Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Tổng quan Thi pháp học Việt Nam

Tổng quan Thi pháp học Việt Nam
Thi pháp học là bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu hình thức nghệ thuật tác phẩm văn chương. Bộ môn này xuất hiện từ thời cổ đại với mục đích dạy phép tắc sáng tác nghệ thuật. Đầu thế kỷ XX, Thi pháp học hiện đại hình thành và chia làm nhiều khuynh hướng: Thi pháp học thể loại, Ngôn ngữ - Hình thức, Cấu trúc - Ký hiệu học, Phê bình Mới, Thi pháp học văn hóa - lịch sử. Thi pháp học ở Việt Nam cũng có đầy đủ các khuynh hướng trên nhưng bước đường phổ biến khá gập ghềnh. Mãi đến cuối thế kỷ XX, nó mới trở thành một phong trào nghiên cứu sâu rộng.
Thi pháp học Việt Nam thời trung đại
Thời trung đại, lý luận văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền lý luận văn chương Trung Quốc. Các nhà Nho coi trọng chức năng xã hội của văn chương nên chỉ quan tâm tới nội dung tư tưởng tác phẩm. Nhiều người không phủ nhận hình thức nhưng họ cũng không chấp nhận một thứ hình thức cực đoan, trống rỗng, không “tải đạo”, “ngôn chí”. Chúng ta có thể thấy quan điểm đó qua các bài tựa sách và sáng tác của Lý Tử Tấn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Trịnh Sâm, Phan Huy Chú, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Công Trứ, Miên Thẩm… Ở Việt Nam thời trung đại, không có những công trình thuần túy Thi pháp học. Thông thường, các nhà Nho viết sách bàn về văn chương, đạo đức nói chung. Trong đó, có vài câu đoạn nói về cách thức sáng tác, như Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Nam sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt… Một số người phát biểu các chủ trương sáng tác qua thơ của mình. Nhà thơ Cao Bá Quát đề cao thuyết tính linh, kêu gọi cần có sự tự do, mới lạ về mặt nội dung. Và trong một chừng mực nào đấy cũng kéo theo sự tự do về hình thức tác phẩm. Quan điểm của ông được nhiều nhà thơ ủng hộ vì họ cũng đang muốn bứt phá khỏi sự ràng buộc của thi pháp cũ.
Mặc dù không có một nền thi pháp theo đúng nghĩa của nó nhưng lục tìm trong di sản lý luận của dân tộc, ta cũng tìm được vài ý kiến về hình thức nghệ thuật văn chương. Chẳng hạn, bàn về thi pháp thể loại, Lê Đình Diên nói: “Thơ là sự biểu hiện của nhạc, thanh là sự hỗ trợ của thơ (…) Sự phân biệt của thanh và thơ, chỉ riêng người hiểu sâu về thi học và nhạc học mới biết được” (Cúc Hiên văn tập). Phạm Đình Toái than phiền là mọi người quá chú trọng luật thơ thất ngôn mà “chưa có ai phân tích thể cách của tác phẩm lục bát để nêu lên cách kết cấu khéo léo của người xưa, đồng thời làm cho tính chất tinh xảo của quốc âm ta được nổi bật”. Các nhà thơ trung đại cũng quan tâm lựa chọn những câu văn hay, những từ độc đáo. Lê Thánh Tông khen Khách văn chương của hội Tao Đàn: “Những từ mạnh mẽ đến át cả sông Ngân Hà / Những câu kỳ diệu khiến quỷ thần phải khóc”. Lê Hữu Kiều cũng bàn về cách thức dùng câu: “Làm thơ nếu lập ý không linh hoạt sẽ mắc vào bệnh câu nệ; luyện cách điệu không trang nhã sẽ mắc vào bệnh quê mùa; đặt câu không sắc sảo sẽ mắc vào bệnh thô lỗ, kém cỏi; dùng chữ không có âm hưởng sẽ mắc vào bệnh tầm thường”. Các nhà thơ trung đại cũng thường sử dụng những tín hiệu nghệ thuật như tùng, trúc, mai, trăng, gió, hoa, chim đỗ quyên, lá ngô đồng… Nguyễn Cư Trinh từng khen những câu thơ khó giải mã: “Một chữ mà nghĩ ba năm mới được, giảng ngàn năm chưa xong”. Thể thơ Đường luật có cấu trúc rất phức tạp nên nhiều người chủ trương một cấu trúc mở cho thơ. Nhữ Bá Sĩ viết: “Loại văn chương tột bậc của thiên hạ, đúng là không ở trong cái giới hạn đóng mở kết cấu, nhưng không đóng mở kết cấu thì cũng không thành văn chương” (Phi điểu nguyên âm). Có thể nói, những quan điểm đó cũng gần giống với chủ trương của Hình thức luận, Cấu trúc luận và Ký hiệu học sau này.
Thi pháp học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Những cuốn sách có màu sắc Thi pháp học đầu tiên ở Việt Nam được xuất bản ở Nam Kỳ. Đó là Thi pháp nhập môn (bàn về thơ Annamite) của Thế Tải, Trương Minh Ký do nhà in thương mãi Rey ở Saigon xuất bản năm 1898. Cuốn sách này tương đối mỏng, dạy luật thơ thất ngôn qua những bài miêu tả các sự vật hiện tượng trong thiên nhiên có kèm theo tranh vẽ minh họa. Tiếp theo là cuốn Thi pháp diễn giải: chỉ phép tắc làm thơ, truyện, ngâm, phú… do nhà in Bùi Văn Nhẫn ở Bến Tre xuất bản năm 1932. Hai tác phẩm này chuyên dạy cách thức sáng tác văn chương, tức là theo quan điểm của Thi pháp học thể loại.
