“Trên đầu tôi lại những đám mây đen…”
Bài viết ngắn này là phần nhập môn của giáo
trình Phân tích văn bản thơ, dung lượng của nó không lớn, chủ yếu giảng về kĩ
thuật phân tích các bài thơ riêng lẻ theo kiểu chuyên khảo. Vào những năm 1960
– 1980, đây là thể loại ngữ văn học rất được ưa chuộng: nó cho phép các nhà
nghiên cứu không phải dài dòng, chỉ cần luận bàn ngắn gọn về nội dung tư tưởng,
sau đó tập trung vào bình diện kĩ thuật thơ của tác phẩm. Thậm chí lúc ấy đã thấy
có mấy cuốn sách được viết ra chỉ để phân tích như thế. Trước hết là cuốn sách
mẫu mực của Iu. Lotman: Phân tích văn bản thơ (Lotman, 1972). Thứ đến là
ba tập tuyển của các tập thể tác giả, trong đó có những bài phân tích đã gặt
hái được ít nhiều thành công: Điệu luật thơ trữ tình Nga (L.,
1973), Phân tích một bài thơ (L., 1985), Russische Lyrik:Einführungindieliteraturwis-senschaftliche Textanalyse (München, 1982).
Nhưng tác giả của đa số những bài viết ấy đều cố lướt nhanh các giai đoạn phân
tích sơ giản, cơ bản, có tính chất phổ quát đối với bất kì một bài thơ nào được
mang ra xem xét, để rồi vội vã chuyển qua các hiện tượng phức tạp mang tính
tiêu biểu đối với từng tác phẩm nói riêng. Cho nên, về phía mình, chúng tôi sẽ
cố gắng trình bày những thủ pháp đơn giản nhất mà có thể bắt đầu từ đó để tiến
hành phân tích bất kì một văn bản thơ nào – từ văn bản thô mộc – giản đơn cho đến
những văn bản tinh tế – phức tạp nhất.
Ở đây chỉ bàn về việc phân tích “nội tại” – tức
là mọi sự phân tích đều không vượt ra ngoài giới hạn của những gì được nói trực
tiếp trong văn bản. Và như thế, để hiểu bài thơ, chúng tôi không cần bận
tâm với các tư liệu về tiểu sử tác giả, về bối cảnh sáng tác, hay đối chiếu
so sánh với các văn bản khác. Ở thế kỉ XIX, các nhà ngữ văn học rất say sưa với
việc đọc ra những chi tiết tiểu sử xác thực trong văn bản, đến thế kỉ XX, người
ta lại thích thú với việc đọc ra các “văn bản ngầm” và “liên văn bản” văn học,
và làm việc này theo hai phương án. Phương án thứ nhất:nhà ngữ văn đọc
bài thơ trên cái nền của những tác phẩm mà thi nhân đã đọc, hoặc có thể đọc, và
tìm kiếm ở đó tiếng vang vọng, khi thì của Kinh Thánh, lúc lại là của Walter
Scott, nếu không thế thì lại là tiếng vọng của một tiểu thuyết tạp chí mới nhất
thời ấy. Phương án thứ hai: nhà ngữ văn học đọc bài thơ trên cái nền những nhu
cầu thời sự bức xúc của riêng mình và lục tìm trong đó hệ thống vấn đề khi thì
là của xã hội học, của phân tâm học, lúc lại là của chủ nghĩa nữ quyền, tuỳ thuộc
vào những cái mốt mới nhất. Cả hai cách đọc đều là những phương thức hợp
lí (mặc dù cách đọc thứ hai, thực chất nó không phải là sự nghiên cứu, mà
là sự sáng tác của cá nhân người đọc về đề tài mà anh ta được đọc và đã đọc),
nhưng không thể lấy đó làm khởi điểm. Cần bắt đầu bằng việc quan sát văn bản và
chỉ biết có văn bản, sau đó mới mở rộng tầm nhìn tuỳ thuộc vào mức độ cần thiết
đối với việc tìm hiểu văn bản.
Dựa vào kinh nghiệm của mình và những người gần
cận với mình, tôi biết – giả dụ bây giờ tôi là một sinh viên và người ta bảo:
“Đây là một bài thơ, xin cứ trình bày thoải mái tất cả những gì anh biết, thử
xem anh có thể nói được những gì về bài thơ này, có điều, chỉ nói về bài thơ
này thôi chứ không được lan man ra những chuyện xung quanh”- với tôi, đó là một
câu hỏi rất khó. Với câu hỏi như vậy, người ta thường trả lời thế nào?
Hãy lấy một bài thơ mới bắt gặp một cách tình cờ của Pushkin làm ví dụ –
bài Linh cảm viết năm 1828; xin quý vị tin rằng, xưa kia tôi đã
chọn bài này để phân tích theo kiểu hú hoạ hoàn toàn, bằng cách dừng lại ngay ở
trang thơ Pushkin vừa mới giở ra. Đây là văn bản bài thơ:
Trên đầu tôi những đám mây đen
Lại dồn tụ giữa không trung tĩnh mịch;
Kiếp vận ghét ghen
Lại doạ giáng tai hoạ xuống đời tôi…
Với số phận, liệu tôi giữ được lòng khinh?
Liệu còn dám đem ra chống chọi (với số phận)
Cả chí kiên gan và lòng nhẫn nhịn
Của thời hoa niên kiêu hãnh của tôi?
Mệt lả bởi cuộc đời giông bão
Tôi thờ ơ chờ đợi phong ba:
Có thể, tôi còn được cứu sống,
Còn tìm lại được bến bờ…
Nhưng linh cảm cảnh chia ly,
Giờ phút hãi hùng không tránh được,
Siết chặt tay em, ôi thiên thần của tôi,
Tôi vội vàng lần cuối cùng
Vị thiên thần dịu hiền, thanh thản
Hãy nói nhỏ cùng tôi: tạm biệt
Hãy đượm buồn, đưa mắt âu yếm
Nhìn lên hay nhìn xuống;
Và hồi ức về em trong hồn tôi
Sẽ thay thế cho sức mạnh
Niềm kiêu hãnh, những kỳ vọng
Chắc là nếu trả lời, cậu sinh viên sẽ nói về
bài thơ như thế này. “Bài thơ thể hiện tâm trạng lo lắng, bất an. Nhà thơ đang
đón đợi bão táp cuộc đời và rõ ràng là đang tìm kiếm sự khích lệ ở người tình
mà thi nhân gọi là thiên thần của mình. Thi phẩm được viết theo thể chorée 4
chân, gồm nhiều khổ, mỗi khổ 8 câu. Trong bài thơ có nhiều câu hỏi tu từ: “Với
số phận, liệu tôi giữ được lòng khinh?”…, có cả hô ngữ, đối đáp tu từ (cũng có
thể không phải là tu từ, mà là lời đối đáp tự nhiên): “Hãy nói nhỏ cùng tôi: tạm
biệt”. Có lẽ cậu sinh viên sẽ dừng lại ở đây, vì thực ra, trong bài thơ
không thấy có cổ ngữ, chẳng có từ lạ, hay phương ngữ khó hiểu, tất cả đều rõ
ràng, vậy thì còn gì để nói nữa đây? – thế mà giảng viên thì vẫn đợi nghe tiếp.
