu quân bất trú, ích thê kỳ (Oanh vàng thấp thoáng trong tơ liễu/ Ngày xuân tiễn bạn, dạ đeo sầu/ Thương bạn đường xa ngàn dặm khách/ Mười năm gần gũi nghĩ càng đau/ Buồm lẻ vào mây trên Vấn Thuỷ/ Đường hẻm Lương Sơn mệt vó câu/ Đất này có bạn vui là thế/ Bạn đi, sông núi bỗng phai màu ).
Khi cô đơn, thơ ông cũng rất thú vị: Thanh khoáng lương dạ nguyệt/ Bồi hồi cô khách chu/ Diểu nhiên phong ba thượng/ Độc mộng tiền sơn thu/ Thu chí phục dao lạc/ Không linh hành giả sầu (Trăng sáng ngời đêm lạnh/ Thuyền lẻ dùng dằng trôi/ Sông mịt mù gió sóng/ Núi thu xưa đâu rồi/ Giờ chắc tiêu điều lắm/ Nghe sầu rơi, rơi, rơi! ).
Đến bài “Biệt Đổng Đại”, thì rất hay và rất gần với “Vị Thành khúc” của Vương Duy: Thập lý hoàng vân bạch nhật huân/ Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân/ Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ/ Thiên hạ hà nhân bất thức quân (Mười dặm mây vàng, ngày rực rỡ/ Tuyết bay, gió bấc, nhạn nam hành/ Đừng buồn trước mặt không tri kỷ/ Thiên hạ ai mà chẳng biết anh ).
Thôi Mẫn Đồng có cái phong vị của Lý Bạch: Nhất niên hựu quá nhất niên xuân/ Bách tuế tằng vô bách tuế nhân/ Năng hướng hoa trung kỷ hồi tuý/ Thập thiên cô tửu mạc từ bần (Mỗi năm trời lấy một tuổi trời/ Sống được trăm năm dễ mấy người/ Say được trong hoa là mấy bận/ Vạn lần mua rượu vẫn thanh thơi ).
Thôi Huệ Đồng cũng tương tự: Nhất nguyệt chủ nhân tiếu kỷ hồi/ Tương phùng tương trị thả hàm bôi/ Nhãn khan xuân sắc như lưu thuỷ/ Kim nhật tàn hoa tạc nhật khai (Một tháng người ta mấy bận cười/ Gặp nhau, nên cạn chén làm vui/ Nhìn xem, tuổi trẻ trôi như nước/ Hoa nở hôm qua, đã rụng rồi ).
Vương Chi Hoán, bạn chí thân của Vương Xương Linh và Cao Thích, nổi tiếng với “Lương Châu Từ” (“Xuất tái”): Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian/ Nhất phiến cô thành vạn nhận san/ Khương địch hà tu oán dương liễu/ Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan (Hoàng Hà chảy mãi vào mây trắng/ Núi cao muôn trượng, một ngôi thành/ Sáo Khương oán liễu làm chi nhỉ/ Gió xuân nào đến, liễu nào xanh ). Ông chia tay bạn cũng nhã, sâu: Kế Đình tiêu sắt cố nhân hi/ Hà xứ đăng cao thả tống qui/ Kim nhật tạm đồng phương cúc tửu/ Minh triêu ưng tác đoạn bồng phi (Hiu hắt Kế Đình, tri kỷ hiếm/ Biết chọn nơi đâu tiễn bạn về/ Rượu cúc hôm nay cùng uống tạm/ Ngày mai đứt rễ, cỏ bồng đi ).
Ở thăm Vương Xương Linh nơi nhà cỏ, Thường Kiến đồng tâm, đồng điệu: Thanh khê thâm bất trắc/ ẩn xứ duy cô vân/ Tùng tế lộ vi nguyệt/ Thanh quang do vị quân/ Mao đình túc hoa ảnh/ Dược viện tư đài văn/ Dư tiệc tạ thời khứ/ Tây Sơn loan hạc quần (Suối sâu không đo được/ Mây một chòm trên đầu/ Trăng sau thông lấp ló/ Vì anh mà thanh tao/ Nhà cỏ chìm trong hoa/ Rêu mượt trong vườn thuốc/ Tôi cũng trốn đời rồi/ Về Tây Sơn với hạc ).
Trừ Quang Hi cũng có thể gọi là tài tử. Ông viết về đám du hiệp trẻ tuổi ở Trường An không thua gì Lý Bạch, Vương Duy: Minh tiên quá tửu tứ/ Khứ phục du xướng môn/ Bách vạn nhất thời tận/ Hàm tình vô phiến ngôn (Ra roi tìm tửu quán/ Vén áo vào ca lâu/ Trăm vạn tiêu một lúc/ Không kỳ kèo một câu ).
Ông viết về cảnh cô vắng cũng rất hàm súc: Phong lâm dĩ sầu mộ/ Sở thuỷ phục kham bi/ Biệt hậu lãnh sơn nguyệt/ Thanh viên vô đoạn thì (Rừng phong buồn dưới chiều thu/ Nhìn sông Sở Thuỷ, lòng như hoa tàn/ Xa nhau, trăng lạnh đầu ngàn/ Trên non, lời vượn gọi đàn chẳng thôi ).
Như các nhà thơ cùng thời, Hề Giả thăm bạn ở ẩn, viết những lời, tả những cảnh không quên: Đào nguyên nhược viễn cận/ Ngư tử trạo khinh chu/ Xuyên lộ hành nan tận/ Nhân gia đáo tiệm u/ Sơn cầm phất tịch khởi/ Khê thuỷ nhập đình lưu/ Quân thị hà niên ẩm/ Như kim thành bạch đầu (Đào nguyên gần rồi xa/ Anh chài bơi thuyền nhẹ/ Đường sông đi không cùng/ Nhà người thăm thẳm thế/ Chim từ chăn bay ra/ Suối vào sân mà chảy/ Người ẩn bao năm rồi/ Mà tóc như mây khói ).
Giả Chí cũng là tay cao thủ trong thơ lưu biệt: Thảo sắc thanh thanh liễu sắc hoàng/ Đào hoa lịch loạn lý hoa hương/ Đông phong bất vị xuy sầu khứ/ Xuân nhật thiên năng nhạ hận trường (Cỏ vẫn đương xanh, liễu đã vàng/ Hoa đào rực rỡ hoa mận thơm/ Gió đông chưa đuổi sầu đi được/ Ngày xuân, sầu cũ lại dài thêm ).
Liễu nhứ phi thời biệt Lạc Dương/ Mai hoa phát hậu tại Tam Tương/ Thế tình dĩ trục phù vân tán/ Ly hận không tuỳ giang thuỷ trường (Dời Lạc Dương ngày tơ liễu bay/ Tam Tương anh đến đã mùa mai/ Tình đời như thể mây tan hợp/ Biệt ly, sầu hận tựa sông dài ).
Lưu Trường Khanh có nhiều bài hay. Tiếng đàn và tiếng lòng nhè nhẹ buồn: Linh linh thất huyền cầm/ Tĩnh thính tùng phong hàn/ Cổ điệu tuy tự ái/ Kim nhân đa bất đàn (Ai đang chơi thất huyền cầm/ Nghe như gió lạnh trong thông dặt dìu/ Bây giờ những khúc thân yêu/ Đã không còn được chơi nhiều như xưa ).