Tuy nhiên, nếu nói đến những công trình mang tính học thuật về thơ ca thì phải kể đến: Việt Hán văn khảo(Phan Kế Bính), Quốc văn cụ thể (Bùi Kỷ), Việt Nam văn học (Ngô Tất Tố), Văn học Việt Nam (Dương Quảng Hàm)… Trong cuốn Chương Dân thi thoại (1936), Phan Khôi có bàn về phép làm thơ: cú pháp, dụng điển, các thể phú, tỉ, hứng… Ngoài ra, ông còn so sánh những chỗ khác nhau giữa thi luật thơ Việt Nam và Trung Quốc. Bên cạnh những công trình bàn về luật thơ cổ điển, còn có một số chuyên luận bàn về luật thơ mới, như: Khảo luận luật thơ mới (1940) của Lam Giang, Việt Nam thi ca luận (1942) và Nghệ thuật thi ca (1945) của Lương Đức Thiệp…Trong tập phê bình Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh & Hoài Chân đã dùng một bút pháp phê bình rất mới. Hai ông có chú trọng phân tích hình thức nghệ thuật, tuy nhiên, đây cũng chưa hẳn là công trình chuyên về Thi pháp học.
Bên cạnh những công trình bàn về thể loại thơ, còn có nhiều công trình bàn về thể loại truyện, đặc biệt là tiểu thuyết hiện đại. Chúng ta có thể thấy một bức tranh đa dạng về lý luận thể loại tiểu thuyết trước 1945 qua các tuyển tập: Khảo về tiểu thuyết - những ý kiến, quan niệm về tiểu thuyết trước 1945 (Vương Trí Nhàn biên soạn, 1996),Bàn về tiểu thuyết (Bùi Việt Thắng biên soạn, 2000). Phạm Quỳnh có nhiều bài báo Bàn về tiểu thuyếtđăng trên tạp chí Nam Phong năm 1921, sau này, được in lại trong tập Thượng Chi văn tập (1943). Trong Phê bình và cảo luận (1933), Thiếu Sơn có dành một mục bàn về tiểu thuyết. Thạch Lam có tham gia tranh luận về chức năng của tiểu thuyết. Những bài này đăng trên báo Ngày nay, Chủ nhật trong các năm 1939 - 1940, sau này in lại trong tập Theo giòng (1962). Vũ Bằng cũng có nhiều bài bàn về thể loại tiểu thuyết đăng trên báoTrung - Bắc chủ nhật, in lại trong chuyên luận Khảo về tiểu thuyết (1955). Nhưng có lẽ, công trình khảo cứu đồ sộ nhất về văn xuôi là Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, gồm 4 tập, in lần đầu năm 1942. Cuốn sách có nhiều trang lý luận về thể loại tiểu thuyết. Vũ Ngọc Phan không lấy tiểu sử tác giả và bối cảnh sáng tác để suy ra giá trị tác phẩm. Điều đó làm cho công trình của ông gần gũi với Thi pháp học.
Có thể nói, giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX chỉ là buổi giao thời giữa Thi pháp học cổ điển và Thi pháp học hiện đại. Khuynh hướng nghiên cứu luật thơ cổ điển để dạy cách sáng tác vẫn còn thịnh hành. Nhiều trí thức Tây học đã thoát khỏi sự chi phối của thi học Trung Quốc nhưng cũng chưa ứng dụng triệt để các học thuyết phương Tây hiện đại trong nghiên cứu văn chương dân tộc. Tuy nhiên, giai đoạn này đã tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng một nền Thi pháp học hiện đại ở giai đoạn sau.
Thi pháp học Việt Nam thời kỳ 1955 - 1975
Trong thời kỳ 1955 - 1975, nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền với hai nền lý luận phê bình khác nhau. Ở miền Nam, các nhà Thi pháp học vẫn bảo lưu, phát huy các thành quả lý luận nghệ thuật của giai đoạn trước. Mặt khác, điều kiện giao lưu mở rộng, các nhà khoa học miền Nam đã nhanh chóng tiếp thu những lý thuyết nghệ thuật từ Âu - Mỹ để làm giàu cho nền lý luận nghệ thuật nước mình. Hầu hết các khuynh hướng Thi pháp học trên thế giới đều có mặt ở miền Nam.