Cho nên, cậu sinh viên mới đi lạc ra ngoài: “Tinh thần quả cảm sáng láng ở đây
rất tiêu biểu cho toàn bộ thơ trữ tình Puskin…”, hoặc nếu am hiểu Pushkin nhiều
hơn, anh ta sẽ nói: “Tâm trạng bất an trong bài thơ có nguyên do là bởi vào thời
gian ấy, năm 1828, đương có cuộc điều tra về tác giả trường ca Gavriiliada chống
lại Pushkin…”. Giảng viên liền lên tiếng: “Này, anh đã nói những chuyện ngoài
bài thơ rồi chứ không phải những chuyện chỉ có trong bài thơ ấy”,- và thế là cậu
sinh viên rối trí liền im lặng.
Kết quả trả lời hoá ra chưa thật đạt yêu cầu.
Thế mà thực chất, tất cả những gì cần thiết cho câu trả lời, cậu sinh viên ấy
đã nhận ra đầy đủ, chỉ có điều anh ta chưa biết nối kết và phát triển thành ý tứ
hoàn chỉnh mà thôi. Anh ta nhận ra những điểm sáng tỏ nhất trên cả ba cấp
độ cấu trúc của bài thơ, nhưng lại không biết đó là những cấp độ
nào. Mà cấu trúc của bất kì văn bản nào cũng có thể chia thành ba cấp độ, mọi đặc
điểm nội dung và hình thức của nó đều được phân bố trên các cấp độ ấy. Phải cố
gắng chú ý tới điểm này, vì trong nhiều trường hợp, nó rất cần thiết cho chúng
ta trong quá trình phân tích tiếp theo. Từ lâu, kiểu phân chia, bóc tách văn bản
thành ba cấp độ như thế đã được B.I.Jarkho, nhà nghiên cứu thuộc trường phái
hình thức người Moskva, đề xướng (Jarkho, 1925; Jarkho, 1927). Xin nhắc lại ở
đây hệ thống phân chia ấy với đôi chỗ đính chính.
Cấp độ thứ nhất, tầng trên – tư tưởng –
hình tượng . Nó có hai bậc: thứ nhất, tư tưởng và tình cảm (ví dụ, tư tưởng:
“Phải can đảm chấp nhận bão táp cuộc đời”, hoặc “Tình yêu truyền thêm sức mạnh”;
và tình cảm: “lo lắng”, “âu yếm”); thứ hai, các hình tượng và mô tip (ví dụ:
“Những đám mây đen” là hình tượng, “dồn tụ” là mô tip; về vấn đề này, chúng tôi
sẽ trình bày chi tiết hơn ở ngay phần dưới đây).
Cấp độ thứ hai, tầng giữa, – phong cách.
Nó cũng có hai bậc: thứ nhất, ngữ vựng, tức là từ ngữ được phân tích một cách
riêng rẽ (mà trước hết là từ ngữ trong nghĩa bóng, là những “từ chuyển
nghĩa”); thứ hai, cú pháp, tức là từ ngữ được xem xét trong sự kết hợp, sắp xếp
của chúng.
Cấp độ thứ ba, tầng dưới, – ngữ âm, âm
thanh. Thứ nhất, đó là các hiện tượng thuộc câu thơ, như thể thơ, nhịp điệu, vần
điệu, khổ thơ; thứ hai, đó là những hiện tượng thuần tuý thuộc về âm luật,
thanh luật – láy thanh, láy vần. Những bậc nhỏ như thế trong một cấp độ tuy có
thể chi tiết hoá để chia nhỏ hơn nữa, nhưng bây giờ chúng ta tạm dừng ở đây.
Ba cấp độ nói trên được phân biệt theo dấu hiệu:
bằng các phương diện nào của ý thức, chúng ta lĩnh hội các hiện tượng hữu quan.
Cấp độ âm thanh – tầng dưới cùng – chúng ta lĩnh hội bằng thính giác: có
thể nắm bắt tiết tấu thể chorée hoặc phép láy phụ âm “r” trong bài thơ mà thậm
chí người ta không cần phải biết thứ ngôn ngữ được tác giả sử dụng để sáng tác,
vì những cái đó đều nghe thấy được. (Trong thực tế, điều này chưa hẳn đã
hoàn toàn như thế, có một số vấn đề cần làm rõ hơn, nhưng bây giờ chúng ta tạm
thời chưa nói đến). Cấp độ phong cách ở giữa được chúng ta lĩnh hội bằng cảm
giác ngôn ngữ: muốn khẳng định một từ nào đó được sử dụng theo nghĩa bóng,
nghĩa rộng, chứ không phải là nghĩa trực tiếp, nghĩa đen, hoặc một trật tự từ
ngữ nào đó được sắp xếp như thế là có thể chấp nhận, nhưng rất mới lạ, người ta
không thể chỉ biết ngôn ngữ, mà cần phải có thói quen sử dụng nó. Cuối cùng,
chúng ta lĩnh hội cấp tư tưởng – hình tượng ở trên cùng bằng trí óc và tưởng
tượng: trí óc giúp ta hiểu ra các từ ngữ biểu đạt tư tưởng và tình cảm, còn tưởng
tưởng giúp ta hình dung các hình ảnh những đám mây đen dồn tụ và thiên thần liếc
nhìn. Mà tưởng tượng không chỉ hình dung được các hình ảnh thị giác (như trong
các ví dụ nêu trên), mà còn hình dung được các hình ảnh thính giác (“tiếng thầm
thào, hơi thở nhẹ, bài hát ngân rung của chú hoạ mi…”), cả các hình ảnh xúc
giác (“khí nóng đổ xuống, hơi mát phảng phất lan toả…”, v.v…)
Cậu sinh viên giả định của chúng ta đã chỉ ra
rất chính xác tâm trạng bất an và hình ảnh bão táp cuộc đời ở cấp độ thứ nhất,
các câu hỏi tu từ ở cấp độ thứ hai, thể chorée 4 chân và các khổ 8 câu ở cấp độ
thứ ba trong cấu trúc bài thơ của Pushkin. Nếu như cậu sinh viên chỉ ra những