Nhật mộ Thương Sơn viễn/ Thiên hàn bạch ốc bần/ Sài môn văn khuyển phệ/ Phong tuyết dạ qui nhân (Thương Sơn đêm ngủ đỗ/ Gió lạnh lùa mái nghèo/ Chó kêu ngoài cổng gỗ/ Người về trong tuyết gieo ).
Thương thương trúc lâm tự/ Diểu diểu chung thanh vãn/ Hà lạp đới tà dương/ Thanh sơn độc qui viễn (Chùa trong rừng trúc xanh/ Chuông thiền đưa văng vẳng/ Nón sen đội nắng chiều/ Một mình về núi vắng ).
Vọng quân yên thuỷ khoát/ Huy thủ lệ triêm cân/ Phi điểu một hà xứ/ Thanh sơn không hướng nhân/ Trường Giang nhất phàm viễn/ Lạc nhật Ngũ Hồ xuân/ Thùy kiến đinh châu thượng/ Tương tư sầu bạch tần (Trông theo mờ khói sóng/ Tay vẫy lệ đầm khăn/ Chim bay không để bóng/ Chỉ còn màu núi xanh/ Trường Giang buồm viễn xứ/ Ngũ Hồ chiều buông mành/ Rau tần không xanh nữa/ Rau tần cũng nhớ anh ).
Tịch liên Đông quách ngoại/ Bạch thủ nhất tiên sinh/ Giải ấn cô cầm tại/ Di gia ngũ liễu thành/ Tịch dương lâm thuỷ điếu/ Xuân vũ hướng điền canh/ Chung nhật không lâm hạ/ Hà nhân thức thử tình (Quạnh hiu ngoài xóm Đông/ Một ông đầu bạc ở/ Từ quan sống một mình/ Dưới dăm vòm liễu cũ/ Chiều xuống thì buông câu/ Mưa xuân ra cày ruộng/ Dưới bóng cây cả ngày/ Ai biết lòng ông được ).
Cũng cảm hứng ấy, với đạo sĩ, ông viết: Nhất lộ kinh hành xứ/ Môi đài kiến kịch ngân/ Bạch vân y tĩnh chử/ Phương thảo bế nhàn môn/ Quá vũ khan tùng sắc/ Tùy sơn đáo thuỷ nguyên/ Khê hoa dữ thiền ý/ Tương đối diệc vong ngôn (Đường này người đi mãi/ Dấu guốc còn trên rêu/ Mây trắng bay quanh bãi/ Cỏ thơm đầy cửa lều/ Ngắm tùng xanh sau mưa/ Theo núi lên đầu suối/ Hoa rừng bên người thiền/ Chỉ nhìn nhau không nói).
Lưu Phương Bình cám cảnh suy gia: Sa song nhật lạc tiệm hoàng hôn/ Kim ốc vô nhân kiến lệ ngân/ Tịch mịch không đình xuân dục vãn/ Lê hoa mãn địa nhất khai môn (Mặt trời đang lặn ngoài song trúc/ Ai bảo nhà giàu không nước mắt/ Cuối xuân, sân không một bóng người/ Cửa đóng, hoa lê đầy mặt đất).
Trương Kế bất tử với “Phong Kiều dạ bạc”. Đêm thu nam Trung Hoa như tranh, như nhạc; cảnh trần mà tựa nơi cực lạc: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hỏa đối sầu miên/ Cô Tô thành ngoại Hàn San tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời/ Hàng phong mơ ngủ bên lửa chài/ Nửa đêm chùa núi Hàn San thức/ Thả một hồi chuông vào thuyền ai ). Ở thể lục bát, Tản Đà dịch bài này rất hay: Trăng tà tiếng quạ kêu sương/ Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô/ Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
 III- TRUNG ĐƯỜNG
Vũ trung cấm hỏa không trai lãnh/ Giang thượng lưu oanh độc toạ thính/ Bả tửu khán hoa tưởng chư đệ/ Đỗ Lăng Hàn thực thảo thanh thanh (Trời mưa, cấm lửa, nhà ta lạnh/ Hoa nở, oanh vàng hót bến sông/ Các em vắng cả, mình ta rượu/ Hàn thực quê mình xanh cỏ đồng ).
Viết thế, Vi ứng Vật tiếp nối được cái tình nhà, cái cách vịnh nỗi buồn của tiền nhân. Ông cũng tiếp nối luôn cả cái tinh thần “tửu lạc vong bần” của họ: Sương lạc tụy bách thảo/ Thời cúc độc nghiên hoa/ Vật hữu độc như thử/ Hàn thử kỳ nại hà/ Xuyết anh phiếm trọc tửu/ Nhật nhập hội điền gia/ Tận túy mao thiềm hạ/ Nhất sinh khởi tại đa (Sương rơi, trăm cỏ héo/ Chỉ cúc là tốt tươi/ Loài cây này lạ thật/ Nóng rét kệ ông trời/ Hái cúc hoa ngâm rượu/ Nhà nông chiều uống chơi/ Cùng say bên thềm cỏ/ Cần chi nhiều ai ơi! ).
Tiền Khởi kín mà chứa chan tình: Phản chiếu nhập lư hạng/ Ưu lai thùy cộng ngữ/ Cổ đạo thiểu nhân hành/ Thu phong động hoà mạch (Bóng chiều rơi ngoài ngõ/ Trò chuyện cùng ai đây/ Đường xưa người thưa bóng/ Ruộng mạch gió thu lay ).
Ông có bài “Quy nhạn”, có thể coi là bài tứ tuyệt hoài cổ hay nhất thời Trung Đường: Tiêu Tương hà sự đẳng nhàn hồi/ Thủy bích sa minh lưỡng ngạn đài/ Nhị thập ngũ huyền đàn dạ nguyệt/ Bất thăng thanh oán khước phi lai (Nước biếc, bờ xanh cùng cát trắng/ Nào giúp Tiêu Tương gọi nhạn về/ Nhạn nhớ đàn ai bao trăng lạnh/ Khóc chồng nức nở suốt canh khuya ). Ngày xửa ngày xưa, Nga Hoàng và Nữ Anh, con vua Nghiêu, vợ vua Thuấn. Khi vua Thuấn mất, hai nàng ra bờ sông Tương gảy đàn khóc chồng. Tương truyền, nước mắt họ rơi xuống dây đàn, bắn lên trúc bên bờ, khiến thân và lá trúc vùng này có những đốm trắng rất lạ, đẹp như hoa. Người ở đây lấy thân trúc này làm mành, gọi là Mành Tương. Hai nàng vừa khóc vừa chơi đàn 25 dây (Nhị thập ngũ huyền cầm) rất là buồn bã. Cuối cùng, hai nàng đều gieo mình xuống sông, chết theo vua Thuấn! Tích như vậy, phải có thơ như vậy.