Khuynh hướng Thi pháp học thể loại vẫn tiếp tục phát triển. Diên Hương có hai cuốn sách nói về luật thơ cổ điển là Thi pháp (1958 - 1960) và Phép làm thơ (1963). Số lượng công trình nghiên cứu thi pháp thơ trung đại ít dần, nhường chỗ cho những công trình nghiên cứu các thể loại văn chương hiện đại. Có thể kể một vài công trình lý luận về thơ như: Tìm hiểu thơ tự do (nhiều tác giả, 1956), Nguyên tắc sáng tác thơ ca (Vũ Văn Thanh, 1959), Luật thơ mới (Minh Huy, 1961), Quan niệm và sáng tác thơ (Đoàn Thêm, 1962), Thi ca và tư tưởng (Bùi Giáng, 1969), Từ thơ Mới đến thơ Tự do (Bằng Giang, 1969), Kỹ thuật sáng tác thơ (Trương Linh Tử)… Thể loại tiểu thuyết hiện đại vẫn tiếp tục được nghiên cứu: Tiểu thuyết hiện đại (Tràng Thiên, 1963), Viết và đọc tiểu thuyết (Nhất Linh viết năm 1960, in năm 1969), Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (Nguyễn Văn Trung, 1972), Văn học và tiểu thuyết (Doãn Quốc Sỹ, 1972). Và các bài báo như: Hiện hữu của tiểu thuyết (Lê Tuyên, 1961), Nghệ thuật và bản chất của tiểu thuyết, Virginia Woolf và nghệ thuật viết tiểu thuyết (Hoàng Vũ Đức Vân, 1964), Tiểu thuyết hiện sinh là gì ? (Đỗ Ngọc, 1972)… Những ý kiến về các thể loại thơ và truyện cũng được tập hợp trong các sách: Thảo luận về văn nghệ tiền chiến, về nhân vật trong tiểu thuyết, về thơ… (NXB Sáng tạo, 1965),Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta (NXB Sóng, 1974). Một số báo mở diễn đàn trao đổi về các thể loại văn xuôi. Như tạp chí Văn nghệ (1963), tạp chí Khởi hành (1969), tạp chí Bách khoa…
 Khuynh hướng nghiên cứu hình thức - ngôn ngữ cũng được chú trọng. Những lý thuyết Hình thức luận của nhà Ngôn ngữ học người Mỹ gốc Nga R. Jakobson cũng được giới thiệu ở Việt Nam qua các bài viết của Đặng Tiến:Thơ là gì ? (1973), Roman Jakobson và Thi pháp. Sau này, ông tập hợp một số bài viết về Thi pháp để in lại trong Thơ - thi pháp và chân dung (2009). Ta có thể tìm thấy những quan điểm hiện đại về ngôn ngữ văn chương qua các công trình: Ngôn ngữ và thân xác (Nguyễn Văn Trung, 1967), Vấn đề ngôn ngữ văn chương(Nguyễn Quốc Trụ, 1967), Samuel Beckett và thẩm quyền của ngôn ngữ (Huỳnh Phan Anh, 1969), Khái niệm về ngôn ngữ và thi pháp Anh (Đỗ Khánh Hoan, 1970), Một suy nghĩ về việc làm thơ (Phú Hưng, 1971), Quan niệm mới về tiểu thuyết: Chữ đẻ ra chữ, Quan niệm mới về tư tưởng phần ý thức mới về ngôn ngữ thi ca (Bùi Hữu Sũng, 1972), Đi tìm tác phẩm văn chương (1972), Văn học và Ngữ học (Bùi Đức Tịnh, 1974)…
Những năm 1960, ở châu Âu nổi lên phong trào nghiên cứu Ký hiệu học, Cấu trúc luận và Phê bình Mới. Các lý thuyết đó cũng sớm được giới thiệu ở Việt Nam qua các bài viết của Trần Thiện Đạo về Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc; Lê Tuyên: Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh (1959); Trần Nhật Tân: Đi tìm tâm thức ca dao trên trục tọa độ không thời (1967); Trần Thái Đỉnh: Quan niệm cơ cấu trong các khoa học nhân văn(1968), Thuyết cơ cấu và phê bình văn học (1969); Trần Ngọc Ninh: Ý nghĩa và cơ cấu truyện Kiều (1972); Phạm Hữu Lai: Ferdinand de Saussure và ngữ học cơ cấu (1974); Thạch Chương: Nhịp cầu bắc qua bờ bên kia thế giới, Phạm Văn Đang: Các thuyết văn học (1975)…
Một số nguyên lý của Phê bình Mới cũng được bàn luận ở Việt Nam. Nguyễn Sĩ Tếcó bài giới thiệu Phê bình Mới (1967). Trong Vũ trụ thơ (1972), Đặng Tiến chủ trương một lối phê bình bản thể, “chỉ tìm hiểu tác phẩm, còn việc tìm hiểu tác giả thực hiện tác phẩm ra sao, là việc làm của người viết Văn học sử”. Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều người ủng hộ Phê bình Mới Âu - Mỹ nhưng không tạo thành một phong trào. Khái niệm “phê bình mới” thường được dùng để chỉ một lối phê bình khác với “phê bình cũ”. Trong bài Tìm hiểu thuyết cơ cấu (1967), Trần Thiện Đạo nhận xét: “Việt Nam cũng có một vài người manh nha áp dụng một thứ phê bình khác trước, nhưng còn ở trong trạng thái sơ khai và chưa được đặt tên cúng cơm, mà chúng tôi xin đề nghị cứ gọi một cách đương nhiên là Phê bình Mới”.
Người có công đầu trong việc phổ biến Thi pháp học ở miền Nam là Nguyễn Văn Trung. Ông giới thiệu đầy đủ các trường phái Thi pháp học. Về Thi pháp thể loại, ông có Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (1972). Về Cấu trúc - Ký hiệu học, có Đặt lại vấn đề văn minh với Levi-Strauss (đăng ba kỳ liên tiếp trên tạp chí Bách Khoa năm 1966),Tìm hiểu cơ cấu luận như một phương pháp, một tiểu thuyết và đặt vấn đề tiếp thu (1969)… Về khuynh hướng hình thức - ngôn ngữ, ông có Lược khảo văn học (1962), Ngôn ngữ và thân xác (1967). Trong đó, ông đề cao lối “phê bình bút pháp”, coi trọng phân tích “hình thức văn chương”. Sau đó, ông có nhiều bài giới thiệu Phê bình Mới như: Những quan niệm Phê bình Mới (1968), Phê bình Mới, phê bình cũ (1972)…
Ở miền Bắc trong giai đoạn 1955 - 1975, giới nghiên cứu phê bình thường đặt tác phẩm vào môi trường lịch sử xã hội để suy ra ý nghĩa tác phẩm. Họ rất coi trọng nội dung tư tưởng nên ít bàn tới hình thức nghệ thuật ngôn từ. Mặc dù dị ứng với chủ nghĩa hình thức, nhưng ở miền Bắc vẫn có một số công trình mang tính tham khảo về hình thức - kết cấu văn chương như: Hình thức của văn học (Sơn Tùng, 1960), Kết cấu của tác phẩm văn học(Thành Duy, 1961), Các phương pháp nghệ thuật (Lê Đình Kỵ, 1962). Người ta cũng biết đến một vài nguyên lý về Cấu trúc luận, Ký hiệu học và Phê bình Mới qua các bài viết: Mấy nét về tình hình ngành nghiên cứu văn học Liên Xô chống chủ nghĩa cấu trúc (Lê Sơn, 1972), Về cái gọi là “Phê bình cơ cấu” ở Sài Gòn (Huỳnh Vân, 1974)… Người am hiểu về lĩnh vực này nhiều nhất là Hoàng Trinh. Năm 1971, ông ra mắt chuyên luận Phương Tây văn học và con người. Đến năm 1972, ông công bố một loạt bài về chủ nghĩa cấu trúc như: Cấu trúc trong phê bình văn học, Bước đầu phê phán chủ nghĩa cấu trúc trong phê bình văn học, Chủ nghĩa cấu trúc, một biến dạng của triết học duy tâm hiện đại…
Công việc nguyên cứu thể loại vẫn tiếp tục phát triển. Nhiều giáo trình có dành chương mục nói về các thể loại văn chương như: Nguyên lí văn học (1959) của Nguyễn Lương Ngọc, Cơ sở lí luận văn học (tập III, 1970) của Trần Văn Bính, Nguyễn Xuân Nam, Hà Minh Đức. Nhà văn Nguyễn Đình Thiviết chuyên luận Công việc của người viết tiểu thuyết (1964) để truyền đạt kinh nghiệm sáng tác cho các nhà văn trẻ. Phan Cự Đệ có chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, gồm hai tập (1974 - 1975). Trong đó, có bàn về lịch sử phát triển của thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, công trình gần gũi với Thi pháp học thể loại hơn cả là Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại (1971) của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức. Lần đầu tiên ở miền Bắc, thuật ngữ “thi pháp” được nhắc đến trong bài Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều (1974) của Nguyễn Văn Hoàn…
Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình dịch thuật cũng giúp bạn đọc hiểu biết thêm những vấn đề liên quan tới Thi pháp học. Năm 1958, NXB Sự thật có giới thiệu cuốn sách Nội dung và hình thức trong nghệ thuật(V. Vanslov). Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương của ông tổ Ký hiệu học F. Saussure cũng được Cao Xuân Hạo dịch và xuất bản vào năm 1973. Cuốn Nghệ thuật thơ ca của Aristote được in năm 1964 nhờ công của các dịch giả: Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy… Vào khoảng năm 1966, Phan Ngọc bắt đầu dịch Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp với sự giúp sức của Cao Xuân Huy, Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu. Tuy nhiên, mãi đến 30 năm sau, nó mới được công bố rộng rãi.
Thi pháp học Việt Nam thời kỳ 1975 - 1995
Sau 1975, Việt Nam được thống nhất, cả nước cùng chung một hệ hình sáng tác và nghiên cứu. Lý thuyết Nhận thức luận và phương pháp Xã hội học vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu văn chương. Tuy nhiên, nhiều quy định về văn hóa nghệ thuật được nới lỏng hơn trước. Một số nhà văn cách mạng chủ trương đổi mới phương pháp sáng tác. Tư duy nghiên cứu, phê bình cũng phải thay đổi cho thích nghi với tình hình mới. Một số nhà nghiên cứu đã mạnh dạn giới thiệu các thành quả lý luận văn chương nước ngoài. Những người mở đường này thường là các nhà nghiên cứu, giảng viên các bộ môn: Ngôn ngữ học, Lý luận văn chương, Lịch sử Văn chương phương Tây, Văn chương dân gian và Văn chương Việt Nam trung đại.
Cuốn sách đầu tiên về Thi pháp học ở Việt Nam sau 1975 thuộc chuyên ngành nghiên cứu Văn chương dân gian. Đó là cuốn Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp (1977) của nhà Ngôn ngữ học Nguyễn Thái Hòa. Sau đó, ông còn công bố thêm một số công trình rất có giá trị về mặt Thi pháp như: Những vấn đề thi pháp của truyện (2000), Từ điển Tu từ - Phong cách học - Thi pháp học (2006)… Nhiều người cũng sử dụng thuật ngữ “thi pháp” trong nghiên cứu văn chương dân gian. Như Lê Kinh Khiên (Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian, văn học viết, 1980), Chu Xuân Diên (Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian, 1981), Vương Trí Nhàn(Chung quanh khái niệm “thi pháp” trong khoa nghiên cứu văn học xô - viết hiện nay, 1981)…
Hoàng Trinh vẫn tiếp tục cho ra mắt các công trình nghiên cứu văn chương phương Tây. Tuy nhiên, ông đã có cái nhìn cởi mở đối với Hình thức luận, Cấu trúc luận, Ký hiệu học và Phê bình Mới. Có thể thấy điều đó qua các công trình: Ký hiệu - nghĩa và phê bình văn học (1979), Thơ và hình thức thơ (1983), Thi pháp học và thế giới vi mô của văn học (1991),Thi pháp của Đôi-tôi-i-ep-ski dưới con mắt của Mi-khai Ba-khơ-tin (1991), Từ Ký hiệu học đến Thi pháp học (1992), A.S. Pushkin dưới con mắt R. Jakobson” (2001)… Có thể nói, Hoàng Trinh là người đã ươm mầm cho Thi pháp học ở Việt Nam.
 Đỗ Đức Hiểu cũng quan tâm nghiên cứu văn chương phương Tây nên sớm tiếp cận với Thi pháp học. Năm 1992, ông công bố: Một số vấn đề Thi pháp học. Thi pháp là gì ?; Thi pháp học. Thi pháp thơ; Về Bakhtine. Ông giới thiệu Phê bình Mới trong văn học Pháp (1995) và kêu gọi Đổi mới phê bình văn học (1993), Đổi mới đọc và bình văn (1998)…Nhiều bài viết của ông được tập hợp trong Thi pháp hiện đại (2000). Đỗ Đức Hiểu là người đầu tiên ở Việt Nam đã vận dụng thành công những lý thuyết Ký hiệu học vào thực tiễn phê bình văn chương Việt Nam.
Trong thời kỳ 1975 - 1985 còn có nhiều nhà khoa học khác góp phần mở đường cho Thi pháp học. Đó là Nguyễn Lai: Chung quanh vấn đề ký hiệu, nghĩa và phê bình văn học (1982), Tìm hiểu sự chuyển hóa từ ngữ sang mã hình tượng (1996), Ngôn ngữ và sáng tạo văn học (1998); Bùi Công Hùng: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca (1983); Huy Liên: Tìm hiểu một vài đặc điểm về thi pháp Sôlôkhôp trong bộ tiểu thuyết sử thi “Sông Đông êm đềm” (1984); Nguyễn Kim Đính: Một số vấn đề về thi pháp của nghệ thuật ngôn từ (1985), M. M. Ba-khơ-tin và vấn đề ngôn từ văn chương (1991), Về khuynh hướng nghiên cứu văn chương tự tại (1993), Các nhà ngữ văn Nga và ký hiệu học văn chương (1995); Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học (1995); Nguyễn Phan Cảnh:  Ngôn ngữ thơ (1985), Phan Cự Đệ: Phương pháp cấu trúc luận và phương pháp biện chứng (1985)…
Từ năm 1987, Thi pháp học Việt Nam được đánh một dấu mốc quan trọng bởi sự ra đời của cuốn sách Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử (NXB Tác phẩm mới, 1987). Trần Đình Sử đã tân trang thơ Tố Hữu bằng cái nhìn “thi pháp”. Mọi người nhận thấy rằng, phương pháp này không “lệch chuẩn”. Nó chỉ mới lạ ở chỗ gia tăng việc phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm. Chuyên luận của Trần Đình Sử ra đời đúng vào giai đoạn đầu Đổi mới nên công cuộc bành trướng Thi pháp học diễn ra rất thuận lợi. Sau đó, ông tiếp tục cho ra đời hàng loạt công trình khác như: Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học (1998), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999), Thi pháp Truyện Kiều (2002)… Có thể thấy phần nào chân dung của chủ tướng Trần Đình Sử qua tuyển tập Thi pháp học ở Việt Nam (2010).
Năm 1989, có hai bài viết hậu thuẫn cho Trần Đình Sử là Một hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng: về “Thi pháp thơ Tố Hữu” chuyên luận của Trần Đình Sử (Lã Nguyên), Thi pháp học và thi pháp thơ Tố Hữu (Đỗ Lai Thúy). Nguyễn Xuân Kính cũng tuyên bố: Thi pháp học đang mở ra những chân trời rộng lớn cho ngành nghiên cứu văn học dân gian (1989). Sau đó, ông tiếp tục cày xới Thi pháp học trên cánh đồng văn chương dân gian và đạt thành quả cao với Thi pháp ca dao (2007). Ngoài ra, trong giai đoạn 1975 - 1995, còn có nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có công mở đường cho Thi pháp học phổ biến ở Việt Nam như: Lê Ngọc Trà (Lý luận và văn học, 1990), Hoàng Ngọc Hiến (Thi pháp của truyện, 1991), Nguyễn Hải Hà (Thi pháp tiểu thuyết L. Tônxtôi, 1992), Đặng Anh Đào(Sự tự do của tiểu thuyết, một khía cạnh thi pháp, 1993)… Ngoài ra còn phải kể đến công lao của những nhà nghiên cứu khác như: Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Mạnh Tần, Lê Huy Tiêu, Phùng Văn Tửu, Trần Hinh, Trần Đức Ngôn, Nguyễn Tri Niên, Tầm Dương, Hồ Sĩ Hiệp, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Trường Lịch, Trần Thanh Đạm, Phạm Quang Long, Tăng Kim Ngân, Hà Văn Cầu, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Đức Dân…
Nhìn từ góc độ Thi pháp học, giai đoạn 1975 - 1995 là thời kỳ hợp nhất giữa hai nền lý luận văn chương miền Bắc và miền Nam. Nhiều nhà lý luận phê bình Marxist đã mở rộng tầm nhìn sang phương Tây, chắt lọc những tinh hoa khoa học nước ngoài để góp phần đổi mới đất nước. Tuy nhiên, trong thời bao cấp, việc phổ biến Thi pháp học không phải hoàn toàn thuận lợi. Sau 1986, tình hình nghiên cứu Thi pháp học được chú ý nhiều hơn. Nhưng nó chỉ được xem như là bước đệm để chuẩn bị cho một mùa bội thu Thi pháp học giai đoạn sau.
Thi pháp học Việt Nam thời kỳ 1995 - 2015
Sau 1995, Thi pháp học ở Việt Nam mới trở thành một trong những hướng nghiên cứu chủ lực và phát triển sôi động hơn bao giờ hết. Thi pháp học trở thành một nỗi ám ảnh lớn đối với nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn chương. Các công trình nghiên cứu, bài báo, luận văn, luận án đầy những thuật ngữ: thi pháp, điểm nhìn, cấu trúc, hình thức nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người… Mỗi người hiểu thi pháp theo một kiểu khác nhau và thỉnh thoảng cũng tạo ra nhiều cuộc tranh luận ngầm, tranh luận công khai trên báo chí, internet và các cuộc hội thảo. Tuy nhiên, cũng không ít người phản ứng “mốt” Thi pháp học và gọi đây là “nạn dịch thi pháp” ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu, phê bình Thi pháp học có số lượng rất lớn và khó có thể thống kê hết. Chúng ta chỉ có thể kể ra một vài tác phẩm tiêu biểu mà thôi. Ngoài những tác phẩm đã nêu trên đây, có thể chia các công trình Thi pháp học ở Việt Nam sau 1995 thành các nhóm sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu văn chương dân gian: Đầu tiên, phải kể đến những công trình nghiên cứu vềThi pháp văn học dân gian của Hà Bình Trị (1999), Lê Trường Phát (2000), Nguyễn Xuân Đức (2003), Trần Hoàng (2005). Một số nhà nghiên cứu đã vận dụng hình thái học của V. Propp vào nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam như Trần Đức Ngôn (1991), Nguyễn Xuân Đức (2001), Đỗ Bình Trị (2006). Có một số công trình nghiên cứu thi pháp từng thể loại riêng biệt như: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam (Phan Thị Đào, 1999),Truyện thơ Tày: Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại (Vũ Anh Tuấn, 2004), Thi pháp học với sử thi(Phan Đăng Nhật, 2005)… Ngoài ra, còn có những công trình đi vào phân tích vẻ đẹp hình thức nghệ thuật của văn học dân gian như: Những thế giới nghệ thuật ca dao (Phạm Thu Yến, 1998), Thời gian nghệ thuật trong ca dao dân ca trữ tình (Bùi Mạnh Nhị, 1998), Tính hai mặt của không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích (Nguyễn Việt Hùng, 2005)…
Nhóm các công trình nghiên cứu văn chương Việt Nam trung đại: Trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu bao quát về thi pháp văn chương Việt Nam trung đại: Vài nét về thuyết “tính linh” trong tư tưởng thi học Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Thanh Tùng, 2008), Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ gócnhìn thể loại (Lã Nhâm Thìn, 2009)… Tiếp theo là những công trình nghiên cứu chuyên về từng thể loại như: Kết cấu truyện Nôm (Đinh Thị Khang, 2002), Giới thiệu các luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Hoàng Xuân Họa, 2004),Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam (Trần Nho Thìn, 2006), Truyện Nôm: Lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (Kiều Thu Hoạch, 2007), Truyện thơ Nôm, những nghiên cứu hình thái học (Nguyễn Phong Nam, 2008),Tiếp cận thơ Đường luật Việt Nam sau thế kỷ XIX từ góc nhìn thể loại và thi pháp (Lê Đình Sơn, 2008), Thi pháp cốt truyện truyện thơ Nôm và truyện Kiều (Nguyễn Thị Nhàn, 2009)… Và các công trình nghiên cứu về một tác giả, tác phẩm như: Không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du (Lê Thu Yến, 2000), Loại hình tác phẩm “Thiền uyển tập anh” (Nguyễn Hữu Sơn, 2002), Thi pháp thơ Tú Xương (Hồ Giang Long, 2006)…
Nhóm các công trình nghiên cứu văn chương Việt Nam hiện đại: Trong số các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Nam Cao là người được nghiên cứu từ góc độ thi pháp nhiều nhất. Đó là các công trình của Phạm Quang Long, Nguyễn Hoa Bằng, Vũ Thăng, Đào Duy Hiệp, Trần Đăng Xuyền… Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận từ góc độ thi pháp như: Bùi Văn Tiếng, Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Thành… Ở mảng thơ, có các công trình nghiên cứu về thi pháp thơ Xuân Diệu của Lý Hoài Thu, Lê Quang Hưng, Lê Tiến Dũng… Những công trình nghiên cứu về thi pháp thơ Huy Cận của Trần Khánh Thành, thi pháp thơ Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà… Trong mảng nghiên cứu thi pháp văn chương Việt Nam sau 1945, đáng chú ý có Diện mạo văn học Việt Nam 1945 - 1975 nhìn từ góc độ thi pháp (Lã Nguyên, 1995), Một số đặc điểm thi pháp thơ kháng chiến (1946 - 1954) (Vũ Tuấn Anh, 1996), Về một đặc trưng của thi pháp thơ Việt Nam (1945 - 1995) (Vũ Văn Sĩ, 1999), Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự (Lê Thị Tuyết Hạnh, 2003),Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp - Chân dung (Phan Cự Đệ chủ biên, 2007), Thi pháp học ở Việt Nam(Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn, 2010). Về mảng thi pháp kịch, có Phong cách và thi pháp trong nghệ thuật cải lương (Hà Văn Cầu, 1995), Về thi pháp kịch (Tất Thắng, 2000)… Trong lĩnh vực nghiên cứu văn chương Việt Nam hiện đại còn có các công trình của Nguyễn Nguyên Tản, Mã Giang Lân, Nguyễn Thanh Tú, Hoàng Trọng Quyền… Ngoài ra, còn có rất nhiều bài báo, luận văn, luận án nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam hiện đại….
Nhóm các công trình nghiên cứu văn chương nước ngoài: Trước hết, phải kể đến các công trình nghiên cứu văn chương Nga – Xoviet: Thi pháp truyện ngắn N. V. Gogon (Nguyễn Huy Hoàng, 2001), Những vấn đề thi pháp kịch Chekhov (Hoàng Sự, 2002), Thi pháp nhân vật trong “Sông Đông êm đềm” của M. Sôlôkhốp (Nguyễn Thị Vượng, 2007)… Tiếp theo là các công trình nghiên cứu về văn học Tây Âu như: Hiệu quả nghệ thuật của không - thời gian trong tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” của G. Mackết (Nguyễn Trung Đức, 1995), Văn học Đức chống phát xít: những vấn đề mỹ học và thi pháp (Lương Ngọc Bính, 1995), Kỹ thuật miêu tả thời gian và không gian trong bi kịch của Racine (Nguyễn Văn Chính, 1997), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernetst Hemingway (Đào Ngọc Chương, 2003). Và các công trình của Đặng Thị Hạnh, Trương Đăng Dung, Bửu Nam, Lê Nguyên Cẩn, Lê Văn Mẫu, Nguyễn Thị Như Trang… Ở mảng văn học châu Á, rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Thi pháp thơ Đường, tiêu biểu là Nguyễn Thị Bích Hải, Lương Duy Thứ, Nguyễn Khắc Phi & Trần Đình Sử, Quách Tấn, Nguyễn Đình Phức, Hồ Sĩ Hiệp… Ở mảng văn học Ấn Độ, có hai công trình tiêu biểu là Thi pháp học cổ điển Ấn Độ (Phan Thu Hiền, 2006), Đặc trưng thi pháp nhân vật trong sử thi Ramayana (Nguyễn Thị Mai Liên, 2014…
         Nhóm các công trình lý thuyết thi pháp: Ở Việt Nam, rất ít công trình chuyên sâu về lý thuyết Thi pháp học. Phần lớn là các chuyên luận bàn về lý thuyết văn chương nói chung, trong đó có dành một chương mục nói về Thi pháp học. Chẳng hạn  như: Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX (Phương Lựu, 2001), Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nguyễn Văn Dân, 2004). Và các bài báo: M. Bakhtin và lí thuyết về giọng điệu đa thanh trong tiểu thuyết (Nguyễn Đăng Điệp, 1996), Những ngộ nhận về thi pháp và phương pháp trong nghiên cứu văn học hiện nay (Phan Trọng Thưởng, 2002), Phương pháp phê bình Thi pháp học (Đỗ Lai Thúy, 2005), Kết cấu tác phẩm văn học dưới ánh sáng cấu trúc luận (Lê Thời Tân, 2009), Hình thức và ý nghĩa của hình thức trong sáng tạo nghệ thuật (Lê Ngọc Trà, 2013) …
Về các công trình lịch sử Thi pháp học, có: Trường phái hình thức Nga (Huỳnh Như Phương, 2007), Lược sử Thi pháp học Việt Nam (Phạm Ngọc Hiền, 2008),Toàn cảnh Thi pháp học (Trần Đình Sử, 2010), Thi pháp học - lịch sử và vấn đề (Đỗ Ngọc Thạch, 2011). Và các tuyển tập nhiều tác giả: Thi pháp học ở Việt Nam (2010), Phê bình văn học Việt Nam 1975 - 2005 (2012), Lịch sử lí luận phê bình văn học Việt Nam (2013). Ngoài ra, còn có các công trình khác của Nguyễn Quốc Khánh, Hiếu Hà, Nguyễn Văn Thuấn, Ngô Tự Lập, Cao Kim Lan…
Bên cạnh những công trình Thi pháp học trong nước, còn có những công trình lý luận phê bình của các nhà nghiên cứu người Việt ở nước ngoài. Tiêu biểu là Nguyễn Hưng Quốc: Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam(1988), Tóm lược các lý thuyết phê bình văn học chính từ đầu thế kỷ XX đến nay; Thụy Khuê: Cấu trúc thơ(1995), Phê bình văn học thế kỷ XX; Bùi Vĩnh Phúc: Trịnh Công Sơn: ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật(2013). Và các công trình của Đặng Tiến, Đoàn Nhã Văn, Đoàn Cầm Thi… Những đóng góp của họ được ghi nhận trong bài viết Khuynh hướng phê bình Thi pháp trong phê bình văn học của người Việt Nam ở nước ngoài(Mai Anh Tuấn).
Nhóm các công trình dịch thuật. Do hoàn cảnh lịch sử nên đa số các nhà Thi pháp học Việt Nam được tiếp xúc nhiều với nền Thi pháp học Liên Xô. Thậm chí, nhiều công trình của phương Tây cũng vào Việt Nam qua con đường nước Nga mới. Những nhà Thi pháp học Nga được nhắc đến nhiều nhất là R. Jakovson, M. Bakhtin, V.Ia Propp, M.B. Khrapchenco, E.M. Meletinski, Iu. Lotman… Bạn đọc Việt Nam cũng được tiếp xúc với một số công trình của các nhà Thi pháp học Âu - Mỹ như: T. Todorov, J. P. Sartre, R. Wellek, A.Warren R. Barthes, A. R. Grillet, I. P. Ilin, M. Kundera… Các công trình của M. Bakhtin được dịch sang tiếng Việt khá nhiều, tiêu biểu là: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch, 1992), Những vấn đề thi pháp Dostoevski (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn dịch, 1993). Ngoài ra còn có: V.Ia Propp - Tuyển tập (Chu Xuân Diên dịch, 2003 - 2004), Nghệ thuật như là thủ pháp: lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga (Đỗ Lai Thúy biên dịch, 2001), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học (Trịnh Bá Đĩnh biên dịch, 2002), Lý luận phê bình văn học thế giới thế kỷ XX (Lộc Phương Thủy chủ biên, 2007), Thi học và Ngữ học, Lý luận văn học phương Tây hiện đại (Trần Duy Châu biên dịch, 2008), Những vấn đề lý luận văn học phương Tây hiện đại (Trần Huyền Sâm biên dịch, 2010), Lý luận văn học, những vấn đề hiện đại (Lã Nguyên biên dịch, 2012)…
Đội ngũ dịch giả Thi pháp học ở Việt Nam cũng khá hùng hậu: Phan Ngọc, Từ Thị Loan, Nguyễn Minh Hoàng, Nguyên Ngọc, Trần Nho Thìn, Song Mộc, Đặng Anh Đào, Trần Hồng Vân, Hoài Anh, Lê Sơn, Phan Luân, Duy Lập, Ngân Xuyên, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Kim Đính, Phùng Văn Tửu…
 Nhóm các công trình Thi pháp học trong nhà trường. Trong nhà trường Việt Nam, có một thời, người ta chưa chú trọng phân tích hình thức nghệ thuật. Từ những năm 1990, Thi pháp học bắt đầu giảng dạy ở bậc Đại học và sau Đại học. Nó đã tạo ra một phong trào nghiên cứu Thi pháp rất sâu rộng trong giới đại học. Bước sang đầu thế kỷ XXI, “hình thức nghệ thuật” đã được chú ý trong giờ dạy học Văn. Từ năm 2007, bộ sách giáo khoa Ngữ văn THPT (nâng cao, do Trần Đình Sử chủ biên) đã góp phần phổ biến những kiến thức Thi pháp học. Có rất nhiều bài viết phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường từ góc độ Thi pháp học. Do dung lượng bài viết có hạn, chúng tôi chỉ nêu một vài công trình mang tính lý luận như: Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (Nguyễn Thị Dư Khánh, 1995), Thi pháp học thể loại và việc đổi mới dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông (Phạm Thị Thu Hương, 2006), Mấy vấn đề dạy học Văn theo hướng Thi pháp học (Phạm Ngọc Hiền, 2009), Thi pháp trong văn học thiếu nhi (Bùi Thanh Truyền chủ biên, 2009)…
Con đường đi của Thi pháp học ở Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm. Trên mỗi chặng đường phát triển, nó dung nạp thêm nhiều sắc màu Thi pháp học thế giới để làm giàu cho mình. Sau thời kỳ rụt rè, dò dẫm, sau những năm tháng tranh cãi ồn ào, cuối cùng, Thi pháp học đã tìm được chỗ đứng vững chãi của mình. Đôi khi, nó thiên biến vạn hóa, khoác nhiều bộ cánh khác nhau của Ký hiệu học, Phong cách học, Tự sự học, Hình thức luận, Cấu trúc luận, nghệ thuật diễn ngôn… Nó dung nạp nhiều ngành khoa học và cũng tập hợp nhiều nhà khoa học đến từ nhiều trường phái khác nhau. Với một đội ngũ Thi pháp học đông đảo và ham mở lòng chào đón những luồng gió mới, chúng ta hi vọng sẽ có những mùa bội thu trên địa hạt Thi pháp học Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Trịnh Bá Đĩnh (chủ biên) (2013), Lịch sử lí luận phê bình văn học Việt Nam, NXB KHXH,
- Cao Hồng (2011), Một chặng đường đổi mới Lý luận văn học Việt Nam (1986 - 2011), NXB Hội nhà văn, H.
- Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2012), Phê bình văn học Việt Nam 1975 - 2005, NXB ĐHSP, H.
- Nhiều tác giả (19810, Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới, H.
- Trần Đình Sử (2010), Toàn cảnh Thi pháp học // Sách Thi pháp học ở Việt Nam (Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn), NXB Giáo dục, H.
- Đỗ Ngọc Thạch (2011), Thi pháp học - lịch sử và vấn đề, http: vanchuongviet.org.
Phạm Ngọc Hiền
Theo http://nhavanvatacpham.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...