điều ấy một cách tự giác, chứ không phải theo kiểu tự phát, thì, thứ nhất, anh
ta sẽ liệt kê những phát hiện của mình theo một trình tự chặt chẽ hơn, thứ hai,
do biết được mình đang tìm kiếm cái gì, nên thể nào anh ta cũng liên hệ mỗi
điều nhận ra với các hiện tượng khác ở cùng cấp độ, khi ấy, chắc chắn anh ta sẽ
còn phát hiện được nhiều điều hơn nữa. Chẳng hạn, anh ta sẽ nhận ra cặp đối lập
“bão táp – bến bờ” ở cấp độ hình tượng, đoản ngữ khác lạ “hồi ức của em” được
hiểu theo nghĩa là “hồi ức về em” ở cấp độ phong cách, kĩ thuật láy phụ âm đầu
“trên đầu tôi lại…”[2], hoặc láy âm tiết chứa trọng âm “tôi thờ ơ chờ đợi phong
ba”[3] …
Vì sao chỉ những hiện tượng như thế (ở tất cả
các cấp độ) mới thu hút sự chú ý của chúng ta? Bởi vì đó là những hiện tượng
khác lạ, chúng trượt ra ngoài cái nền trung tính của lời nói thường nhật mà ta
có thể nhận biết bằng trực cảm. Đọc một bài thơ ngắn mà bắt gặp những hai câu hỏi
tu từ liền kề nhau, hoặc ba âm “u” chứa trọng âm nối tiếp nhau, khi ấy dứt
khoát ta phải nghĩ, đó không còn là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là hiện tượng thuộc
về cấu trúc nghệ thuật của bài thơ, buộc nhà nghiên cứu phải xem xét. Từ thời
viễn cổ, ngữ văn học đã nghiên cứu lời nói nghệ thuật như một cái gì hoàn toàn
xa lạ với lời nói trung tính. Nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng thành công.
Ở cấp độ ngữ âm và phong cách, việc phát hiện
và hệ thống hoá những hiện tượng khác lạ như thế là tương đối dễ: từ thời cổ đại,
người ta đã làm công việc ấy và dựa vào đó để phát triển các lĩnh vực nghiên cứu
văn học như thi luận (khoa học về cấp độ âm thanh), phong cách học (khoa học về
sự biểu lộ bằng lời, thời ấy, nó là bộ phận hợp thành của từ chương học với tư
cách là lí thuyết về “các phép chuyển nghĩa (trop) và hình thái tu từ
(figura)”. Bản thân thuật ngữ sau đã khá đặc biệt: “figura” tức là “poza” – nếu
như chúng ta gọi tất cả các tư thế khác thường của cơ thể con người là “poza”
(“điệu bộ”.- N.D), thì người cổ đại gọi mọi cách biểu đạt bằng ngôn từ một
cách độc đáo, khác lạ là “figura” của tu từ.
Ở cấp độ hình tượng, mô típ, tình cảm, tư tưởng
– tức là tất cả những gì chúng ta vẫn quen gọi là “nội dung” của tác phẩm – việc
phát hiện ra cái khác lạ sẽ gấp bội lần khó hơn. Có vẻ như mọi đối tượng và
hành động được nói tới trong văn học đều giống với những gì chúng ta vẫn thường
bắt gặp trong đời sống – nó là tình yêu mà mỗi chúng ta từng có lúc nào đó đã nếm
trải, ngay cả cái cây cũng là cái cây mỗi chúng ta vẫn nhìn thấy; thế thì có thể
phát hiện và hệ thống hoá cái gì ở đây? Bởi thế, thời cổ đại không truyền
lại cho chúng ta lí thuyết về hình tượng và môtíp, thậm chí cho đến nay, ngành
ngữ văn học này vẫn chưa có tên gọi ổn định: đôi khi (mà thường là) người ta gọi
nó là “topic”, có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp “τόπος”, là môtíp; có lúc lại gọi là
“hệ chủ đề”; rồi có lúc lại gọi là “iconics” hoặc là “eidologie”, có gốc từ chữ
Hy Lạp “ειειδ” hoặc “ειοιλοδ”, tức là hình tượng. Phải đến thời trung đại, lí
luận hình tượng và môtíp mới được nghiên cứu, giai đoạn phát triển tiếp theo là
chủ nghĩa cổ điển, ứng với lí thuyết về các phong cách bậc giản sơ, bậc trung và
bậc cao mà ba cuốn sách sau đây của Vergilius được xem là kiểu mẫu:Bucolica, Georgica và Eneida.
Phong cách bậc giản sơ, Bucolica: nhân vật – mục phu, vật tượng trưng – mục
trượng; súc vật – cừu, dê; thảo mộc – dẻ gai, du…; Phong cách bậc trung, Georgica:
nhân vật – nông phu; vật tượng trưng – cái cày; súc vật – bò; thảo mộc – táo,
lê…; Phong cách bậc cao, Eneida: nhân vật – tù trưởng; vật tượng trưng –
kiếm, quyền trượng; súc vật – ngựa; thảo mộc – nguyệt quế, bá hương… Tất cả những
thứ đó được khuôn vào một bảng biểu mà người ta gọi là “vòng chỉ giới
Vergilius”: muốn duy trì phong cách, dứt khoát không được vượt ra ngoài vòng chỉ
giới của những hình tượng đã được định sẵn. Dĩ nhiên, đến thời lãng mạn chủ
nghĩa, và sau đó là thời hiện thực chủ nghĩa, tất cả những thứ ấn định sẵn trước
như thế đã bị vứt bỏ như vứt bỏ một cái gì gớm ghiếc, nhưng người ta lại không
biết lấy gì để thay vào đó, và đây là sự thiệt thòi rất dễ trông thấy của cả lí
luận văn học lẫn thực tiễn sáng tác.