Cáp Gia Vận viết về chinh phụ rất ngắn, mà tiếp nối được “Lũng Tây hành” của Trần Đào đời trước. “Y Châu ca” của ông rất nổi tiếng: Đả khởi hoàng oanh nhi/ Mạc giao chi thượng đề/ Đề thời kinh thiếp mộng/ Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây) (Đuổi hoàng oanh! Đuổi hoàng oanh/ Đừng cho nó hót trên cành làm chi/ Oanh làm mộng thiếp tan đi/ Lấy gì đưa thiếp bay về Liêu Tây ). Liêu Tây là nơi chiến trận, nơi người chồng đang phải đồn trú giữ ải.
Vương Kiến nổi tiếng với “Vọng phu thạch”: Vọng phu thạch/ Giang du du/ Hoá vi thạch/ Bất hồi đầu/ Sơn đầu nhật nhật phong hoà vũ/ Hành nhân qui lai thạch ưng ngữ (Ngàn năm còn đứng trông chồng/ Ngàn năm nàng ngó theo dòng nước trôi/ Từ khi hoá đá bên trời/ Khăng khăng quên hết cuộc đời sau lưng/ Đầu non mưa gió trùng trùng/ Chồng chưa trở lại, nàng không mở lời ).
Ông còn có bài “Cố hành cung” tuyệt hay: Liêu lạc cố hành cung/ Cung hoa tịch mịch hồng/ Bạch đầu cung nữ tại/ Nhàn toạ thuyết Huyền Tông (Hành cung giờ tàn tạ/ Hoa hồng nở âm thầm/ Cung nhân già rỗi việc/ Ngồi kể chuyện Huyền Tông ). Bài này, có sách lại cho là của Nguyên Chẩn.
Hoàng Phủ Nhiễm tao nhã: Sơn quán trường tịch mịch/ Nhàn vân triêu tịch lai/ Không đình phục hà hữu/ Lạc nhật chiếu thanh đài (Quạnh hiu quán núi nơi này/ Mây bay buổi sớm, buổi chiều lại mây/ Sân rêu không một dấu giày/ Chiều hôm dưới vạt nắng gầy, chợt xanh ).
Tư Không Thự có “Giang thôn tức sự” rất thú vị, an nhàn: Bãi điếu quy lai bất hệ thuyền/ Giang thôn nguyệt lạc chính kham miên/ Túng nhiên nhất dạ phong xuy khứ/ Chỉ tại lư hoa thiển thuỷ biên (Câu về ta chẳng buộc thuyền đâu/ Ngủ thôi, trăng đã xế ngang đầu/ Gió dẫu đẩy thuyền trôi đêm vắng/ Thì cũng trôi về một bến lau ). Ông cũng có bài thơ thật buồn thảm, sau loạn chia tay bạn: Thế loạn đồng nam khứ/ Thời thanh độc bắc hoàn/ Tha hương sinh bạch phát/ Cựu quốc kiến thanh san/ Hiểu nguyệt quá tàn luỹ/ Phồn tinh túc cố quan/ Hàn cầm dữ suy thảo/ Xứ xứ bạn sầu nhan (Xuôi nam, cùng nhau chạy loạn/ Ngược bắc, bây giờ mình anh/ Xa quê hai thằng bạc tóc/ Nhìn về mờ mịt non xanh/ Sớm trăng, vượt qua luỹ vỡ/ Đêm sao, anh ngủ cổ thành/ Thu rồi, chim di cỏ úa/ Bạn đường, mặt buồn như anh ).
Lư Luân tiễn bạn, thật đau lòng: Cố quan suy thảo biến/ Ly biệt chính kham bi/ Lộ xuất hàn vân ngoại/ Nhân quy mộ tuyết thì/ Thiếu cô vi khách tảo/ Đa nạn thức quân trì/ Yểm khấp không tương hướng/ Phong trần hà sở kỳ (Cỏ tàn trên luỹ cũ/ Kẻ ở, người ra đi/ Anh khuất vào mây lạnh/ Tuyết rơi, chiều đang về/ Tôi mồ côi lưu lạc/ Gặp anh nào dễ gì/ Nhìn theo, bưng mặt khóc/ Bao giờ thôi biệt ly? ).
Đới Thúc Luân, có lẽ là đã có một bài thơ tình “trực tiếp” nhất Đường thi: Đỗ vũ thanh thanh hoán khách sầu/ Cố viên hà xứ thử đăng lâu/ Lạc hoa phi nhứ thành xuân mộng/ Thặng thuỷ tàn sơn dị tích du/ Ca phiến đa tình minh nguyệt tại/ Vũ y vô ý thái vân thu/ Đông Hoàng khứ hậu thiều hoa tận/ Lão phố hàn hương biệt hữu thu (Cuốc kêu cho dạ thêm sầu/ Chân bước lên lầu mỏi mắt tìm quê/ Người xưa, trong mộng mới về/ Cảnh xưa còn có thấy gì nữa đâu/ Nhìn mây nhớ áo năm màu/ Nhìn trăng lại nhớ những câu đa tình/ Không người yêu dấu bên mình/ Thì Giêng, Hai cũng hoá thành tàn thu! ).
Cũng ông, khi cùng viết về nỗi lòng chinh phụ, lại chọn lối viết trữ tình, dân dã, mềm mại hơn tiền nhân: Niểu niểu thành biên liễu/ Thanh thanh mạch thượng tang/ Đề lung vong thái diệp/ Tạc dạ mộng Ngư Dương (Nõn nà tơ liễu bên thành/ Ngàn dâu ngăn ngắt lá xanh bên đường/ Có nàng giỏ bỏ tay buông/ Đêm qua mộng đến Ngư Dương gặp chồng ).