Bằng trực cảm, mỗi chúng ta có thể nhận biết
thế nào là truyện trinh thám, truyện kinh dị, tiểu thuyết phong tình, truyện
khoa học viễn tưởng, truyện thần tiên, hoặc (hai mươi năm trước đây) thế nào là
tiểu thuyết sản xuất, văn xuôi nông thôn, truyện tuổi hoa, tiểu thuyết lịch
sử – cách mạng, hoặc (một trăm rưởi năm trước) thế nào là truyện thế tục, tiểu
thuyết lịch sử, truyện truyền kì, kí phong tục. Tất cả các thể văn ấy đều có
riêng một bộ hình tượng và mô típ nổi bật mà mọi người đều thấy quen thuộc. Chẳng
hạn, sinh thời, trong trường ca Sau chân trời là chân trời, A. Tvardopski
đã đưa ra cả một bảng liệt kê tuyệt vời các mô típ và hình tượng của tiểu thuyết
viết về đề tài sản xuất thời xô viết: “Xem kìa, tiểu thuyết – mọi chuyện đâu
vào đấy: trình bày phương pháp thi công kiểu mới, một vị cấp phó chậm tiến, một
cấp trưởng không ngừng trưởng thành và một ông lão đi theo chủ nghĩa cộng
sản. Cậu ấy và cô ấy đều là người tiên tiến, động cơ lần đầu tiên được vận
hành; bí thư chi bộ, bão tuyết, vỡ kế hoạch, chạy nước rút, bộ trưởng thăm xưởng
thợ và khiêu vũ tập thể”. Nhưng đó là chuyện trong thiên trường ca, liệu có thể
tìm thấy trong một công trình nghiên cứu lí thuyết nào đó một bảng liệt kê như
vậy chăng? Với folklo và văn học trung đại – có thể tìm thấy; với văn học hiện
đại – không thể! Và đây nào phải chuyện đùa, vì thành phần của một bảng liệt kê
như thế chẳng phải là gì khác mà chính là thế giới nghệ thuật của tác phẩm –
khái niệm chúng ta thường sử dụng, nhưng không phải bao giờ cũng được hình dung
một cách cụ thể.
Chính cái cấp độ này đây, cấp độ quan trọng
nhất, đồng thời cũng còn ít được nghiên cứu nhất trong cấu trúc tác phẩm
thơ – cấp độ “topica”, tức cấp độ chủ đề, cấp độ tư tưởng, hình tượng và mô
típ, tất cả những gì người ta vẫn thường gọi là “nội dung”, – chúng tôi sẽ cố gắng
đúc kết và miêu tả một cách hệ thống trong bài phân tích này. Quả thật, khi phải
phân tích tác phẩm văn xuôi, ta thường thuật lại cốt truyện rồi thêm vào mấy nhận
xét rời rạc về cái gọi là đặc điểm nghệ thuật (tức là về phong cách) – trong
các sách giáo khoa, việc phân tích thường vẫn làm như thế – và bảo đó là phân
tích nội dung và hình thức. Nhưng trong các bài thơ trữ tình, cốt truyện hoàn
toàn chẳng có, vậy ta sẽ phát hiện và trình bày nội dung thế nào?
Mọi người đều biết truyền thống đặt nhan đề
theo kiểu mở rộng của thơ trữ tình cổ điển Trung Hoa (ví dụ chỉ mang tính ước lệ):
“Qua cầu sông Hán, nhìn hạc bay trên trời, nhớ bạn đi xa”, “Nghỉ đông trong núi
Kỳ Sơn, ngẫm ngày tháng thoi đưa, chạnh lòng thương Hậu Chủ”. Chúng ta cũng thử
phỏng thuật bài thơ của Pushkin như thế: “Thi nhân đợi bão tố cuộc đời và tìm sự
khích lệ của người tình”. Nếu lập được một bảng tổng hợp các định thức nội dung
của thơ trữ tình cổ điển Nga theo dạng như thế thì quý giá biết chừng nào.
Nhưng đây là nhiệm vụ muôn vàn gian nan. Tôi đã lập các định thức như thế cho mỗi
một tập thơ ở giai đoạn cuối của Briusov, và thấy đó quả là công việc khổ sai.
Cần phải bắt tay phân tích một tác phẩm
thơ như thế nào – phải trả lời ra sao cho câu hỏi: “Hãy nói tất cả những gì anh
có thể nói về bài thơ này”? Có ba cách. Cách tiếp cận thứ nhất – từ ấn
tượng chung: tôi nhìn vào bài thơ và cố gắng xem thử có cái gì trong đó vừa mới
nhìn đã đập ngay vào mắt và vì sao nó lại đập ngay vào mắt mình như thế. Trước
bài thơ của Puskin, anh sinh viên giả định của chúng ta đã hành động như thế,
chỉ có điều là anh ta không biết vì sao lại làm như như vậy. Giả dụ chúng ta
không thông minh hơn cậu sinh viên và chẳng nói được gì về ấn tượng chung thì
phải làm thế nào? Khi ấy chúng ta phải tìm đến cách tiếp cận thứ hai –
đọc chậm: tôi đọc bài thơ chậm rãi, dừng lại sau mỗi dòng, mỗi khổ hoặc mỗi
câu, và cố nghĩ xem, câu ấy đã mang lại cái gì mới mẻ cho cách hiểu văn bản của
tôi, nó đã làm thay đổi cách hiểu cũ như thế nào (xin nhắc lại: ở đây chỉ nói về
lời của văn bản chứ không phải những liên tưởng lung tung có thể xuất hiện
trong đầu chúng ta. Những liên tưởng như thế thường chỉ cản trở chứ không giúp
gì cho sự hiểu). Nhưng lại thử cho rằng, chúng ta đần độn tới mức, làm như thế
cũng chẳng nên cơm cháo gì. Khi ấy chỉ còn lại cách tiếp cận thứ ba, mang
tính chất cơ giới, – đọc từng bộ phận của lời. Đọc kĩ bài thơ rồi chép ra
giấy theo thứ tự từ trái sang phải các danh từ (tuỳ mức độ phân loại chúng theo
chủ đề), tiếp theo là các tính từ, sau nữa là các động từ. Những từ ngữ như thế
sẽ mở ra trước mắt ta thế giới nghệ thuật của tác phẩm: từ các danh từ,
ta có bộ phận vật thể cảm tính (và cả khái niệm); từ các tính từ
– bộ phận sắc điệu xúc cảm (và cả tình cảm); từ các động từ – bộ
phận các hoạt động và các trạng thái đang diễn ra trong thế giới ấy.