Thời Trung Đường, Liễu Tông Nguyên là một tên tuổi lớn. ở ông, có cái “lạnh” của Mạnh Giao: Thiên sơn điểu phi tuyệt/ Vạn kính nhân tung diệt/ Cô chu thôi lạp ông/ Độc điếu hàn giang tuyết (Ngàn núi, chim bay hết/ Vạn nẻo, người không vết/ Một tơi nón, một thuyền/ Ông ngồi câu sông tuyết - Đ.T.L dịch; có cái buồn rầu trên đường hoạn lộ của Đỗ Thẩm Ngôn: Hoạn tình cơ tứ cộng thê thê/ Xuân bán như thu ý chuyển mê/ Sơn thành quá vũ bách hoa tận/ Dong diệp mãn đình oanh loạn đề (Quan lộ buồn như đường lữ thứ/ Mới nửa xuân mà ngỡ đã thu/ Lá đổ đầy sân, oanh lạc giọng/ Quanh thành, hoa núi rụng trong mưa ). Bị biếm xuống phương nam, không những không khóc than, ông còn thấy thích: Cửu vi trâm tổ thúc/ Hạnh thử nam di trích/ Nhàn y nông phố lân/ Ngẫu tự sơn lâm khách/ Hiểu canh phan lộ thảo/ Dạ bảng hưởng khê thạch/ Lai vãng bất phùng nhân/ Trường ca Sở sơn bích (Đai mũ trói ta lâu ngày/ Đày xuống phương nam càng thích/ An nhàn sống bên nhà nông/ Núi rừng nhận ta làm khách/ Sáng cày đất lật cỏ sương/ Đêm chèo thuyền khe đá lạnh/ Đi về chẳng chạm mặt ai/ Giọng Sở ngân dài nhịp phách ). Ông cũng có cái tinh thần khinh danh lợi của Đào Tiềm, Vương Duy... : Lục nhai trần khởi cổ đông đông/ Mã túc xa luân tại xứ thông/ Bách dịch tịnh khu y thực nội/ Tứ dân trường tẩu lộ đồ trung/ Niên quang dữ vật tuỳ lưu thuỷ/ Thế sự như hoa lạc hiểu phong/ Danh lợi đáo thân vô liễu nhật/ Bất tri kim cổ tuyển thành không (Ngã sáu kinh kỳ đầy cát bụi/ Bánh xe, chân ngựa chạy tha hồ/ Trăm sự chi bằng ăn với mặc/ Tứ dân sấp ngửa khắp thành đô/ Vạn vật theo ngày trôi tựa nước/ Như hoa trong gió rụng từng giờ/ Danh lợi vướng vào sao chẳng biết/ Cổ kim danh lợi vốn là “vô” ). Ông cũng có cái phong vị của Lý Bạch trước nỗi “Bi bạch phát”: Thuỷ hướng đông lưu cánh bất hồi/ Hồng nhan bạch phát đệ tương thôi/ Tráng tâm ám trục cao ca tận/ Vãng sự không thành bán tuý lai/ Vân hộ nhạn sương lung đạm nguyệt/ Vũ liên oanh hiểu lạc tàn mai/ Tây lâu trướng vọng phương phi tiết/ Xứ xứ tà dương thảo tự đài (Nước chảy về đông không trở lại/ Tóc tớ đương xanh thoắt bạc rồi/ Chí cao tan hết vào ca vũ/ Ngà ngà nhớ lại những buồn vui/ Giúp nhạn, mây che mờ bóng nguyệt/ Mừng oanh, mưa khiến cánh mai rơi/ Lầu tây, ngó xuống chiều xuân thấy/ Cỏ tựa rêu xanh mọc khắp trời ). Cũng như vậy, là bài “Điệu cổ”: Tế suy kim cổ sự kham sầu/ Quý tiện đồng qui thổ nhất khâu/ Hán Vũ Ngọc Đường nhân khởi tại/ Thạch Gia Kim Cốc thuỷ không lưu/ Quang âm tự đán hoàn tương mộ/ Thảo mộc tòng xuân hựu đáo thu/ Nhàn sự dữ thời câu bất liễu/ Thả tương thân tạm tuý hương du (Đời ơi! Càng ngẫm càng sầu/ Sang hèn - một nấm cổ khâu xanh rì/ Lầu Tần gác Hán còn kia/ Mà người thuở ấy giờ đi nẻo nào/ Mơ màng một giấc chiêm bao/ Tỉnh ra chỉ thấy sóng xao Vườn Vàng/ Mai về đem cả hôm sang/ Cỏ xuân vừa biếc đã tàn trong thu/ Có ai nhàn mãi bao giờ/ Thà đưa chân chốn giang hồ mà say ). Ông nhớ quê cũng khác người: Vấn xuân tòng hà khứ/ Kỷ nhật đáo Thái Nguyên/ Bằng ký hoàn hương mộng/ Ân cần nhập cố viên (Xuân ơi! Xuân từ đâu đến/ Bao giờ thì qua Thái Nguyên?/ Giấc mộng làng quê, ta gửi/ Nhờ xuân về đặt bên thềm ).
Mạnh Giao lại thiên về hiện thực đời thường, không trau chuốt nhưng thật cảm động: Từ mẫu thủ trung tuyến/ Du tử thân thượng y/ Lâm hành mật mật phùng/ ý khủng trì trì qui/ Thuỳ ngôn thốn thảo tâm/ Báo đắc tam xuân huy (Đường kim mũi chỉ mẹ hiền/ Khâu thành manh áo mặc trên thân này/ Mẹ khâu thật kỹ thật dày/ Sợ con xa mẹ lâu ngày, cậy ai?/ Cỏ non một tấc thế này/ Đền ba xuân ấy biết ngày nào xong? ). Ông viết “Lời người đàn bà dệt vải”: Phu thị điền trung lang/ Thiếp thị điền trung nữ/ Đương niên giá đắc quân/ Vị quân bỉnh cơ trữ/ Cân lực nhật dĩ bì/ Bất tức song hạ ky/ Như hà chức hoàn tố/ Thân trước lam lũ y/ Quan gia bảng thôn lộ/ Cánh sách tài tang thụ (Thiếp nhà nông, chồng cũng nhà nông/ Cưới xong, thiếp dệt cửi cho chồng/ Chưa từng dám nghỉ bên song/ Sức tàn gân mỏi tấc lòng xót xa/ Ngày đêm thiếp dệt ra lụa vải/ Sao trên người áo váy tả tơi?/ Quan nha đã chẳng đoái hoài/ Còn treo bảng bắt người người trồng dâu! ). Ông viết về phận người “liệt nữ”: Ngô đồng tương đãi lão/ Uyên ương hội song tử/ Trinh nữ quí tuẫn phu/ Xả sinh diệc như thử/ Ba lan thệ bất khởi/ Thiếp tâm cổ tỉnh thuỷ (Ngô đồng cùng nhau già/ Uyên ương cùng nhau chết/Liệt nữ cũng vậy thôi/ Mất chồng, đời cũng hết/ Như mặt giếng cổ kia/ Sóng không còn một vệt).
Thôi Hộ phong lưu, tên tuổi gắn liền với “Đề tích sở kiến xứ” (“Đề đô thành nam trang”): Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong (Ngày này năm trước ta qua/ Cửa này còn thắm cả hoa lẫn người/ Hôm nay người ấy đâu rồi/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông).
Thơ Đường có rất nhiều bài “Đăng lâu”. “Đăng lâu” của Dương Sĩ Ngạc là một bài hay, có tình, có cảnh: Hoè liễu tiêu sơ nhiễu quận thành/ Dạ thiêm sơn vũ tác giang thanh/ Thu phong nam mạch vô xa mã/ Độc thướng cao lâu cố quốc tình (Hoè liễu tiêu điều bên thành quận/ Mưa đêm trong núi suối kêu xa/ Thu lạnh đường nam người ngựa vắng/ Lên lầu nhớ nước một mình ta).
Lưu Vũ Tích, dù có bài “Tây Tái Sơn hoài cổ” được Bạch Cư Dị khen ngợi, nhưng nổi tiếng lại nhờ những bài như “Ô Y hạng”: Chu tước kiều biên dã thảo hoa/ Ô Y hạng khẩu tịch dương tà/ Cựu thời Vương, Tạ đường tiền yến/ Phi nhập tầm thường bách tính gia (Hoa cỏ dại nở bên cầu Chu Tước/ Bóng tà dương rơi đầy ngõ Ô Y/ Lầu Vương gác Tạ còn gì/ Én nay làm tổ mái quê trăm nhà ); như “Thạch đầu thành”: Sơn vi cố quốc chu tao tại/ Hồ đả không thành tịch mịch hồi/ Hoài Thuỷ đông biên cựu thời nguyệt/ Dạ thâm hoàn quá nữ tường lai (Bốn mặt cổ thành san sát núi/ Chân thành sóng nước vỗ không nguôi/ Trăng phía Tần Hoài đêm đêm tới/ Soi xuống tường khuya vắng bóng người ); như “Thu phong dẫn”: Hà xứ thu phong chí/ Tiêu tiêu tống nhạn quần/ Triêu lai nhập đình thụ/ Cô khách tối tiên văn (Gió thu từ nơi nào tới/ Đuổi nhạn đàn về phương nam/ Sớm nay cây vườn chợt động/ Mình ta nghe trước thu sang)...
Quả nhiên, ông là nhà thơ hoài cổ có hạng!
Trương Tịch nổi tiếng với bài “Tiết phụ ngâm”. Dù đây là một “lá thư” từ chối chức vụ, nhưng bản thân nó, đã là một “chuyện tình”: Quân tri thiếp hữu phu/ Tặng thiếp song minh châu/ Cảm quân triền miên ý/ Hệ tại hồng la nhu/ Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi/ Lương nhân chấp kích Minh Quang lý/ Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt/ Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử/ Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ/ Hận bất tương phùng vị giá thì (Chàng hay thiếp có chồng rồi/ Vẫn tặng thiếp đôi ngọc sáng/ Đeo ngọc trong áo lót hồng/ Thiếp thấu tình chàng lưu luyến/ Nhà thiếp lầu cao vườn lớn/ Chồng thiếp gác điện Minh Quang/ Vợ chồng đã thề sinh tử/ Chàng ơi! Trả ngọc cho chàng/ Trả ngọc, lệ thiếp hai hàng/ Biết lòng chàng như nhật nguyệt/ Hận rằng không được gặp nhau/ Từ thời chăn đơn gối chiếc! ).
Giả Đảo mà tên tuổi gắn với tích “Thôi - xao” nổi tiếng, có những bài thơ nhẹ nhàng, duyên dáng, ví như “Độ Tang Càn”: Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương/ Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương/ Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ/ Khước vọng Tinh Châu thị cố hương (Tinh Châu mòn gót tha hương/ Mười năm nằm nhớ Hàm Dương quê nhà/ Tang Càn, vừa mới đi qua/ Tinh Châu nhìn lại, lại là quê hương); hoặc bài “Tùng hạ vấn đồng tử” (“Tầm ẩn giả bất ngộ”): Tùng hạ vấn đồng tử/ Ngôn sư thái dược khứ/ Chỉ tại thử sơn trung/ Vân thâm bất tri xứ (Dưới thông hỏi tiểu đồng/ Thưa: “Thày con hái thuốc/ Chỉ trong núi này thôi/ Mây dày, không trỏ được!” ).
Dương Cự Nguyên có tư chất thi sĩ, ngay trong bốn câu: Thi gia thanh cảnh tại tân xuân/ Lục liễu tài hoàng bán vị quân/ Nhược đãi Thượng Lâm hoa tự cẩm/ Xuất môn đô thị khán hoa nhân (Đầu xuân là cảnh của thi gia/ Liễu xanh pha lẫn sắc vàng pha/ Đến lúc Thượng Lâm hoa tựa gấm/ Thì đã là xuân của mọi nhà).
Là một nữ thi sĩ hiếm hoi trong làng thơ Đường, Tiết Đào không hổ danh là một “đối tác” xứng đáng với các bậc tu mi: Hoa khai bất đồng thưởng/ Hoa lạc bất đồng bi/ Dục vấn tương tư xứ/ Hoa khai hoa lạc thì (Hoa nở không cùng ngắm/ Hoa tàn không cùng đau/ Hỏi khi tàn, khi nở/ Khi nào ta nhớ nhau?); hay là: Na kham hoa mãn chi/ Phiên tác lương tương ty (tư)/ Ngọc trâm thuỳ triêu kính/ Xuân phong tri bất tri (Hoa nở một cành đầy/ Mà hai nơi thương nhớ/ Trâm buồn trong gương mai/ Gió biết không hỡi gió?).
Cũng là nữ sĩ, Đỗ Thu Nương “quyết liệt” còn hơn cả Tiết Đào: Khuyến quân mạc tích kim lũ y/ Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì/ Hoa khai kham chiết trực tu chiết/ Mạc đãi vô hoa không chiết chi (Tiếc gì áo quí hỡi anh/ Khuyên anh nên tiếc đầu xanh má hồng/ Gặp hoa, bẻ phắt cho xong/ Hết hoa, ai bẻ cành không làm gì?).
IV- VÃN ĐƯỜNG
Đường Văn Tông được coi là ông vua có tâm nhưng không có tài trị quốc, bị bọn hoạn quan gian thần khống chế, không sao thực thi được chính mệnh. Ông biết và ông viết: Liễn lộ sinh thu thảo/ Thượng Lâm hoa mãn chi/ Bằng cao hà hận ý/ Vô phục thị thần tri (Cỏ thu bên xe ngự/ Hoa đầy cành Thượng Lâm/ Trên cao, sầu khôn tả/ Vẫn phải làm như không).
Xuất sắc nhất thời Vãn Đường là Đỗ Mục. Ông có cái bất cần, lão thực của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy...: Giang hàm thu ảnh nhạn sơ phi/ Dữ khách huề hồ thượng thuý vi/ Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu/ Cúc hoa tu tháp mãn đầu qui/ Đãn tương mính đính thù giai tiết/ Bất dụng đăng cao thán lạc huy/ Vãng cổ lai kim chỉ như thử/ Ngưu sơn hà tất thế triêm y (Nhạn chớm về nam, sông ngậm thu/ Cùng bạn lên non, rượu một hồ/ Cười được trên đời là mấy chốc/ Say dưới trời xanh chả sướng ư/ Khi về đầu giắt đầy hoa cúc/ Than đời tiếc lộc, kệ người xưa!/ Sống chết,
cổ kim ai còn lạ/ Khóc giữa Tề Sơn thật chán chưa).
Ông lại có cách hoài cổ vừa sâu sắc, vừa hào hoa: Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu/ Trực tương ma tẩy nhận tiền triều/ Đông phong bất dữ Chu Lang tiện/ Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều (Kích gãy nằm sâu dưới đáy sông/ Mài qua là gặp dấu cha ông/ Gió đông không giúp Chu Công Cẩn/ Đồng Tước, hai Kiều thoát hận không?).
Ông có cái nghiêm trang của kẻ tài tử: Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa/ Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia/ Thương nữ bất tri vong quốc hận/ Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa (Khói lồng sông lạnh trăng lồng cát/ Đậu bến Tần Hoài, cạnh tửu gia/ Ca nữ biết chi sầu vong quốc/ Bên sông còn hát Hậu Đình Hoa ); Đa tình khước tự tổng vô tình/ Duy giác tôn tiền tiếu bất thành/ Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt/ Thế nhân thuỳ lệ đáo thiên minh (Cái giống đa tình thường vô tình/ Ngồi lặng bên ly lúc tiễn hành/ Ngọn nến đem lòng thương lữ khách/ Thay người, nhỏ lệ suốt năm canh).