(Hình tượng, mô típ, và cả cốt truyện nữa,
thực ra là gì? Hình tượng – là mọi sự vật hoặc nhân vật được hình dung một cách
cảm tính, tức là mỗi danh từ đều có tiềm năng ấy. Mô tip – là mọi hoạt động, tức
là mỗi động từ đều có tiềm năng. Cốt truyện là trình tự liên tục của các mô típ
có quan hệ gắn bó với nhau. Chẳng hạn, theo B.I. Jarkho: “ngựa” – là hình tượng;
“ngựa gãy chân” – là mô típ; còn “ngựa gãy chân – Đức Kitô chữa lành chân
ngựa” – đó là cốt truyện (“đây là cốt truyện điển hình của phần trần thuật
trong lời niệm chú do việc gãy chân”, Jarkho chú giải hơi quá cặn kẽ). Ai cũng
biết, các từ “cốt truyện”, “mô típ”, nhất là “hình tượng” thường được sử
dụng với nhiều ý nghĩa rất khác nhau, nhưng chúng lại đơn giản, dễ hiểu hơn cả,
nên chúng tôi cũng sẽ tiếp tục sử dụng các khái niệm thông dụng ấy).
Vậy thì bằng cách ấy chúng ta thử chép
ra đây theo chủ đề tất cả các danh từ trong bài thơ của Pushkin.
Chúng ta sẽ có một bức tranh đại thể như sau:
mây
đen
kiếp vận
lòng
khinh
thiên thần
(thinh không tĩnh mịch)
tai hoạ
kiên
gan
(2 lần)
bão
táp
số phận
lòng nhẫn nhịn tay
bến bờ
cuộc đời
thời hoa niên
mắt nhìn
chia
li
hồi ức
giờ
tâm hồn
ngày
sức mạnh
kiêu
hãnh
dũng khí
Quý vị đã có được những nhóm từ như thế nào?
Cột thứ nhất là những hiện tượng thiên nhiên. Tất cả các từ ấy đều được sử dụng
theo nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ,- chúng ta hiểu, đây không phải là giông bão khí
tượng học, mà là giông bão cuộc đời. Cột thứ hai là những khái niệm trừu tượng
về thế giới bên ngoài, đa phần đều thù địch; ngay cả “cuộc đời” ở đây cũng là
“cuộc đời giông bão”, còn “giờ” thì “hãi hùng”. Cột thứ ba là những khái
niệm trừu tượng chỉ thế giới nội tâm, đời sống tâm hồn, tất cả đều có sắc thái
tích cực (ngay cả trường hợp “với số phận…coi khinh”). Cột thứ tư là ngoại hình
con người, nó là cột nghèo nàn nhất: chỉ có tay, mắt nhìn và chữ thiên thần rất
mơ hồ. Chúng ta thấy được những gì ở đây? Thứ nhất, ta thấy được xung đột cơ bản
của bài thơ: các sức mạnh dữ dội bên ngoài và đối lập với nó là nội tâm kiên định,
bình thản. Đừng nghĩ đó là chuyện vô nghĩa: bởi vì trong rất nhiều bài thơ của
thời đại lãng mạn chủ nghĩa (trong sáng tác của Lermontov chẳng hạn), “các sức
mạnh giông bão” không phải là sức mạnh bên ngoài, mà sức mạnh nội tại réo sôi
trong tâm hồn; với Puskin ở đây – tình hình không phải vậy, trong tâm hồn nhà
thơ chỉ có sự kiên định và thanh thản. Thứ hai, ta thấy xung đột ấy được biểu
hiện bằng những khái niệm trừu tượng nhiều hơn so với những hình tượng cụ thể:
một bên là tai hoạ, kiếp vận, bên kia là can trường, nhẫn nhịn v.v… Trong
thế giới nghệ thuật của bài thơ, thiên nhiên chỉ có mặt theo kiểu ẩn dụ, còn đời
sống thường nhật thì hoàn toàn vắng bóng (tất nhiên, không tính chữ “bến bờ”,
vì ngay cả trong ngôn ngữ văn xuôi, gần như bao giờ nó cũng là ẩn dụ); đây cũng
không phải là nét khuôn sáo. Thứ ba, cuối cùng, thế giới tinh thần của con người
hiện lên cũng phiến diện: chỉ có nghị lực, tình cảm chỉ thấp thoáng, và hoàn
toàn không có trí lực. Một thế giới nghệ thuật không có thiên nhiên, không có
sinh hoạt thường nhật, không có trí lực, tất nhiên, đó không phải là thế giới
đang bao bọc đời sống quanh ta. Điều này nhắc nhở các nhà ngữ văn học trong khi
đọc phải biết phát hiện cả cái có trong văn bản, lẫn cái không có trong văn bản[4].
Bây giờ chúng ta sẽ xét xem các danh từ
nói trên được nhấn mạnh bởi những tính từ nào, có những quan hệ và phẩm
chất gì được làm nổi bật trong thế giới nghệ thuật ấy:
kiếp vận ghét ghen
thời hoa niên kiêu hãnh
giờ (phút) hãi hùng không tránh được
lần cuối cùng
thiên thần dịu hiền, thanh thản
nhìn âu yếm
Chúng ta lại thấy vẫn một khuynh hướng
như thế: không có từ nào là tính từ xác định các thuộc tính bên ngoài, tất cả đều
là tính từ hoặc xác định thuộc tính bên trong (đôi khi, thậm chí, bằng các từ
phái sinh của chính các danh từ đã được sử dụng: “kiêu hãnh”, “giông bão”,
“thanh xuân”), hoặc là sự đánh giá (“giờ hãi hùng không tránh được”).
Và cuối cùng là
các động từ với những tính động từ và trạng động từ của chúng:
Các động từ tình
thái – mệt lả, được cứu sống, chờ đợi, buồn
Các động từ hành động
– dồn tụ, doạ, giữ, đem, tìm được, siết, nói nhỏ, nhìn lên, nhìn xuống.
Có vẻ như các động từ hành động nhiều
hơn các động từ tình thái, nhưng hiệu lực của chúng lại tỏ ra yếu ớt vì hầu hết
các động từ ấy đều được đặt ở thời tương lại, hoặc mệnh lệnh thức như một cái
gì đó chưa trở thành hiện thực (“sẽ đem”, “sẽ tìm thấy”, “sẽ nói nhỏ”), trong
khi đó, các động từ tình thái đều đặt ở thời quá khứ hoặc thời hiện tại (“mệt lả”,
“chờ đợi”, “linh cảm”). Chúng ta thấy: thế giới nghệ thuật của bài thơ là thế
giới tĩnh tại, trong đó dường như không có các hành động được thể hiện ra bên
ngoài, trên cái nền ấy có hai hành động hướng ra bên ngoài hiện ra sắc nét:
“nhìn lên”, “nhìn xuống”. Tất cả những cái đó, thật dễ hiểu, đều nhắm vào chủ đề
chính: biểu hiện trạng thái căng thẳng trước sự hiểm nguy.