Nhớ thương người đẹp gieo lầu Thanh Lương trong Kim Cốc Viên của Thạch Sùng xưa, ông viết: Phồn hoa sự tán trục hương trần/ Lưu thuỷ vô tình thảo tự xuân/ Nhật mộ đông phong oán đề điểu/ Lạc hoa do tự truỵ lâu nhân (Phồn hoa tan cả vào cát bụi/ Nước cứ xuôi dòng, cỏ cứ tươi/ Gió chiều đưa tiếng chim sầu lại/ Hoa rơi, ta tưởng mỹ nhân rơi!).
Ông, nổi tiếng phong lưu mã thượng thời trai trẻ. Tỉnh ra, ông “kiểm điểm” rất đáng yêu: Lạc phách giang hồ tái tửu hành/ Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh/ Thập niên nhất giác Dương Châu mộng/ Doanh đắc thanh lâu bạc hạnh danh (Giang hồ quen thói không dừng được/ Rượu ngon gái Sở chốn lầu xanh/ Mười năm tỉnh giấc Dương Châu mộng/ Bạc hạnh còn đeo tiếng bạc tình!).
Nhớ bạn dưới trăng, ông rất giống Bạch Cư Dị: Du du nhất biệt dĩ tam niên/ Tương vọng tương tư minh nguyệt thiên/ Trường đoạn thanh thiên vọng minh nguyệt/ Biệt lai tam thập lục hồi viên (Một đi đằng đẵng đã ba năm/ Trông trăng lòng lại nhớ nhau thầm/ Đêm nay đứt ruột nhìn trăng sáng/ Băm sáu trăng tròn xa cố nhân). Bài này, có sách lại chép là của Bạch Cư Dị!
Hẹn với mẹ một cô bé xinh đẹp rằng, mười hai năm sau, khi về nơi ấy làm quan thì sẽ cưới cô bé. Mười bốn năm sau về được, cô bé ấy đã thành thiếu phụ tay bồng tay mang! Đỗ Mục viết: Tự thị tầm xuân khứ hiệu trì/ Bất phòng trù trướng oán phương thì/ Cuồng phong lạc tận thâm hồng sắc/ Lục diệp thành âm tử mãn chi (Ta đến tìm xuân chậm mất rồi/ Thì thôi, nào tiếc chút thơm rơi/ Gió dữ, hoa tàn trong hơi gió/ Lá quả xum xuê đứng đợi người).
Ông tài hoa ngay cả khi dân dã: Nga Hồ sơn hạ đạo lương phì/ Đồn sách kê thê thụ yểm phi/ Tang chá ảnh tà xuân xã tán/ Gia gia phù đắc tuý nhân qui (Nga Hồ trúng vụ kê cùng nếp/ Gà lợn trong chuồng, cây lá che/ Làng tế xuân xong, chiều xế bóng/ Nhà nhà dìu các cụ say về).
Rằm tháng Tám của ông cũng nổi bật: Mộ vân thu tận dật thanh hàn/ Ngân Hán vô thanh chuyển ngọc bàn/ Thử sinh thử dạ bất trường hảo/ Minh nguyệt minh niên hà xứ khan (Mây chiều bay hết, mênh mông lạnh/ Trời đất ngầm xoay trăng về tây/ Thân này trăng ấy rồi mai một/ Sang năm gặp lại chốn nào đây?).
Các tửu đồ hẳn không thể không biết “Thanh minh” của ông: Thanh minh thời tiết vũ phân phân/ Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn/ Tá vấn tửu gia hà xứ thị/ Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn (Thanh minh mưa mãi mà không tạnh/ Lòng khách rã rời trên đường xa/ Hỏi thử quanh vùng đâu bán rượu/ Trẻ trỏ lối vào thôn Hạnh Hoa).
Đêm mồng bảy tháng Bảy của ông cũng làm ta dễ mỉm cười: Ngân chúc thu quang lãnh hoạ bình/ Khinh la tiểu phiến phác lưu huỳnh/ Thiên nhai dạ sắc lương như thuỷ/ Ngoạ khán Khiên Ngưu Chức Nữ tinh (Nến cùng trăng lạnh soi màn gió/ Quạt lụa xua loài đom đóm bay/ Trời mượt như nhung, mát như nước/ Nằm xem ả Chức đợi Ngâu vầy).
Ông vẽ cảnh rất sắc: Viễn thướng hàn sơn thạch kính tà/ Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia/ Đình xa toạ ái phong lâm vãn/ Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa (Núi cao, chiều lạnh, chênh vênh đá/ Chìm trong mây trắng, nếp nhà ai/ Dừng xe say ngắm rừng phong vắng/ Lá đỏ còn hơn hoa tháng Hai).
Ngủ ở quán trọ, buồn nhưng đẹp vô cùng: Lữ quán vô lương bạn/ Ngưng tình tự tiễu nhiên/ Hàn đăng tư cựu sự/ Đoạn nhạn cảnh sầu miên/ Viễn mộng qui xâm hiểu/ Gia thư đáo cách niên/ Thương giang hảo yên nguyệt/ Môn hệ điếu ngư thuyền (Một mình đêm quán trọ/ Lòng khách càng thêm sầu/ Bên đèn ôn chuyện cũ/ Nhạn kêu dài canh thâu/ Sáng rồi còn mộng mị/ Thư nhà không thấy đâu/ Sông trăng trong khói sóng/ Buộc một chiếc thuyền câu).
Già, về nhà, “Quy gia” của ông làm ta vừa cười vừa thấm nước mắt: Trĩ tử khiên y vấn/ Quy gia hà thái trì/ Cộng thuỳ tranh tuế nguyệt/ Doanh đắc mấn như ti (Cháu con nắm áo hỏi/ Làm sao ông chậm về/ Cùng ai thi trường thọ/ Mà bạc đầu thế kia?).
Thơ Đỗ Mục, tuy nằm ở thời Vãn Đường, nhưng có thể xếp ngang với các đại gia thời Thịnh Đường, Sơ Đường.
Lý Thương ẩn cũng có cái nhẹ nhàng thoát tục của Vương Duy, Đỗ Mục: Phong lộ đạm thanh thần/ Liêm khai độc khởi nhân/ Oanh hoa đề hựu tiếu/ Tất cánh thị thuỳ xuân (Sương tan và gió mát/ Vén rèm, ta dậy rồi/ Nhìn hoa, nghe chim hót/ Xuân của ta hay người?); Hướng vãn ý bất thích/ Khu xa đăng cổ nguyên/ Tịch dương vô hạn hảo/ Chỉ thị cận hoàng hôn (Trời chiều, lòng buồn bã/ Đánh xe lên đồi chơi/ Tà dương như tranh vẽ/ Hoàng hôn dần xoá rồi! ); Tàn dương tây nhập yểm/ Mao ốc phỏng cô tăng/ Lạc diệp nhân hà tại/ Hàn vân lộ kỷ từng/ Độc xao sơ dạ khánh/ Nhàn ỷ nhất chi đằng/ Thế giới vi trần lý/ Ngô ninh ái dữ tăng (Núi tây, mặt trời lặn/ Lều cỏ, tìm sư thầy/ Lá rụng, người đâu vắng/ Đường lạnh mấy tầng mây/ Chập tối thầy gõ khánh/ Xong nằm tựa rễ cây/ Người như hạt bụi nhỏ/ Yêu ghét ngoài thân này); Địa thắng di trần sự/ Thân nhàn niệm tuế hoa/ Vãn tình phong quá trúc/ Thâm dạ nguyệt đương hoa/ Thạch loạn tri tuyền yết/ Đài hoang nhậm kính tà/ Đào nhiên thị cầm tửu/ Vong khước tại sơn gia (Quên đời, vui cảnh đẹp/ Ngồi nhàn, thương tuổi xanh/ Chiều tạnh, gió lay trúc/ Trăng khuya, hoa đậu cành/ Suối nghẹn lời quanh đá / Đường mòn đầy rêu xanh/ Vui cùng đàn với rượu/ Kệ thế thái nhân tình!).
Mạnh Trì tiếp tục đề tài cung nữ thất sủng: Quân ân dĩ tận dục hà quy/ Do hữu tàn hương tại vũ y/ Tự hận thân khinh bất như yến/ Xuân lai hoàn nhiễu ngự liêm phi (Ơn vua đã cạn, về đâu nhỉ?/ Hương tàn còn tẩm vũ y này/ Hận thân không nhẹ như chim én/ Xuân đến, về bên rèm ngự bay).
Hàn Tôn tiễn bạn rời kinh cũng lạ và sầu: Lục ám hồng hi xuất Phượng Thành/ Mộ vân cung khuyết cổ kim tình/ Hành nhân mạc thính cung tiền thuỷ/ Lưu tận niên quang thị thử thanh (Rời kinh khi lá rậm hoa thưa/ Cổ kim thương biết mấy cho vừa/ Đừng nghe nước chảy bên cung nữa/ Nước cuốn tuổi người vào thiên thu).
Hứa Hồn cũng giỏi hoài cổ và thù tạc: Ngô môn yên nguyệt tích đồng du/ Phong diệp lư hoa tịnh khách chu/ Tụ tán hữu kỳ vân bắc khứ/ Thăng trầm vô kế thuỷ đông lưu/ Nhất tôn tửu tận thanh sơn mộ/ Thiên lý thư hồi bích thụ thu/ Hà xứ tương tư bất tương kiến/ Phượng Thành cung khuyết Sở Giang lâu (Nhớ thuở Ngô Môn mờ khói sóng/ Phong vàng, lau trắng, mái chèo khua/ Mây bay lên bắc còn tan hợp/ Nước chảy về đông mặc gió mưa/ Một chén, non xanh chiều ngả bóng/ Ngàn dặm thư về, cây đã thu/ Nay kẻ Phượng Thành người sông Sở/ Không cùng thấy mặt, chỉ tương tư ); Dao dạ tứ thanh sắt/ Tây phong sinh thuý la/ Tàn huỳnh thê ngọc lộ/ Tảo nhạn phất Kim Hà/ Cao thụ hiểu hoàn mật/ Viễn sơn tình cánh đa/ Hoài Nam nhất diệp lạc/ Tự giác Động Đình ba (Khuya rồi, không ngủ được/ Gió tây, cây la đà/ Đóm mờ trên sương ngọc/ Én sớm chạm Ngân Hà/ Cây che trời buổi sớm/ Núi trập trùng đằng xa/ Hoài Nam rơi chiếc lá/ Biết Động Đình phong ba).
Triệu Hỗ cũng nối tiếp được dòng thơ thù tạc, nhớ nhung riêng tư: Độc thướng giang lâu tứ tiễu nhiên/ Nguyệt quang như thuỷ thuỷ như thiên/ Đồng lai ngoạn nguyệt nhân hà tại/ Phong cảnh y hi tự tích niên (Lầu cao bên sông mình ta sầu/ Trăng đầy trời rộng, đầy sông sâu/ Sông sâu, trời rộng còn nguyên đó/ Người dưới trăng xưa, giờ ở đâu?).
Ôn Đình Quân cũng phong lưu tài tử: Giang hải tương phùng khách hận đa/ Thu phong diệp lạc Động Đình ba/ Tửu hàm dạ biệt Hoài Âm thị/ Nguyệt chiếu cao lâu nhất khúc ca (Lòng khách giang hồ sầu trăm ngả/ Lá gió thu bay, sóng Động Đình/ Đêm rượu Hoài Âm, đêm tiễn biệt/ Lầu cao, ngồi hát dưới trăng xanh).
Ông tả cảnh quê mà vẫn không mất đi khẩu khí vương giả: Đạm nhiên không thuỷ đối tà huy/ Khúc đảo thương mang tiếp thuý vi/ Ba thượng mã tê khan trạo khứ/ Liễu biên nhân yết đãi thuyền qui/ Sổ tùng sa thảo quần âu tán/ Vạn khoảnh giang điền nhất lộ phi/ Thuỳ giải thừa chu tầm Phạm Lãi/ Ngũ Hồ yên thuỷ độc vong ky (Nắng chiều buông nhẹ trên sông vắng/ Quanh đảo âm âm khí núi về/ Ngựa thấy động chèo kêu đôi tiếng/ Bên liễu đợi đò, dăm khách quê/ Đồng bãi mênh mông, cò bay lẻ/ Chơi đùa trong cỏ, một bầy le/ Ai dám dong thuyền tìm Phạm Lãi/ Chơi hồ, thế sự chẳng thèm nghe?). Ông hoài cổ cũng rất sành điệu: Quán Tước lâu tây bách xích tường/ Đinh châu vân thụ độc mang mang/ Hán gia tiêu cổ không lưu thuỷ/ Nguỵ quốc sơn hà bán tịch dương/ Sự khứ thiên niên do hận xúc/ Sầu lai nhất nhật tức vi trường/ Phong yên tịnh khởi tư hương vọng/ Viễn mục phi xuân diệc tự thương (Tây lầu Quán Tước, buồm trăm thước/ Bờ sông, cây cối lẫn vào mây/ Tiêu trống Hán triều tan theo nước/ Giang sơn Nguỵ quốc khuất đêm dày/ Nghìn năm ôm hận, coi là ngắn/ Sầu một ngày thôi, dài lắm thay!/ Mây gió, lòng bay về nước cũ/ Buồn trông cảnh vật, khách thương vay).
Cao Biền, “cựu” An Nam Đô hộ phủ, cũng có chữ: Lục thụ âm nùng hạ nhật trường/ Lâu đài đảo ảnh nhập trì đường/ Thuỷ tinh liêm động vi phong khởi/ Mãn giá tường vi nhất viện hương (Lá rợp ngày dài trong tháng hạ/ Đài in bóng nước trước nhà kia/ Gió thoảng bên song, rèm ngọc động/ Thư phòng thơm ngát hương tường vi).
Mã Đới cũng là một kiện tướng thơ ngũ ngôn: Lộ khí hàn quang tập/ Vi dương hạ Sở khâu/ Viên đề Động Đình thụ/ Nhân tại mộc lan châu/ Quảng trạch sinh minh nguyệt/ Thương sơn giáp loạn lưu/ Vân Trung Quân bất kiến/ Cánh tịch tự bi thu (Chiều lạnh đầy hơi sương/ Mặt trời về non Sở/ Vượn kêu cây Động Đình/ Người trên thuyền lan nhỏ/ Hồ rộng trăng càng trong/ Núi xanh chờ sóng vỗ/ Trông nào thấy mây về/ Đêm thu sầu mấy độ ); Dã nhân nhàn chủng thụ/ Thụ lão dã nhân tiền/ Cư chỉ bạch vân nội/ Ngư tiều thương hải biên/ Hô nhi thái sơn dược/ Phóng độc ẩm khê tuyền/ Tự trước dưỡng sinh luận/ Vô phiền ưu mộ niên (Rảnh, người quê trồng cây/ Cây lớn thành cổ thụ/ Kiếm củi, đi cùng mây/ Đánh cá, làm ngư phủ/ Gọi con tìm lá cây/ Thả trâu đầu suối nhỏ/ Thuyết trường sinh là đây/ Kệ tuổi già qua cửa).
Tào Mân tả xuân muộn cũng thú vị: Môn ngoại vô nhân vấn lạc hoa/ Lục âm nhiễm nhiễm biến thiên nha/ Lâm oanh đề đáo vô thanh xứ/ Thanh thảo trì đường độc thính oa (Hoa rơi ngoài ngõ không người hỏi/ Cây mãi xanh ra tận cuối trời/ Oanh rừng cạn tiếng thôi không hót/ Bờ ao, trong cỏ ếch kêu dài).
Trịnh Cốc từng nổi tiếng ở Việt Nam với “Hoài thượng biệt cố nhân”: Dương Tử giang đầu dương liễu xuân/ Dương hoa sầu sát độ giang nhân/ Sổ thanh phong địch ly đình vãn/ Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần (Liễu biếc đơm hoa đầu Dương Tử/ Qua bến, lòng ta những chết dần/ Sáo chiều ai thổi câu đưa khách/ Cho kẻ Tiêu Tương kẻ đến Tần!). Ông cũng là người sùng bái Lý Bạch: Hà sự Văn tinh dữ Tửu tinh/ Nhất thời chung tại Lý tiên sinh/ Cao ngâm đại tuý tam thiên thủ/ Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh (Sao Rượu, sao Văn ai sắp đặt/ Một thời về cả Lý tiên sinh/ Say khướt còn ngâm ba ngàn áng/ Tặng lại nhân gian tập đại thành).
Cùng thì một Tây Thi, Lâu Dĩnh rõ ràng đã có Tây Thi riêng của mình: Tây Thi tích nhật cán sa tân/ Thạch thượng thanh đài sầu sát nhân/ Nhất khứ Cô Tô bất phục phản/ Ngạn bàng đào lý vị thuỳ xuân (Qua bến Tây Thi xưa giặt lụa/ Nhìn rêu trên đá, dạ thêm sầu/ Nàng trẩy Cô Tô không về lại/ Đào mận bên bờ nở với nhau).
Trần Đào bất hủ với “Lũng Tây hành”: Thệ tảo Hung Nô bất cố thân/ Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần/ Khả liên Vô Định hà biên cốt/ Do thị xuân khuê mộng lý nhân (Thề quét Hung Nô chẳng tiếc thân/ Bụi Hồ vùi xác mấy ngàn quân/ Thương thay xương táng bờ Vô Định/ Vợ còn mơ gặp giữa đêm xuân!).
Vi Trang không làm “tuyệt tự” dòng thơ tiễn biệt: Thiên nhai phương thán dị hương thân/ Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân/ Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt/ Tuý tinh hà xứ các triêm cân (Bên trời đất khách đang buồn khổ/ Lại phải bên trời biệt cố nhân/ Từ nay trăng lẻ soi thềm lẻ/ Tỉnh say bao ngả, lệ đầm khăn! ). Ông hoài cổ cũng vậy: Giang vũ phi phi giang thảo tề/ Lục Triều như mộng điểu không đề/ Vô tình tối thị Đài Thành liễu/ Y cựu yên lung thập lý đê (Cỏ tốt, sông mưa, chim kêu mãi/ Lục Triều như một giấc mơ xa/ Đài Thành, dương liễu vô tình quá/ Mười dặm đê dài vẫn thướt tha!).
Đỗ Quang Đình “chia sẻ” với Phạm Lãi rất có ý, có tình: Chinh Ngô bá Việt dĩ công toàn/ Thâm ẩn vân lâm thuỷ học tiên/ Loan hạc tự phiêu Tam Thục giá/ Ba đào do ức Ngũ Hồ thuyền/ Song khê dạ nguyệt minh hàn ngọc/ Chúng lĩnh thu không liễm thuý yên/ Dã hữu biển chu qui khứ hgứng/ Cố hương đông vọng tứ miên miên (Phá Ngô phục Việt đầu danh trạng/ Về chốn rừng mây học phép tiên/ Loan hạc rong chơi miền Tam Thục/ Ngũ Hồ nghe sóng vỗ bên thuyền/ Trăng nước đôi dòng reo tựa ngọc/ Núi nhả sương thu tựa khói lên/ Đi về vui với con thuyền nhỏ/ Nhớ quê, nhìn phía mặt trời lên). Ông cũng rất nhớ Lý Bạch: Sơn trung do hữu Độc Thư đài/ Phong tảo tình lam hoạ chướng khai/ Hoa nguyệt băng hồ y cựu tại/ Thanh Liên cư sĩ kỷ thời lai (Đài sách còn đây, núi vẫn đây/ Gió nổi, sơn lam chướng khí bay/ Thanh Liên cư sĩ bao giờ lại/ Với hoa, với tuyết, với trăng này?).
Lý Xương Phù thương thân, chán đời: Tửu tỉnh hương quan viễn/ Thiều thiều thính lậu chung/ Thự phân lâm ảnh ngoại/ Xuân tận vũ thanh trung/ Điểu quyện giang thôn lộ/ Hoa tàn dã ngạn phong/ Thập niên thành để sự/ Luy mã yếm tây đông (Tỉnh rượu, nhà xa quá/ Giọt đồng hồ đã ngưng/ Sớm mai cây đổ bóng/ Chim bay về bên sông/ Mưa rào, ngày xuân cạn/ Hoa rụng trong gió đồng/ Mười năm gầy thân ngựa/ Mặc lối tây đường đông!).
Thái Thượng ẩn Giả, cuối của Vãn Đường, bất cần thượng hạng: Ngẫu lai tùng thụ hạ/ Cao chẩm thạch đầu miên/ Sơn trung vô lịch nhật/ Hàn tận bất tri niên (Gối đá ngủ bên tùng/ Trời đã thôi không rét/ Tìm đâu lịch giữa rừng?/ Tháng ngày không cần biết!)…
Còn có thể cảm mãi, nói mãi về Đường thi. Hy vọng rằng, những dòng này sẽ như một gã bạn đường hay chuyện tự nguyện đồng hành cùng bạn đến thế giới Đường thi.
Đỗ Trung Lai
Theo http://nhavanvatacpham.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...