Thế giới nghệ thuật trong bài thơ của
Pushkin hiện ra trước mắt ta là như thế. Muốn thế giới nghệ thuật này có
được những nét vẽ hoàn chỉnh, và để kết luận, cần xem xét ba đặc điểm chung nhất:
không gian, thời gian và điểm nhìn của tác giả (và cả của độc giả) được thể hiện
trong thế giới ấy như thế nào? Từ những gì đã nói, ta nhận ra rất rõ điểm nhìn
của tác giả: điểm nhìn ấy không khách quan, mà chủ quan, thế giới hiện ra không
phải là thế giới bên ngoài, mà là thế giới được trải nghiệm từ phía bên trong –
thế giới “nội cảm”. Để so sánh, có thể nhớ lại bài thơ Cây độc (Anchar)
cùng được viết vào năm 1828. Tất cả các hình tượng trong bài thơ này đều được
thể hiện theo nguyên tắc lạ hoá, và dẫu cây độc có “hăm doạ”, còn thiên nhiên –
giận dữ, thì điều đó vẫn không phá vỡ bức tranh kia; sự biểu hiện nội cảm của
cái được miêu tả chỉ lộ ra trong một từ duy nhất “(người nô lệ) tội nghiệp” ở
cuối bài thơ.
Còn không gian và thời gian – phạm trù nào được
thể hiện rõ hơn trong bài Linh cảm của Pushkin? Những điều quan sát của
chúng tôi đã thừa đủ để tiên đoán: hẳn là có thể thấy trước, rằng không gian ở
đây được thể hiện mờ nhạt hơn so với thời gian, vì không gian là phạm vi của
cái nhìn trực quan, mà Pushkin ở chỗ này lại không nhắm tới cái trực quan; thời
gian quả là được thể hiện đậm nét hơn, vì thời gian nằm trong khái niệm chờ đợi,
mà cụ thể là chờ đợi sự hiểm nguy – đây chính là chủ đề cốt yếu của bài thơ. Quả
là trong suốt cả hai khổ đầu, chúng ta chỉ bắt gặp một chỉ dẫn duy nhất về
không gian – “trên đầu tôi lại những đám mây đen”, và trong cái thế giới rất
ít không gian này, phải đến khổ thứ ba lại mới thấy mở ra thêm một chiều kích –
độ cao: “mắt âu yếm nhìn lên hay nhìn xuống”, – giống như đang đo độ cao.
Nhìn theo chiều rộng, thế giới ấy không hề có một chút quảng tính nào cả. Thật
thú vị nếu ở đây ta lại tiếp tục so sánh với Cây độc, một bài thơ mà ở đó,
cái quan trọng nhất đối với thi sĩ là không gian (theo chiều rộng!) và cái nhìn
trực quan. Trong Cây độc, các hình tượng trôi qua trước mắt người đọc theo
trình tự thế này. Thoạt đầu: hoang mạc – vũ trụ – cây độc ở giữa hoang mạc –
cành và rễ của nó – nhựa độc nhỏ giọt từ vỏ cây (thu hẹp dần trường nhìn). Sau
đó: xung quanh cây độc không chim, không thú – gió và mây đen trùm lên hoang mạc
– thế giới con người nối liền với hoang mạc (mở rộng dần trường nhìn). Đỉnh điểm
chớp nhoáng – đường đi về của con người đến nơi cây độc vắt ngang hoang mạc. Và
đoạn cuối – nhựa độc trong tay người mang về – gương mặt người mang nhựa độc –
thi thể trong túp lều lợp vỏ cây – quận vương bên trên xác chết – những mũi tên
độc của quận vương bắn vung vãi khắp thiên hạ (lại mở rộng dần trường nhìn cho
đến những “giới hạn” cuối cùng). Không gian trong các văn bản thơ thường được tổ
chức bằng chính sự luân phiên của các “toàn cảnh” và “cận cảnh” như thế; Ẹienstein
đã so sánh rất tài cách tổ chức ấy với kĩ thuật lắp ghép điện ảnh.
Trái lại, trong Linh cảm, thời gian được
thể hiện càng về sau càng tinh tế và chi tiết hơn. Ngay ở khổ đầu đã có sự đối
lập giữa tương lai và quá khứ: ở phía này, “những đám mây đen đã dồn tụ” – quá
khứ; còn phía kia – tương lai “liệu tôi sẽ giữ được lòng khinh, sẽ
có thể đem sự kiêu hãnh, nhẫn nhịn chọi với số phận không?”. Giữa hai đối
cực ấy, hiện tại biến mất như là hệ quả của quá khứ, “kiếp vận …lại đang
doạ tôi”. Đến khổ thứ hai, tác giả tập trung đúng vào khoảng cách giữa quá
khứ và tương lai, vào thời hiện tại: “phong ba … tôi đang chờ đợi”, “nắm
tay …em tôi đang vội”; tương lai tham gia vào đây chỉ để tô đậm phương hướng
của cái nhìn từ thời điểm hiện tại, “tôi có thể sẽ tìm được bến bờ”.
Cuối cùng, ở khổ thứ ba, nhà thơ tập trung vào khoảng trống nhỏ nhất – giữa hiện
tại và tương lai. Tuồng như không có thời gian của động từ, mà chỉ có thức
– mệnh lệnh, mệnh lệnh thức đúng là đã nối hiện tại với tương lai, gắn dự định
với sự thực hiện: “hãy nói nhỏ cùng tôi”, “hãy buồn”, “hãy đưa mắt nhìn
lên hay nhìn xuống”. Và trong đó tương lai tiếp tục hiện hữu vẫn chỉ là để định
hướng cho cái nhìn: “hồi ức về em sẽ thay đổi hồn tôi”. Vì thế, tương
lai có mặt trong mỗi khổ thơ giống như chủ đề xuyên suốt về tâm trạng bất an của
tác giả, còn thời gian đối sánh với nó thì ngày một tiến lại gần hơn: thoạt đầu
là quá khứ, sau đó là hiện tại, và cuối cùng – động từ thể mệnh lệnh, ranh giới
giữa hiện tại và tương lai.
Đó là kết quả phân tích của chúng tôi
dành cho cấp độ tư tưởng – hình tượng trong bài Linh cảm của Pushkin:
“Trên đầu tôi lại những đám mây đen”. Tôi chẳng có phát hiện gì đặc biệt (mặc
dù phải thừa nhận, với tôi, quan sát của cá nhân về một thế giới không có thiên
nhiên, không có cuộc sống thường nhật, không có trí lực và ở đó thời quá khứ
thông qua hiện tại và mệnh lệnh thức đang nhịp nhàng xích lại gần tương lai, là
những quan sát hiện mới mẻ và lí thú). Nhưng dẫu sao thì chúng tôi cũng đã vắt
kiệt tư liệu và đã tìm thấy ở đó rất nhiều chuyện mà anh sinh viên giả định của
chúng ta có thể trình bày với ông giáo, nếu như cậu ấy không trình bày lộn xộn,
mà miêu tả bài thơ một cách hệ thống – theo các cấp độ. Không nên nghĩ rằng nhà
ngữ văn học có khả năng cảm nhận và nhìn thấy trong bài thơ một cái gì đó mà
người đọc bình thường không với tới được. Nhà ngữ văn học cũng chỉ cảm nhận và
nhìn thấy như thế, có điều anh ta hiểu rõ, vì saoanh ta nhìn thấy điều đó,
những từ nào trong văn bản bài thơ gợi lên trong trí tưởng tượng của anh ta các
hình tượng và tình cảm ấy, những kiểu hoà thanh và cách nói nào đã nhấn mạnh và
làm tăng cường sắc thái của chúng. Trình bày sự nhận thức ấy dưới hình thức nói
miệng hay bài viết chặt chẽ – đó chính là tiến hành phân tích văn bản bài thơ.
Để kết luận, vẫn còn hai câu hỏi tất yếu sẽ
xuất hiện mỗi khi ta phân tích các bài thơ theo cách thức này.
Câu hỏi thứ nhất: liệu có phải nhà thơ đã làm
cái công việc rất mực tinh tế kia, đã chọn lựa danh từ và tính từ, đã suy ngẫm
cẩn thận thời thể của các động từ một cách có ý thức? Tất nhiên không phải là
như thế. Nếu như việc sáng tác diễn ra đúng như vậy thì sẽ không cần thiết phải
có khoa học ngữ văn: mọi việc cứ hỏi thẳng nhà thơ và sẽ nhận được câu trả lời
chính xác. Phần lớn công việc của nhà thơ diễn ra trong vô thức chứ không phải
trong ý thức; nhà ngữ văn học kéo công việc ấy ra khu vực sáng sủa của nhận thức.
Ví dụ thế này. Bài “Trên đầu tôi lại những đám mây đen…” được viết theo thể
chorée 4 chân. Pushkin có ý thức làm như thế, ông biết chắc chorée là gì, và đã
tỏ thái độ bề trên với Onheghin vì nhân vật của mình “không thể phân biệt
chorée với iambe”. Nhưng một số câu trong bài thơ này có thể viết khác đi mà vẫn
không phá vỡ thể Chorée: không viết “Угрожает снова мне”, mà viết “Снова
угрожает мне”, không viết “Равнодушно бури жду”, mà viết “Бури
Равнодушно жду”, không viết “Неизбежный грозный час”, mà viết “Грозный
неизбежный час”[5]. Nhưng Pushkin đã không viết như thế. Vì sao? Vì khuynh
hướng tiết tấu của thơ chorée 4 chân tiếng Nga là thế này: trọng âm thường rơi
vào âm tiết I, và gần như không bao giờ rơi vào âm tiết II. Trong ý thức,
Pushkin không biết điều đó: mãi đến thế kỉ XX các nhà nghiên cứu mới đúc kết luật
thơ ấy. Nhà thơ không dựa vào lí trí để sáng tác, mà dựa vào xúc cảm nhịp điệu
chính xác của mình. Cho nên, nhà ngữ văn học hiện đại biết những bài thơ của
Pushkin được tổ chức như thế nào còn rõ hơn cả Pushkin, và chính điều đó đã
trao cho khoa học ngữ văn cái quyền được tồn tại.
Câu hỏi thứ hai: việc phân tích văn bản thơ
theo cách thức nói trên liệu có giúp ta khẳng định bài thơ này hay hay dở, hoặc
phân biệt những bài thơ hay hơn và những bài thơ dở hơn? Xin khẳng định: không
thể, vì nghiên cứu và đánh giá thơ là những chuyện khác nhau. Việc nghiên cứu
làm ta cách li với đối tượng: chúng ta khảo sát một bài thơ, một chùm thơ nào đấy,
thậm chí toàn bộ thơ của một tác giả hay một thời đại, và chỉ dừng lại ở đấy.
Việc đánh giá lại đặt đối tượng vào mối quan hệ với toàn bộ kinh nghiệm đọc của
chúng ta. Khi tôi nói “đây là bài thơ hay”, tức là tôi có ngụ ý – “bài thơ này
có cái gì đó giống với những bài thơ mà tôi thích, và khác với những bài thơ mà
tôi chẳng ưa”. Nhưng vì sao chúng ta thích hoặc không thích – sở thích chịu sự
chi phối bởi cái tầng vỉa của hằng hà sa số những ấn tượng được tích cóp qua
kinh nghiệm đọc, từ những vần thơ đầu tiên thời niên thiếu, cho đến những cuốn
sách thông thái ta vừa rời mắt chưa lâu. Một bài thơ mới mà lại giống hoàn toàn
với những gì ta đã đọc nhiều lần, nó sẽ mang lại cho ta cảm giác buồn tẻ, nhàm
chán; còn nếu như nó lại chẳng giống tí nào với những gì đã đọc, ta lại có cảm
giác đó chẳng phải là thơ, ta sẽ cảm thấy hay khi tác phẩm rơi vào khoảng giáp
ranh giữa hai cực ấy, nhưng đích thị là chỗ nào – thị hiếu và toàn bộ kinh nghiệm
đọc của chúng ta sẽ quyết định điều đó. Thị hiếu và kinh nghiệm của cá nhân ta
có thể phù hợp một phần với thị hiếu, kinh nghiệm của bè bạn, của thế hệ cùng
trang lứa, của người cùng thời và của tất cả những ai đại diện cho nền văn hoá
của chúng ta, – nhưng đó đã là công việc của bộ môn xã hội học văn hoá. Ở chỗ
này, nhà ngữ văn học không còn là nhà nghiên cứu và đã trở thành đối tượng của
sự nghiên cứu; cho nên bài dẫn luận về kĩ thuật phân tích ngữ văn của chúng tôi
cũng dừng lại ở đây.
P.S. Có hai khái niệm không
nên lẫn lộn: “phân tích” và “giải thích”. “Phân tích” về mặt thuật ngữ là “tháo
dỡ”, “giải thícch” – là “làm rõ nghĩa”. Ta sẽ phân tích khi đã rõ ý nghĩa chung
(tức là có thể kể lại: “nhà thơ chờ đợi giông bão cuộc đời…”) và trên nền tảng
của sự hiểu biết ấy, chúng ta muốn hiểu tốt hơn những yếu tố riêng lẻ của
nó. Ta sẽ giải thích khi bài thơ “khó hiểu”, “tối tăm”, sự nắm bắt, đại quát đối
với văn bản ở cấp độ năng lực trí hội thông thường không có kết quả, buộc ta phải
giả định rằng lời ở đây không chỉ có nghĩa đen, nghĩa từ điển, mà còn có một ý
nghĩa nào khác. Khi nói “bão” trong bài thơ của Pushkin không phải là hiện
tượng khí tượng học, mà là gió táp mưa sa, là nghịch cảnh của cuộc đời, tức là
ta đã đưa vào sự phân tích yếu tố giải thích. “Bão” là một ẩn dụ phổ biến,
nhưng cũng có những ẩn dụ mang màu sắc cá nhân, sẽ khó khăn hơn khi tìm hiểu ý
nghĩa của chúng: “mặt trời” của Vjach, Ivanov là hình ảnh tượng trưng của phúc
lợi; nhưng “mặt trời” của F. Sologub lại là hình ảnh tượng trưng của cái ác. Để
hiểu được điều đó, chúng ta cần vượt ra ngoài giới hạn của sự phân tích nội tại:
tầm nhìn không dừng lại ở một bài thơ riêng lẻ, mà phải bao quát toàn bộ thơ của
Ivanov hoặc Sologub (“văn cảnh”), thậm chí phải tìm hiểu toàn bộ ngôn ngữ kí hiệu
của họ, cả trong quá khứ lẫn hiện tại (“văn bản ngầm”). Khi ấy ta sẽ hiểu rõ
hơn những điểm riêng lẻ của bài thơ được phân tích, và dựa vào đó chúng ta có
thể làm sáng tỏ toàn bộ (hoặc gần như toàn bộ) bài thơ – giống như giải bài đố
chữ, hay xếp ô chữ. Khi phân tích, sự tìm hiểu vận động từ chỉnh thể tới bộ phận,
khi giải thích, sự tìm hiểu lại vận động từ bộ phận tới chỉnh thể. Có điều –
xin nhắc lại– không được gắn sự giải thích với những nhu cầu lợi ích cá nhân:
chẳng nên nghĩ rằng, nhà thơ nào cũng quan tâm tới những vấn đề xã hội, tôn
giáo và tâm lí giống như chúng ta.
(*) M.L. Gasparov (1935 – 2005) – Tiến sĩ Ngữ
Văn, Viện sĩ chính thức Viện Hàn lâm khoa học Nga.
(**) Nguồn: Гаспаров М. Л. Избранные
труды. Т. II. О стихах. – М., 1997. – С. 9-20). Bản dịch tiếng Việt in lần
đầu trênNghiên cứu văn học, số 11/2007, tr.63-78.
[1] Bản tiếng Nga:
Снова тучи надо мною
Собралися в тишине;
Рок завистливый бедою
Угрожает снова мне…
Сохраню ль к судьбе презренье?
Понесу ль навстречу ей
Непреклонность и терпенье
Гордой юности моей?
Собралися в тишине;
Рок завистливый бедою
Угрожает снова мне…
Сохраню ль к судьбе презренье?
Понесу ль навстречу ей
Непреклонность и терпенье
Гордой юности моей?
Бурной жизнью утомленный,
Равнодушно бури жду:
Может быть, еще спасенный,
Снова пристань я найду,
Но, предчувствуя разлуку,
Неизбежный грозный час,
Сжать твою, мой ангел, руку
Я спешу в последний раз.
Равнодушно бури жду:
Может быть, еще спасенный,
Снова пристань я найду,
Но, предчувствуя разлуку,
Неизбежный грозный час,
Сжать твою, мой ангел, руку
Я спешу в последний раз.
Ангел кроткий, безмятежный,
Тихо молви мне: прости,
Опечалься: взор свой нежный
Подыми иль опусти;
И твое воспоминанье
Заменит душе моей
Силу, гордость, упованье
И отвагу юных дней.
Тихо молви мне: прости,
Опечалься: взор свой нежный
Подыми иль опусти;
И твое воспоминанье
Заменит душе моей
Силу, гордость, упованье
И отвагу юных дней.
[2] Bản tiếng Nga: “снова …надо мною”.
Phụ âm đầu được láy ở đây là: “сн”, “мн”.- N.D
[3] Bản tiếng Nga: “равнодушно бури
жду”. Các âm tiết được láy ở đây là: “ду”, “бу”,“жду”.- N.D
[4] Chúng tôi đã bắt gặp xảo thuật diễn
xuất gây ấn tượng đối với đề tài này trong truyện kì ảo hài hước của của nhóm
tác giả A. và B. Struganski “Thứ hai bắt đầu vào ngày thứ bảy”. Trong truyện, ở
tình tiết mào đầu, nhân vật theo trình tự một cuộc thí nghiệm khởi hành trên cỗ
máy thời gian để đến miền “tương lai được miêu tả” (“mọi chuyện ở đó đều là tiểu
thuyết giả tưởng và không tưởng”), nơi “lúc lúc lại gặp mấy người nào đó, ăn mặc
chỉ lửng lơ: tỉ như, đội mũ xanh, khoác áo vét đỏ trên cơ thể trần truồng
(không mặc thêm gì nữa) hoặc đi giày cao cổ màu vàng, thắt cà vạt hoa (không quần
dài, không sơ mi, thậm chí không quần đùi áo lót)…Tôi bối rối mãi cho tới khi sực
nhớ ra nhiều tác giả vẫn có thói quen viết một cái gì đó đại loại “cửa mở, thấy
trên thềm hiện ra một người cân đối rắn chắc đội mũ lông và đeo kính râm”. Điều
này trở nên rất hệ trọng trong việc chuyển thể hình tượng ngôn từ thành hình tượng
thị giác, người minh hoạ và người dựng phim phải dùng tưởng tượng để lấp đầy
các chỗ trống và gán cho người đọc sự tưởng tượng ấy.
[5]“Угрожаетсновамне”;“Равнодушнобурижду”;“Неизбежный грозный час” là những
câu ở khổ thứ nhất và khổ thứ hai trong bài “Linh cảm” bản tiếng Nga. Chú ý các
chữ in đậm: “снo”, “мнe”, “ду”, “бу”, “жду”, “беж”, “гроз”, “час” là các âm tiết
chứa trọng âm.- ND.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét