Vĩnh biệt Bùi Giáng 2
Phần 3
Nguyên khởi về cõi tinh mật
Bùi Giáng
KHIÊM LÊ TRUNG
Bùi Giáng là một hiện tượng
thơ khá phức tạp của miền Nam trước năm 1975. Khối lượng sáng tác của ông khá lớn,
ngoài những tập thơ được phổ biến rộng rãi, còn có những bản dịch về khảo luận
văn chương rải rác đăng trên các sách báo. Có thể nói cả đời ông là sự tận hiến
cho thơ và vì thơ.
Sự phức tạp trong thơ Bùi
Giáng một mặt là do bởi thế giới quan của ông, một thế giới quan chịu nhiều ảnh
hưởng của các trào lưu tư tưởng triết học mà hệ quả là sự bế tắc trước ngưỡng cửa
bí nhiệm, siêu hình. Mặc khác, cảm xúc thơ ca của ông được biểu hiện bằng một
ngôn ngữ đa tạp, nhiều từ Hán Việt với những ẩn ngữ mà hàm nghĩa có sức khái
quát rộng lớn, trong một phong cách ngữ nghĩa không đồng nhất: khi nghiêm túc,
khi bỡn cợt. Chính thái độ bỡn cợt với ngôn ngữ của ông đã tạo ra những ngộ nhận,
cũng như những khó khăn nhất định cho việc tiếp cận và cảm thụ thơ ông.
Trong nhận định của nhiều
người, cho đến thời điểm này, có lẽ tập thơ Mưa Nguồn (xuất bản năm 1962) là
tác phẩm quan trọng và chính yếu nhất trong quá trình sáng tác của ông. Muốn
tìm hiểu một cách chân xác về cuộc đời và thơ của ông, điều cần thiết trước
tiên có lẽ phải đi sâu vào nội dung chính của tác phẩm này.
Với Mưa Nguồn, Bùi Gáng dẫn
ta lang thang sâu vào cõi miền tâm thức của ông, qua mọi ngõ ngách của mộng, của
tình, của lẽ tử sinh, của nỗi xao xuyến bàng hoàng trong một hữu thể tại thế hầu
ý thức được nỗi trầm luân bèo bọt của kiếp người mênh mông vô thường của cuộc đời.
Tâm thức của Bùi Giáng mang
đầy những khắc khoải hiện sinh, khai mở trên một thực tại luôn luôn chuyển dịch
và biến đổi. Nó phản ảnh những khoảnh khắc, những trạng thái, những hệ lụy cuộc
đời mà ông đã đi qua, đã chiêm niệm với nỗi lo sợ hoang mang rằng tất cả rồi sẽ
tan chìm trong hư vô dâu biển:
Một phút nữa thôi
Và mầu sẽ mất
Suối sẽ xa xôi
Như mây xa đất
Thực tại trong Mưa Nguồn là
một thực tại đầy ấp nhiên giới, hay nói cách khác, nhiên giới là điểm tựa của
tâm hồn, là cái đáy tâm sự nơi họ Bùi “nghiêng mình gởi mộng mây trời lang
thang”, khơi mở nguồn mạch tâm thức của mình, trên những nhịp điệu bát ngát của
tâm hồn ông. Nhịp điệu của tâm hồn ông là nhịp điệu của sóng: “Sóng phơi trường
mộng từ trong dậy nguồn”, đầy xót xa: “Xót xa thân sầu chảy máu bên xương”,
trong những khoảnh khắc trống rỗng: “Ngày trống rỗng không gian trôi vào cõi”.
Sự lựa chọn nhiên giới làm nơi cư trú của tâm hồn phản ảnh thái độ thụ động của
Bùi Giáng đối với nền văn minh cơ giới hiện đại. Ông là mẫu người của nền văn
minh nông nghiệp, khó thích nghi với cuộc sống đô thị với nhịp sống công nghiệp.
Những biển dâu cuộc đời là nỗi
ám ảnh hằn sâu trong tâm thức Bùi Giáng. Sống trong một hoàn cảnh lịch sử đầy
biến động, chiến tranh tàn phá thảm khốc, cơ cấu xã hội bị đảo lộn, lung lay tận
gốc rễ, bản thân ông phải gánh chịu những mất mát đau tương thời trước 75. Đó
là nỗi niềm tâm sự sâu kín của riêng ông mà trong cuộc sống thường nhật, do trạng
thái tinh thần đặc biệt của ông, ít có dịp ông bày tỏ. Hầu như ít có người biết
chính xác chi tiết thuộc đời tư của ông. Ông điên đảo với đời nhưng tỉnh táo
trong nhận thức, kín đáo trong cuộc sống tình cảm riêng tư.
Dù không được bày tỏ một
cách trực tiếp, nhưng biến cố quan trọng trong cuộc sống riên tư của Bùi Giáng
được phản ảnh khá tập trung và đậm nét trong Mưa Nguồn. Ngôn ngữ trong Mưa Nguồn
là ngôn ngữ mà “kỷ niệm đuổi theo lời” – kỷ niệm lan tỏa trong nguồn cảm mạch cảm
xúc của Bùi Giáng. Từ hình ảnh quê nhà, từ miền đất Trung Việt với rừng núi
hoang sơ, sương ngàn cỏ nội đến miền đất phương Nam trời mây sông nước, dưới
ngòi bút của ông, hiện ra vỉ đẹp tự nhiên, mộc mạc và thuần khiết nhưng không
kém phần nồng nàn và quyến rũ. Trong “Nỗi Lòng Tô Vũ”. “Anh lùa bò vào đồi sim
trái chín”, ông ghi lại đoạn đời chăn dê, lùa bò nơi núi rừng Trung Việt với những
cảm xúc chân thành đầy nhân ái. Tâm thức ông nơi đây như hòa nhập, tan hút vào
trong vẻ đẹp hoang dại của thiên nhiên:
Anh lùa bò vào đồi sim trái
chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ
chín
Anh ngó bốn bề cây lá rung
rinh
Anh nằm xuống để nhìn lên
cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời
xanh
Chìm ngây ngất vào trong đôi
mắt lá
Anh lim dim cho chết lịm hồn
mình
(Anh lùa bò vào đồi sim trái
chín – MN tr. 153)
Nhưng trên tất cả vẫn là những
kỷ niệm của tình yêu đầu đời. Với bản chất đa cảm, cái đẹp của tình yêu như một
thứ ánh sáng kỳ ảo tỏa chiếu trong tâm hồn ông những xao xuyến mãnh liệt. Thứ
ánh sáng ấy như vĩnh viễn tồn tại trong ông, dù giờ đây, tất cả đã tàn vùi
trong lớp bụi thời gian, trong hư vô thăm thẳm:
Nhìn em nhé bên kia bờ gió
thổi
Lá xanh vườn theo cỏ mượt
ngân nga
Tơ vi vút một đời thưong nhớ
tuổi
Của trăng rằm xuống dọa dẫm
bên hoa
Khung cảnh ấy nằm sâu trong
đáy mắt
Có lệ buồn khóc với lệ hòa
vui
Để tràn ngập hương mùa lên
ngan ngát
Rồi tan đi trong hố thẳm
chôn vùi
(Bờ nước cũ – MN tr
49)
Cái chết của người bạn đời
là một biến cố quan trọng tác động mạnh đến đời sống tâm thần của ông. Đối diện
với cái chết ấy, ông trở thành nạn nhân của bi kịch định mệnh khắc nghiệt. Nó
là vết thương đục khoét trong tâm hồn ông, biến ông thành kẻ lưu đày trong
chính số kiếp của mình. Tình trạng này khiến ông trở nên bi quan khắc khoải với
cái nhìn đầy bi đát về ý nghĩa cuộc đời và kiếp người. Thơ ông vì vậy, là những
giai điệu buồn thương u hoài đầy ngậm ngùi cay đắng:
Ai người đau nữa để xẻ chia
Trời đất hoang mang buổi mộng
lìa
Anh ngó, anh nhìn, anh cúi
xuống
Ngước đầu anh hỏi có trăng
khuya
(Anh đi về giữa, MN
tr.75)
Cái chết của người bạn đời
cũng chính là lý do để họ Bùi “ nghiêng mình giữa mộng mây trời lang thang”.
Ông lên đường phiêu du rong chơi điên đảo giữa đời với những hoài niệm không
giây phút nguôi ngoai:
Xin mừng sông biển triều dâu
Đoạn trường đẩy nhịp lên cầu
hạo du
Từ đây sống với sa mù
Với cô bác lịm sầu ru hao
mòn
Với người mẹ chết bên con
Với chàng ngã gục nhìn non
sông chào
(Hẹn ước. MN tr.18)
Bùi Giáng sống trong cuộc đời
nhưng là ở một thế giới khác. Thế giới của hoài niệm, chiêm bao. Đó là những thực
tại ảo chìm sâu trong tâm thức ông. Trong cõi chiêm bao ấy, người tình vẫn như
còn sống trong ông, vẫn hiện hữu trong nguồn mạch cảm xúc của thơ ông, vẫn cùng
ông trò chuyện. Thơ của ông, vì vậy, không phải chỉ là nỗi niềm tâm sự dành cho
đời và người đời, mà còn là lời tâm sự trò chuyện với một bóng ma vẫn lẽo đẽo
đi về theo chiếc bóng ông. Rất nhiều bài thơ trong Mưa Nguồn là lời trò chuyện,
tâm sự cùng bóng ma ấy với một không khí rờn rợn liêu trai:
Xin ngó lại bàn chân em bước
Vì em đi vào lúc gió đương
bay
Năm ngón nhỏ như sương đầm
lá ướt
Em đưa tay anh với bắt chừng
này
(Mùa xuân. MN tr. 38)
Và khi tỉnh thức, đối diện với
thực tại, họ Bùi là hiện thân của khổ đau:
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngữa sóng giữa lời
hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga
trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một
con
(Mưa buồn. MN tr. 156)
Từ hiện thực khổ đau của bản
thân, Bùi Giáng tìm thấy nơi Nguyễn Du niềm đồng cảm sâu xa về ý nghĩa bi đát của
kiếp người, với những con người mà số phận bị vùi dập trong dâu biển cuộc đời.
Nguồn cảm của Nguyễn Du chảy song hành cùng nguồn cảm của Bùi Giáng trong Mưa
Nguồn. Nhưng tín hiệu ngôn ngữ trong truyện Kiều đã được Bùi Giáng “trung dung”
và khai thác triệt để về ngữ nghĩa trên cả hai mặt về biểu tượng và biểu niệm,
biến thành những ẩn ngữ trong thi pháp của ông. Nhưng, khác với Nguyễn Du, ông
không cho rằng nguyên nhân của nỗi khổ đai kiếp người là do bởi “thiên mệnh”
hay “nghiệp báo” nào đó. Ông ý thức rõ cội nguồn của nỗi đau khổ nằm ngay trong
bản xhất của con người, trong hiện hữu của chính nó, một hiện hữu mà theo cách
nhìn của Sartre, đầy ngẫu nhiên và phi lý. Cuộc đời vừa là nơi độ thân, vừa là
“bến trầm luân” của con người. Cách nhìn đời của Bùi Giáng phần nào chịu ảnh hưởng
của trào lưu triết học hiện sinh, nhất là của Hiedegger, mang nặng tính chất bi
quan nhưng không tuyệt vọng. Trong giai đoạn sáng tác sau này của ông, chất
trào lộng ùa vào thơ ông rất thoải mái và rất hồn nhiên:
Bài thơ viết hôm nay dường dở
quá
Vì bỗng nhiên ông cảm thấy
thua gà
Gà gáy đẹp như vườn cây thắm
lá
Mà lời thơ ông mỗi lúc mỗi
già
(Gà gáy. Rong rêu tr.
79)
Phải chăng, thời gian đã
thanh lọc tâm hồn ông, đưa ông “siêu vượt qua những giới hạn kiếp người, những
hệ lụy nhân sinh, sống với hóa thân mới là tâm hồn hài nhi trong màu nguyên
xuân của cuộc đời như ông đã từng hẹn ước? “Mai sau hẹn với ban đầu. Chờ nhau
ngõ khác ngả màu nguyên xuân”. (Hẹn ước. MN tr.18)
Bùi
Giáng – thi sĩ kỳ dị
HUỲNH NGỌC CHIẾN
Một buổi sáng nào đó, nếu
tình cờ bạn gặp trên đường phố Sài Gòn một người đàn ông đứng tuổi quần áo xộc
xệch, với cặp mắt kiến dày cộm, trên vai mang đủ thứ lỉnh kỉnh, thỉnh thoảng
huơ chân múa tay, miệng nói lảm nhảm, thì bạn cứ tin rằng bạn đã gặp một bậc kỳ
tài rồi đó. Đó chính là Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng.
Tại một quán cà phê vỉa hè,
chúng tôi từng nghe ông “thuyết” về cái thế giới của người điên. Té ra cái thế
giới ấy lại kỳ diệu biết bao.
Càng nghe ông nói chúng tôi
càng ngẩn ngơ tự hỏi giữa ông và chúng tôi, ai mới là người điên thực sự? Thế
thì cái cõi Đời này dưới mắt ông và cái cõi đời theo cách nhìn của chúng ta.
Cõi nào là cõi thực? Thế giới
của ông là Thực hay Mộng? Là Ảo hay là Chân? Câu chuyện Trang Châu hóa bướm (1)
hay chuyện tiêu lộc (lá chuối và con hươu) (2) trong Xung Hư Chân Kinh của Liệt
Tử, nào phải chỉ với người xưa? Chính ông cũng đã tự nói về mình:
Kể từ khởi sự mọc răng
Đến bây giờ vẫn thường hằng
chiêm bao
(Biển Đông Xe Cát)
Hay:
Tiêu lộc mộng trường tâm bất
cạnh
Cuộc đời như giấc mộng tiêu
lộc dài, không còn để tâm đua chen theo nữa.
(1)Trang Châu nằm mơ thấy
mình hóa thân thành cánh bướm, tỉnh dậy không biết mình hóa ra bướm hay bướm
hóa ra mình (Nam Hoa Kinh – Tề vật luận)
(2)Người nước Trịnh nằm mơ thấy
mình ssan được con hươu, bè bỏ vào hố rồi lấy lá chuối che lại. Tỉnh dậy kể cho
vợ nghe. Người hàng xóm nghe lén được, bèn theo lời kể mà tìm được con hươu.
Song rồi lại cho rằng mình nằm mơ.
Theo thuyết nhà Phật nếu tâm
ta tịnh thì cõi thế sẽ thanh tịnh (Tùy kỷ tâm thanh tịnh tức quốc độ tịnh – Duy
Ma Cật Kinh) thế thì cái Thái Bình Điên Quốc của ông có phải là một Quốc Độ
Thanh Tịnh hay không? Một vị đại đức uyên thâm có lần nói với chúng tôi: “Có lẽ
Bùi Giáng đã đạt đến mức ‘tâm như hư không, vô sổ chướng ngại’(3) rồi chăng? Mà
giữ được một tâm hồn như tấm gương sáng cứ tùy vật đến mà cảm ứng, đó là sự tu
học theo truyền thống Đông phương. Chúng ta có nên đem tâm hồn hạn hẹp của mình
để tìm hiểu tâm hồn của ông?“
Bùi Giáng quê ở Quế Sơn, Quảng
Nam. Từng theo học trường Quốc Học ở Huế với các ông Hoài Thanh, Trần Đình Đàn,
Đào Duy Anh, là những vị thầy mà ông vô cùng kính mến về nhân cách lẫn sở học.
Ông mê truyện Kiều, mê thơ Huy Cận, và đột nhiên bỏ học mà lý do, theo lời ông,
là “bị chấn động dị thường” bởi tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận (Đi Vào Cõi Thơ)
để rồi đi về quê chăn dê và đọc sách. Nguời ta thường kể ông thường gánh sách
vô núi để đọc. Ông cũng tự giới thiệu mình:
Ngã tích tại
Trung Việt địa phương
Quảng Nam châu quận biến am
tường
Sơ khai du mục tầm phương thảo…
Tôi vốn là người ở vùng địa
phương Trung Việt
Đã biết thấu rõ khắp vùng Quảng
Nam
Ban đầu sống đời du mục, đi
tìm cỏ thơm…
(Lời cố quận)
Có lẽ trong giai đoạn này,
hình ảnh châu chấu, chuồn chuồn bay trên nhũng cánh đồng mùa thu miền trung xứ
Quảng đã để lại trong tâm hồn ông những ấn tượng đặc biệt không thể phai nhòa
nên nó cứ thường xuất hiện trong thơ của ông, đến nỗi ông phải nói:
“Thơ tôi làm ra là để tặng
chuồn chuồn châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi”
(Thi Ca Tư Tưởng)
Tâm hồn kẻ tài hoa mở ra đón
nhận mọi viễn tượng kỳ diệu của thiên nhiên để nó trở thành lẽ sống và lẽ chết
của mình. Khi được hỏi về tiểu sử, ông chỉ nói:
“Thi sĩ sinh ra giữa cỏ cây
và sẽ chết đi giữa cỏ cây li kỳ gay cấn”
(TưTưởng Hiện Đại)
Bùi Giáng là bậc thượng trí,
hầu như “Vô sở ngộ”. Ở miền trung du hẻo lánh xứ Quảng đó ông chỉ do đọc sách
mà “phát minh tâm địa”, như trường hợp thiền sư Huyền Giác kinh Duy Ma Cật. Từ
đó ông suốt đời cứ âm thầm đi theo con đường tư tưởng riêng biệt của
mình.
Sau giai đoạn “du mục”, ông
vào Sài Gòn dạy học và viết sách giáo khoa van học như: Một Vài Nhận Xét Về
Truyện Kiều, về Lục Vân Tiên, Về Chinh Phụ Ngâm, về Tản Đà, về Chu Mạnh
Trinh v.v…Song cũng chẳng được bao lâu. Điều đó cũng dễ hiểu vì sách giáo khoa làm
thế nào dung hợp được tư tưởng ngông cuồng của ông. Từ đó ông chỉ làm thơ, dịch
thuật và biên khảo. Từ các tác phẩm đầu tiên như Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn v.v… cho
đến các tác phẩm về sau như Sương Bình Nguyên, Trăng Châu Thổ, Đường Đi Trong Rừng
v.v… hầu như ông đã không ngừng nỗ lực sáng tạo nên một phong cách ngôn ngữ
riêng biệt mà ta có thể tạm gọi là “ngôn ngữ Bùi Giáng”. Ông đã khai mở một con
đường kỳ lạ đi vào các tác phẩm của thi hào Nguyễn Du mà theo ông là một thiên
tài quán tuyệt cổ kim chỉ đứng sau đức Như Lai về phương diện lập ngôn! Ông thường
dùng Kiều để “chú giải” Heidegger, Shakespeare v.v… Song giống như trường hợp
Quách Tượng chú giải Trang Tử, dùng tư tưởng cổ nhân để giải thích tư tưởng của
mình, nên đọc Trang cũng là để hiểu Quách. Cũng thế, đọc các lời giải thích của
Bùi Giáng về Nguyễn Du, về Hiedegger, Shakespeare cũng là cách để tìm hiểu tư
tưởng của chính ông.
Đọc sách của ông khó phân biệt
được biên giới giữa thi ca và triết học. Ông bàn về triết học như là làm thơ
như chuyện đùa rỡn. Ông đưa vào ngôn ngữ của mình cái lối trào lộng của người
dân xứ Quảng Nam, đặc biệt cách nói lái tinh quái của quê hương ông. Người đọc
thường gặp trong sách ông các từ như: tồn lưu, lưu tồn, tồn liên, liên tồn, tồn
lí tí ngọ, tồn lập tập trung, tồn lập tập họp… Trong các cụm từ nói lái đó,
ngay chỗ oái oăm nhất ông ưa đặt một chữ hợp nghĩa khác(ngọ,trung,họp). Ông
cũng ưa đùa rỡn như thế trong thơ mình:
Lọt cồn trận
gió đi hoang
Tồn liên ở lại xin làn dồn
ra
Người đọc “đứng đắn” ắt cảm
thấy khó chịu, song đường như ông cố tình đem cái tài hoa của mình trộn lẫn vào
cái thô tục – cái tô tục cụ thể chứ không bóng bẩy kiểu Hồ Xuân Hương,. Âu đó
cũng là nét ương bướng của kẻ tài hoa. Ông đùa rỡn với triết học, với thi ca.
Ông đùa rỡn với cuộc đời, với chính bản thân ông. Khoảng đầu năm 1975, người ta
thường thấy ông lang thang trên vỉa hè Sài Gòn, khi thì với khỉ trên vai, khi
thì với chó trên tay. Ông chơi với thứ vật có phải vì ông không có được một người
bạn tư tưởng như ông từng than thở trong lá thư gửi F. Nietzsche? (Lễ Hội Tháng
Ba)
Trước 1975, ông thường sống
trong lô cốt trước ĐaÏi Học Vạn Hạnh với các lon cơm bẩn thỉu. Lối sống kỳ dị
đó cũng không ảnh hưởng gì đến sự sáng tạo phi thường của ông. Ngay vào giai đoạn
người ta xem như ông đã bị điên nặng thì ông cho ra đời tập thơ Bài Ca quần Đảo
mà theo nhà xuất bản thi đây là một “đại dương thi ca”. Ông làm thơ dễ dàng như
công việc ăn uống đời thường. Nhiều thi sĩ xem ông là “hóa thân của thi ca”.
Chính ông cũng tự nhận mình là Trung Niên Thi Sĩ (đến bây giờ có lẽ ông đã là
Lão Niên Thi Sĩ rồi!) Ông làm thơ bằng tiếng Việt, thiếng Hán, thỉnh thoảng bằng
tiếng Anh và tiếng Pháp. Ngôn ngữ đã nhập diệu trong ông như cây đàn trong tay
người nghệ sĩ kiệt xuất. Chỉ ấn tay là thành giai điệu. Tự nhiên như nước chảy,
mây bay mà chẳng có chút dụng công nào.
Một lần khác chúng tôi ngồi
uống cà phê với ông, một ông bạn người Quảng Nam hỏi: “Thầy thường làm thơ như
thế nào?” Ông mỉm cười: “Qua làm thơ cũng giống như em là kỹ sư mà làm toán lớp
ba rứa thôi”. Chúng tôi thấy ông nói câu đó rất tự nhiên, rất thành thật, chẳng
có vẻ gì tự mãn, bởi vì tự thân các tác phẩm cũng đã ấn chứng được cho cái thi
tài của ông rồi. Đôi lúc chúng tôi có cảm tưởng rằng ông có thể đọc ngẩu hứng
thơ lục bát từ sáng đến chiều mà vẫn không vấp.
Ông rất mê sách kiếm hiệp mà
không biết có bao giờ ông tự so sánh mình với Hồng Thất Công chưa? (Mà chắc ông
cóc cần làm cái chuyện tào lao ấy đâu). Ông ăn mặc tồi tàn đến độ có lần vào
trong một tiệm sách lớn để nhìn tác phẩm mình bày trong tủ kính thì ông bị người
bán sách đuổi ra ngoài. Có lẽ họ không ngờ ông là tác giả. Ông mê đọc sách đến
mức độ kỳ lạ, điều đó cũng giải thích vì sao ông có một kiến thức phi thường về
thi ca và triết học. Khi chợ sách ở đường Đặng Thị Nhu chưa giải thể, ông cũng
hay lang thang ở đó để xem sách và uống cà phê. Một hôm, vào khoảng 1980, ông
ngồi uống cà phê, mơ màng nhìn sang bên kia đường, đột nhiên đôi mắt ông sáng rỡ
lên. Té ra ông nhìn thấy một cuốn sách, dường như bằng tiếng Hy Lạp, bị chủ quầy
đem lót dưới kệ sách thay cho gạch bởi vì đã từ lâu không có ai hỏi mua. Ông cuống
quít móc những đồng bạc cuối cùng nài nỉ mua – vì không đủ tiền – rồi ông ngồi
đọc say mê như người bị thôi miên, hoàn toàn không biết gì về mọi chuyện chung
quanh.
Xin bạn đọc đừng xem các mẫu
chuyện trên đây là những giai thoại về ông. Ông đã từng gọi các “giai thoại văn
học” là “những miếng giẻ rách” (Martin Hiedegger và Tư Tưởng Hiện Đại tập 1).
Viết về ông quả là điều mạo muội nếu không muốn nói là liều lĩnh. Trước 1975 đã
có nhiều tác giả viết về ông, song theo tôi ông chẳng mấy quan tâm. Nếu bài viết
đến tay ông có lẽ ông sẽ rất giận (?)
Tôi xin kính tặng ông hai
bài thơ thay cho lời cáo lỗi:
Bước ra từ
cảnh giới Như Lai
Làm người điên giữa cõi trần
ai
Aån ngữ ngàn năm ai hiểu thấu
Trọn đời bạn với cỏ hoa bay
Và:
Bút hữu phong lôi, thiệt hữu
thân
Tâm như lưu thủy, ý hành vân
Thần ni lòng tự qui sơn khứ
Bùi Giáng trong “cõi người ta”
Ý NHI
Buồn vui như thể thân mình
Ai chia nửa máu, ai giành nửa
xương
Đó là những buồn vui của Bùi
Giáng – nỗi buồn của khốc liệt, bi thảm của một thân phận khác thường, của một
ngưòi “chịu cuồng si để sáng suốt”, “chịu đui mù mà thỏa dạ yêu em”
Người ta biết đến Bùi Giáng
bởi những khảo luận văn học như những cuốn viết về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm,
Lục Vân Tiên… Những cuốn khảo luận triết học như Tư Tưởng Hiện Đại, Tư Tưởng Hiện
Đại & Hiedegger, những tác phẩm chuyển ngữ tuyệt vời như Cõi Người Ta,
Hoàng Tử Bé, Khung Cửa Hẹp, Mùi Hương Xuân Sắc…Nhưng người ta yêu thơ ông hơn cả.
Mỗi khi đọc những câu thơ
hay của Bùi Giáng tôi lại nhớ đến tiếng đàn “bốn dây rõ máu năm đầu ngón tay” của
Thúy Kiều, bởi những câu thơ được chắt ra từ máu của con người khắc khoải khôn
nguôi về thân phận con người, về thế gian này.
Ít ai trong số các nhà thơ
Việt Nam hiện đại lại viết nhiều về trần gian như ông. Lúc thì nguyện “yêu trần
gian nguyên vẹn”, lúc thì “sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi”, lúc khác
là:
Ta đếm lại từng ngón tay lẩy
bẩy
Đời chúng ta là mấy trăng
tròn
Yêu thiết tha cõi trần gian,
nhiều khi ông nhìn trời đất như đứa bé. Ông hỏi sông: “Ngàn mây về cuối mãi trời
xa. Nước có bằng lòng đứng đợi ta”. Ông bập bẹ: “Trần gian do cánh bướm cánh
chuồn chuồn. Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại. Con vi trùng cùng sâu bọ cũng
yêu luôn”. Ông kêu lên thảng thốt: “Ồ gót chân, anh đứng ngó như ngây”. Ông òa
khóc không gìn giữ: “Em ra đi đời bưng mặt khóc òa”.
Nhưng Bùi Giáng là đứa trẻ
biết rằng “Diều đứt dây trẻ cũng cầm bằng”. Thơ ông từ bài này sang bài khác, từ
trang này sang trang khác thắm đượm mối âu lo cho “Những nỗi đau về chẳng hẹn
giờ”, “Những thân xương máu đã đàng là ủy mị”.
Ông là con người:
Người kia đứng lại
Nghe trời đầy xuống hai vai
Gánh nặng đó ông gánh chịu
suốt cả cuộc đời đơn độc của mình. Nhiều khi ông đã thốt lên “Đời dại khờ như một
giấc chiêm bao”, nhiều khi ông lắng nghe “Mấy đời ly biệt rẽ đau một mình”. Nhiều
khi ông van nài “Em ở lại với đời ta em nhé. Em đừng đi cho ta nắm tay
em”…
Ý thức sâu xa về sự hữu hạn
của kiếp người, của lẽ hợp tan, ông luôn phấp phỏng lo lắng:
Nhưng em hỡi trần gian ôi ta
biết
Sẽ rời xa vĩnh viễn với người
thôi
Và:
Đài vũ trụ hồn chiêm bao rạng
tỏ
Một nụ cười thế giới sẽ chia
đôi
Mỗi cảnh, mỗi vật đều in dấu
nỗi phấp phỏng, lo lắng ấy. Nào là “Đường vất vã vó ngựa chồn lỏa đảo”, nào là
“Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng”, nào là “Mình cát lạnh chân lạc đà bé bỏng.
Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”, nào là “Ngày đi đổ bóng sau người/ Mộng hờ
biết có buồn vui em về”, nào là “Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai”…
Giờ thì con người yêu
thương, lo lắng cho cõi người ta ấy đã ra đi. Có lẽ trước lúc an nghỉ ông vẫn
còn băn khoăn:
Còn không một bận quay về
Vườn xưa ngó bóng trăng thề
vàng gieo
Vẫn giữ nguyên lời nhắn gửi
hay là niềm mong ước của ông:
Em sẽ khóc khi nhìn trong
khóe mắt
Thấy một mình người đi lại
lang thang
Còn ghi giữ ân tình trong cỏ
nhặt
Múa vi vu vì hẹn với trăng
ngàn.
Ý NHI
SG 9. 10. 1998
Phần 4
Truy
niệm
Thường Quán
Lá thiên thu đẹp làm thinh
bên đường
Bùi Giáng
Trận gió cuối cùng của trưa
đã để người nằm im
Nằm im trong, không đi đâu nữa
trên vỉa hè kề cà trái đất
ngoài kia, thành phố mái tôn
xơ xác cuối Hai Mươi
Trận gió thương hải vân ấy
là tất cả
Ðể người nằm im
Người đã mang những vòng hoa
gai trên đầu
Người đã hát vạn lời triều hải
thiên thanh
Người nằm sắp về
Mà trận gió trưa
Trận gió trưa mẹ bao la
Ðôi mắt như nhiên yên lặng
Bàn tay xanh từ kêu con
ngoài phố
Ngoài phố những đứa trẻ bán
báo
Những đứa trẻ chát chát rễ
cây ngoài phố
Chạy lách giữa những đàn xe
Dream
Trong cõi chiêm bao lần cuối
của người
Chúng vẫn bay non lảo đảo
như là chim
Hay là lá? Mà người tận lực
không đủ xoay vòng
Một vòm mái hiên
Dù ngực dù hai chân dù hai
lá phổi
Sự cẩn trọng bắt đầu giữa
tim
Nhưng người không còn nói
(những gì người đã thấy thì
không ai khứng nỗi)
Bây giờ hồi còi trưa những
con tàu đen rống lên ngoài đại hải
Những bằ bò cuối cùng trong
lũng núi
Mây trắng từ Mỹ Tho tới Duy
Xuyên
Ðội nòn rách để tay lên khóe
miệng.
Mặt đất quê hương của người
vẫn tiếp tục một buổi trưa
Ðâm xiên vào cổ áo lập lòe
và lổ đổ
Ai đó nói nhỏ: Thôi em đừng
Cuộc tận hiến cũng có hồi kết
của nó
Những đứa trẻ vừa nghe tin
Chúng tay tìm những chùm bông
cỏ
Bốn năm người thi sĩ sót lại
trong thành phố
Tới bên đèn đặt những nhành
lá
Rồi khoảng yên lặn thăm thẵm
giữa những hồi gió
Rồi quán sách ở ngã ba
Một thềm hiên chùa một mái
cà phê
Một mặt bàn ngó ra trời
Ngó lui vào là cổng ngỏ
Ngoài cổng ngỏ là bát ngát
Những âm vọng của lời
Và những lầu đài ngôn ngữ u
tịch của người
những bài ca trưa người từng
bước đi, từng hát
Bụi cát, tán cây, nữ sinh,
tiếng xe cộ, âm mây về, bát ngát, ho,
Khao khan phổi, lá ngực,
người hát
Người thấy ngược (như sấm chớp
trời xanh) người hát
mây trắng từ Mỹ Tho tới Duy
Xuyên
mây trắng từ Senegal về Ðiện
Bàn
mây trời Sài Gòn mây trắng
Hy Lạp
mây trắng Hà Tĩnh chiêm bao
Uyên nguyên
mây trắng và một chuỗi tiếng
cười nghèn nghẹn
một buổi trưa nào
Như Dzẫn Dzậy Ðó
Khi tất cả đã ngủ trong suốt
người hát và người nói răng
rứa mi và
Ðể làm chi
Ðể làm chi để làm chi
Những làm thinh bên đường lá
thiên thu hẹ
Trong giấc mộng của những
mái tôn rỉ đỏ
(và những con người dưới một
mái hiên chùa Sài Gòn)
Mây trắng đang kéo hàng
và màu xanh đang sửa lại
khuy áo cho người
Ôi! trong suốt xanh, người
người làm thinh
THƯỜNG QUÁN
Hiện
Tượng Bùi Giáng
THỤY KHUÊ
Sinh thời, Bùi Giáng bảo: “Hãy
để cho tôi yên, tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ
tôi” Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ, cho nên ít ai bàn đến thơ ông.
Như ông, Bùi Giáng sống tiêu
dao suốt cõi mù sa bên rừng. Thơ ông cả đời lục bát. Tại sao lục bát? Bởi vì, đối
với Bùi Giáng : “Lục Bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất
của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”.
Về bản thân mình, Bùi Giáng
tự họa: “nhe răng cười trong bóng tối...không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ
bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn... Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm
cụi đọc sách hoài... Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài... Chuốc sầu vạn đại
thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh.”
Hỏi về tiểu sử Bùi Giáng trả
lời:
Hỏi tên? Rằng biển xanh đâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất
xa
Gọi tên là một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đó là
nghi tâm
Trên báo Văn, số 26 tháng 8
năm 1984, Mai Thảo kể lại rằng khi hỏi về cái lực viết phi phàm của Bùi Giáng,
Thanh Tâm Tuyền lắc đầu cười: “chịu, không giải thích được [...] Nói đến mấy
ngằn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô
cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Ði ra thơ. Ðứng ra thơ. Chứ không phải
nghĩ thơ, làm thơ.”
Vẫn theo lời Mai Thảo, ông
Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, thuật lại: “Anh lang thang suốt ngày
chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say
ngất rồi về lầu lăn sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ
nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có
giấy, có buổi sáng, buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm bảy trăm trang.
Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc.”
Mai Thảo kể tiếp khi làm số
Văn, đặc biệt về Bùi Giáng: “Tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật.
Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không
đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi
xuống và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ
[...] Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng, cứ cánh bướm rong chơi, cứ
phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi.”
Về những cơn điên Bùi Giáng
Phạm Xuân Ðài kể trong lời tựa tập thơ Bùi Giáng: ”chỉ có thơ và những cơn điên
[..] Bây giờ (năm 1992) anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì vẫn viếng thăm
anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện ở
vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ đại học Vạn Hạnh, là nơi ngày xưa anh thường
trú ngụ) đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ cử chỉ rất linh động, đặc biệt
đôi mắt sáng quắc bừng bừng [...] Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt,
động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một
đối tượng vô hình.”
Ðó là hiện tượng Bùi Giáng,
qua lời kể của những người thân trong giới văn học.
Bùi Giáng là ai? Bùi Văn Vịnh,
em của Bùi Giáng , cho biết: Bùi giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng
Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Thuở nhỏ, học trường Bảo An
tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế, năm 1950, đậu Tú
Tài 2 văn chương ở Liên Khu 5. Sau đó ra liên Khu 4 học tiếp đại học. Nhưng sau
khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng Bùi Giáng quay về Quảng
Nam và bắt đầu quảng đời được gọi là “Mười lăm năm chăn đê ở núi đồi Trung Việt“.
Tháng năm 1952, Bùi Giáng về
Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài Gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa.
Lần này, sau khi nhìn danh
sách giáo sư giảng dạy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường
và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư
thục.
Từ năm 1957 đến 1997, Bùi
Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo,
Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày,
có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không
hai.
Chúng ta thử tìm hiểu bản chất
của kỷ lục ấy qua một vài trang sách của Bùi Giáng trong con đường ngã ba bước
đi của tư tưởng, do An Tiêm Xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn Năm 1972, và tái
bản tại hải ngoại.
Có thể nói trong cuốn sách
này, cái gọi là điên của Bùi Giáng phát hiện rõ rệt dưới hình thức loạn ngôn,
ngộ chữ cao độ. Về Heidegger, Bùi Giáng viết: “Tất cả con đường tư tưởng của
Heidergger là mọi mọi lối nhiếp đẫn bước đi về những vùng u kín trong cổ lục
uyên nguyên” (trang 13)
Về Nietzsche, ông viết: “Nietzsche
không phải là đại hải đại dương, Nietzsche đã đón vào lòng mình một dòng sông
dơ bẩn. Và từ đó? Từ đó, Nietzsche biết thành một loại người mạt hậu theo mọi
nghĩa thái thậm ly kỳ. Con người mạt hậu và hư vô chữ nghĩa, con người mạt hậu
và sa mạt tinh hoa, con người mạt hậu và Mạt Hậu “Tử Sinh Môn” Hoạt Tinh Thể,
con người mạt hậu và Siêu Hình Học Lãnh Ðịa, con nguời mật hậu và Ðịnh Mệnh Phối
Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, ÐỊnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, và Siêu Hình Học
theo nghĩa Sử Lịch chân lý của Hiện Thể như là Hiện Thể, Sử Lịch chân lý của Hiện
Thể và Ðịnh Mệnh Tồn Lưu thoái tàng ư mật, Tồn Lưu thoái tàng ư mật vàHằng Thể
bước vào vòng di vong trầm một, từ di vong trầm một còn chút hậu tình ân ốc nào
sẽ “ trột mầm” cho một trận Dịch Chuyển thông hành của Ðịnh Mệnh hay không? Hay
Siêu Hình Học vẫn mãi mãi kiên trì tồn lập trong cuộc đú đỡn “ trê lưu ư ngoại”
bất khả tư nghị khuyết phạp từ Hoạt Tinh Thể của Hư Vô?...” (trang17)
Và cứ như thế, Bùi Giáng sản
xuất 499 trang Con Ðường Ngã Ba, Bước Ði Của Tư Tưởng.
Ðiểm thích thú nhất của người
đọc trong cuốn sách này là những trích đoạn thơ Bùi Giáng, phần lớn là những
câu thơ hay, tỏa ra những suy tư sâu lắng về bản chất con người.
Nhưng trong 499 trang chữ ấy,
người đọc tìm thấy rất ít dòng đứng đắn và chỉ tỉnh táo bàn về những vấn đề triết
học như hiện sinh và bản thể, tồn tại và thời gian, mặc dù ông rất ngưỡng mộ
Heidegger, người thầy hiện sinh được ông trích, dịch một cách kỳ cục. Ví dụ như
câu này, dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Ðức: “Nhưng mà lời thuyết thoại trì ngự,
trong (khởi từ) Ðịnh Mệnh Phối Tiết mở phơi, sẽ ra sao nếu như cái Sở Khải Khai
trong Song Trùng Tịch Hạp bị Ðịnh Mệnh Phối Tiết (ruồng rẫy) bỏ phó mặc cho cuộc
thể hội vất vơ nhân tuần (dung thường nhật kệ ) của con người từ diệt chúng tử
chúng sinh?”
Dù đặc sệt những tên tuổi
triết gia, nặng ký trích dẫn thiên kinh, vạn điển; dù có mộtsố ý trội lên về vấn
đề đọc sách, đọc Nguyễn Du, đọc Bùi Giáng, về sự gặp gỡ giữa những nhà tư tưởng
lớn, đả kích một số nhà xuất bản không tôn trọng văn bản của tác giả, Con Ðường
Ngã Ba vẫn không phải là cuốn sách bàn về triết học, hoặc đưa ra một hệ thống
tư tưởng mạch lạc; mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ
thần trú, nhại triết học, nhạo người đọc. Cho nên khi TẠ Tỵ viết: “Bùi Giáng đối
thoại với Nietzsche, Sophocle, {arénide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus... “
thì e rằng Tạ Tỵ quá lời. Sự tìm kiếm siêu hình nơi Bùi Giáng, như chỉ dừng ở
phần vỏ của ngôn từ: tồn sinh, tồn lưu, hằng thể, hư vô, logos,... mà không đi
vào nội tâm của suy tưởng. Hoặc có lẽ Bùi Giáng chỉ muốn rỡn chơi. Nếu ông nhắc
tới Như Lai, Bồ Tát, Heidegger, Parménide, Platon, Socrate cũng chỉ như ông nói
đến Nam Phương Hoàng Hậu, Dương Quý Phi, MarilynMonroe, đười ươi, chuồn chuồn,
châu chấu v.v... vậy thôi, trong một trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”, một tinh thần
anarchiste toàn diện. Thái độ arachiste của Bùi Giáng, ở đây gần với nghĩa “phức
loạn tri năng” của Ðào Duy Anh và rất xa với nghĩa “vô chính phủ” mà người ta
thường gán cho arachiste theo nghĩa hẹp.
Phải chăng Bùi Giáng chỉ muốn
“hù dọa” người đọc không chuyên môn? Hay ông muốn nhại, diễu, những hệ thống
suy tưởng mà một số trí thức quen dùng như mẫu mực hoạt động tinh thần? Biến
chúng thành một thứ charabia, ngôn ngữ vấn đáp chuồn chuồn, châu chấu, nói trẹ,
nói xàm, nói bá láp và ông có khả năng sản xuất mỗi ngày vài trăm trang như thế?
Thái độ anarchiste toàn diện
này mở rộng trong đời sống, trở thành một bản năng phản kháng quẫy đời: Cởi quần
áo giữa lớp học, tắm nơi công cộng, ngủ vỉa hè, trở thành clochard (hành khất
say rượu), mặc áo rằn ri lính ngụy, để chỉ đường...tất cả những “cơn điên” ấy của
Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt Bùi Giáng không điên.
Không điên vì ông chỉ đẩy đến
cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể. Cởi dần
năm bảy lớp quần áo chẳng qua chỉ là hiện ảnh “trút gọn hiện tượng”, bóc vỏ các
tầng lớp bề ngòi của “hiện tượng” để tìm ra bản chất trong hiện tượng luận
Husserl.
Trở thành clochard là một
cách thể nghiệm tự do tự hủy.
Trong những đệ tử hiện sinh
thời ấy. Bùi Giáng là người đi xa nhất trong hành động tự hủy và hành xác. Tự hủy
để chứng minh Cá nhân con người đã chán ngấy cuộc sống, nó còn quyết định tự do
lựa chọn, và sự hủy hoại bản thân là sự lựa chọn tiến gần nhất đến tự do tuyệt
đối.
Sau 75, người ta càng yêu
Bùi Giáng hơn, vì trong một xã hội được bị lồng vào khuôn phép, một xã hội đã ổn
định cơ thể, công chúng yêu mến những gì bất thường, yêu những kẻ ngoại đạo, bất
ổn.
Bùi Giáng là người ngoại đạo
duy nhất dám làm lũng đoạn môi trường ổn định bằng thái độ tư hủy. Cái điên của
Bùi Giáng là cái điên sáng suốt trong một tình thế không có cứu cánh nào khác nếu
không tìm về bản thể của con người.
Thơ Bùi Giáng, hiện sinh
trong đoạn trường và định mệnh
Những “dạ thưa”. Những “tồn
sinh”, những “phố thị”, những “cố quận”, “đười ươi”, đã trở thành những cốt
cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng:
Dạ thưa phố Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông
Hương
Dạ thưa Vĩ Dạ về gần
Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ
em
Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở
đầu đã rong chơi, lãng mạng, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những
lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù
du, dâu bể, ẩn kín một dụng tình khép mở Xuân Hương:
Cá ở ngoài khe có ít nhiều
Cồn lau cỏ lách có hoang
liêu
Em về có hỏi răng ri rứa
Nhắm mắt đưa chân có bận liều.
(Bờ trần gian)
hoặc:
Bỏ hai chân xuống một vùng
Nước truông là lá thu rừng
xuống khe.
Những dòng thơ trên đây,
theo như lời Mai Thảo, Bùi Giáng đã làm một mạch, tại chỗ, xuất bút thành thơ.
Huyền thoại Bùi Giáng, thi sĩ bẩm sinh, poète né, trong thập niên 60 – 70, được
xác định như một hiện tượng văn học độc đáo. Như thể ông biết trước đường đi nước
bước của thơ. Có khả năng thiên bẩm về sự lang thang ngơ ngẩn của nhũ trên đời,
và chỉ cần huơ tay, bắt chúng, nhốt vào ngay câu lục bát, như Bình Nguyên Lộc
“nhốt gió”, là có ngay thơ Bùi Giáng:
Một hôm đếm một ra ba
Thật là lạ lắm ấy là cái chi
Hay
Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè
lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau
Bàn chân với nước cùng nhau
lại đè.
(Lá hoa cồn)
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất
xa
Gọi tên là một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi
tâm
Bốn câu tự họa trên đây dường
như gói trọn bản chất thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng. Một bản chất đa mang nỗi hiện
sinh hoang tưởng trong một “đạo khờ” gắn bó với đoạn trường tái tân thanh (chữ
củ Bùi Giáng tiếp nhận Nguyễn Du như một thông đạo, thông thư, thông mệnh văn học).
Thân phận dâu bể của con người,
nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến đổi làm
sao đo, đếm, đặt tên được? Ðến bản thân ta, ta còn không biết, nữa là... Nếu
trường phái hiện sinh (Sarter) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng, định
mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo
nên những vần thơ đậm dấu Ðạm Tiên, hắt ra những ánh siêu thực:
Em chết bên bờ lúa
Ðẻ lại bên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn chân trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng
(Mưa nguồn)
Bùi Giáng có những câu thơ rất
cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn
trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.
Thưa em buổi trưa đi vào giữa
lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút
mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm
đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng
không thành
Không gian Bùi Giáng, một
cõi hư không đầy dấu hỏi, bồng bế nhau đi, năm này qua tháng kác, một cõi trùng
sinh, di động luân hồi.
Những nhịp bước trên đường
còn dội mãi
Vang về đâu không vọng lại hồi
âm
Của réo rắt riên một lần mãi
mãi
Gió phương trời ủ mộng giữa
hoa tâm
Em hỏi mãi tuy biết lời đáp
lại
Chảng bao giờ thỏa đáng giữa
đời câm
Em ngó mãi những chiều về trở
lại
Manh những gì về trong cõi
trăm năm....
(Chiều – Mưa nguồn)
Từ Nguyễn Du, Bùi Giáng
trích tạo nên một mô-típ bạc mệnh hiện đại, mầu sắc siêu thực, tài tử và tài
hoa, môt chất thơ giao thoa Nguyễn Du Bùi Giáng
Lớp phiêu bồng mọc trăng
ngàn
Thành xưa phố cũ muôn vàn
phía sau
Ðạp thanh vẽ bóng lộn mầu
Góp dâng cữ gió nghiêng đầu
sương mây
Ngõ ban sơ hạnh ngân đài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử
qua
Xin chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên
ngàn
(Mầu hoa trên ngàn)
Nơi Bùi Giáng còn một mô-típ
bạc mệnh, cuồng khất, tổng hợp tính chất đoạn trường, tồn sinh, ngông ngôn, rất
liều và rất loạn, mà cũng là vọng âm của niềm hoang mang tuyệt đối:
Hồng quần rất mực bước ra
Trường quần duệ địa phong
hoa lá cồn
Phải rằng nắng quáng dập dồn?
Hay là đèn trút linh hồn oái
oăm?
Phải là nguyệt giữa đêm rằm?
Nguyên tiêu lãng đãng lá nẳm
ngẩn ngơ?
Kể từ hằng thủy ban sơ?
Kể từ sơ thủy về tờ vẽ
trang?
Kể từ thu tạ lên đàng?
Rừng phong thu đã quan san
nhuộm mầu?
Phải rằng đó trước kia sau?
Hay là sau trước còn tao ngộ
gì?
(Con đường ngã ba)
Nhưng bi kịch của Bùi Giáng
là ông lập lại mình.
Trong gần nửa thế kỷ làm
thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự
lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về
mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của
Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du... ban đầu
làm xuyến xao người đọc: Em về rũ áo mù sa, Trút quần phong nhụy cho tà huy
bay. Nhưng vì lập lại nhiều lần chúng bị phá giá. Hiện tượng phá giá này
có mặt ngay ở những tác phẩm đầu và chủ yếu của Bùi Giáng.
Từ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn,
năm 62, 63 đã thấy xuất hiện tính chất đoạn trường, tồn sinh nhu tinh thần
chínhtrong tư tưởng của Bùi Giáng: Nguyễn Du, Tản Ðà gặp gỡ Heidegger, Breton
phóng sinh một tạng chán đời mới lạ. Bài Rượu Uống trong Lá Hoa Cồn, một thứ đoạn
trường ngông rất lãng mạng siêu thực, tiêu biểu cho tính chất lang thang trong
cấu trúc thơ Bùi Giáng:
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trăm năm gục hai bờ tử
sinh
Ðộng hờ hững chúa điêu linh
Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ
phơi
Nhà ma cửa quỷ đi đời
Chìm hơi thở đục trong lời
xuân xanh
Càn khôn xiêm mỏng che mành
Về trong thiên hạ em thành
thiên thân.
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ lụy còn trơ bên
mình
Tài hoa tiếng vọng điêu linh
Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh
Như sao.
Thưa em từ bữa nghiêng chào
Chớm trang đầu chợt sóng
trào trường giang
Em đi rắc lá trên đàng
Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn
kia
Mùa xuân mưa rưới mộng lìa
Về trong nắng hạ mép bìa sai
bâu
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi
ma
Chạy quang cồn cụm lá già
Rách như bươm suốt ruộng sa
mạc đồng
Càn khôn gió đổ chất chồng
Rú như beo rống như hùm đổi
hang
Trên rừng dưới lũng tan
hoang
Vẫ sừng sững bóng chắn ngang
quỷ sầu
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng
mờ hỏi ma
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm
bao
Nhìn nhau trong lũy ngoài
hào
Lời phôi dựng một điệu chào
dị sai
Trên đầu thế kỷ chia hai
Nguồn man mác lạnh tìm ai
bây giờ
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận
trường
Chung cầm dâu biển khôn lường
Chân trời mộng lý con đường
chia ba
Nam đình doanh trại dàn qua
Trống chầu trùng ngộ thưa là
không mong
Hoạt tồn phát tiết sầu đong
Thưa em rượu uống bây giờ là
điệp khúc mấu chốt dẫn đến câu thơ thứ nhì: Là trăm năm gục hai bờ tử sinh. Cả
hai nằm trong cầu trúc song song, tổng hợp quan niệm ngông, đoàn trường và hiện
sinh toàn bài. Câu ba, câu bốn: Ðộng hờ hững chúa điêu linh, Em làm Hoàng Hậu mọc
tình cỏ phơi, đệm thêm chất lẵng lơ dục tính, nhưng được loãng đi vì loại hình
này được Bùi Giáng dùng nhiều. Rồi chìm hơi thở đục trong lời sương xanh, một
câu rất hay bị đặt bên một câu lãng xẹt: Nhà ma quỷ đi đời. Nếu chúng ta đọc đến
nhịp thơ thứ nhì:
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên cổ luỵ còn trơ bên
mình
Cũng vẫn thấy nguyên những
nhược điểm như nhịp thơ đầu, tức là trong phần thơ đệm có những vội vàng, dễ
dãi, ghép chữ, ghép ý rất sáo: Tài hoa tiếng vọng điêu linh, Phạm Ðan Phượng chết
theo Quỳnh Như sao.
Ở những nhịp sau, thì ngay
chính điệp khúc mấu chốt:
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa lên bờ đuổi
ma
Thưa em rượu uống bây giờ
Là trong lát nữa trăng
mờ hỏi ma
Thưa em rượu uống bây giờ
Là thiên thu lại còn trơ hận
trường
Ðã có sự lập lại chính mình
như thế, như thể nhà thơ tiện tay bắt được chữ nào vội bỏ ngay vào lục bát,
không màng nhìn lại những câu thơ đầu nữa.
Tất nhiên láy là một quy ước
rất thường trong thi ca. Nhưng láy chỉ làm tăng giá trị thơ khi nó dưa đến những
dồn dập hoặc trong cảm xúc, hoặc trong nhịp điệu, hoặc trong sinh động... Tức
là láy phải đưa tới một trạng thái căng thẳng, tới một vận tốc khác trong tiến
trình âm và ý.
Ví dụ:
Này chồng, này vợ, này cha
Này là em ruột này là em dâu
Là một trong cách láy của
Nguyễn Du, vừa tăng vận tốc miêu tả, vừa gia tốc sức ép của hiện thực, rành
rành, chính xác, chỉ mặt, chỉ tên.
Hoặc:
Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho
coi
Láy ở đây lũy thừa mật độ ác
liệt của Tú Bà, hoặc:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh
bưồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về
đâu
Mỗi lần láy là một lần Nguyễn
Du chuyển cảnh, chuyển tình.
Sự láy lại, nơi Bùi Giáng, rất
thường khi chỉ là láy dập dình tại chỗ, láy lười, thấy hợp vần, tiện thể thì
láy. Láy hồ đồ ít khi mang tới trạng thái mới, cảm xúc mới, hoặc một sức ép gia
tăng, mà chỉ cho ta một cảm tưởng dằng dai, lai tạp:
Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc
meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều
khe mương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường
bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ
ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người
thuyền quyên kia
(Sa mạc trường ca, Cầu nguyện
Ca)
Jacques Brel, năm 1966, khi
tuyên bố ngừng hát ở tột đỉnh danh vọng, trả lời câu hỏi: “Tại sao ông ngừng
hát lúc này?” Brel bảo: “Tôi ngừng vì muốn giữ lòng ngay thẳng với thính
giả và với chính mình. Bởi vì khi người nghệ sĩ như tôi, đã nắm vững được tất cả
những yếu tố kỹ thuật làm lay động lòng người, thì đó sẽ có khuynh hướng ăn
gian (tricher), phong tỏa người nghe bằng tất cả những kỷ sảo của mình, và khi
tôi biết mình sắp đi đến chỗ bước vào kỷ sảo, tôi ngừng” Tất nhiên, Brel
chỉ ngừng hát hai năm và năm 68, khi ông trở lại với âm nhạc, đã với một tinh
thần khác, hẳn Brel biết mình đã đoạn tuyệt được với ý định dùng kỷ sảo để thu
phục lòng người. Và Brel ở lại với âm nhạc thêm sáu năm nữa.
Ở Bùi Giáng hình như không
có sự tự giới ấy. Cho nên, biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham
chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá hơn như:
Bụi thu mờ ai phủi với hai
tay
Hoặc:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên
màu ấy không
Ta đi còn giữ đôi giòng
Lá rơi có dội ở nơi sương mù
Khỏi bị lọt vào khu rừng
hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại.
Ám ảnh đoạn trường, tư tưởng
và ngôn ngữ Nguyễn Du theo đuổi Bùi Giáng suốt đời. Những tập thơ mới nhất, in ở
hải ngoại những năm gần đây càng lộ rõ. Trong những cuốn thơ Bùi Giáng (sđd),
Bùi Giáng 94 (in tại California năm 95), và một phần tập Chớp Biển (sđd), Bùi
Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông
đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường
dựa vào ý một câu Kiều:
Rằng xưa ký ức đàn bà
Tên là phụ nữ, tuổi là dấn
thân.
.... Trước đèn một
tập mở ra....
Biển dâu lục địa cõi mièn....
Cảo thơm lần giở gió giăng dậy
thì
Ám ảnh “mù sa”, ám ảnh “chỉn
e” ám ảnh “vân mòng”, mai sau”, “trăm năm”, ngẫu nhĩ”, “phong tình”, “cổ lục”,
“dặm về”, “tử sinh”... trở thành lớp da thứ nhì của Bùi Giáng:
Rừng phong thu đã nhuốm màu
Quan san ngần ấy tư trào ngần
kia....
Chốn nào mộng mị chiêm bao
Chốn này tỉnh táo tiêu tao
vân mồng
Từ cảnh sang tình, từ mơ
sang thực, ám ảnh ngông ngữ trở thành ám ảnh tư tưởng. Bùi Giáng đã cạn dần hồn
mình và sống hồn Nguyễn Du trong đoạn cuối đời:
Em đi từ tỉnh mộng đầu
Một mình anh ở mang sầu trăm
năm
Em từ vô tận xa xăm
Trùng lai chất vấn: Từ trăm
năm nào?
Những câu hỏi mà Bùi Giáng
trải suốt đời thơ, thắc mắc, tìm kiếm, đặt nghi vấn về cỏi đi cõi ở, cõi có,
cõi không, biết đâu hôm nay Bùi Giáng chẳng đã tìm được Nguyễn Du ở một cõi
trùng lai nào đó, và ông đang chất vấn người thầy về nỗi đoạn trường ấy, từ
trăm năm nào?
THỤY KHUÊ
Tháng 10/1998
Bùi Giáng,
Càng điên... càng tỉnh;
Càng già... càng lãng mạn
Trong bài “Chép thơ” in
trong tập Bùi Giáng 1994 do thân nhân của Bùi Giáng Xuất bản tại California năm
1995, có hai câu mở đầu như sau:
Chép bài thơ cũ tặng em
Những bài thơ mới tèm nhem
tâm hồn
Ðó là nhận định của Bùi
Giáng về chính thơ của ông: những bài thơ ông mới viết sau này “tèm nhem tâm hồn”,
hay nói cách khác, sướt mướt đầu y những cảm xúc dễ dãi, một điều hình như ông
không thể tránh được nhưng ông lại không thích mấy, nên ông không muốn chép tặng
người thân.
Trong một bài thơ khác, “Từ
bấy tới nay” in trong tập Thơ Bùi Giáng do Thế Kỷ 21 xuất bản năm 1994, Bùi
Giáng, một lần nữa, lại ghi nhận sự thay đổi trong thơ của mình:
Chợt mùa thơ vội đổi giòng
Cỗi nguồn cũng bởi tự lòng
mà ra
Nhớ, trong bài “Xuân xanh
người Tàu” in trong tập mùa thu trong thi ca, năm 1969, nhân nhắc đến Nam
Phương Hoàng Hậu Nguyễn Thị Lan, Bùi Giáng làm hai câu thơ, trong đó, câu đầu
tiên hao hao như câu trên:
Chợt mùa thơ vội đăm chiêu
Bên mình phố thị Lan đìu hiu
đi
Câu thơ sáu chữ, chỉ khác
nhau hai chữ sau cùng. Nhưng đó là sự khác biệt quyết định. Sự thay đổi, ngày
xưa, chỉ là một sự thay đổi nhỏ nhoi: hơi thở tự dưng chùng lắng xuống, trầm
ngâm hẳn đi khi nhớ tới người phụ nữ mình ái mộ. Sự thay đổi hiện nay không những
đột ngột mà còn quyết liệt, toàn diện. Là một sự “đổi giòng”. Từ sông Thương
hay sông Mã hay ngược lại. Biến thơ Bùi Giáng, giai đoạn trước, giai đoạn sau,
có những khác biệt căn bản trong phong cách. Trong bài “Thuở chưa điên” in
trong tập thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990, Bùi Giáng
nói về hai đoạn thơ ấy:
Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quang xiên
reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn
thân
Bài thơ cấu trúc trên trục đối
lập: lúc người chưa điên thì thơ lại như điên; lúc người đã bị xem là điên thì
thơ, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn và nhảm nhí lại rất hiền triết, chứa đựng thật
nhiều tâm sự hắt hiu về cuộc đời.
Trước năm 1975, Bùi Giáng đã
có một số những cơn điên ngắn. Trong lời giới thiệu Bùi Giáng in trong cuốn Thơ
điên... thứ thiệt do Thái Bình Thiên Quốc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970, các
bác sĩ làm việc trong dưỡng trí viện Nguyễn Văn Hoài đồng thời cũng là những
người đứng ra biên tập tập thơ, cho biết, lúc đầu Bùi Giáng bị xếp vào loại
điên nhẹ, nhưng từ tháng 5 năm 1969 thì ông bị chuyển sang hạng điên nặng. Tuy
nhiên trước năm 1975, ông chỉ bị điên từng cơn. Sau 1975, bệnh tình của ông trở
nên nặng hơn; những cơn điên đến với ông thường xuyên hơn và cũng kéo dài hơn.
Nhưng có điều lạ là, nếu so sánh các tập thơ của Bùi Giáng xuất bản trước năm
1975, sau tập Mưa nguồn, với các tập thơ của ông sau năm 1975, cả ở hải ngoại lẫn
ở trong nước, chúng ta sẽ thấy ngay là những tập thơ sau này tỉnh táo hơn hẳn.
Thơ Bùi Giáng trước năm
1975, trừ tập Mưa Nguồn và phần nào, tập ngàn thu rớt hột, là một cuộc tra vấn
đầy khắc khoải về khả năng của ngôn ngữ. Ðó là những bài thơ viết về ngôn ngữ của
một kẻ mà số phận bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện diễn đạt
và hơn nữa, như một cách thế duy nhất để tồn tại. Ông làm thơ như một kẻ say mê
chơi trò chơi chữ nghĩa:
Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba
hôm
Bôm ha? đạn hả? Bao gồm
Dạo ấy Bùi Giáng có lẽ chưa
đọc Jacques Derrda, triết gia hàng đầu trong trào lưu hậu cấu trúc luận
(post-structuralism) và hủy cơ luận (desconstruction), người bắt đầu nổi tiếng
tại Âu và Mỹ trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1972, nhưng mãi đến năm 1975,
tôi chưa thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ là được biết đến nhiều tại Việt Nam.
Trong lý thuyết của Derrida, có một luận điểm quan trọng: nếu ngôn ngữ, nói
theo Ferdinand de Saussure là một hệ thống bao gồm một chuỗi những khác biệt về
âm kết hợp với một chuỗi những sự khác biệt về khái niệm thì, theo Derrida, mối
quan hệ giữa âm và khái niệm, hay nói theo thuật ngữ ngôn ngữ học, giữa cái biểu
đại (signifier) và cái biểu đạt (signified) không phải là một thứ quan hệ ổn định.
Derrida đặt ra từ “différer” trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là hoãn vừa có nghĩa
là khác. “Khác” là một ý niệm về không gian: ký hiệu này được phân biệt với các
ký hiệu khác. “Hoãn”, ngược lại, là một ý niệm về thời gian: một cái biểu đạt để
ám chỉ một cái được biểu đạt khác, rồi đến lược nó nữa, cái được biểu đạt ấy lại
trở thành cái biểu đạt. Các mối quan hệ, cứ thế, lan rộng ra mãi. Minh chứng rõ
nhất cho điều này có thể được nhìn thấy trong từ điển. Chẳng hạn, chúng ta thử
tra chữ “viết”. Ý nghĩa của chữõ “viết”, tức cái được biểu đạt của ký hiệu “viết”
được ghi là “vạch những đường nét để tạo chữ”. Trong định nghĩa này, yếu tố
quan trọng nhất là “vạch”, “vạch” là gì? Với câu hỏi ấy, cái được biểu đạt (“vạch”)
tức khắc biến thành cái biểu đạt. Từ điển giải thích ý nghĩa của chữ “ vạch”
là: “Tạo thành đường thành nét”. Nhưng “tạo “là gì? Từ Ðiển ghi: “Làm cho từ
không có trở thành có”. Nhưng “làm” là gì? v.v... Cứ thế, liên tục. Ðiều này một
mặt làm cho mỗi từ không những chỉ có quan hệ với từ khác trong quan cảnh của
nó mà còn có những quan hệ vô tận với những từ khác ở ngoài văn cảnh, và mặc
khác, quan trọng hơn, làm cho cái gọi là ý nghĩa cứ triễn hạn mãi mãi (2)
Bài thơ ở trên của Bùi Giáng
là một đoạn trong chuỗi liên hệ vô tận trong ngôn ngữ: chữõ “một hôm” làm ông
tưởng đến “hai hôm” rồi “ba hôm”, rồi chữ “ba hôm” lảm ông liên tưởng đến cách
nói lái “bôm ha”; rồi trong “bôm ha”, từ tố “bôm” khiến ông liên tưởng đến “đạn”,
từ âm tố “gao”, ông liên tưởng đến “gạo”, v.v...thành ra, chữ “một hôm” không
phải chỉ gợi ra ý nghĩa là một đơn vị thời gian, mà còn gợi ra ý nghĩa là súng
đạn, là cơm gạo. Xin mở một dấu ngoặc: bài thơ này được Bùi Giáng sáng tác
trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam đang hồi khốc liệt. Thời ấy, với nhiều người,
với rất nhiều người, sống một ngày đồng nghĩa với sự chịu đựng những đe dọa từ
chiến tranh và từ sinh kế.
Tuy nhiên, nếu ngôn ngữ chỉ
là một chuỗi những liên hệ bất tận như vậy thì, như các nhà hậu cấu trúc luận
sau này đã chỉ rõ, ngôn ngữ không còn khả năng quy chiếu vế hiện thực và do đó,
cũng không còn khả năng phát hiện chân lý được nữa. Bùi Giáng hoàn toàn về điều
đó. Trong bài “Phố phường cỏ mọc” in trong tập Mùa thu trong thi ca, ông mỉa
mai: “người ta tưởng chừng ngôn ngữ có thể nói ra được sự thật”(3). Ai tưởng
thì cứ tưởng, riêng ông, ông rất bi quan:
Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh
hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ
ngây.
(Lẫn lộn lung tung) (4)
Hoài nhi khả năng “tái hiện
hiện thực” của ngôn ngữ, có khi Bùi Giáng bỏ cuộc chơi trong lãnh vực ngữ nghĩa
để đuổi bắt một trò chơi ở ngữ âm, với nhịp điệu trầm bổng của các thanh, các
âm. Ðó là những lúc Bùi Giáng làm những câu thơ toàn bằng chữ Hán hoặc những
câu thơ hoàn toàn vô nghĩa, trong đó, chỉ có những tiếng động lanh canh lách
cách của các âm, các vần, các thanh điệu va chạm vào nhau mà thôi. (5)
Những trò tra vấn ngôn ngữ ấy,
dù sao, cũng là những trò chơi của một người trí thức. Tôi nghĩ, đó là ý nghĩa
của cụm từø “ở trong dấu ngoặc” trong đoạn thơ trên của Bùi Giáng. Sau này, chủ
yếu là sau năm 1975, ông thoát được những ám ảnh thuần túy trí thức ấy. Thơ của
ông, đằng sau cái vẻ ngớ ngẩn điên khùng, lại chứa đựng nhiều nhân tình hơn:
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn
thân
Nói đến “xoang điệu đười
ươi” là nói đến những yếu tố quậy phá bên ngoài. Ở đây nên chú ý là Bùi Giáng,
cả trước và sau năm 1975, đều nói đến cái điên của mình; tuy nhiên, sau năm
1975, tần số xuất hiện của những bài viết về cái điên ấy tăng lên rất cao. Hơn
nữa, trong những bài thơ ấy, Bùi Giáng nhắc đến cái điên của ông một cách cực kỳ
tỉnh táo, như là cái điên của một ai khác:
Chớm vừa tỉnh táo hôm qua
Mà hôm nay đã hét la vội
vàng
Oàn ào quậy phá xóm làng
(Cho hay là giống) (6)
Ðôi khi với chút hài hước:
Ðiên cuồng mà tưởng nên thơ
Cuồng điên mà tưởng làm thơ
như thần
Có khi vừa hài hước vừa nhuốm
chút tự hào:
-Ủa, phải anh sáu Giáng đó
không?
-Và cô có phải cô Bông năm
nào?
-Anh còn nhớ rõ, ôi chao
-Vợ chồng tôi cũng lúc nào
nhớ anh
-Anh điên mà dzui dzẻ thập
thành
-Còn chúng tôi tỉnh táo mà
đành buồn hiu! (7)
Ðiên, mà ý thức về cái điên
của mình một cách sáng suốt như vậy, kể cũng rất lạ lùng. Nhưng điều đáng lạ
lùng hơn nữa là, càng điên thơ của Bùi Giáng càng chất chứa nhân tình, hay nói
theo ngôn ngữ của ông là “điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân”. Thơ không còn
là một trò chơi chữ nghĩa nữa mà là một sự bộc bạch, một sự thố lộ tâm tình:
Lời tỉnh táo lời mê man
Ðiệu thê thiết rống điệu
bàng hoàng ca
(Y ư mộng du ư mê)
Một tiếng đoạn trường:
Câu thơ viết ngắn viết dài
Ghép làm một mảnh miệt mài
cho nhau
Ghép thật chậm ghép thật mau
Ghép lui ghép tới ghép gào rống
tru
(Câu thơ viết ngắn)
Ngay cả khi may mắn, được hạnh
phúc, Bùi Giáng cũng dùng thơ để gửi gắm niềm vui:
Những tờ thơ mỏng tạc ghi
Niềm vui vô tận từ khi dì về
Chính vì đem hết tâm tình, cả
vui lẫn buồn, cả hãnh phúc lẫn thống khổ, gửi gắm vào thơ như vậy, cho nêm Bùi
giáng mới khắc khoải trông đợi sự cảm thông của người đọc, điều, trước năm
1975, có lẽ ông ít khi nghĩ tới:
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe người khóc có ngờ
chi không
(Bao giờ)
Hay:
Xổ bầu tâm sự điêu linh
Ai người chia sẽ với mình với
ta
(Một giờ)
Khát khao được thông cảm, có
lúc ông năn nỉ:
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa
tuôn
(Y ư mộng du ư mê)
Nói đến “từ ngữ lạc lầm” là
nói đến sự bất lực của người sử dụng ngôn ngữ chứ không phải là sự bất lực của
chính bản thân ngôn ngữ. Ðó là sự thất vọng rất thực tế chứ không còn là một sự
thất vọng mang tính siêu hình.
Người điên ngôn ngữ điệp
trùng
Dở chừng như mộng dở chừng
như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề
người điên
(Người điên)
Bùi Giáng , sau 1975, rõ
ràng là một nhà thơ “ngậm ngùi dấn thân”. Ông sống ngoài đường phố nhiều
hơn trong nhà; thơ của ông cũng nhuốm nhiều chất bụi của nhân sinh. Rời bỏ những
trang sách triết học hiểm hóc của Nietszche, của Heidegger, ông lắng nghe những
tiếng nói âm thầm của đời sống chung quanh:
Anh đi đứng phố ngồi hè
Thiu thiu nằm ngủ lắng nghe
chuyện gì.
(Cảm ơn)
Cũng ý tương tự, ông có một
câu thơ khác không chừng ý vị hơn, mênh mang hơn:
Chiêm bao đứng phố ngồi hè
Nghìn phương mây gói còn
nghe ví dù
(Ví dù)
Nhà thơ đường phố ấy viết về
mình một cách rất đỗi hiền hòa:
Ðường quanh ngõ quẹo lang
thang
Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ
thay
Trái tim mỗi mới mỗi ngày
Mỗi giờ phút động mây trời
rung rinh
Ðường đi mất hút thình lình
Những khuôn mặt lạ những
hình ảnh quen
Tạm nhờ men rượu nguôi quên
Niềm vui nỗi nhớ chênh vênh
lạ lùng
(Ðường quanh ngõ quẹo)
Có thể nói, sau 1975, thơ của
Bùi Giáng giảm chất siêu hình và tăng rất nhiều cảm xúc. Thơ ông không còn là
những cuộc tra vấn, “lời nghi vấn lời”, mà chủ yếu là một sự bộc bạch tâm sự,
“lời lời vô tận tự lòng mà ra”. Ông viết nhiều về những buồn vui trong đời thường.
Tôi ngồi chép mãi bài thơ
Quẩn quanh vần điệu bao giờ
cho xong
Ðôi phen lệ chảy ròng ròng
Tâm tình kín đáo giòng giòng
tuôn ra
Tiếng cười tiếng khóc tiếng
ca
Tưởng chừng khép mở màu hoa
mấy mùa
(Chuyện bữa trước bữa sau)
Hình như Bùi Giáng cũng ngạc
nhiên về điều ấy:
Rong chơi râu tóc bạc phơ
Còn nghe đắm đuối vần thơ
yêu người
(Râu tóc bạc phơ)
Ngạc nhiên, nhưng chưa chắc
ông đã hài lòng khi ông tự biết:
Mỗi ngày thân thể mỗi gầy
Mỗi năm tim máu mỗi nhầy nhụa
ra
(Mỗi ngày)
Có lẽ, Bùi Giáng xem những
bài thơ xuất phát từ tim máu “nhầy nhụa” ấy là những bài thơ “tèm nhem tâm hồn”
chăng?
Ðiều rất thú vị là sau 1975,
không phải chỉ có Bùi Giáng là trở thành nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa theo nghĩa
là kẻ xem thơ chủ yếu như một sự bộc lộ cảm xúc và nhắm tới, trước hết, mục
dích giao cảm với tha nhân. Một sự “ đổi giòng” tương tự cũng diễn ra trong
sáng tác của rất nhiều người khác, kể cả Mai Thảo lẫn Thanh Tâm Tuyền và Tô
Thùy Yên, tuy ở mỗi người, mức độ và thời điểm “đổi giòng” khác nhau. Hình như
khi bị đẩy xuống tận cùng thảm họa, không còn lại gì cả, người ta bắt đầu
nghiêng xuống lắng nghe tâm tình của mình một cách chăm chú và thành khẩn hơn,
từ đó, người ta cũng đâm ra thèm khát được thông cảm, được chia sẽ hơn chăng? Nếu
đúng thế thì hiện tượng ít nhiều chuyển sang xu hướng lãng mạng chủ nghĩa là một
trong những đặc điểm lớn của văn học miền Nam thời kỳ hậu 1975.
Chú thích:
1.Trích trong tập thơ
điên... thứ thiệt do Thái Bình Thiên quốc xuất bản tại Sài Gòn năm 1970.
2.Quan điểm về ngôn ngữ và
văn học cũa Jacques derrida chủ yếu được trình bày trong hai cuốn: De la
grammatologie (Minuit, Paris, 1967), Gayatri Chakravorty Spivak dịch ra tiếng
Anh, of Grammatology, Johns Hopkins University Press xuất bản năm 1976, và cuốn
L’écriture et la différence (Seuil, Paris, 1967), Alan Bass dịch sang tiếng
Anh, Writing and Difference, Routledge xuất bản tại London năm 1978. Cuốn sách
giới thiệu Derrida một cách vắn tắt và dễ đọc nhất có lẽ là cuốn Derrida của
Christipher Johnson, Phoenix xuất bản tại London năm 1997.
3. Bùi Giáng (1969), Mùa thu
trong thi ca, Sống mới in lại tại Hoa kỳ, không ghi năm, tr.223
4. Bài thơ này in trong tập
Ngàn thu rớt hột; (tôi bị mất tập thơ này và không nhớ số trang)
5. Về vấn đề ngôn ngữ trong
thơ Bùi Giáng, xin xem thêm chương “Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng”
trong cuốn thơ, v.v... Của Nguyễn Hưng Quốc, văn nghệ xuất bản, 1996,
tr.181-216.
6. Tất cả những câu thơ của
Bùi Giáng dẫn trong bài này nếu không có chú thích riêng đều trích từ các tập
thơ Bùi Giáng do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990; Thế Kỷ 21 xuất bản tại
California năm 1994 và Bùi Văn Vịnh xuất bản tại California năm 1995.
7. Ghi theo trí nhớ, không
nhớ trong bài nào và tập nào.
Bùi Giáng, nhà thơ của ngày
tháng ngao du
Thi sĩ Bùi Giáng đã ra đi.
Cuộc rong chơi rất đỗi tài tình của ông rồi cũng tạm ngưng. Ngưng phần hình. Phần
hồn hãy tiếp tục tồn sinh cùng sử lịch qua tác phẩm của ông và chính cái sống rất
mực Bùi Giáng nơi ông. Bùi Giáng giờ đây đã thong dong bỏ chân xuống tháng ngày
một cuộc lữ tao nhã khác, cho riêng một đời thiêng Hoàng hạc.
Bùi Giáng đã trải một cánh
bay dài mênh mông chiếc bóng trong bầu trời Thi ca Việt Nam nửa thế kỷ qua. Có
thể mai kia, khi thần thái xã hội bình an hơn, việc thẩm định những giá trị được
công bằng, trường hợp Bùi Giáng sẽ lại được lật qua lộn về tự do, nghiêm túc
hơn.
Tôi viết bài này như một tri
ân đối với những gì Bùi Giáng lưu dấu nơi tôi.
*Ðôi điều phân vân thưa trước
Hiểu về Bùi Giáng là khó; viết
về ông thật vô cùng khó; nhất là Cõi Thơ riêng ông. “Làm thơ chỉ là một cách
dìuba đào về chân trơøi khác.” Bùi Giáng từng nói như thế. Nhưng tùy
nghi vào thể điệu rong chơi ngôn ngữ của Bùi Giáng thì nó không hẳn thế. Ba
đào, chân trời? Hay Ba chân trào đời? Ba đời trào chân? Hay chân, trời, ba,
đào? Hay chân – trời – ba – đào? Dìu ba đào về chân trời? Hay
làm thơ là dìu chân trời về ba đào? Một trôi giạt đến mênh
mông, ngay từ thế sự ngữ ngôn. Thật khó cho cách thở và cách nghĩ của người viết
về ông - dù thở đủ kiểu và nghĩ ngợi ngay trong lúc chiêm bao.
Em về giũ áo mù sa/ trút quần
phong nhụy cho tà huy bay (1). Ðây là câu thơ đẹp ở nhiều góc độ, nhưng nó
rất có ...vấn đề. Với một số não trạng thì nó rất mông lung, người đọc sẽ không
nắm rõ chủ đích của tác giả như khi đọc câu: “Nếu anh sản xuất tăng gia, là em
thu hoạch bò gà sắn khoai”, Cái gì là áo mù sa? Và ta vào suppermarket nào để
tìm cho ra cái phong nhụy quần? Do vậy, viết về Bùi Giáng không phải cho quan
nào cũng đọc.
Trong Lễ Hội Tháng Ba Bùi
Giáng chỉ ra một con đường không có bốn bên mép rìa: “Ðó là tiếng nói Tinh Thể
Uyên Nguyên của thơ. Thy sỹ đã bước vào Vòng Tay rộng Rãi của Thiên Nhiên, và
cuộc tiến nhập đó đã đạt người Thy Sĩ trong Cõi Nguồn Tinh Thể của mình”. Ðây
là một đoạn viết hoa gấm nhưng dễ hiểu về mặt trực nhận. Nó hãy còn xôn xao dưới
lớp từ ngữ kia những ẩn nghĩa rất cần thiết tìm ra để lý giải cho tận ngọn nguồn.
Nó lại đòi hỏi một song trùng tĩnh luận về Thiên Nhiên – Nhà thơ, Tinh thể – Tạp
ngoại Thực tại, Biến, Dịch... sau cùng là mối “liên hệ, phân hủy, lập dựng”, giữa
Những – Cái – Tôi trong một Vũ Trụ Riêng Tôi.
Quả thật, viết về Bùi Giáng
là tôi làm cái việc chỉ vào cục gạch mà bảo rằng đây là Như Lai phu nhân.
1. BÙI GIÁNG – VÀI NÉT CHÂN
DUNG
Bùi Giáng sinh thời có một
khuôn mặt kỳ dị với một cặp rắn của rắn. Nó tròn vành vạnh, sắc sảo; khi Bùi
Giáng nhìn tự nhiên là rất thông minh hiền từ; khi trừng trừng chú mục nó biểu
lộ một tinh lực rực lửa, kỳ bí; nó có hai màu đen trắng quặn nhau, như cái hình
vẽ biểu tượng cho thái cực; đôi mắt ấy luôn rực sáng, như hai vì sao; nó là cái
lò luyện đan để tất cả lời thơ phi phàm bốc khói mây.
Ông có nụ cười khá bãng lảng,
tha thứ; một giọng nói hiền hòa, không phân tranh. Hai đặt trưng này họa ra một
Bùi Giáng trọn một đời phiêu bồng, ngoài Cõi, không tơ hào đến mảy may danh vọng
quyền lực, không vợ con, không mái nhà; ông sống tha thiết với cuộc đời nhưng
thường trực ngay ngã ba ngã tư những con đường lem luốt bụi giang hồ; dù thơ
ông rất trang trọng, trí huệ.
Lý Bạch xưa đã từng uống rượu
của triều đình, Ðào Tiềm đã lỡ ra làm quan sau mới Qui khứ lai từ. Bùi Giáng
không hẳn đã hơn Ðào Tiềm Lý Bạch nhưng ông không thể , Khuất Nguyên giảui quyết
bế tắc nhưng ông thanh thản rong chơi, kịch liệt đùa rỡn, luôn thông thái đổi mới
cách chơi ngày ngày, nguy nga tạo dựng một nhân sinh quan rộng tỏa trên mọi nẻo
đường tư tưởng; mãi tràn lan cuộc vui cùng nhân gian tháng rộng năm dài.
Như chúng ta, ông vẫn có nỗi
buồn, vẫn nghe trong hương thời gian hắt hiu nỗi đau, vẫn sống vào một thời đạn
bom – đạn bom tiếng nổ và đạn bom của lời; đạn bom thảm họa hiểm nghèo và đạn
bom thương nhớ – nhưng ông đã gởi cuộc đời mình vào cái thế giới huyền nhiệm của
Thi ca, đã tàn dưới nguyệt cho trò chơi riêng của mình. Ôâng cũng đã, như chúng
ta được ân sủng và cùng lúc chịu tác hại từ thánh nhân, sách vở, tư tưởng, đạo
lý, nhưng ông đã minh triết hóa giải nó vào một cuộc Ðiên, Một thế giới điên của
nung nấu lửa tam muội, của bên kia bĩ ngạn. Một lẽ Trung Dung trác tuyệt, trong
cái Ðiên. Bỏ nhầm cuộc đời xuống nhân loại buổi ấy chỉ có tả và hữu, ta và thù,
chiến tranh là thường trực, hòa bình chỉ là một nhịp thở ngắn ngủi, Bùi Giáng
đã có một thần thái đỉnh đạt để ngắm về nó, xem như bóng mây.
Sống giữa đời, ông có khả
năng lấy mật đắng ớt cay làm ngọt. Aên cơm để thiu nguội rất nhiều ngày. Ông ăn
chè ngọt nấu cả với tương chao, nêm vài con mắm. Ông nỗi tam bành lúc người đời
lẽ ra nên cười, được phúc đắt lợi. Ông rất vui với những ngày chói lòa ánh
dương trong một thị thành mà nhìn xe cộ tưởng hưu nai: Buồn phố thị cũng
xa bay như gió/ Cộ xe nhiều cũng nhảy bỗng như hươu/ Bờ cõi dựng em xuân xanh
còn đó/ Bến đào nguyên anh khoát áo khinh cừu. Ông lạ sinh hoạt đời thường, lạ
trong thi ca, tư tưởng. Ông rất đỗi cô đơn tự đọa đày; vầy cuộc chơi múa hát chỗ
vô thanh, đùa giỡn quỷ thần, tương đắc kẻ ở mộ, nhớ nhung người sẽ tới. Ông
trào lộng tuyệt cùng giữa bi đát, siêu thoát ngay giữa một tồn sinh tinh mật.
Nói chung cuộc sống của ông khá bí ẩn và kỳ dị.
2. BÙI GIÁNG – NHỮNG
GIAI THOẠI TIÊU BIỂU
Ðã có rất nhiều giai thoại,
huyền thoại về ông; vô số được thế gian tô bồi sau này, khó minh xác thực hư.
Xin lai rai vài chuyện tiêu biểu.
Chuyện thứ nhất. Xưa kia ở
Quảng Nam, quê chúng tôi, người ta kể rằng khi còn trả Bùi Giáng đã có vợ. Vợ sớm
qua đời . Hôm tẩm liệm, ông nhơ người hàng xóm làm thịt 21 con gà.Ông thành tâm
bỏ gà còn thịt sống vào quan tài tẩm liệm người vợ thân yêu. Họ hàng thấy quái.
Bèn căn ngăn. Ông bảo: “vợ tôi ưa ăn thịt gà, nay có thể lên thiên đường hoặc
xuống địa phủ chi đó, thịt gà đâu ăn” Câu chuyện trên là hoàn toàn khó tin. Bịa
đặt, phao tin đồn nhảm, gia đình người ta kiện cho. Nhưng cái tuyệt hảo ở đây
là người đời rất đỗi yêu ông, giai thoại trên như phóng họa phần nào những quái
ảnh kỳ tâm nơi một Bùi Giáng lắm điều xem ra bất khả tư nghị. Bà đi thể điệu
bước ra/ tay khăn tay áo là hoa thêu thùa/ bà về cỏ rậm dậu thưa/ đêm tàn cấm
nguyệt chiều trưa lâm tuyền.
Chuyện thứ hai. Vào đầu thập
niên sáu mươi có lúc ông đi dạy Việt văn ở trường trung học tỉnh lỵ. Một hôm giảng
truyện Kiều, đến chỗ nàng Kiều phải hồng trần lư u lạc, thầy Giáng khóc òa.
Khóc vỡ tan. Nhảy phóc qua cửa sổ lớp học, băng bộ ra bến xe, về Sài Gòn. Học
trò nam nữ ngồi chờ mãi, tưởng thầy đi đâu đó sẽ trở lại. Trên bàn sách vở, bao
thuốc lá hãy còn. Hóa ra thầy bay luôn, bỏ lớp bỏ trường, bỏ cả tỉnh lỵ nhiều
năm sau. Hỏi hà cớ. Thầy ngậm ngùi nói mần răng trở lại nơi Em Kiều đã một lần
hy sinh cho cái trò chơi nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn.
Nguyễn Du xưa kia đã một lần
than thở “Ðịa địa xứ xứ giai mịch la” (2). Bùi Giáng hôm nay cóthể.
Sau này, đọc Mùa Thu Thi Ca,
đoạn nói về Ðoạn trường tân thanh, ta thấy ông viết:
“Nguyễn Du không kinh hoàng
nhảy lui. Cũng không bị tẩu hỏa nhập ma rú lên một tiếng như Zarathustra also
sprach. Ông đạm nhiên làm Nam Hải Ðiếu Ðồ. Kẻ câu cái gì tại Nam Hải?
Ðáp vào câu hỏi ấy, ta xin một
câu thơ phùng khánh:
Con làm Nam Hải
Ðiếu Ðồ
Ngồi câu con Cá Hư Vô
Tâm Hồn
Tựu trung mỗi phen sờ mó vào
Kiều nhi, vừa chạm tới những tuyệt diệu từ lãng đãng phù động kia, chớm gặp xuạn
đã ngộ phải Thu, vừa ướm hỏi ra thu đã vấp phải Ðông Phong Thanh Hạ, vừa tân
thanh ngâm bãi đã trường đoạn thê nhiên, chợt mới hội thương tình đã hốt bách cảm
sinh, mới vừa mơ màng nhìn Hồng Lĩnh vân phong đã giật mình nghe ra Tiền Ðường
triều tiêu, chưa kịp qui ẩn kinh, đã bàng hoàng với phiến oan thanh.. Bỏ ra Nam
Hải buông câu chỉ bắt được Hư Vô Con Cá...”
Chuyện thứ ba. 1975. Thời của
thu vàng một loáng hóa rừng phong hoang hồng, xao xác đến muôn trùng số mệnh
con người hoa cỏ. Tôi có dịp lai rai sống với Bùi Trung Niên Thy Sỹ. Thưở ấy
đói kinh. Người người tăng gia, nhà nhà sản xuất. Cuốc đào cả lề đường hè phố,
vườn biệt thự, trồng luống khoai hàng sắn. Cày sới nát bộ não vì cái ăn, cái Ði
– Ở. Tâm linh màu chì. Một hôm chúng tôi đang đi long nhong gần nhà thờ Ba
Chuông kiếm vài chung quốc lũi, Bùi Giáng bỗng nói cha ta về nhà chút đã. Tôi hỏi
về mần chi. Ông bảo cho heo gà ăn chớ không tụi nó chết. Hóa ra thi sĩ cũng
tăng gia sản xuất. Về nhà – trong hẻm, gần cửa xe lửa số 6 – đã thấy ngay trước
hàng hiên có mấy con...heo đất, mấy con vịt nhựa – loại được khoét một đường
rãnh trên lưng, để bỏ tiền tiết kiệm. Chúng được đặt trong rọ, hoặc úp bằng những
cái rỗ đàng hoàng, như heo gà thật. Bên con heo đất hãy còn mấy cọng rau tươi,
nơi gà vịt nhựa có dăm hạt gạo vung vãi. Một người bà con nói nhỏ với tôi: “Phải
chăm sóc cẩn thận, ảnh về thấy heo gà không có thức ăn ảnh khóc”.
Trên đây, ba giai thoại tiêu
biểu về mỗi Bùi Giáng.
Giai đoạn đầu, thuở liệm vợ
bằng gà sống đã phôi pha hoang đường, định mện chỉ ra ông sẽ là một hiện tượng
kỳ vĩ, khác người. Một cái Ðiên đang hăm he cái Tỉnh. Một Muôn Ðiệu Tài Hoa sẽ
vùi chôn người Bùi Giáng thường tình. Cuộc điêu linh sẽ gạn lọc, phiên dịch,
phơi bày ông ra giữa trận đồ hoang vu nồng cháy của Phố Thị Ðìu Hiu của Mù Sa cố
Quận. Sông ơi em bỏ sa mù/ đi thiêm thiếp cõi quân thù gọi nhau/... Một đời lận
đận đo rồi đếm/ Mỏi gối người đi đứng lại ngồi.
Giai thoại thứ hai nhằm vào
thời ông rời quê nhà – xứ Trung Việt đẽ hằng chăn dê; đã lùa bò vào đồi sim
trái chín – để vào Sài Gòn; là khởi nguyên nơi ông mùa tinh hoa tụ hội: Thi tập Mưa
Nguồn chào đời. Xin chào nhau giữa con đường/ mùa xuân phía trước
miên trường phía sau. Sau đó là những tuyệt phẩm: Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột,
Mùa Thu Thi Ca, Ðường Ði Trong Rừng, Sương Tì Hải, Sa Mạc Phát Tiết, Sa Mạc Trường
Ca, Trăng Châu Thổ, Lễ Hội Tháng Ba, Sương Bình Nguyên, Biển Ðông Xe Cát, Lời Cố
Quận, Ngày Tháng Ngao Du v.v... ông dịch vô số tác giả từ đông chí tây, cổ kim;
dịch rất tài hoa thông suốt, như Hoàng Tử Bé, Ngộ Nhận, Khung cửa hẹp, Kim Kiếm
Ðiêu Linh, Hòa Âm Ðiền Dã v.v...
Sức điên, sức rong chơi, sức
đọc, sức làm việc của Bùi Giáng là vô cùng tận. Ông là tượng trưng cho sự nhạy
cảm, sự thông minh thoáng đạt, và sự bất định, bay bổng. Ðây là tai họa chính
ông, đọa đày trực diện. Lúc này ông đã là một hấp lực kỳ vĩ với người đọc. Ðọc
ông là si mê mơ màng, là lơ đãng tìm ra thuốc chữa cho một cần thiết thoát ly,
đối kháng, chối từ, tái thẩm định. Là dìu dặt vào hương vị đắng cay mật ngọt thời
hoang hóa hòn đạn làm nổ trái bom, điêu linh giữa tồn sinh phân hủy, giữa gươm
đao đang thừa mà hụt hao nhân ái. Là chiến đấu thoát vượt cuộc khổn vây công bằng
tự do; một xô bồ rừng rú tư tưởng; một trần gian xanh đen đến tiêu hao, phân ly
chính mình. Bờ lúa của Bùi Giáng.
Em chết bên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn mây trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya cuốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn rỗng
Xương trong mình rã riêng
Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay
sang.
Giai thoại thứ ba là hiển thị
cuộc hí lộng đã dắt díu thi sĩ chơi với đất nhựa vô tri. Ký gởi sự sống trên những
“ con - vật – không – có – sống – không – có – chết”, là lúc ông xấn tới tột đỉnh
đất trời đổ lộn nguyên khê. Ông tình táo trong một trạng thái đặt biệt của người
điên. Ông sắp xếp cái Ðiên theo cách người tỉnh. Cái điên phần nào giúp ông
siêu thoát. Nhưng cũng đặc biệt đọa đày cho ông là chíng ông ý thức về cái điên
của mình. Xuống sông xuống biển hãi hùng/ mà không thể giết được linh hồn mình/
Trải bao nhiêu trận bất bình/ cuồng điên tôi tự giết mình tôi chơi/ Là: Tôi từ
khởi sự cuồng điên/ tôi từ uống rượu triền miên tháng ngày/ hét la tháng rộng
năm dài/ tình yêu tiêu diệt từ ngoài tử sinh.
Khoảng đầu thập niên 70 có lần
người ta đưa ông vào nhà thương Biên Hòa chữa cái bệnh đứng ngã ba nhìn ra ngã
bảy. Từ nhà thương điên trở ra, bửa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu
thường tình: “Nhà thương điên Biên Hòa trị cái tẩu hỏa hay hỉ!”. Ông trả lời tỉnh
queo: “Chữa trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một,
khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công
nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình
nhiều. Do vậy mà mình tự động thôi điên”.
Có thể Bùi Giáng chẳng điên.
Thiên địa nó tẩu hỏa nhập ma; chính thái cực lưỡng nghi nó lôi ông vào trận địa
gây cấn tà huy. Hãy đọc một đoạn nhỏ trong Mùa Thu Thi Ca, sau khi nhà thơ đứt
phèo phổi được tin Marilyn Monroe đang lộng – lẫy – một- tòa lại tự động chuyển
– sang – từ - trần bên trời Tây:
Mọi nhỏ – Tại sao chị
tự tử
Monroe – Tại vì chị là
người da trắng. Huống hồ nữa là...
Mọi nhỏ – Là sao huống
nữa?
Monroe – huống nữa là
màu da trắng của chị còn trắng hơn tất cả màu da của mọi người da trắng khác.
Mọi nhỏ – Thế nghĩa là màu
da trắng của chị đã đạt quai nhai cảnh giới của lô hỏa thuần thanh thánh thần
thiên tiên liên tồn tố bạch?
Monroe – Nhiên
Mọi nhỏ – Sao gọi là liên tồn
tố bạch?
Monroe – Tố bạch là tách bộ.
Mọi nhỏ – Còn liên tồn? Cũng
đồng nghĩa với tồn liên chăng?
Monroe – Nhiên”
Sau, chết rồi mà em Monroe lại
gặp tình cờ em Mọi Nhỏ. Mọi nhỏ lúc này đã dấn mình một cách nhiệt huyết vào
trung tâm điểm lửa đạn chiến tranh Việt Nam. Monroe ngậm ngùi hỏi:
Monroe – Chị tự tử đã đành.
Sao em cũng tự tử? Em ở trong rừng mát mẻ, em tự tử làm gì cho phí mất màu da bồ
quân bánh mật của em như thế?
Mọi nhỏ – Em đâu có tự tử.
Chính là thật ra cái hòn đạn nó tự tử em.
Monroe – Hòn đạn nào như thế?
Mọi nhỏ – Hòn đạn hoặc trái
bom gì đấy. Nó nổ một trận tam bành. Nó tự tử mất em, đồng thời với cái truông
đèo thơ mộng chiều hôm qua.
Monroe – Sao em không
dời đi nơi nào ẩn trú, lại ở yên một chỗ mà chờ đợi đạn bom mà làm gì như thế?
Mọi nhỏ – Dời đi nơi
khác thì đồng thời phải dời cái truông đèo đi nơi khác. Em sức mấy mà làm cho
xuể sự đó. Kể ra lúc bấy giờ em cũng định lặn xuống ở dưới đáy nước cái khe kia
thì thật là bảo đảm nhưng không kịp. Cái bom nổ còn chớp nhoáng hơn cái ý định
nảy ra trong đầu óc em.”
Ðâu phải con người không chuẩn
bị kịp cho một trái bom nổ chớp nhoáng. Trong kiếp người chúng ta có những cái
vô cùng không kịp. Ðã vô cùng từ bỏ vườn cũ truông đèo không mang theo, trong
hun hút máu xương. Ðã một phương trời gom nhặt phút sống, mà vắng mất nắm đất
bên đàng chỗ cổng làng khe nước rẩy nương. Bây giờ ta hỏi lại thu/ Khu vườn lá
ngọc sao thu phiêu bồng. Nơi hải giác thiên nhai anh hay tôi, em Mọi hay Ðêm
Nguyệt Cầm Ca – Ly, đã thức giấc nỗi lòng nhật mộ hương quan hà xứ thị (3). Và
đâu phải anh tự do hân hạnh được quyền có hay không cái tẩu hỏa nhập ma. Trái
bom nó – tư -ï tử - em kia mà.
3. BÙI GIÁNG- TỀ THIÊN NGÔN
NGỮ
Thơ Bùi Giáng còn với
người đọc bây giờ hay không? Với thời gian, hiện thực luôn bị xé rách, cầy xới,
đào thải. Lỗi thời ngay khi còn là bây – giờ. Mỗi sát na, nghệ thuật mỗi chuyển
dịch, thay áo, vì cái kỳ cùng tốc độ thế kỷ. Nhưng ngay hôm nay vẫn có một số
đông người thưởng ngoạn say mê Bùi Giáng. Vẫn thấy lạ ý tưởng. Vẫn thấy mới
ngôn ngữ. Vẫn nhận ra ở đó một thế giới giàu mộng tưởng, đôi khi sầm uất những
linh cảm xuất thần. Người đọc rất đỗi hoang mang bay bổng, kỳ thú chỗ khó thể
hiểu thấu đạt thơ Bùi Giáng, nhưng cảm được. Ðọc qua mắt, bằng đầu, với trái
tim, từ hồn. Một hồn rất nhẹ, rất bơ vơ, rất rộng xanh của biển trời, và rất khắc
nghiệt trí tuệ của thời đại. Từ đó, tiếp cận thơ Bùi Giáng người ta nghiêm chỉnh
bâng khuâng, và được dịp rong chơi trong một não trạng bấy lâu khô hơn nhựa, cần
thiết phải thích ứng bon chen.
Bùi Giáng không hề cực nhọc
hô hào nhiệm vụ giáo dục quần chúng, văn dĩ tải đạo mà là những phóng
mình đỉnh điểm tự do cho riêng người thưởng ngoạn. Nhưng rõ ràng Cái Ðẹp cần
nó, và ÐạÏo không thể thiếu nó: tự do viết, tự do đọc, tự do tư tưởng. Với Bùi
Giáng, tuy Ðau, nhưng tất cả là Rỡn là Rong chơi, trò chơi, cuộc chơi. Hí trường
này bãng lãng mà không thiếu xót đau một quá trình khổn bách kiếp người. Nếu
Ông Trời Xanh và Bà Trời Trắng nói được, nếu Như Lai và Như Lai Phu Nhân hạ cố,
nếu Phó Như Lai và Phó Như Lai Ái nữ mà trả lời được, sẽ trả lời mệt nghỉ, với
những Ðiều Rỡn mà Bùi Giáng lót đường huyền ẩn như kinh. Khi còn nói xử thế nhược
đại mộng/ hồ vi lao kỳ sinh (4) là còn so bì, chẳng là chơi. Ðiên chơi cho
bớt điên đầu/ điên đầu cho bớt điên rầu rĩ chơi/...Buồn vui ai biết đâu ngờ/ nằm
trong tử diệt nhớ giờ tái sinh/... Rỡn, Chơi, có thể là hình thái sinh động
nhất, rất mực nghiêm chỉnh cho một săn đuổi thực tế, làm chủ những trò ảo hóa
mà tự nhiên xã hội cùng thiên nhiên kim cổ hãy còn tàn nhẫn dấu mặt.
Ðầu tiên là Bùi Giáng chơi
ngôn ngữ thiên tài. Ông sài chữ một cách hào phóng, phung phí. Ông tự thân
thoát khỏi ý nghĩa ngôn tự, ngữ cảnh nhào lộn, đu bay, không gốc rễ, như cảnh
ráp nối người giữa không trung cuộc nhảy dù biểu diễn. Như cái pháo hoa xòe
cánh trong đêm Hội, thể hiện cái rực rỡ rất đỗi đánh thức, lại rất đỗi phù du.
Do bản thân sự ngao du rong ruổi trong sa mạc chữ nghĩa, trong thế giới ảo hóa
này, thơ Bùi Giáng tạo cho người đọc một giá trị cảm thức sâu sắc, bàng hoàng,
đẩy tới những hoài cảm, tưởng vọng mênh mông hơn, chính ý lực của bài thơ mà từ
đầu tác giả muốn hàm gởi.
Bùi Giáng giàu ngôn ngữ như
cát bãi biển. Mỗi chữ lại ẩn tàng nhiều mặt biểu hiện, đa dung mạo, đa nội lực.
Nó có khả năng biểu thị rộng lớn cái Tận Cùng Ý Nghĩa, không phải ÐÃ – Nói, mà
là Sẽ – Nói. Ðầu khe lá cỏ phai rồi/ đã vang tiếng ngựa bên lời ước
mong/... Em nhìn nhé giờ đây ta trở lại/ nghe giậy hồng một mùa cũ tái sinh.
Ông dùng từ Hán Nôm đến mức tuyệt hảo, và đảo lộn, nói lái, trá hình, ngẩu hứng,
ẩn dụ lại rất mực tài tình. Ðôi khi chữ dùng của ông tuồng vô nghĩa nhưng là một
mật ngữ, mật mã. Ông phóng khoáng rất coi thường hạng người mà ông cho rằng
hương nho, nho nguyện, mọt sách, bỏ câu chữ lên bàn cân xem bao lạng mới dùng;
ông khing bỉ bọn viết sách cứ tả núi phải có đỉnh, tả con bò phải có hai lỗ
tai. Vì chỗ tế nhị này mà rất nhiều người –hàm cả người làm thơ viết văn – đã dị
ứng, đố kỵ, không hiểu, rồi không chịu được Bùi Giáng. Họ không muốn đọc, hoặc
có đọc mà thiếu khả năng thẩm thấu thứ chữ nghĩa nhảy múa, bay lượn như gió, biến
hóa của mây. Họ từ khước ông khi ông còn đi trên mặt đất. Họ cư xử ông bằng
thái độ trong “nội ô của nhà thương Biên Hòa”. Chỉ hôm ông qua đời, đột nhiên –
nhưng không đáng ngạc nhiên – tất cả môn phái “ngũ nhạc”, không kể chính tà, hữu
chiêu vô chiêu, nhà văn thượng thư cùng nhà văn vỉa hè, đều tề tựu trước quan
tài Bùi Giáng đầy đủ. Phàm nhân của hai chân lý đối nghịch bên này và bên kia
Pyréneés đã may mắn có một dịp nhịp nhàng, thầm lặng nghiêng mình dưới chân
Núi.
Toàn bộ thơ Bùi Giáng không
có cái cách làm dáng trí thức, gây nhiêu khê đến rắc rối hoặc làm loãng cuộc chữ
nghĩa đẹp đẽ trong tiếng Việt nghìn xưa vốn có. Ông là một nhà thơ triết nhân
nhưng không hàm nghĩa thơ phải nêu chí cao trí cả như quan niệm cổ điển hằng
mong đợi ở thi nhân. Trừ những thơ văn xuôi triết luận – và những bài thơ ông dịch
tam bành qua một trận thấu triệt đến ngọn nguồn, mà khó nói ra cặn kẻ khi đường
đầu cùng Heidegger,Rikle, Holderlin, Shakespeare, Neitzche... thơ Bùi Giáng hầu
hết hình thành qua ngôn ngữ thông thường, xã hội càng ngày càng dùng đủ, rặt
nôm, lại lắm khi những ngữ từ rất lem luốc bụi giang hồ. Nó đã nhẹ tênh, gần
gũi, tự nhiên như nói chuyện, giản dị đầm ấm như ca dao. Nó rất kỳ cục, thường
hằng, nhưng tinh tế. Nó rất đơn sơ như là một chứng minh cho kỷ thuật thượng thừa
của Bùi Giáng. Trong lịch sử văn học nước nhà ít thấy thi nhân nào – kể cả thi
nhân ta rất mực mến yêu thờ phụng như Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tản Ðà – bày cuộc
vui chơi chữ nghĩa đó đây một cách đơn giản nhưng thâm thúy, trù phú và thiết
tha ngộ nghĩnh như Bùi Giáng. Ghì môi cơn mộng la đà/ tiêu dao suốt cõi mù
sa bên rừng/nửa vời trăng rộng mông lung/ đường xa nghi hoặc tháp tùng ni
cô/... Tôi chấp nhận trăm lần trong thổn thức/ tôi bàng hoàng hốt hoảng những
đêm đêm/ tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt/ tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em/
Bùi Giáng có một não trạng
khá đặïc biệt; giật mình mơ hoang có thể mỗi cánh chuồn chuồn bay chiều; mỗi dặm
hài hôm nay không còn động vang của Thúy Kiều; bắt gặp màu xanh trong sắc tím;
nghe ra hơi thờ của Lão Trang từ nghìn dặm tháo lui; con nai vàng ngơ ngác
đạp lên lá vàng khô? Ðã là một quá ư nặng nề, dày xéo đối với ông. Phải nhẹ
hơn nữa kia. Nhẹ hơn cả hư không rỗng trống. Vì cái não trạng vọng viễn phi
biên giới kia mà khi tiếp cận với những Khổng Tử, Hoelderlin, Heidegger,
Homère, Empédocle, Nerval, Whitman, Lão Tử, Nguyễn Du, Khuất Nguyên, Vương Bột...
là cùng lúc Bùi Giáng phải chịu đựng một sự công phá chính tâm hồn mình. Ông
băng băng dong rủi trong mông lung tri thức rất mực uyên bác, sầm uất tưởng tượng,
chói lọi cái bãi hoang vô thức từ im lìm bấy lâu giấc ngủ. Ông bất trắc dẫm lên
một mặt đất rạn vỡ, bất nhẫn và vô tình trùng phùng một định mệnh tùy ngẫu,
trói buộc. Lại bất trắc bị trùng vây bởi một trận đồ ngôn ngữ của thơ, của hồn
thơ. Của Ðiên. Và của Ý Thức Về Cái Ðiên. Sự thể ấy làm ông rất đỗi sáng suốt
trong điên đảo, chưa nói một đã lộ lồ mười, đi trên đường độc đã thấy muôn nghìn
ngã ba ngã bảy, chưa kịp nhớ Mẫu thân phùng Khánh đã hoài Nam Phương Hoàng Hậu,
vừa sơm mai tươi sáng bình sinh đã chợt tồn vọng cơn thảm đạm đêm Xiêm La Hy Lạp;
thế rồi ông viết tràng giang, bằng cả vô thức, ông cuồng ngây tẩu hỏa dịch bừa
sangthơ Việt cả những đoạn triết luận chằng chịt; dịch cả thơ ra thơ; ông cũng
cố Nguyễn Du bằng cách hợp lực làm thơ ký chung Nguyễn Du – Bùi – Trung – Niên
– Thy – Sỹ. Ông ổn định, ông dịch, ông chuyển tải tư tưởng bằng cách triệt hạ
chính bản, khuynh đảo chữ nghĩa bằng cách lạ thường; biến những chữ cụ thể, những
nghĩa đã chết trong cố định trở thành một hiện trình khác hơn, lại rất thơ,
tinh diệu, biến hóa hơn. Ông làm giầu nghìn lần tiếng Việt. Một số nhà thơ, nhà
sáng tác phương Nam trong nhiều năm, không chối bỏ rằng mình đã xài, đã từ lâu
tự nhiên sâu thẳm bị ảnh hưởng cách dùng chữ nghĩa từ thiên tài Bùi Giáng.
Những địa danh quê hương –
TrungViệt, Vĩnh Trinh, Quế Sơn, Bình Thạnh, Gò Vấp, Cửu Long, Cà Mau,Huế, Hà Tỉnh,
Sài Gòn, Bạc Liêu, v.v...- đã hiện ra trong thơ BùiGiáng rực rỡ gấm hoa, êm đềm
màu núi, thổn thức như suối nguồn. Ðêm thưa Vĩ dạ về gần/ đã từ lâu lắm
thiên thần nhớ em/... Ngồi đây tưởng nhớ xa xăm/ Nhớ nhung lục tỉnh trăng trằm
Long Xuyên/ ba mươi năm trước hiện tiền/ hình về hiện tại bóng nghiêng nghiêng
đầu/ Có lúc ông tiên tri giỡn chơi một cách lạ lùng – mà sau này lúc đời sống
cô đơn ngột ngạt – ta đọc lại đến ứa nước mắt:
Tôi gọi Bình dương là bình
dưỡng
Dượng dì ơi thương nhớ cháu
nhiều không
Tôi gọi Cần thơ là Cần thở
Cần thơ ơi... cần thở đến
bao giờ?
Bình? Dưỡng? Thở. Không hề
là chơi chữ. Mà là tiếng kêu thống thiếtcủa tâm linh trước một thế giới người
đã kiệt cạn nhân tính, đánh trào bình đẳng tự do; đã phơi phới những lừa mị,
tàn nhẫn cùng nhau; đã tinh vi biến những đòi hỏi nhân sinh cần thiết thật sự
trở thành trừu tượng trêu người trên khẩu hiệu giấy tờ.
Khác với tất cả thi nhân
đông tây kim cổ, Bùi Giáng động đậy bay lượn với đủ sinh vật côn trùng. Chuồn
chuồn châu chấu, con nai rừng chú dê nội, bươm bướm bò gà, cả... vi trùng sâu bọ
cũng trùng trùng mộng ảo yêu thương. Aáy, mộng đời đi với mộng rồi/ trời
ơi trăng rớt ngó trăng rơi/ con ruồi con kiến con châu chấu/ bươm bướm chuồn
chuồn cũng thế thôi/...Còn yêu mãi và yêu nhau mãi/ trần gian ôi cánh bướm với
chuồn chuốn/ con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại/ con vi trùng cùng sâu bọ cũng
yêu luôn/
Bùi Giáng dùng cả những loại
chữ nghĩa “thép – đã – tôi” như hạ quyết tâm, chỉ tiêu, gia tăng, bổ sung, khu
vực,... Hãy xem ông bùa phép vung vải, lắm xór xa mà đậm đà hài hước: Ngày
nay hạ quyết tâm rồi/ về trần thế bốc lột người thế gian/ tình yêu đã lỗi muôn
vàng/ chỉ còn bốc lột vạn ngàn máu tim/... mỗi năm mồng một ra giêng/ con dẫn
ông đạo suốt miền vực khu/ khu này Bình Thạnh quận khu/ khu trên Gò Vấp tuyệt
trù lưu phong/ dưới kia Bà Chiểu Lăng Ông/ lên xe buýt thẳng đông chơi Sài Gòn.
Chính thế giới ngôn ngữ Bùi
Giáng bày cuộc lập nhiên như thế nên khi đọc thơ ông ta không nên vô ích cưỡng
lại, cho đẳng cấp suy nghĩ, cho trí tuệ làm việc, mà hãy thong dong trôi theo,
tà tà thơ thẩn, rất mực vô tình như nhìn con tầu chiều không có bóng hình ai
trên ấy. Ta sẽ bắt gặp một thần thái thanh tao hơn, một tổng thể bát ngát hơn,
bởi vì đó chính là Thơ. Nó rộng rãi và thơ thới hình thành từ một thiên tài
chung qui chỉ vì thơ mà điên, mà sống để điên cùng thơ.
4. BÙI GIÁNG- NGAO DU
TƯ TƯỞNG
Nói đến nhà thơ là nói tới
rượu và mỹ nhân. Lý Bạch một đời sống chết cùng rượu. Ông làm thơ tặng vợ thú
nhận một năm ba trăm sáu mươi ngày mình túy lúy như con nê hóa bùn: tam
bách lục thập nhật, nhật nhật túy như nê (tặng nội) Apollinaire một đời ngắn
ngủi, nhưng đã rất nhiều nàng, cô Linda, nàng Annie Playden. Marie Laurencin,
nàng Louise de Coligny Châtillon, Madeleine Pagès... Các nàng của thi nhân này
duy chung một mẫu số: Tình Yêu. Nhưng ở Bùi Giáng là khác thể điệu, rất
nhiều mẫu số. Ông có Mẫu thânPhùng Khánh, mẹ Trí Hải (tuy hai mà một), mẹ
về đứng giữa đầu sân/ cuối cùng mẹ bước vô ngần Mẹï đi/ Kim Cương kỳ nữ,
Nường Monroe, Gái Xiêm La, Gái Tô Châu, Hà Thanh ca sĩ/ Ði về phố rộng mà ra/
đi tu giảng dị cô hà thanh ôi/ mấy em Da đen Phi Châu, em Mọi Nàng Ðạm Tiên,
Thúy Vân Thúy Kiều, Bé con Bình Thạnh, những chị miệt quê, Thiếm Năm Sáo
xã Tân Phong/ Thiếm về chín suối long đong thế nào/... Ôi người thục nữ Long
Xuyên/ Tìm đâu thấy lại thuyền quyên một lần. Những con người hữu hình, những
em vô hình, những nàng sương bóng, bây giờ em ở nơi đâu/ cỏ trong mình mẩy em sầu
ra sao, đã mang mác thị trùng trong một Bùi Giáng tha thiết đến tê điếng, điên
ngây. Một Bùi Giáng ngoại thế bằng hồn mà lòng đau kiếp người truyền động đến
nguyên sơ. Bàng hoàng đuổi bắt một bản lai diện mục ẩn huyền. Mỗi Phùng Khánh
Trí Hải, mỗi Kiều nhi, mỗi em Mọi là mỗi trận địa cuồng mê đến đằm đìa phủ chụp
người thơ trong bàng hoàng nương náu. Bàng hoàng thể phách, mộng hoài đêm Da
Ðen tới Rú Rừng Da Trắng, Apollinaire tìm người yêu có thật, dấn mình trong một
diểm ảo nhu cầu. Bùi Giáng hư vô hóa tất cả trong miên trường vọng mỹ nhân
hề thiên nhất phương.
Mỹ nhân? Cái Ðẹp? Lý Tưởng?
Một phương? Hãy tìm chỗ mù sa cố quận? Ðảo lên nguyên khê, lộn về phố thị, chỗ
sân ga bến tầu, trên chiếc giường làm tình, giữa bàn hội nghị, lúc ngâm vịnh
khi nhảy disco, ở đâu? nơi nào? trong Cõi Tồn Sinh rất nhiều Ðánh Mất này một
đúng nghĩa Lý tưởng? Cái Ðẹp? Vả, trong tuyệt trù ngóng vọng còn chăng một
thiên nhất phương để kỳ gởi? Em còn ở vớisơn hà/ Anh còn mất hút gần xa mất
hoài... Hỏi rằng người ở quê đâu/ thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà.
Tuy nhiên, với những người
con yêu dấu, cuộc bám trụ mang nặng tổn thất này xem ra vẫn là một giềng mối đạo
ký mãi mãi tươi xanh đạo lý. Nó hoài hoài thơ mộng khi quê nhà đã là một hiện
trường có thật -trần trụi từ khi tôi ở truồng chào đời đến lúc tôi không còn khả
năng bận mỗi bộ áo quần để chui vào quan tài – là thế, không nên giải thích nữa,
tuy chưa hóa đá nhưng quanh tôi vốn vậy; diễn dịch nó bằng cách nói đương nhiên
cạn cợt mà tất nhiên sâu thẳm, như nói về một cục gạch, mỗi bếp lò dạ thưa
xứ Huế bây giờ/ vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.
Một câu hỏi cần thiết tôi muốn
hỏi: “Quê nhà Bùi Giáng nơi đâu?”. Ðã hẳn làquê nhà ông “thưa rằng” đó không?
Bùi Giáng chưa hề định nghĩa một quê nhà rộng hẹp, ghét yêu, kiểu Quốc văn giáo
khoa thư; mặc dùø ông từng tha thiết yêu, và khẩn thiết, kêu gọi vi trùng, chuồn
chuồn châu chấu, tập – thể – bò – dê trong đồi sim trái chín hãy rộng lòng để
cùng ông hòa mình cuộc thương yêu. Ðã không hề giam mình trong định nghĩa, lại
càng không giam mình trên một mặt đất dù nó khá mênh mông, vậy Bùi Giáng có một
quê nhà nào trong cái vũ trụ mà ông đọa đày khắc khoải gọi tên.
Có thể, hiển nhiên là có thể
thôi, Bùi Giáng có một mái nhà trong một quê hương rộng dài : Cõi Thơ. Trên quê
hương không chiều kích không gian và thời gian đó Bùi Giáng là đứa con trung
thành rất mực dưới mái nhà Thơ, và là một tay kịch liệt tung hoành, mặc tình
dâng hiến, thỏa dạ cuồng si trong quê thương Thơ. Ở đó ông trùng phùng những
công dân thế giới, những con người ưu tú từ nhân loại cổ kim.
Hãy đọc một trong những bài
thơ sau cùng của ông:
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng
đầu tiên.
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền
muộn sau
Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau
muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi
lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh
ngang Tản Ðà
Em còn ở với sơn hà
Anh còn mất hút gần xa mất
hoài
(Uống rượu)
Thường tình thi hẹn là để gặp
lại, nhưng Bùi Giáng hẹn là để “quên nhau muôn đời”. Lời di chúc cho Emtrước một
ra Ði. Nó buồn tênh nhưng sáng ngời cái khí phách thanh sạch, ngời sáng của một
Thi sĩ. Giả từ phương này trùng phùng được Lý Bạch Tản Ðà đầu kia. Uống ly rượu
cuối cùng trong thần thái đầu tiên. Không hề là Vĩnh biệt, chỉ có Ra Ði, là Ðược
về. Ðặt biệt ở đây mọi hình tượng hiện tồn vọng viễn chỉ tinh mật góp lại một từ,
đó là Em. Không phải Bùi Giáng hôm nay mệt mỏi, hóa ra hiền từ, không còn bay
phá trong thế giới chữ nghĩa muôn điệu của ông, mà Em chỉ là Một Tiếng Kêu.Là
nhất phiến hàn thanh tống cổ kim (5) Em là Ai? Người ta đã từng gọi Tự do
là Mi kia mà. Tây cầm cung bậc xô ngang/ nửa chừng dâu biển lấp ngàn ước
mong. Tuy nhiên Anh suốt suối vàng, vẫn mong Em còn suốt cõi tràn lan vui
chơi. Một chia biệt buồn bã vẫn tràn đầy tự nhiên, hò hẹn, hy vọng; một cuộc
đùa vui trong sáng, tự tại.Mây rừng tháng chạp bổ sung/ Mộng đi theo mộng cuối
cùng cho mai.
Sau cùng, một điều nên đề cập
tới – không thể tách rời khi viết về một Bùi Giáng thơ – đó là phong cách đạëc
biệt của ông trong khảo luận, dịch thuật và những bài tạp luận. Vì đây cũng
chính là thơ.
Bùi Giáng đề cập đến tất thảy
các nguồn triết học đông tây cổ lim (hàng trăm thi sĩ triết nhân nhà tư tưởng
đã được đề cập), ông ca ngợi cùng lúc cũng phê phán tất thảy từ Khổng,Trang ,
Lão, đến Socrate, Platon, Heidegger, Kant, Sartre...nhưng cái nhìn của ông –
qua văn xuôi – rất thơ, lẫn thơ mộng, lẫn mộng mị, do vậy ta nên đọc theo cách
chịu chơi, như một thưởng ngoạn lấy cái thi vị. Trong bài ÐạÏo Ðức Kinh ông
đề cập tới Ðạo như vầy: “không tin tưởng vào bất cứ gì mà vẫn yêu đời, ấy là đạo
vậy. Tin tưởng tất cả mà vẫn chán đời, ấy là đạo vậy... Không đi lính mà mặc áo
nhà binh ấy là đạo vậy. Ði tu mà cứ ăn mặn hoài, ấy là đạo vậy... “Trong
Ði Vào Cõi Thơ là thế này: “Thế nghĩa là gì? Có một cõi và mộït cuộc
đi. Cuộc đi có nhiều thể thái. Có thể đi theo lối chu du của ông Khổng Tử. Có
thể đi theo lối ngồi im không rục rịch suốt bao nhiêu diên trường tuế nguyệt dưới
gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim
trái chín”... Trong Ðường Ði Trong Rừng, Bùi Giáng làm thơ lý luận
về học thuật một thôi rồi quay ra “tả cảnh” các triết gia thi sĩ thế này: “ôi
đìu hiu con chim nhạn Hoellderli ! ôi con ngỗng trời bất tuyệt Nguyễn Du ! con
hạt vàng huyền ảo Nervar! Con sư tử hống thời phương thảo lục Nietzsche! Con tượng
vương hồi xứ lạc hoa hồng Heidegger! Con du hí thần thông tam muội tận
Shakespeare! Con phiêu bồng hồng nhạn tuyết trung khan Homer Sopholes! ôi con
gà rừng con nai rú!...”
Những phạm trù tư tưởng được
ông đùa chơi đề cập, thường là thông qua chiều kích của ngôn ngữ hình tượng, biểu
trưng, hơn là Ðáp – Giải bằng Lý.Ông bày ra trên bàn tiệc hình nhi thượng là những
cô em phương trời, ông phó Như Lai, bà Trời Trắng; bằng một kỷ thuật dựng hình
lổn ngổn, lý luận không biết đâu là Hỏi ra Ðáp vào. Bởi, bày ra câu hỏi cũng
chính là một Trả lời. Trả lời chính là một nan vấn, khẩn thiết một khởi đầu cho
một tra vấn mới. Giải mã được: “vì sao hôm nay đã đánh mất Nguyên sơ” có nghĩa
là “ vì sao Sơ nguyên không là hôm nay”, như thế là ta đã đẩy đưa một sự vụ thật
ra đơn giản trở thành ảm đạm rối rắm; ngay lúc ấy ta đắm chìm trong một tưởng mộng
sơ nguyên khi đang sống trên một mặt đất trầm trọng với đạn bom thương nhớ, Tại
ni hằng thể là ta tự tình. Dưới mái lợp ngàn ngàn tinh tú này luôn hồi vọng những
tiếng kêu xanh đen, lạc loài. Và bao nhiêu lời giải đáp là ngần ấy nhân lên những
nan vấn kế thừa. Vậy thì và nghe bằng vô ngôn thông vậy.
Vì sao có sự thể vừa tinh mật
vừa phồn tạp trong một Bùi Giáng. Chúng ta nên hiểu thêm một con người khác
trong ông. Ðó là một Bùi Giáng thông tuệ hãy còn lưu dấu sâu xa cái gốc gác
thánh thiện một trẻ thơ lớn lên từ luống cày nương rẫy. Cái thật thà hài thơ ấy
đã trở thành bản chất, đã nằm trong bịt bùng tầng tầng vùi lấp của cõi thời
gian đời người. Nó được nén chặt, đè kín, được lay – out kỹ càng nơi vô thức
nhưng nó có sức bật dậy và phóng bủa mông lung khi được thực tại click vào nó.
Nó đã giúp ông bao năm lang thang giữa phố thị mà vẫn vô tình gắn chặt với
hương đồng cỏ nội, với nương rẫy vườn rau lối ngỏ quê mùa – cả thơ văn lẫn con
người. Phát biểu của ông lắm khi dân giả thật thà, thể hiện một cái Ðẹp trần trụi,
khật khùng, thô, không hào nhoáng son phết. Ngôn ngữ Bùi Giáng là mặt bằng của
tranh lụa, của tranh sơn dầu, cả cả hốc hang một tượng điêu khắc.
Bùi Giáng cũng là người rất
mực tình cảm, rất mực thiết tha với bất cứ cái đẹp nào. Sống ở đâu ông cũng lưu
lại một nỗi nhớ, một kỷ niệm, một nhắc nhở. Nhưng cái nhớ ấy không cạn liệt mà
đã hóa thân là mơ màng, tưởng vọng, bay bổng tiếng kêu chung của phận người.
Ông điên giữa phố thị nhưng Mỹ Tho Sài Gòn vẫn là nơi thuận tiện ngắm trời mây,
dễ dàng hà tiện, dễ dàng bê bối, không cần thiết nhân danh tháng ngày để tiết
kiệm thời gian. Ở đời sáng uống cà phê/ quán trong hẻm nhỏ như quê quán
nhà/ ngoại ô thành phố phồn hoa/ ấy Sài Gòn ấy thiết tha bấy chầy.
Tóm lại, cuộc phiêu bạt của
Bùi Giáng qua cuộc đời này là hình ảnh của một thiên thần trên chốn lưu đày.
Nơi đây ông đã tự thân bày cuộc ngao du, minh triết hí lộng. Ðể chi vậy? Ðể
viên mãn: “Cuộc – đời – ờ- nơi – tạm – cư”; và đánh trả cái nhân danh thiên
đàng, lãnh địa của mọi nguồn gốc lưu đày.
Bùi Giáng đã có một đời thơ
năm mươi năm sáng tác; hơn hai mươi năm ông đã cùng các nhà thơ lỗi lạc Phương
Nam mở ra một vận hội Muôn Màu cho Văn Hóa Phương Nam. Nhưng nhìn ở bất cứ gốc
cạnh nào ông mãi mãi là một thi hào riêng Cõi, độc lập, một bát ngát tượng đài.
Do đó, tôi thấy không nên – không thể qui kết định đặt Bùi Giáng vào một trường
phái khuynh hướng, một tổ chức nào cả. Mọi nhản hiệu có lẽ chỉ vô tình khoanh
tròn, thu hẹp, công thức hóa cái thế giới Thi Ca dài rộng mênh mông của Bùi
Giáng.
Lời Tạm Biệt
Anh Bùi Giáng! Hôm nay anh
đã thật sự có ngày tháng ngao du. Anh để lại đây một tượng đài trong lòng người
đọc giữa bạn bà anh em; một tượng đài không cần thiết phải xay bằng bê – tông cốt
thép mới đời đời bền vững.Hôm kia tôi ghé Bình Thạnh để thắp anh một nén nhang.
Con đường mưa, đầy vườn lá rụng. Tôi nhớ anh Những Ngày. Ngày ở Ðại Học Vạn Hạnh.
Ngày ngồi cà phê Nắng Mới. Ngày của những Ðêm –Ðen Giữa - Ban – Ngày. Mỗi chúng
ta bị thời gian nghiền nát mỗi cách, nhưng anh luôn là một khuông mẫu tự nghiến
nát đặc biệt. Tôi rất khoái cuộc tự hủy mang tính nhiệm mầu tỏa bóng của anh.
Tương lai sẽ nói gì? đó là
quyền của tương lai. Nhưng tương lai sẽ có một thái độ rất trung thực, thanh sạch,
và tích cực lưu giữ những gì là tốt đẹp Hôm nay. Chúng ta không ích kỷ kỳ vọng
tương lai nhớ mình, nhưng Ngày Mai sẽ có trách nhiệm lưu giữ anh, soi sáng những
gí anh để lại. Chúng ta chưa hề đi vào những con đường hầm chưa không có đầu
kia.
Sau cùng, tôi nghiêng mình
xin lỗi anh vì đã quá ngớ ngẩn bàn luận về thơ anh, điều mà anh rất ghét kỵ.
Anh chẳng bảo:”thơ chẳng có gì để bàn ra tán vào. Muốn, hãy cứ làm một bài thơ
tương phùng nọ để đáp vào tận địa một bài thơ kia”. Nếu anh trách giận, tôi sẽ
cười như niềm vui nhắc bảo bà đầm ấm thưa rằng: “cõi bờ con mắt Hoa
nghiêm/ tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng”.
Mong thượng giới hãy dành một
xuất tự do để Con Người Chịu Chơi được tiếp tục cuộc tràn lan phiêu bồng.
CUNG TÍCH BIỀN
(1) Thơ văn Bùi
Giáng được trích từ Mưa Nguồn, Ðường Ði Trong Rừng, Mùa Thu Thi Ca, Lễ Hội
Tháng Ba, Sa Mạc Trường Ca, Biển Ðông Xe Cát, Trăng Châu Thổ. Ngày Tháng Ngao
Du, Rong Rêu, Ðêm Ngám Trăng, và những bài thơ sau cùng chưa in thành thi tập.
(2) Trên mặt đất
này đâu đâu cũng là dòng Mịch La.
(3) Lúc trời chiều
đứng ngắm cảnh tự hỏi đâu là Quê nhà – Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu.
(4) Sống ở trên đời
như giấc mộng lớn, làm chi cho vất vả thân mình – Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí –
Lý Bạch.
(5) Một tiếng
sóng lạnh tiễn đưa kim cổ- Nguyễn Du
Ðọc
lại mưa nguồn
THẬN NHIÊN
Mắt
Lỡ xưa xuống núi với người
Ăn thua Phố chợ ngậm
ngùi buông nhau
Ðã đành xanh ngát bể dâu
Một con mắt khóc đủ sầu rã
riêng
Ngó
Mai ngày manh chiếu mái hiên
Bát cơm quả trứng quan tiền
đò đưa
Ngó chân ngón thiếu ngón thừa
Còn bao nhiêu bước – duỗi –
vừa cuộc đi
Lạc
Mốt mai rớt hột xuân thì
Áo trăm mẵnh mộng còn ghi cuối
dòng
Gió cuồng lạc phố đào bông
Lạc em dê bé cười chồng dê
non
Nguồn
Lỡ xưa kinh chép lời còn
Lên đôi cánh mỏng màu son
chuồn chuồn
Vẫy tay chào núi mưa tuôn
Lau cồn rêu bám lạnh buồn
ngày đông
Thì thôi vuốt mặt giữa đồng
Cũng đành cuối dấu mưa sông
là nguồn
Bùi Giáng, Bước chân đi
tìm
hồn nguyên tiêu
và mầu hoa trên ngàn
hồn nguyên tiêu
và mầu hoa trên ngàn
BÙI VĨNH PHÚC
Người đã bỏ đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn
đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân
mồng
(Lá Hoa Cồn)
.1. Người thi sĩ ấy đã ra đi.
Cho dù người đã yêu thương thắm thiết trần gian và cuộc tồn sinh này. Nhưng giờ
hẹn đã đến, và người phải rời bỏ cuộc lữ hiện tại để lên đường đi về một biên
giới khác. Cho dù cuộc lữ người vừa bỏ có thể vẫn còn lắm chuyện thiết tha, người
đã bỏ con đường kia ở lại. Trước khi đi vào đối diện hư không, giữa những đêm
thâu lục nhạt của cuộc đời, người đã nằm suy nghĩ và mơ ước những gì? có phải
người mơ được trở lại “một miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồng, sông
núi trùng điệp, những đám cỏ chạy dài suốt cả tuổi thơ” (1). Người muốn trở về
đó để tìm kiếm lại một màu xanh không còn nữa của những ngày tuổi nhỏ, hay để
tìm lại một ánh tăng châu thổ, một giọt sương tỳ hải, những cánh châu chấu chuồn
chuồn mà ai đó đã thả đầy trong mấy vạt nắng mong manh sầu úa một chốn quê nhà?
Chốn quê nhà kia, nơi có những bóng tre, một màu rạ, một bờ ruộng, một con đường,
một khúc sông...mà lúc nào người cũng mãi gìn giữ trong chính thịt xương thân
thể của mình:
Con đường bờ ruộng khúc
sông...
Bóng tre, màu rạ như trong
ruột rà
(Martin Heidegger và Tư Tưởng)
Hiện Ðại 2
Hay là người vẫn còn nhớ mãi
bờ lúa cũ, nơi người vẫn còn nhìn thấy in đậm một dấu chân em:
Em chết trên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn mây trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya cuốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng
Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay
sang.
(Bờ lúa, trích nguyên bài)
Hay là người muốn trở lại những
ngày xưa để lùa bò vào đồi sim trái chín:
Anh lùa bò vào đồi sim trái
chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ
chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió
rung rinh
(...)
Cây lá bốn bên song song từng
lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn
ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang
mang
Với bò giữa rừng hoang đương
gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây
đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó
mình không
Hay người muốn tìm lại những
ngày tháng ngao du cũ, những sương bình nguyên, một màu hoa trên ngàn, và những
đêm sau đầy màu sử lịch của một khúc sa mạc trường ca? Người đã sống điên dại
giữa đời, hay đúng hơn, người đã chọn một cuộc chơi vĩ đại, trầm thống với tất
cả “thân thể máu me và da xương” của chính mình mà mẹ cha cũng như trời đất đã
ban cho . Chẳng mấy kẻ trên đời này đã dám xông vào trận như thế. Người làm ta
nghĩ đến Paul Gauguin, kẻ đã dám từ bỏ thế giới văn minh của con người để đi
tìm một sắc màu thơ mộng mới cho chính cuộc tồn sinh mình. Gauguin, cũng như
người, đã suốt đời lang thang để đi tìm một màu hoa sơ thủy. Người cũng đã làm
ta nghĩ đến Van Gogh, kẻ đã tự ý đánh mất cái khôn ngoan của những con người sống
giữa đời thường, để có thề đi sâu vào trong ánh sáng điên cuồng chói lọi của những
starry nights, của những đêm sao lồng lộng và nhìn ra ở đó những chính bản của
cuộc đời. Cuộc đời như chúng ta đang sống chỉ là những phó bản với thật lắm điều
sai lệch. Bùi Giáng đã van xin:
“... Hãy để yên cho tôi điên
tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám
si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống.
Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là
tôi chết hai ba lần trong trận sống...”
Hãy nghe lời Cầu Kinh Cầu
Nguyện Ca mà thi sĩ đã viết:
Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc
meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một chiều
khe mương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường
bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ
ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người
thuyền quyên kia
(Sa mạc trường ca)
.2. Nhắc đến Bùi Giáng,
người ta hay nói về thơ của ông. Ðó cũng là điều tất nhiên. Ông là một thi sĩ
bát ngát, ngây thơ và cỏ hoa điên đảo. Cỏ hoa điên đảo trong cõi đời cũng như
điên đảo trong cõi phi – đời và pha đời. Còn ngây thơ, bát ngát là ở trong cõi
bờ tịch lặng của triết lý uyên nguyên mà ông vẫn hằng lui tới. Thơ Bùi Giáng
tràn đầy hoa cỏ của một thế giới sơ đầu vẫn còn giữ mãi một hồn nguyên tiêu ẩn
mật. Thơ ông đựng đầy ẩn ngữ, mật ngữ, nhưng không trì nặng mà vẫn bay lượn
phiêu diêu như những cánh châu chấu chuồn chuồn ở ngoài đồng nội. Ông làm thơ,
nhưng không cần biết thơ là gì:
Bắt chước ông Khổng Tử
Con chim thì ta biết nó bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó
làm thơ
Nhưng thơ là gì
Thì đó là điều
Ta không biết
(Sa Mạc Trường Ca)
Kẻ thi sĩ không biết thơ là
gì, nhưng ông biết rõ tại sao ông làm thơ:
“Thơ tôi làm (...) chỉ là một
cách dìu ba đào về chân trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão động môt lúc thì lập
tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn
chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng
bay đi. (...) Tôi ra bờ sông nàm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao.
Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vẫn bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm
bao...”
Có những người đã thử bàn về
thơ Bùi Giáng. Tôi cũng đã thử có lần “vạch hai lá cỏ ra nhìn” để rủ một lũ chuồn
chuồn châu chấu trở về bay liện trong thơ ông (2). Tôi yêu cái hình ảnh của Bùi
Giáng trong một màu trăng châu thổ và trong đìu hiu của hoang vu những lá hoa cồn,
hay trong những bài ca quần đảo; nhưng tôi cũng thích cái nét thơ mộng đầy nhiệt
tình, nhiệt thú, nhiệt huyết của ông trên cả hơn một ngàn trang sách trong ba tập
Tư Tưởng Hiện Ðại (in khổ lớn). Ðể thấy được những nét tìa hoa và cái đọc, cái
biết rộng rãi và phơi phới của Bùi Giáng về văn học, tư tưởng và triết lý Tây
phương cũng như Ðông phương, tôi nghĩ người ta phải tìm vào những trang sách
này. Những trang sách mà Bùi Giáng đã viết trong những năm ngoài ba mươi tuổi của
mình, những năm đầu thập niên sáu mươi. Con người này tài hoa rất mực, chu du
trong thế giới tư tưởng và ngôn ngữ Tây phương nhưng lúc nào cũng yêu thương thắm
thiết một màu hoa bên ngàn của ngôn ngữ Việt.
Có lần ông nói với Trần Tuấn
Kiệt là ông viết về triết học, bàn về tư tưởng hiện đại là để cuối cùng nêu lên
mấy câu về Kiều hay của Huy Cận chơi. Quả thật là có thể. Nhưng không phải chì
là như thế Bùi Giáng nói chơi đấy thôi. Trong những chuyện này, ông bà về một số
những khuôn mặt lớn của tư tưởng hiện đại như Karl Jaspers, Jean Paul Sartre,
André Malraux, Saint-Exupéry, Gabriel Marcel, Albert Camus,Paul Claudel, Simone
Wiel, Martin Heidegger, William Faulkner, Nietzsche, Kierkegaad... Từ những
khuôn mặt này, và đặc biệt là từ Heidegger, Bùi Giáng đã bàn rộng ra về những vấn
đề triết lý và tư tưởng hiện đại. Ðọc mấy cuốn này để hiểu Bùi Giáng-trẻ là như
thế nào. Ông vẫn luôn là một nhà thơ, một con người hết sức thơ mộng. Nhưng ông
lại là một con người của lý luận. Ông sẵn sàng đưa Khổng, Lão, Trang cũng như cả
Thúy Kiều, Kim Cương, Phùng Khánh, Brigitte Bardot, Marilyn Monroe, Dương Quí
Phi, Atriane, Diane, Nausica, Juliet, Desdemona... vào trong cuộc thảo luận mà
ông bày ra với Heidegger, Nietzsche, Sartre, cũng như với những nhà tư tưởng lớn
khác của thế giới. Bùi Giáng cho rằng những người con gái đó “phải trở về bủa rộng
chiêm bao để thiết lập mộng luân lưu giữa thời gian bay múa: và có như thế thì
“ cuộc tồn hoạt của tồn sinh [mới] được tiếp xúc trở lại với hương màu vạn cổ...”
Bùi Giáng không thích Sartre
vì, trong cái nhìn của ông, Sartre đã quá bất công với Camus, không hiểu
Faulkner cũng như kỷ thuật thời gian đồng hiện của nhà văn này trong The Sound
and the fury, và không ngay thẳng với Heidegger. Sartre đã tìm cách giết chết
Camus trong việc “giải thích“ L’Étranger một cách không đúng tinh thần mã thượng
trong bài Explication de l’Étranger của mình. Và Sartre đã bóp méo, xuyên tạc,
rồi sau đó tấn công Heidegger, tung hỏa mù về tư tưởng của Heidegger vào thế giới
trí thức Tây phương. Trong quyển đầu, Tư Tưởng Hiện Ðại, Bùi Giáng còn khá
nghiêm túc, tính chất “vượt biên” trong ngôn ngữ, tư tưởng của ông, phần lớn,
còn nằm đàng sau những con chữ, những mặt chữ, chứ chưa lộ hẳn ra ngoài. Những
nhận định của ông về Sartre, trong khi bàn về Camus, còn sự quý mến và nể trọng.
Qua đến quyền hai, Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại 1, vì giận em Jean
Wahl, giáo sư đại học Sorbonne, qua quyển Vers la fin de l’Ontologie của ông
này nhằm phê bình quyển Introduction à la Métaphysique ( Einfuhrung in die
Metaphysik) của Heidegger, và giận Sartre trong việc ông cho rằng Sartre đã
xuyên tạc triết gia này, có những chỗ Bùi Giáng đã “mày tao chi tớ” với họ. Ông
cho rằng Jean Wahl đã “bám vào những chi tiết mấp mô mà bỏ quên nguồn thác chảy.
Cái phần sâu thẳm trong chiêm niệm viễn tượng siêu hình “dư dục vô ngôn”
Heidegger gọi là cái phần Im-pensé [...] hoàn toàn bị Jean Wahl và Sartre hững
hờ không dọ tới. Jean Wahl là hình ảnh biểu trưng trọn vẹn cái sa đọa của duy
lý thô thiển mài miệt trong cái học công truyền đo đếm quanh năm [...] Cái gì
Jean Wahl cũng đòi cho được “tout à fiat”. Ðức Khổng Tử thấy vậy, Ngài bèn lắc
đầu: Nếu đòi hỏi mãi cho được cái “tout à fiat” thì than ôi! Còn chi là cái cõi
lòng ta nữa [...] Cái phần vô-suy tư là cái phần quý báu ta trao gởi êm đềm cho
mỗi mỗi tinh anh. Hãy mở tâm thức mình ra mà đón lấy...”
Bàn về việc Sartre, trong
cái nhìn của Bùi Giáng, bóp méo và xuyên tạc rồi tấn công Heidegger trong khái
niệm “In-der-Welt-sein” của triết gia này trong cuốn L’Eâtre et le Néant (Hữu
Thể và Hư Vô) của mình Bùi Giáng viết:
“Ở đây, rõ ràng ý Sartre muốn
triệt để côngkích Heidegger cho tả tơi tan tành trong-hào-ngoài-lũy-bằng cái
toán quan quân kỳ dị truy sát đuổi dài. Bởi đâu ta dám bảo như vậy. Bởi rằng:
cái tiếng :L’être-au-milieu-du-monde là tiếng của Heidegger. Vật- thể-trong-đời
hay tại- thể- trong-thế-gian chính là In-der-Welt-sien-một khái niệm cốt yếu
trong tư tưởng Heidegger. Và sở dĩ ta bảo rằng đám loạn quân truy sát của
Sartre quả thật là kỳ dị, ấy bởi rằng: Sartre xuyên tạc trước, rồi tra tấn sau.
Sartre bóp méo tư tưởng của người ta rồi lên án người ta.
Cái khái niệnm “trong đời” của
Heidegger không có nghĩa ù lì, trơ trơ gỗ mục như Sartre bảo. Tại- thể-trong-đời,
là xuất võng ngoại tồn phát tiết tinh hoa ra ngoài cõi đời để mở-phô-đời-cõi,
thiết lập lại bên dòng cái cuộc đời rời rã cho kết-tụ-tròn-đầy lài liễu soi
gương khâm phụng lên đường theo thiết tha phóng hoạt-là thiên chức con người
trước tiếng gọi Vô Ngôn.
Sartre đã đẩy Logos Hình Nhi
Thượng của Heidegger cho té xuống bình diện Hình Nhi Hạ. Phusis bị dập hết
hương màu. Thế còn chi là hồng nhan em Thúy? Tha hồ mà đo đếm đuổi xô. Ðem bụi
lầy bết vào thân tiên tử, đem bùn-đen trát vào mình mẩy mềm mại của giai nhân,
rồi la to:- Con đĩ kia ơi! Mày hãy đưa tứ chi cho ông xiềng xích lại, rồi vào
ngục tối mà nằm. Ông là nhân viên kiểm tục.
Duy có điều: Sartre vẫn đáng
được ta mến là ở chỗ: Cái điệu tài-tình-ba-gai của Sartre nghe ra lắm chiều ngộ
nghĩnh. Dường như Sartre thử đùa một cuộc chơi-để xem thử thiên hạ sẽ nghĩ như
thế nào. Nếu ta nói chơi, mà đời lại nghe theo làm thật, lại ngây thơ hơn con
trẻ, cứ lượm đà mà ném mãi vào thân thể giai nhân để tự-biến-mình-làm-quỷ- thì
cũng là đáng cho cái kiếp các ngươi lắm đó. Giai nhân chết đi, thì rồi các người
sẽ cưới ma-cuồng về mà ôm ấp (...)” (3)
Phong cách diễn tả của Bùi
Giáng cho thấy ông có sở học rộng mặc dù ông rất chủ quan. Ở đây, ông là một
nhà phê bình; nhưng cái chất nghệ sĩ trong con người ông còn mãnh liệt hơn cái
chất phê bình kia. Và nghệ sĩ nào mà không chủ quan. Ông có cái tài hoa trong
ngôn ngữ, cái nhiệt tình bênh vực cho lẽ phải trong quan điểm của mình, và cái
cao ngạo, “pha” của mọt người coi thường cái học từ chương, trường ốc, khinh
thường cái nhóm “trường trại lao xao”. Tự nói về ngôn ngữ chính mình, ông bảo:
“Lời mông-lung-cỏ-lá là xen thường hệ-thống-lý-luận-phỉnh-gạt của những phường
giá áo túi cơm là ca chậu chim lồng” (M.H và TTHÐ 2) và “đã là người Việt Nam
thì chẳng lẽ lại viết triết học bằng chữ. Phải viết bằng lời. Mà lời của biển
dâu không thể là văn xuôi. Phải là lời thơ “tái tân thanh” tái tạo. Văn xuôi
cũng phải buộc là thơ. Và mở cửa cho thơ rúc vào nằm trong một vòng tròn trịa
méo mó ôm nhau.” (M.H và TTHÐ 1).
Bởi vậy, cho dù ngoài thơ
ra. Bùi Giáng có dịch một số tác phẩm của văn chương thế giới, có bình luận chú
thích về tư tưởng hiện đại, thật sự, tất cả những gì ông viết ra đều nằm trong
một bài thơ lớn. Một bài thơ lớn theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Bài thơ đó
chính là đời sống của ông, là cuộc tồn lưu kỳ thú mà ông đã chọn lựa để sống trọn
vẹn sinh mệnh mình trong cuộc lữ trần gian này:
Tôi đã nguyện yêu trần gian
trọn vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da
xương
(Mưa nguồn)
Bùi Giáng viết mấy quyển Tư
Tưởng Hiện Ðaị chỉ là để, cuối cùng, nêu lên mấy câu của Tố Như trong Kiều hay
mấy câu thơ của Huy Cận. Thì thực là như thế đó. Nhưng ông cũng viết những quyển
sách ấy để nói lên những vấn đề trầm trọng của sử lịch Việt Nam, của con người
Việt Nam giữa mây trời lửa khói:
Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn
hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài
bão dông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng
một giêng
TạÏ từ tháng chạp quay
nghiêng
Ầm trong sử lịch thu triền
miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời
hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga
trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một
con
(Mắt Buồn / trích nguyên bài
trong tập Mưa Nguồn)
Ầm trong sử lịch. Sử lịch.
Hình như đây là chữ đặc biệt của Bùi Giáng. Trước ông, hình như chưa có ai dùng
từ sử lịch. Và kể từ Bùi Giáng, mỗi khi viết về ông, hoặc mỗi khi viết theo thể
điệu của ông, người ta thường dùng từ này để nói lên cái tính lịch sử của đời sống,
của con người, của một cuộc lữ, hay của một dòng quay, một dòng vận động. Có thể
nhiều người trong chúng ta thấy từ ấy lạ. Ðầy nét Bùi Giáng, và đã tưởng là người
thi sĩ cho “nét chữ lên đàng quẩn quanh”. Và chúng ta cũng cho nét chữ của mình
quanh quẩn lên đàng đuổi theo nét chữ của người. Ðiều đó cũng là hợp lý khi đi
tìm hay khi nói về phong cách của nhà thơ. Có lẽ ít người biết rằng, dù là có một
phong cách dùng từ độc đáo, trong việc dùng từ “Sử lịch” này, Bùi Giáng có quan
niệm rõ ràng của ông. Ông sáng tạo ra từ “Sử lịch”-hoặc nếu có đã có trước đó,
trong văn mạch của ông nó đã được dùng theo một nghĩa đặc biệt-để diễn một khái
niệm triết lý của Heidegger. Ở đây không phải chỉ là chuyện “hóa ra nét chữ lên
đàng quẩn quanh” mà thôi. Sử lịch là lịch sử nhuốm màu thời gian pha phôi thiên
cổ. Ở phần phụ lục cuối sách trong quyển Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Ðại
2, trong phần chú giải về những ngôn từ cốt yếu của Heidegger (vài chục từ) mà
Bùi Giáng có nhắn gởi với người đọc là: “Nắm lấy chừng này Ngôn từ, bạn sẽ có
cái chìa khóa mở một Cửa Mộng”, ông chú giải về từ Geschichte theo thể điệu Bùi
Giáng:
Geschichte: Sử Lịch,
Sử Mệnh, Sử Kiếp, Hồng Sử, Thanh Sử... Trên trang sách Heidegger, tiếng
Geschichte có âm vang kỳ bí não nùng như những tiếng Cổ Lục Sử Xanh của Nguyễn
Du. Trong Ðức ngư õcũng có tiếng Historie như Histoty (Anh), Histoire (Pháp).
Theo thể thông dụng
thì trong Ðức Ngữ hai tiếng Historie và Geschichte vẫn không khác biệt gì nhau.
Nhưng trong sách Heidegger thì triết gia phân biệt hẳn hai nghĩa. Historie được
dùng theo nghĩa sử là sử ký, sử sự, sử kiện, sử chi li biến cố. Tĩngh tữ
Historisch. Còn Geschichte thì có nghĩa man mác mênh mông của Thời
Gian hòa vào Vĩnh Thể trong tâm thức con người là Tại Thể hoài vọng luân lưu.
AÂm hưởng Sử lịch phiêu bồng trong chiều hướng quá vãng theo về bờ cõi
mai sau.
Những tiếng
Geschichte, geschichtlich, Geschichtlichkeit đều mang đủ những gì trầm trọng của
Sein und Zeit (4) của Zeitlichkeit chan gội tồn lưu tố chất... Dịch giả Anh,
Pháp đã bối rối rất nhiều trước những tiếng này. Việt Nam nhờ có Nguyễn Du nên
đỡ sợ.
Tạm đưa một vài thí dụ
để dễ nhận nghĩa hơn: khi bàn tới tiếng philosophia của Cổ Hy Lạp, Heidegger bảo:
vì tiếng kia là của Hy Lạp ngàn xưa mênh mông, nên lời của philosophia là lời của
nghĩa Con Ðường, lời của Ðạo. Ðến bây giờ, theo dấu cỏ, ta đi. Bước trên đường,
và ta hiểu dạo philosophia. Nhưng thật ra cái con đường của yêu thương cái
sophon đã mất nhiều cỏ hoa vì bàn chân ta thô bạo. Ta bứt trụi lá cây. Và từ đó
ta tưởng mình quen biết con đường, nhưng thật ra cũng hầu như không biết. Biết
rất mù mờ, dù có nhớ rõ vanh vách những hòn sỏi, những cồn lau. Dù có thuộc làu
làu những gì trong Cổ Sử: chuyện trước, chuyện sau, câu đầu, hàng cuối, sử ký,
sử ghi, sử sự tràn lan đùn đẩy. Vẫn chưa rõ đạo của đường. Bởi đâu?
[Bỏ một đoạn trích tiếng Ðức
của Bùi Giáng để làm bật nghĩa historiche kenntnisse.]
Ấy bởi rằng những Sở Tri Sử
Ký chồng chất kia (viele historiche Kenntnisse) nó nằm trong trí óc lao xao, nó
xui ta bận trí đếm đo hoài, nên ta không còn tâm linh mà mặc niệm. Ta bỏ lạc tồn
lưu và mất trụi cái cốt thiết của Căn Cơ ẩn kín (innerst Grundzug) của Sử Lịch
là Geschichte nằm trong Sử-tố-chất của Thể-die Geschichtlichkeit des
Daseins.
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà
huy
Lời cổ độ gây rung động dị
thường. Vì Dasein đã nhìn vạn vật trong vẻ kỳ ảo Sơ Khai. U huyền trong cổ độ, huyền
mộng trong tà huy, mộng tình trong thệ thủy, tình tữ trong thu phong... Ðứng rũ
vì nhớ nhung, ngồi trơ vì thê thiết. Quán và Cầu là hình ảnh của hoài niệm về
Sơ Thủy không nguôi...
Ðoạn trích dẫn vừa rồi khá
dài. Nhưng, ở đây, tôi chỉ muốn cho người đọc thấy rằng nhiều khi chúng ta cứ
tưởng rằng Bùi Giáng chỉ thích đùa cợt gùn ghè giỡn chơi với chữ nghĩa của
mình, nhưng thật sự thì chẳng phải vậy. Ông đùa giỡn, điên đảo, quẩn quanh hoa
cỏ thật, nhưng ông cũng là một người thật hết lòng nghiêm cẩn với chữ nghĩa của
mình. Ta hãy thử đọc vài ba định nghĩa nữa của ông về mấy từ thiết yếu trong
sách của Heidegger, người mà Bùi Giáng rất mực tâm đắc và yêu mến.
Sein: Hữu Thể, Tồn Thể, Vĩnh
Thể.
Seiende: Hiện Sinh, Hiện Thể,
Vật Thể.
Gefrage: Ðiệu hỏi ò e, lao
xao, theo lối trường trại ồn ào, làm tan nát màu hương của chiêm niệm u uyên.
Hai từ đầu nghiêm cẩn. Từ thứ
ba rất “mông lung cỏ lá”, diễn được cái ý xem thường “lối trường trại” ồn ào của
Bùi Giáng.
.3. Con người của Bùi Giáng
không chỉ để lộ nét tài hoa trong thơ của mình. Hay trong hằng ngàn trang sách
của Tư Tưởng Hiện Ðại, và trong hằng mấy ngàn trang sách nữa của những quyển khảo
luận về văn chương, tư tưởng Việt Nam cũng như về văn chương, tư tưởng thế giới.
Nét tài hoa ẩn mật mở phơi hào hứng của ông còn được thể hiện rất rõ trong dịch
phẩm mà ông đã để lại cho đời. Tùy vào cái tạng của mỗi người mà chúng ta có thể
cảm hay không cảm, thích hay không thích cái phong cách dìu ba đào về những
chân trời viễn mộng trong những bản dịch của Bùi Giáng. Døù sao, ai cũng phải
công nhận đó là những bản dịch đặc biệt, những bản dịch có một không hai trong
văn dịch của chúng ta.
Có một lần, Bùi Giáng đã thổ
lộ về quan niệm dịch văn của mình trong lời Tựa quyển Cõi Người Ta (5) mà ông dịch
từTerre des Hommes của Saint-Exupéry như sau:
(...) Theo dõi giấc mộng dài
của Saint-Exupéry, lại gọi ngôn ngữ Việt Nam về hạ tứ, nhiều phen phải bàng
hoàng: Chúng ta đứng trước mấy lần hiểm họa của màu sắc lục hồng cứ trùng điệp
rũ nhau bay, tung lên phủ xuống (...)
Dịch văn-sao cứ gọi là
dịch?-dịch văn biến thành câu chuyện vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa lẽo đẽo nối
liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi.
Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi
lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Ðó là điều đáng xui chúng ta tự
lự đăm chiêu.
Vì lẽ: tiết điệu đa âm
có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Ðây là trường hợp: ở bên
kia từ ngữ, tiết điệu của ngôn ngữ đương nói rất nhiều.
May sao, Việt ngữ đơn
âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải ở mọi cơ hội đều giản dị giàu sang.
Do đó cần thêm một chút chuyển hóa thỏa đáng thì lời dịch sẽ tái lập được “cung
bậc” gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những
thơ mộng khi u trầm, ngậm ngùi lúc lộng lẫy. Cái điệu nói la cà dịu vợi, vừa
chát chát vừa hắt hiu, lúc nhắc tình bạn hữu, lúc gợi tiếng U già, lúc chuyện
trò với gái trên nhịp cầu hai cõi hoang vu. “Tả nhi nữ tư tình, đãng khí hồi
trường. Tả anh hùng sự tích, nghĩa bạc vân tiêu.” (...)
Trong bản dịch, có mấy
chỗ thêm vài lời, ấy là gắng đưa ngôn ngữ đơn âm đuổi theo tiết điệu đa âm. Thỉnh
thoảng lại bớt vài lời, ấy là bởi: Việt ngữ mang nhiều tính chất parataxique
trong khi Pháp ngữ lại triệt để là một ngôn ngữ syntaxique.
Sau đây ta thử đọc một
đoạn trong Terre des Hommes của Saint-Exupéry, rồi thử tìm xem cái giọng điệu
lãng đãng thơ mộng ấy của Saint-Exupéry ngân vang bồi hồi trong bản dịch Cõi
Người Ta của Bùi Giáng ra sao:
J’ai atterri dans la douceur
du soir. Punta Arenas! Je m’adosse contre une fontaine et les jeunes filles. A
deux pas de leur grâce, je sens mieux encore la mystère humain. Dans un monde
òu la vie rejoint si bien la vie, òu les fleurs dans le lit même du vent se
mêlent aux fleurs, òu le cygne connait tous les cygnes, les hommes seuls
bâtissent leur solitude.
Quel espace réserve
entre eux leur part spirituelle! Un songe de jeune fille l’isole de moi,
comment l’y joindre? Que connaitre d’une jeune fille qui rentre chez elle à pas
lents, les yeux baissés et se souriante à elle-même, et déjà pleine
d’inventions et de mensonges adorables? Elle a pu, des pensées, de la voix et
des silences d’un amant. Se former un Royaume, et dès lors il n’est plus pour
elle, en dehors de lui, que des barbares. Mieux que dans une autre planète, je
la sens enfermée dans son secret, dans ses coutumes, dans les échos chantants
de sa mémoire. Née hier de volcans, de pelouses ou de la saumure des mers, la
voici déjà à demi divine.
Punta Arensas! Je
m’adosse contre une fontaine. Des vieilles viennent y puiser; de luer drame je
ne connaitrait que ce mouvement de servants. Un enfant, la nuque au mur, pleure
en silence; il ne subsistera de lui, dans mon souvenir, qu’un bel enfant à
jamais inconsolable. Je suis un étranger. Je ne sais rien. Je n’entre pas dans
leurs Empires. (6)
Lời văn của
Saint-Exupéry mang tiết điệu trầm buồn, u hoài, đầy nét vợi xa lãng đãng. Và từ
đó, Bùi Giáng dịch là:
Tôi hạ cánh giữa tịch mịch
chiều vàng. Punta Arenas! Hãy nhìn ta tựa lưng vào bờ giếng mà ngó gái giữa
thanh xuân. Cách nhau hai bước, tôi càng cảm thấy rõ cái lẽ huyền nhiệm kiếp
người... Trong một thế giới mà sự sống giao tiếp dễ dàng với sự sống, mà những
cành hoa giữa lòng gió hồn nhiên hôn phối với những cành hoa, một thế giới mà
con thiên nga nào cũng quen biết mọi con thiên nga, trong thế giới đó, chỉ
riêng con người là xây dựng căn lầu mộng cô đơn.
Phần tinh anh còn cách
biệt nhau nghìn trùng. Một giấc mộng “đầu hoa ngan ngử thắm” của gái xuân càng
chia nường biệt lập tôi, biết làm sao mà tìm cái lối vào trong nẻo đó ở trong
kia? Làm sao hạnh ngộ, làm sao nghe ra, làm sao ngóng thấy, làm sao biết rõ những
cơn man mác trong nhịp bước gái tơ đi lững thững chiều hôm về căn nhà cha mẹ, mắt
lim dim khép mở hai hàng, hai đôi má núng đồng tiền mở nụ, một mình mỉm cười với
gió ẩy tà xiêm một mình em hay, một mình em biết, một mình rộn lên những trận
viễn du khai phá, những mộng tưởng phát minh, những u hương rập rình quân nhạc
đối nhau xiêu đình đổ quán... Nàng đã tự thiết lập một điện đài ẩn bí trong một
vương quốc rẽ riêng, bằng những gì của riêng ai đem lại, bằng những gì của gã
tình nhân đăm chiêu tơ tưởng? Bằng điệu nói của chàng? Bằng lặng lẽ của anh? Từ
đó về sau, đối với em, chỉ riêng chàng là hoàng tử chí tôn, ngoài chàng
ra, người người trong thiên hạ thảy thảy là bọn lưu manh man dại côn đồ? Em
khép thân ngà trong một cõi, kín đáo hơn lối vào một viễn cách hành tinh, em
che lấp đời riêng trong những lối đi về kiều diễm, trong những thói nhà băng
tuyết, trong những âm thanh dìu dặt của ký ức não nàng lờ lững phỉ phong. Sinh
ra từ giữa lòng núi lửa, từ giữa lòng thảo hoa, từ chất muối trùng khơi thổi mặn,
mới đó hôm qua, nay em đã hầu thành Tiên Nữ.
Punta Arenas! Tôi tựa
lưng vào bờ giếng. Những đàn bà già nua tới đây lấy nước. Trong tấn bi kịch đời
họ, ngày mai tôi sẽ biết riêng chỉ một cử động tôi đòi ấy thôi. Một bé con ngửa
cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Ngày mai trong kỷ niệm của tôi, sẽ chỉ còn ghi
riêng hình ảnh một đứa bé lạc loài, sầu khổ không nguôi. Tôi là kẻ lạ tới đây.
Tôi không biết, không biết gì hết cả. Thế giới họ, tôi không thể bước vào. Làm
sao tôi dám nói.
Ngày còn trẻ, những
năm mười tám, mười chín, hai mươi, đọc Terre des Hommes, rồi đọc bản dịch
Cõi Người Ta của Bùi Giáng, thú thật, tôi chịu không nổi. Trong những tháng năm
tuổi trẻ ấy, cái gì mình cũng muốn đâu vào đấy, cái gì mình cũng muốn thẳng lối
ngay hàng. Mình thích sự nghiêm cẩn, thích sự gọn gàng chính xác. Câu văn của
Bùi Giáng thêm thắt lòng vòng, ngỏ trước vườn sau, mông lung lá cỏ. Làm sao tuổi
hai mươi ngày ấy chấp nhận được. Nhưng rồi thời gian trôi qua lãng đãng. Bây giờ
đọc lại câu văn dịch của Bùi Giáng, tôi thấy bập bềnh cái hơi thở u hoài của trần
gian thênh thang mà miên man lồng lộng. Trên những câu văn của Bùi Giáng, tôi vẫn
thấy còn sót lại một vạt nắng vàng trong man mác chiều tà. Người con gái đầy ấp
xuân thì, cúi đầu, tự mỉm cười với chính mình, bước đi lững thững về nhà, trong
lòng chất đầy mơ mộng. Những bà già ra giếng kiếm nước. Một cậu bé con ngửa cổ
vào tường, khóc lặng lẽ. Câu văn dịch của Bùi Giáng lòng vòng diệu vợi. Thế mà
bây giờ, đọc lại, sao tôi lại thấy nó để lại trong lòng mình những ấn tượng thật
mạnh và buồn (7)
Một bản dịch khác của Bùi
Giáng, cũng là một tác phẩm của Saint-Exupéry, mà tôi rất thích là quyển Le
Petit Prince. Bản dịch của Bùi Giáng là Hoàng Tử Bé (8). Ðây là một cuốn sách
tuyệt vời. Và bản dịch của Bùi Giáng cũng đạt độ tuyệt vời của nguyên tác. Cuốn
sách kể lại câu chuyện của một chú hoàng tử bé, sống trên một tinh cầu xa xăm.
Chàng có một đóa hoa và chàng đã ngày ngày tận tâm tưới nước, chăm sóc cho đóa
hoa ấy. Ðó là đóa hoa đặc biệt của một chủng tử đặc biệt trên tinh cầu chàng.
Ðó là đóa hoa duy nhất của chủng tử nọ, và chính là vì đóa hoa yêu kiều diễm lệ
này mà hoàng tử bé đã lên đường phiêu lưu. Chàng đi qua nhiều tinh cầu khác
nhau và thấy được nhiều sự lạ lùng trong tính chất của “con người”: một ông
vua, một người hay khoe khoang, một chàng thích ăn nhậu, một người làm áp-phe,
một người chuyên đi thắp đèn, một nhà địa lý. Tới trái đất sau khi gặp một con
rắn, sau khi gặp những đóa hoa hồng, hoàng tử bé kia gặp một con chồn. Và,
trong nguyên tác cũng như trong bản dịch của Bùi Giáng, con chồn này quả là
phiêu hốt và thơ mộng đáng yêu quá thể.
Sai khi gặp gỡ, chào hỏi
nhau, hoàng tử nói chàng muốn con chồn đến ở chơi với chàng, vì chàng buồn quá.
Con chồn trả lời là nó không thể chơi đùa với chàng được vì nó chưa được “tuần
dưỡng”, bởi thế tính khí chưa thuần. Hoàng tử bé hỏi con chồn “tuần dưỡng” là
gì. Nhưng con chồn nói sang chuyện khác. Sau hai, ba lần như thế, hoàng tử bé vẫn
không quên câu hỏi của mình. Chàng lại hỏi con chồn” Tuần dưỡng có nghĩa là
gì?
- Ðó là một điều bị quên
lãng quá nhiều, cho chồn đáp: đó có nghĩa là tạo nên những mối liên lạc...”
-Tạo nên những mối liên lạc?
- Hẳn thế, con chồn
nói. Ðối với tôi, chú hiện giờ chỉ là một đứa trẻ giống y như trăm nghìn đứa trẻ
bé khác. Và ta không cần thiết gì với chú. Và chú cũng chẳng cần gì với ta. Ðối
với chú, ta chỉ là một con chồn lũi lang thang như trăm nghìn con chồn lũi phất
phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ thế thôi. Nhưng nếu chú tuần tuần thiện dưỡng
ta, thì chúng ta sẽ cần tới nhau. Chú sẽ trở nên duy nhất trong cõi đời, đối với
ta. Ta sẽ trở nên duy nhất trong cõi đời, đối với chú...”
- Ta bắt đầu hiểu rồi
đó, hoàng tử bé nói. Có một đóa hoa... ta tưởng nàng đã tuần dưỡng ta...(...)
Thế rồi con chồn tâm sự:
Ðời ta tẻ nhạt. Ta đuổi bắt
những con gà mái, loài người đuổi bắt ta. Mọi gà mái đều giống nhau, và mọi mọi
người đều giống nhau (dù là người phồn hoa rực rở, dù là người phố thị đìu
hiu...) Vậy nên ta có u dầu chán ngán đôi chút. Nhưng nếu chú tuần dưỡng ta, cuộc
ống của ta sẽ sáng sủa ra, kể như có bóng mặt trời chiếu vào vậy (...) Và này
coi kìa! Chú thấy ở đàng xa kia kìa những cánh đồng lúa mì đó chớ? Ta không ăn
bánh mì. Lúa mì đối với ta vô dụng. Những cánh đồng lúa mì chả nhắc nhở ta cái
gì ráo. Và cái điều đó, thật đáng buồn! Nhưng chú có những sợi tóc màu vàng
óng. Vậy nên sự vụ sẽ trở thành huyền diệu, một khi chú đã tuần dưỡng ta xong!
Lúa mì, màu vàng óng, từ đó về sau sẽ nhắc nhở ta nhớ tới chú. Và từ đó ta sẽ
yêu tiếng gió thổi thánh thót trong lúa mì hiu hiu... (...)
Rồi con chồn thủ thỉ hẹn hò.
Cho nhu cầu “tuần dưỡng”, nó yêu cầu hoàng tử bé đến đúng giờ, mỗi ngày. Và nó
giải thích rõ lý do vì sao phải đúng giờ như thế:
- (...) Nếu chú đến, chẳng hạn,
vào lúc bốn giờ chiều, thì khởi từ klúc ba giờ chiều, cõi lòng ta đã bắt đầu
sung sướng. Tới bốn giờ chiều thì, ha! Ta loay hoay, e ngại, ta ngồi đứng không
an; ta sẽ khám phá được ý nghĩa vô ngần hắt hiu của phù du mênh mông hạnh phúc!
Nhưng chú tới bất kể lúc nào, thì ta chẳng biết đâu vào đâu mà mò ra cho đúng
cái giờ phải chuẩn bị cho cái trái tim, cái phút phải vận y phục vào cho cái
cõi lòng đón chào tươm tất... Cần phải có những nghi thức thơ mộng, những điển
lễ phôi pha. (...)
“Tuần dưỡng”, từ này nghe lạ.
Bùi Giáng khéo chọn từ, nó làm cho mình nhớ mãi. Trong những dịp đi lang thang
vào các nhà sách bên Âu châu, tôi đã được mua năm sáu bản dịch khác nhau của
tác phẩm này. Vì là sách dành cho trẻ con (!) (9), ấn bản của ngôn ngữ nào cũng
in thật đẹp với những hình vẽ bằng màu nước của chính Saint-Exupéry. Trở lại với
“tuần dưỡng”. Ở đây, xin lấy ra vài bản dịch với những ngôn ngữ thông dụng.
Trong nguyên tác, Saint-Exupéry dùng từ “apprivoiser” Bản Anh dịch của
Katherine Woods, dùng từ “tame”. Bản Tây-ban-nha, dịch giả Bonaficio del Carril
dùng “domesticar”. Những từ này, nói chung, là những từ bình thường, quen thuộc,
không đặc biệt tạo ra một ấn tượng rõ nét. Từ của Bùi Giáng dùng, đối với người
Việt chúng ta, nghe thấy lạ lẫm. Và nó tạo được ấn tượng sâu sắc làm cho ta nhớ
mãi.
Câu con chồn nói, “Ðối với
chú, ta chỉ là một con chồn lũi lang thang như trăm nghìn con chồn lũi phất phơ
phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ thế thôi” là câu đầy nét Bùi Giáng. Bản chính
chỉ là “Je ne suis pour toi qu’un renard semblable à cent mille renards”. Bản
Anh dịch là, “To you, I am nothing more than fox like a hundred thousand other
foxes.” Bản Tâ-ban-nha, “No soy para ti más que un zorro semejante acien mil zorros.”
Cái sự vụ lang thang (...) phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ” hoàn toàn
là do Bùi Giáng thêm vào. Nhưng sao nó lại làm cho câu văn phiêu bồng phất phơ
thơ mộng là vậy! Dịch được một câu như thế có lẽ vì chính Bùi Giáng cũng đã là
một con người “lang thang phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ” suốt cả đời
mình.
Câu “Cần phải có những nghi
thức thơ mộng, những điển lễ phôi pha”, trong chính bản, chỉ là, “Il faut des
rites”. Bản tiếng Anh, ”One must observe the propre rites...” Bản Tây-ban-nha,
“Los ritos son necesarios”.
Câu “Mọi gà mái đều giống
nhau, và mọi mọi người đều giống nhau (dù là người phồn hoa rực rở, dù là người
phố thị đìu hiu...) Vậy nên ta có u sầu chán ngán đôi chút”, Trong chính bản là
“Toutes les poules se ressemblent, et tous les hommes se ressemblent. Je
m’ennuie donc un peu”. Bản Anh, “All the chikens are just alike,
and all the man are just alike. And, in consequence, I am a little
bored”. Bản Tây-ban-nha, “Todas las gallinas se parecen y todos los hombres se
parecen. Me aburro, pues, un poco”. Cái phần thêm thắt vào. “dù là người phồn
hoa rực rở, dù là người phố thị đìu hiu ø, của Bùi Giáng, trong cảm nhận của
riêng tôi, thật là “đã”. Nó làm cho con chồn lũi ấu phất phơ phiêu hốt hơn những
con chồn trong chính bản và trong các bản dịch kia nhiều. Nó làm cho cuộc đối
thoại của hoàng tử bé và chú chồn ấy “có da có thĩt” thêm. Nó làm cho những
“nhân vật” ấy có cá tính hơn.
Như thế, ta thấy rõ là Bùi
Giáng đã làm đúng với quan niệm dịch văn mà ông đã đề ra “Dịch văn biến thành
câu chuyện; vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa lẽo đẽo nối liền hai bờ ngôn ngữ
quá xa nhau (...) Trong bản dịch, có mấy chỗ thêm vài lời, ấy là gắng đưa ngôn
ngữ đơn âm đuổi theo tiết điệu đa âm. (...)” Bùi Giáng, trên một số phương diện,
quả đã thành công một cách đáng yêu trong những bản dịch của mình.
.4. Tôi nhớ trong tập Mưa Nguồn,
Bùi Giáng có viết:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên
màu ấy không
Ta đi gửi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương
mù
Bùi Giáng đã ra đi rồi.
Nhưng vầng trăng ông để lại vẫn mãi mãi còn nguyên một màu sơ thủy. Những lá
hoa cồn hay những dòng chữ mà ông để lại cho đời vẫn thấp thoáng mãi trong những
bóng sương mù của thi ca, của hồn nguyên tiêu ngày cũ. Mãi mãi, chúng sẽ còn để
ngân lại trong lòng những người yêu quý ông những tiếng gọi trở về. Trở về bến
sơ đầu của những cơn mưa nguồn ngày cũ, của những bài ca quần đảo hoang vu, của
những lời cố quận mịt mù gang tấc. Hẳn đã nhiều lần trong cuộc tồn sinh của
mình, Bùi Giáng đã nhận thấy rằng quê hương của ông, cố quận của ông đã không
còn như xưa. Dù quê hương hay cố quận đó có được hiểu như thế nào đi nữa thì
ông cũng đã “chết nhiều lần trong trận sống”, và trong cuộc đời này, hình như
nhiều lúc ông đã lạc lối về. Bởi thế, để tìm về đường xưa lối cũ của những hồn
nguyên tiêu (Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài/ Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua), có lẽ
người thi sĩ ấy chỉ còn có thể tìm về và tìm vào trong những cuộc chiêm bao
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm
bao
(Rượu Uống)
Một giấc chiêm bao có mang
mang thật nhiều nắng lạ:
Người nằm ngủ thấy gì
Thấy thật nhiều nắng lạ
(Mưa Nguồn)
Nắng lạ ấy có lẽ là thứ nắng
đã làm cho “trời xanh đỏ chín” trong rừng sim những ngày chăn bò tuổi nhỏ của
Bùi Giáng. Và chắc đó cũng là thứ năng làm cho ông thấy “cây lá bốn bên song
song từng lứa/ sáng đôi nhau như ứa lệ ngân hàng”, khi ông để cho bò tự do gặm
cỏ trong rừng sim, còn mình thì nằm ngó ngất ngây trời đất, nghe “mùi thoang
thoảng lách lau sương đượm/ mùi gây gây gấy gấy của hương rừng/ mùi lên men phủ
ngập mông lung/ không biết nữa mà cần chi biết nữa”
Bùi Giáng đã yêu trần gian,
yêu cuộc sống, yêu cuộc chơi mà ông đã dấn thân vào với tất cả hồn xác, với tất
cả “thân thể máu me và da xương” của mình biết bao:
(...) Xin yêu mãi yêu và yêu
nhau mãi
Trần gian ơi! Cánh bướm cánh
chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ
dại
Con vi trùng cùng sâu bọ
cũng yêu luôn
Còn ở lại một ngày còn yêu
mãi
Còn một đêm còn thở với
trang sao
Thì cánh mộng còn tung lên
không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng
chân cao
(Mưa Nguồn)
Ðọc Bùi Giáng, biết về cuộc
sống của ông sau này, thương yêu và quý mến ông làm có những khi tôi hỏi rằng
tuổi thơ của ông đã như thế nào, và ông đã sống với tuổi trẻ ra sao. Ông đã
nhìn thấy những gì khi ông vừa biết mở rộng cặp mắt để ngó vào đời. Những viễn
tượng nào trong thuở đầu xanh mà ông nhìn thấy đã đẩy ông vào cuộc lữ:
Cũng vô lý như lần kia dưới
lá
Con chim bay bỏ lại nhánh
khô cành
Ðời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu
xanh
Buổi trưa đi vào giữa lòng
lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút
mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm
đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng
không thành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc
đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày
lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại
cho mình
Ðường vất vả vó ngựa chồn lảo
đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh
miên man
Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước
dạo
Ðêm tàn canh khắc vợi nguyệt
gương ngàn
Một lần đứng lên mấy lần ngồi
xuống
Ngón trên tay và tóc xõa
trên đầu
Tình đếm lại muôn vàn thôi
đã uổng
Ðể bây giờ em có biết nơi
đâu
Bờ trùng ngộ một phen này
phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn cỏ Phượng Thành Hy Lạp
úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp
hư không
(Hư Vô và Vĩnh Viễn/ trích
nguyên bài trong Mưa Nguồn)
Nguyễn Ðức Quỳnh có lần nói
Bùi Giáng giống như là Lão Tử. Ông không cần dẫn giải gì thêm. Thật sư, so sánh
nào cũng khập khẽnh, nhất là khi ta so sánh những đối tượng xa nhau cả trong thời
gian và không gian như thế. Nhưng nếu ta chấp nhận tính tương dối của sự sự so
sánh, hẳn nhiên nhận xét ấy có những điểm đích đáng của nó. Lão Tử chống lại và
mạt sát lễ. Chương 38 sách Lão Tử (Ðạo Ðức Kinh) chép: “Thất đạo nhi hậu Ðức,
thất Ðức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ
giả, trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ”, có nghĩa là “Ðạo mất rồi sao mới có Ðức,
Ðức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới
có lễ. Lễ là biểu hiệu sự suy vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối
của sự hỗn loạn” (10). Bùi Giáng cũng không thích lễ nghi phiền toái. Ông rất
ghét cái thói “lễ nghĩa” của những kẻ từ chuơng, trường ốc mà ông gọi là “bọn
trường trại lao xao”. Ông không thích cái giọng mà ông gọi là”bo-bo-lễ-nhượng-hương-nguyện-lưa-thưa”
của họ. Ông cũng rất ghét những màn thủ tục lễ nghi rườm rà. Thậm chí, theo Mai
Thảo, có những lần Bùi Giáng ra đứng tắm ở cái máy nước trước tòa soạn báo Văn
cũ ở đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, thản nhiên trước bao nhiêu người qua kẻ lại,
quần áo lướt thướt đi qua đường, một đám con nít tròn mắt đi theo. Ông mặc quần
áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải trên vai, lại thêm cây gậy chống
nữa. Ông lang thang đây đó, nhủ bất cứ ở đâu, dưới trời cao, dưới một gầm cầu,
hay dưới một mái hiên. Có những lúc lại thấy ông đeo một xâu chuỗi toàn giày
dép và quần áo phụ nữ quanh cổ. Trẻ con và người lớn đều xem ông là một người
điên. Bùi Giáng điên vì đời. Nhưng, ở một mặt nào đó, ông lại là một người rất
sáng suốt. Lão Tử dấu mình, ẩn danh. Bùi Giáng sống với đời, thiết tha với cuộc
chơi mà ông đã chọn với tất cả “thân thể máu me và da xương” của mình. Tôi
nghĩ, trong nhiều khía cạnh, có lẽ Bùi Giáng giống Trang Tử hơn. Trang Tử chọn
lối sống tiêu dao, lại thích lý luận, tranh cãi hào hứng với mọi người, đặc biệt
với bạn thân là Huệ Tử. Một cá tính của Trang là Vui sống, thiết tha với cuộc sống
(11). Tất cả những điều này ta đều thấy thể hiện nơi con người Bùi Giáng. Ông
là con người của tiêu dao, lang thang phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ, không chấp
nhận bất cứ hình thức gò bó nào. Và ông chấp nhận trả giá cho cuộc chơi, cho cuộc
tồn sinh của mình.
Nói mà chơi chứ Bùi Giáng chẳng
phải Trang mà cũng chẳng phải Lão. Ông là một con người Việt Nam, yêu truyện Kiều,
yêu Nguyễn Du, Huy Cận, và yêu luôn ca dao chuồn chuồn châu chấu. Ông yêu ngôn
ngữ quê hương, và ông đã cả đời ăn nằm, chơi nghịch nghiêm trang với nó. Bùi
Giáng là một người đã đi lang thang trong chốn tư tưởng của nhân loại, trong
cõi thi ca của thế giới, nhưng lúc nào ông cũng chỉ muốn cuộn mình “tròn trịa
méo mó” để nằm trong vòng nôi của ngôn ngữ dân tộc. Hôm nay, ông đã bỏ đi. Bỏ
đi để tìm lại một màu hoa cũ. Một màu hoa trên ngàn. Một hồn nguyên tiêu. Một
giấc mộng ban đầu đã bao năm khuất bóng. (Hỏi tên rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê rằng
mộng ban đầu đã xa). Xin chúc ông lên đường phơi phới. Xin chúc ông tìm lại một
bầy nắng lạ. Và nguyên sơ một vầng trăng cũ. Một vần trăng châu thổ. Cùng những
sắc màu thiên thu cổ độ. Và xin bẻ tặng ông một nhành mai ngày cũ.
Những nhành mai sớm sương
bên lá
Những nhành liễu chiều gió
bên cây
Cũng lay lắt bởi đời xuân em
ạ
Thế nên chi anh cũng viết
dòng này
Hồng vạn tụ bữa kia em có thấy
Nước xuôi dòng là cổ độ nhìn
theo
Tuổi mười sáu bây giờ lên gấp
gảy
Mộng miên man là mây phủ
lưng đèo
Buồn phố thị cũng xa bay như
gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bổng
như hươu
Bờ cõi dựng xuân xanh em còn
đó
Bến đào nguyên anh khoát áo
khinh cừu
Tìm theo dấu chân người xưa
tư lự
Ở bên đường ngóng dõi khánh
vân bay
Mờ con mắt một lần lên tiếng
thử
Em ồ em, anh nói một lời này
Bùi giáng, có lẽ đã đến lúc
ông lên đường trở về cố quận. Chúng ta phải chia tay. Lần cuối, xin tiễn ông một
bài thơ cũ. Một bài thơ năm nào. Tôi vẫn tin rằng, một ngày nào đó, ông sẽ trở
về. Và, ở đây, tôi xin phép được không nói lời vĩnh biệt.
Người đã bỏ đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn
đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân
mồng
Bóng trắng như sương vàng
bay pha hạc
Quanh Trường Thành bờ cõi đất
in rêu
Dòng trở lại ngậm ngùi khe bến
cát
Gió mông lung vì mây nổi
lưng dèo
Xuân đi đến đi về nằm ở giữa
Hẹn một kỳ bấn loạn mấy mùa
đông
Màu tuyết bạch mơ màng trang
lệ ứa
Rớt chung quanh là đú đỡn cầu
vồng
Từ vĩnh biệt một lần đi từ
đó
Nước xuôi dòng cổ độ chẳng
nhìn theo
Lòng lây lất bên trời phương
hướng nọ
Mắt ngu ngơ nhìn bọt nước sa
bèo
(Từ Thức/ Trích
nguyên bài trong tập Lá Hoa Cồn)
BÙI VĨNH PHÚC
Chú Thích:
(1) Trong Ngày Tháng Ngao Du,
Bùi Giáng thổ lộ: “(...) Hồi nhỏ tôi đã được sanh ra và lớn lên trong miền quê
hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồngsông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt cả
tuổi thơ (làng tôi có xưa kia có nhiều cỏ mọc. Cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng,
tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh. Từ đó về sau, tôi tìm kiếm mãi một màu
xanh không còn nữa vì những trái bom và hòn đạn thiêu nướng khổng lồ...”
(2) Xem bài Bùi Vĩnh Phúc. Vấn
đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật. Văn Học số 10 tháng 11, 1986). Ðang
lại trong Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại, 1975 – 1995 (California: Ðại
Nam, 1995) và Lý Luận và phê bình. Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước, 19975
– 1995 (California: Văn Nghệ, 19996).
(3) Trong Martin Heidegger và
Tư Tưởng Hiện Ðại 2 (Sài Gòn: Bờ Cửu Long Nam Việt), 1963. [Ðề tên nhà xuất bản
như thế, nhưng tôi nghĩ đây là nhà xuất bản An Tiêm của thầy Thanh Tuệ]. Ở đây,
phê bình Sartre nhưng Bùi Giáng phần nào vẫn còn lòng quý mến Sartre; bởi thế,
ông áp dụng chiến thuật vừa đánh Sartre lại vừa đỡ dòn cho triết gia này. Tôi
nghĩ, dù sao đi nữa, Bùi Giáng vẫn còn lòng quý mến Sartre, đặc biệt qua vở kịch
Les Mouches.
(4) Ein und Zeit, Hữu Thể và
Thời Gian, một tác phẩm cốt yếu của Hiedegger.
(5) A. de Siant-exupéry,
Terre des Hommes. Bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng. Sài Gòn: Quế Sơn Võ
Tánh. 1960, trang 77-9
(6) A. de Siant-exupéry,
Terre des Hommes. Paris: Gallimard, 19963 (trang 71-2) (theo bản in năm 1939)
(7) Ðể thấy rõ phong cách dịch
văn của Bùi Giáng, có lẽ sẽ không thừa trong việc ghỉ lại ở đây phần dịch Anh
văn của cùng một đoạn văn trên trong bản dịch Terre des Hommes của Lewia
Galantière dưới tựa dề Wind, Sand and Stars (San Diego, NewYork, London:
Harcourt Brace Jovanovich, Publishers, 1976):
I landed in the peace of
evening. Punta Arenas! I leaned against a foutain and looked at the girls
in the square. Standing there within a couple of feet of their grace, I felt
more poignantly than ever the human mystery.
In a world in which life so
perfectly responds to life, wher flowers mingle with flowers in the wind’s eye,
where the swan is the familiar of all swans, man alone builds his own
isolation. What a space between men their spiritual natures create!
A girl’s reverie isolates
her from me, and how shall I enter into it? What can one know of a girl who
passes, walking with slow steps homward, eyes lowered, smiling to herself,
filled with adorable inventions and with fables? Out of the thought, the voice,
the silences of a lover, she can from an empire, and thereafter she sees in all
the world but him a people of barbarians. More surely than if she were on
another planet, I feel her to be locked up in her language, in her secret, in
her habits, in the singing echoes of her memory. Born yesterday of the
volcanoes, of geenswards, of brine of the sea. She walks here already half
divine.
Punta Aranas! I lean against
a fountain. Old woman come up to draw water: of their drama I shall know
nothing but these gestures of farm servants. A child, his head against the
wall, weeps in silence: there will remain of him in my memory only a beautiful
child forever inconsolable. I am a stranger. I know nothing. I do not enter
into their empires. [ Man in the presence of man is as solitary as in the face
of a wide winter sky in which there sweeps, never to be tamed, a flight of
trumpeting geese].
Phần trong dấu ngoặc đứng là
phần được Saint-Exupéry thêm vào trong những ấn bản sau. Phần này không có
trong nguyên bản tiếng Pháp xuất bản năm 1939 và tái bản trong tủ sách Le Livre
de Poche năm 1963. Trong bản sửa chữa và thêm chương của những lần in sau, có
những đoạn và những chương Saint-Exupéry thêm vào mà bản đầu tiên không có. Bản
tiếng Anh, dịch giả Galantière lấy lại tựa đề cũ Sain-Ex cho Terre des Hommes
là Du vent, des sable et des étoiles/ wind, sand and stars, có đủ tất cả những
thay đổi, thêm thắt và sửa chữa mà Saint-Ex đa thực hiện về sau Bản Bùi Giáng dịch
là bản cũ.
(8) A. de Siant-exupéry, Le
Petit Prince. Bản dịch Hoàng Tử Bé của Bùi Giáng Paris, California: An Tiêm (in
lần ba),1990.
(9) Quyển Le Petit Prince của
Saint-Exupéry đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bùi Giáng có lẽ rất
thích thú khi nó được coi là sách của trẻ con. Tôi nghĩ khi dịch quyển này, Bui
Giáng cũng có được cái hạnh phúc rất là con trẻnhư Saint Exupery khi viết
nó vậy. Cuốn sách thật thích hợp với con người Bùi Giáng. Nó là sách kể
chuyện cho trẻ con, nhưng người lớn xem vào lại còn thích thú hơn là con trẻ nữa.
Cái tuyệt vời và đáng yêu của Saint-Exupéry là ở đây. Viết truyện trẻ con để
nêu ra mấy câu hỏi triết lý vừa trầm trọng vừa thơ ngây về con người, về đời sống
chơi. Trẻ con tha hồ đọc mà không hề hấn gì. Người lớn cũng tha hồ đọc để sung
sướng tìm lại một đứa bé con trong tâm hồn mình.
(10) Xem Nguyễn Hiến Lê, Lão
Tử, Ðạo Ðức Kinh. Hà Nội: Văn Hoá, 1994. trang 17.
(11) Xem Nguyễn Hiến Lê,
Trang Tử, Hà Nội: Văn Hóa. !994.
Công
Án Tử Sinh
HOÀNG NGUYÊN NHUẬN
Với Tôi, đời anh là một
công án. Tôi không ngừng tra hỏi về anh, càng hỏi tôi càng xa những câu trả lời.
Những điều tôi sắp nói chỉ là viên đá dò đường ném vào hư không hoặc chỉ như
người chạy bắt bóng... Thôi thì tới đâu hay đó, như một lời lắp bắp tạ từ thấn
tượng.
Tôi có tật ưa ca na cúp núp
một vài ẩn số, một vài công án tôi cho là hấp dẫn linh động để khi buồn hay
rãnh rỗi tôi lại lôi ra chơi như hồi còn bé những ngày nghĩ học vắng bạn thì
đem đồ chơi ra chơi một mình.
Hồi bốn năm tuổi, quý những
viên bi chai hay bi thủy tinh còn hơn sinh mạng. Lên sáu, bảy tôi mê thổi sáo.
Hết thời mê bi, mê sáo đến mê những tờ Programme hay chương trình giới thiệu
các tuồng hát bóng, nhất là các tờ chương trình in ở ngoại quốc. Ðến bây giờ,
thỉnh thoảng tôi vẫn còn mơ thấy tờ Programme của phim Singing In The Rain hay
Les trois Mousquetaires dop Gene Kelly thủ vai chính tôi phải chịu mất số tiền
gần bằng cả tháng tiền học để tậu cho được ! Hết mê các tờ chương trình thì mê
thơ chép tay, rồi sách...
Không biết đến tuổi nào thì
tôi phụ những báo vật ấy và đến tuổi nào thì những báo vật ấy được thế bằng Lê
Long Ðĩnh, Diogène, Trang Tử, Cao Bá Quát, Socrate, Quang Trung, Sartre, Tuệ
Trung Thượng Sĩ, Jean Baptiste, Mishima, Phật Thích Ca, Empedocle, Jesus,Hồ Chí
Minh, Huệ Năng, Thầy Thiện Minh, Mao Trạch Ðông, Pol Pot... Và anh. Mặc dù anh
nhập kho công án của tôi hơi chậm.
Công Án Tử Sinh
Ðời anh là một công án tử
sinh, một bí ẩn về sống chết. Tôi được nhiều dịp sợ chết và thấy người khác sợ
chết, tôi có dịp chán sống và thấy người khác chán sống nhưng tôi chưa thấy một
người nào không ham sống và cũng không sợ chết như anh.
Ðấng Tạo Hóa có hay không,
và nếu có thì Tạo Hóa có khôn ngoan thật không, tôi không dám chắc. Tôi cũng
kông dám chắc đời người la một sản phẩm Tạo Hóa không ngoan bày thêm vào triệu
triệu thứ khác trong vũ trụ, hay là một ân sủng Tạo Hóa tặng cho cặp đàn ông
đàn bà yêu nhau.
Saint- Exupéry bảo tình yêu
đích thực không phải là nhìn nhau mà nhìn vế một hướng. Về hướng nào đây, tiền
bạc, danh vọng, con cái? Nếu như thế thì người yêu chỉ là phương tiện! Trái lại,
yêu là để mà yêu-nghĩa là nhìn nhau, nhìn vào người yêu chứ không nhìn về gì
khác cả, thì con cái, tiền bạc, danh vọng không phải mục tiêu của yêu. Con cái
chỉ là kết quả là tương tự như trúng lotto. Có vé số là có người trúng cả.
Ðời mỗi người bắt đầu từ sự gặp gỡ giữa một con tinh trùng hay một tý tẹo tế
bào và một cái trứng. Sự gặp gỡ đó là khởi điểm hóa thân của một sinh thể đang
“lang thang từ độ luân hồi”. Trừ những vị cha mẹ nuôi, chỉ có vua quan ngày xưa
mới đòi làm cha mẹ mà không cần đẻ con, cha mẹ dân! Hoặc chỉ có mấy tu sĩ quyết
giữ lời khấn hứa đồng chơn mới đòi làm cha mà không cần đẻ con, cha thiên hạ!
Chứ người thường cha mẹ phải có con và con phải có cha mẹ. Cha mẹ “sinh” con,
mà con cũng “sinh” cha mẹ, vì không có con thì làm gì có cha mẹ. Gọi đó là mộ
sáng tạo, một ân sủng của Tạo Hóa thì có oan Tạo Hóa quá không? ! Ôn Như Nguyễn
Gia Thiều gọi Tạo Hóa là trẻ tạo hẳn cũng có lý do nào đó. Ân sủng hay
tai nạn, muốn hay không muốn thì, cho đến ngày chết, mỗi người cũng chỉ có một
đời để sống thế nhưng, cho đến ngày nhắm mắt suôi tay, có thể có người chẳng biết
mình đã sài cạn lán đời mình như xe dùng hết bình xăng hay chưa. Vũ Hoàng
Chương đã chẳng từng hỏi:
Ta đã làm gì đời ta chưa
Ta đã làm gì đời ta xưa?
Hình như anh không hề thắc mắc
như Vũ Hoàng Chương vì anh không có đời xưa mà cũng chẳng có đời nay.
Quái Tượng Thứ Nhì
Trong ngày 30.4.1975 ở Sài
Gòn, nếu hình ảnh lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam phấp phới trên
dinh Ðộc Lập là hiện tượng lạ thứ nhất thì anh chính là quái tượng thứ nhì vậy.
Lạ vì trong ngày đó anh là
người duy nhất mặc đồ trận của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với áo quần treillis
và nón nhựa, tức lớp trong của nón trận. Anh nhởn nhơ trong nhung phục ấy với một
bày chó năm bảy con cột dính chùm quanh lưng, đi đâu kéo chúng ăng ẳng theo đó
thấy mà phát thương! Ðồ trận và nón nhựa anh nhặt ngoài đường, bầy chó anh mua
ngoài chợ chó Hàm Nghi. Trước ngày đổi đời anh nhận được một số tiền nhuận bút.
Anh ra phố rủ đám trẻ đánh giày, đám trẻ cầu bơ cầu bất trôi sông lạc chợ cùng
anh an nhậu, còn bao nhiêu anh mua chó để... phóng sanh!? Nhưng thay vì thả
chúng tự do, anh lại cầm tù chúng theo cách của anh như thế. Mới đầu, bầy chó
đông đến mấy chục con nhưng lúc tôi gặp anh trên đường Trương Minh Giảng xế Dại
Học Vạn Hạnh thì chỉ còn năm bảy con, có lẽ vì một số đã thoát khỏi xiềng xích,
hoặc có người lén giải thoát... Tôi kẹt đi học tâp cải tạo từ ngày Phật Ðản năm
đó nên không biết đến lúc nào anh mới lạc mất con chó thân yêu cuối cùng? Thời
buổi một đồng còn quý huống nữa là mấy chục ngàn, nói chi là mấy trăm ngàn, thế
mà anh tiêu như vậy đó. Anh tự gọi anh là kẻ chịu chơi, kể cũng còn khiêm tốn lắm!
Chiếc Lá Vàng Rơi Bên Trời Cố
Quận
Vật đổi sao dời, lịch sử
sang trang mới hay còn trang cũ, thời cuộc quẹo mặt quẹo trái hay còn trên đường
thẳng... anh không quan tâm. Anh không cần biết. Anh không lo, không sợ vì anh
không có gì để mất, ngay cả sinh mạng của anh. Chính anh không sợ chết thì sao
tôi phải đau khổ vì cái chết của anh? Chính anh không ham sống thì sao tôi phải
tiếc thương cho số kiếp của anh? Nh chẳng cần ai cả và có để ai cần anh đâu mà
phải thương hại cho người còn sống! Thế nên, dù mến phục anh, khi hay tin anh
qua đời, tôi thản nhiên như nghe ai kể vừa thấy chiếc lá vàng rơi, hay quả sầu
riêng chín rụng đâu đó bên trời cố quận.
Có người hiểu chết là một kết
thúc khủng khiếp, một hoàn tất tuyệt đối. Sống chưa biết sống, nói chi chết. Và
chưa chết thì biết gì về chết mà nói nên đó có thể chỉ là những giả định của
người sống để khủng bố hay ru ngủ người sống. Cứ đọc mấy cáo phó là thấy.
Chết là về chầu Thượng Ðế, là được Trời gọi về, là vãng sanh lạc quốc, là về đất
Phật thế mà cả người báo tin lẫn người nhận tin đều... đau buồn, đau đớn, xin
chia buồn! Không buồn, không khóc được thì phải mướn người khóc, thuê ban nhạc
thổi điệu bi ai. Người khác hioểu chết một cách nhẹ nhàng hơn. Khóc Lưu Kim
Cương, Trịnh Công Sơn đã tự vỗ về mình rằng chết là tàn cuộc chơi phương
xa:
Anh nằm xuống sau một lần đã
đến đây
Ðã rong chơi trong cuộc đời
này...
Nhưng với anh, chết là bắt đầu
một cuộc chơi phương xa mới, chết chỉ là một lần đổi sân ga, một lần thay bến để
tiếp tục hành trình bao la vô định. Ra đi anh buồn, vấn vương vì phải bỏ lại
đàng sau nụ cười và nước mắt:
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và không biết đi
đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian
mãi mãi
VÌ nơi đây tôi sống đủ vui sầu
(Phụng Hiến)
Buồn nhưng chẳng có gì là khủng
khiếp vì chết chỉ là từ tạ một nhịp đời, chỉ là đổi màn chuyển cảnh, chỉ là
quay lại chính mình để sống một cách khác:
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sống giữa lời
hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga
trên trời
Bây giờ riên đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một
con
(Mắt Buồn)
Có Sống Ðâu Mà Chết
Như thế đó, với anh chết
không phải là hết. Mà quả thật, anh có sống bao giờ đâu mà phải chết! Nếu hiểu
sống không phải chỉ là những hoạt động của cái bị thịt hít thở, ăn uống vào bài
tiết ra, nếu hiểu sống là sống với, với địa vị, hoài bảo, hận thù, lo sợ, với
tiền bạc, danh vọng, vợ con, cha mẹ v.v. và v.v. thì hình như anh không hề sống.
Tôi không thấy anh bận tâm với những thứ ấy, và cũng chẳng nghe ai xác quyết
anh từng bận tâm với những thứ ấy. Ðời với tất cả “của nợ” từng gây mưa bão cuốn
trôi dìm ngập bao nhiêu người chết lên chết xuống thì anh lại chỉ như tàu lá
môn, như cái đầu vịt, mưa bão bao nhiêu cũng trơ trơ. Không bận tâm với cái sống
nên anh cũng chẳng bao giờ bận tâm với cái chết nên anh sống thiên thu, anh sống
vĩnh viễn. Và nói cho cùng, thiên thu vĩnh viễn cũng không là gì cả vì với anh
thời gian chỉ là vô thường sắc không:
Trong vĩnh viễn không có
thiên thu
(Em Quên)
Vì anh tốp được thời gian đi
đường thẳng, và ép được thời gian đi vòng vòng như thế nên anh mới có thể hỏi
người yêu:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên
màu ấy không
(Mai Sau Em Về)
Một trăm, hai trăm hay ngàn
năm sau thì trăng vẫn là trăng hôm nay, anh vẫn là anh hôm nay nên anh có thể
quả quyết mối tình phù du mà thiên thu của anh với người yêu như Vũ Hoàng
Chương:
Anh vẫn còn thơ về Giáng bút
Em còn hoa đủ kết hoa đăng
Có người bảo Bùi Giáng chịu ảnh
hưởng nặng nề của Nguyễn Du. Tôi không biết nặng nề về điểm nào, nhưng chắc chắn
không phải là điểm “Ba trăm năm sau ai là người khóc Tố Như.” Bởi với kẻ đã hiểu
được “trong vĩnh viễn không có thiên thu”, thì ba giây còn chưa biết có không,
nói gì ba trăm năm? Và nếu có ai bám vào ảo tưởng đó thì bị chính Nguyễn Du quại
đau điếng ngay là “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” cho mà coi! Chẳng lẽ
anh không thấy cái mâu thuẫn đó:
Ai Tỉnh Ai Ðiên
Có người bảo anh điên, nhưng
thế này là điên hay tình? Giữa chợ trời đông như hội cuối đường Trương Minh Ký
Sài Gòn sau ngày lịch sử 30.4. 1975, đến trước một hàng bán phụ tùng xe đạp cũ,
anh nhẩn nha vớ lấy một cái guidon - hay cái cần lái rồi tỉnh bơ bỏ đi. Bà chủ
quán chạy theo la oai oái nhờ thiên hạ bắt giùm thằng ăn cắp. Chẳng đợi ai bắt,
anh quay lại trả cái guidon vào chỗ cũ và từ tốn phân bua đại để rằng bà con thấy
nguỵ chưa, mất cả nước chẳng ai than một tiếng, mất cái guidon thì la ầm lên
như bị thọc huyết vậy. Kỳ khôi chưa?
Câu nói ấy là điên hay tỉnh?
Hay khi nói câu đó thì không, nhưng trước đó và sau đó thì anh điên? Có phải
anh tỉnh trong lúc điên, và điên trong lúc tỉnh? Nói sao cũng được, nhưng với
tôi, câu nói của anh hôm ấy không phải là điên, tiếng cười của anh hôm ấy là
thiên tài.
Lò Vạn Hạnh
Hồi thập niên 70 ở Ðại Học Vạn
Hạnh, thỉnh thoảng ghé thư viện mượn sách hay thăm anh em, tôi có duyên may dự
những buổi đấu láo hay tọa đàm bất chợt của các bậc đàn anh về cả tuổi đời lẫn
tâm tư.
Vạn Hạnh là một trung tâm
trí thức tân lập nhưng sinh động qui tụ nhiều chiều hướng tư tưởng dị biệt phản
ánh cơn khủng hoảng chung diễn ra lâu nay ở miền nam. Một số khoa bản bảo cựu
như Nguyễn Ngọc Huy, Tôn Thất thiệt, Bùi Tường Huân, Trần Ngọc Ninh, và có lẽ cả
Nguyễn Long, Ðoàn Viết Hoạt đang tấp tễnh nhập cuộc. Bùi Tường Huân và Nguyễn
Long cũng từng là người suy nghĩ bằng tay chân như chúng tôi. Nhưng Bùi Tường
Huân Ðã kẹt vào canh bạc quyền lực mà Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn là tay hồ lỳ. Nguyễn
Long mới ở Mỹ về đang ngầy ngật choáng váng với những thần chú ý thức hệ của Ðại
Học Berkeley. Nguyễn Long có thể liều trở lại nếu có cơ duyên nhưng Ðoàn Viết
Hoạt chỉ là một thư lại học chánh. Anh em sinh viên Sài Gòn hồi 1963 – 1964 ai
cũng biết nếu nói về liều thì Trần Thị Thức, người bạn đời của Hoạt, mới là nói
liều. Vạn Hạnh cũng là nơi chứa trái mìn nổ chậm hiệu Lê Tôn Nghiêm, Phạm Công
Thiện, Nguyễn Ðăng Thục, Vệ Sĩ, Ngô Trọng Anh. Với chúng tôi, họ là những “cái
đầu” và chúng tôi tự xem mình là tay chân. Họ tư tưởng để mà tư tưởng, chúng
tôi tư tưởng để dấn thân, để xếp bút nghiên xuống đuờng giải nghiệp.
Anh thỉnh thoảng cũng
tham dự những buổi mạn đàm bất chợt này nhưng không tranh cãi, không bốc mà chỉ
cười vu vơ theo nghĩa “yên chí, không sao, đâu lại vào đấy cả mà” Anh sâu sắc,
tài hoa, đọc nhiều, nhớ nhiều và cà khịa dí dõm nhưng không “nổi loạn” như Lê
Tôn Nghiêm, không “đập phá” như Phạm Công Thiện, không “dân tộc quá khích” như
Nguyễn Ðăng Thục, không trào lộng như Ngô Trọng Anh, không là không là “trái
bom nổ chậm” như Tuệ sĩ. An h với đám này có một điểm chung là thấy rõ những
thái hóa của gia tài tư tưởng tây phương đang tác hại tâm tư và xã hội Việt
Nam, nhưng lối thoát của anh không phải là triết lý, thần học, tín ngưỡng, văn
hóa như đám kia, lối thoát của anh là văn học, là thơ văn . Và với thơ văn, anh
cũng không đi sâu vào thơ văn triết lý kiểu như Phạm Công Thiện với Holderlin,
Rilke hay Tuệ Sĩ với Tô Ðông Pha chẳng hạn. Anh theo con đường riêng của anh...
Thời này thiên hạ nói nhiều
đến ngộ và tẩu hỏa nhập ma. Ngộ là đã nhảy qua bờ bên kia. Bờ giác. Nhưng ngộ
không đi liền với lánh đời tỵ thế, ngộ đi liền với dấn thân nhập cuộc, nghĩa là
đến bờ bên kia rồi thì phải nhảy về. Có người nhảy vế an toàn và tiếp tục sống
với một tâm tư mới. Có người “nhảy hụt” và loay hoay lần thần giữa ngộ và mê.
Có một từ ngữ kiếm hiệp đã được mượn tạm để diễn tả tình trạng lợn cợn tâm linh
đó: tẩu hỏa nhập ma.
Anh em chúng tôi có người
nghĩ đôi lúc anh cũng hơi tẩu hỏa nhập ma. Thảng hoặc nghĩ đến Tam Ích đã tự tử,
chúng tôi cũng ái ngại cho anh và lưu ý nhau trông chừng anh. Nếu hiểu tự tử là
tự chấm dứt hiện hữu vì chán hay không chịu đựng nỗi cuộc sống thì chết không
phải là tự tử và tôi không tin vào lập luận của tự tử. Chết như Trần
BìnhTrọng, Nguyễn Thái Học, Phan Thanh Giảng hay cảm tử như Phạm Hồng Thái “một
lần đi là không trở về” không phải là tự tử. Ðã làm thì phải để-làm-gì, ngay cả
chẳng để làm gì cả như chơi chẳng hạn. Tự tử thì không thể để-làm-gì, không thể
chẳng-để-làm-gì-cả, và cũng không thể để-chơi-thôi! Thế thì tự tử làm gì cho vô
ích? ! Sau này tôi mới thấy nỗi lo của anh em chúng tôi là lo con bò trắng
răng, vì anh có sống đâu và có ham sống đâu mà phải chán sống. Anh sống như
không sống, anh sống như đã chết. Anh như như tự tại rồi.
Anh tự họa chân dung bằng những
tiếng dễ thương:
Những người bạn xem tôi là
cà gật
(Phụng Hiến)
Hay
Nửa đời bê bối thân anh
(Thiếu phụ trở về)
Cũng có khi anh tự gọi mình
là kẻ chịu chơi nữa. Anh tự gọi anh như thế thì ma nào cãi nỗi. Nhưng tôi thấy
chẳng có chữ nào đúng với anh cả, có lẽ vì anh khiêm cung, có lẽ vì anh không
muốn tỏ ra hơn ai. Tôi chỉ thấy anh là người có được câu trả lời về ý nghĩ cuộc
đời này và hiện hữu cũa riêng anh:
Ngày tháng ám vong hồn về đô
hộ
Nhịp thay vần là mộng giữa
chiêm bao
(Thưa)
Ðời chỉ là mộng giữa chiêm
bao nên hiện hữu của anh rốt cuộc là gì, anh không thác mắc. Là người cũng được,
bằng không:
Con ruồi con kiến con châu
chấu
Bươm bướm chuồn chuồn cũng
thế thôi
(Nhe Răng)
Anh không cần thắc mắc con
người hay con gì? Con nào cũng là con, con nào cũng thế thôi nên anh chẳng hơi
đâu băng khoan. Tâm linh anh đã đạt đến mức không cần phải có một băn khoăn một
suy tư nào về bất cứ một chuyện gì:
Không biết nữa mà cần
chi biết nữa
(Anh Lùa Bò Vào Ðồi Sim Trái
Chín)
Bẫy Yêu
Thế đó mà anh vẫn không
thoát được bẫy sập của yêu thương. Không những không né mà anh còn ngây thơ hăm
hở nhảy vào:
Ðời dại khờ như một giấc
chiêm bao
- Ừ thế sao? em hãy rũ ta
vào
(Và Màu Xuân Ðó)
Vì nghĩ mộng là thực nên anh
tự nguyện làm người yêu ngu ngơ nhảy từ đỉnh mơ này sang chóp mộng khác:
Thưa em từ bữa xa nào
Nhìn nhau mộng đã bước vào
trong mơ
(Thưa Em Sài Gòn)
Hay long nhong từ mê đắm nọ
đến cuồng si kia:
Và luyến ái như tơ vàng bốn
ngả
Bủa vi vu như thoáng mộng la
đà
(Ly Tao)
Tình yêu là một hóa thân vì
hạnh phúc, chẳng còn ngã-tha, chẳng còn thời gian và không gian, chẳng còn bây
giờ và thiên thu:
Em sẽ thành con kiến
Tôi thành con chuồn chuồn...
Ta sẽ tạo lại mối tình sâu bọ
Về hư vô vĩnh viễn bóng
buông màn
(Trò Chuyện)
Tình yêu biến thực thành mộng,
và biến mộng thành thực. Anh đã một lần tính chuyện sống với sự thực như mộng ấy:
Giã từ cõi mộng điêu linh
Tôi về buôn bán với mình
phôi pha
(Về Buôn Bán)
Anh nghĩ mình có thể đầu
hàng cuộc đời để thực hiện giấc mộng lớn:
Dựng càn khôn giữa loạn cuồng
si mê
(Tượng Số Thiên Nhiên)
Nhưng lúc mộng thành sự thật
thì sự thật đó lại không hồng như mộng vì tình yêu có thể vô hạng nhưng sức người
yêu thì có hạn:
Em quốc sắc em thiên hương
đã uổng
Làm sao khuây khỏa hận của
thiên tài
(Hận)
Hay nói như Huy Cận:
Ðời nghèo thế không dành cho
chút lại
Ðến ái ân cũng hết cả đợi chờ
Và những ngày sau giấc ngủ
trưa
Mùng buông xuống không che sầu
vũ trụ
Quanh quẩn trong trùng vây
đó, anh hết biết đường ra vì trong mộng hay ngoài mộng cũng chỉ là thực, nghĩa
là mộng mà thôi:
Anh nằm im nhắm con mắt mơ
màng
Mở con mắt cũng mơ màng cỏ
lá
(Không Ðủ Gọi)
Yêu thương mộng ước chỉ còn
là bi đát, nỗi bi đát do chính con người tạo ra cho mình và cho người mình yêu:
Bàn chân bước lệ buồn em có
nhỏ
Xuống điêu tàn em khóc mộng
tiêu ma
(Màu Trời Ðó)
Ước mộng cũng chỉ là ảo mộng
nên tình yêu chỉ là lầu đài trên cát, chia ly ray rứt thật nhưng cũng chỉ là
chuyện đương nhiên:
- Ly Biệt tơi bời lảo đảo
Em ra đi - đời bưng mặt khóc
òa
(Chiêm Bao)
Ðau đớn hay không cũng là ly
biệt, và người yêu lại lên đường với con tim tan nát:
Thuyền ngao ngán bến lại bồng
bềnh trôi
(Người Hải Nội)
Hai tiếng “ngao ngán” nhắc
tôi nhớ đến mấy chữ “thôi thì thôi” của Phạm Thiên Thư. Khởi điểm cũng cũng
chính là kết điểm. Cho nên Hồ Dzếnh mới cầu mong đừng bắt đầu để không bao giờ
chấm dứt, đừng hy vọng để không thất vọng:
Thu viết đừng xong, thuyền
trôi chớ đổ
Cho nghìn sau lơ lững với
nghìn xưa...
Trong biển tình, thuyền chỉ
trôi bồng bềnh và người chỉ bơi vòng vòng, nhiều khi là cho đến tận... mai sau!
Nên khi gặp nhau anh có thể nói mà không sợ mang tiếng cà khịa cà gật:
Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm
(Ly Tao)
Hí Lộng Ngôn Từ
Có người bảo những đau khổ
vì tình đã làm anh hẫng hụt, tẩu hỏa nhập ma, tàn tạ... Anh như người võ sĩ bị
đòn nằm mọp, trọng tài đếm chín, đếm mười cũng mặc. Có chết vì tình thì có điên
vì tình, đã hẳn. Nhưng tôi không nghĩ tình đau tình hận làm cho anh hụt bước
tâm linh.
Câu hỏi quay cuồng bám lấy
tôi là anh làm thơ như một người điên hay thơ anh điên vì đã diễn đạt được trạng
thái tâm linh của anh? Thơ dẫn anh vào đường tẩu hỏa nhập ma hay thơ là rào cản
ngăn anh hụt bước rơi vào vực thẳm? Vũ Hoàng Chương từng muốn “lấy thơ làm Ðạo.
Có ngộ Ðạo mới có duyên tiếp nhận ‘Hồn Thơ’ (vì) Thơ mới là chỗ nương tựa vững
vàng nhất...” (Ta Ðã Làm Chi Ðời Ta, tr,114) Nhưng thơ là gì?
Câu trả lời xin để cho những
nhà lý luận và phê bình văn học, chỉ xin tạm hiểu Thơ là trò chơi vô cầu với
ngôn ngữ và vần điệu. Thơ chỉ là một trò chơi, có thể giết người, có thể cứu
người nhưng cũng chỉ là một trò chơi.
Có những truyền thống văn
minh, văn hóa xem ngôn từ là chân lý. Ngôn từ là Ngôi Lời tối thượng, là chân
lý vĩnh hằng. Thượng Ðế hiện đến và ở lại trần gian bằng ngôn từ. Thánh Kinh Do
Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo. Nhưng cũng có những truyền thống văn hóa
xem ngôn từ chỉ là dấu hiệu chỉ đường, là chiếc thuyền đưa người sang sông, đến
bờ thì phải “bỏ thuyến, bỏ lái, bỏ dòng sông”. Ý nghĩa của ngôn từ chỉ có giá
trị cho những người chấp nhận trước ý nghĩa của ngôn từ đó. Nghĩa là chỉ có ý
nghĩa vả giá trị giữa những người đồng thuận. Lão giáo nói đến những cái không
thể nói. Khổng giáo cảnh cáo chớ mê muội bám vào sách vở. Phật giáo bảo gần nửa
thế kỷ lang thang giảng đạo, Phật chẳng nói “lời nào”.
Nhân loại nhiều khi hết trò
chơi nên bày trò giết nhau vì ngôn từ và bằng ngôn từ như tuyên ngôn, thông điệp,
giáo lệnh, nghị quyết, chiếu chỉ,... cho ai đúng là kẻ đúng, bảo ai sai là kẻ ấy
sai, cho sống là được sống, bảo chết là phải chết. Nhưng nếu tôi viết hay nói rằng:
“Tôi nói dối” thì đúng chỗ nào sai chỗ nào? Thử trả lời câu hỏi đó rồi sẽ thấy
rằng bám vào chân lý của ngôn từ nhiều khi cũng chẳng khác gì con mèo đùa giỡn
với cái đuôi của chính nó.
Thiền của Phật giáo là
khuynh hướng đánh đổ chủ trương chấp vào ý nghĩa của ngôn từ đến triệt để. Thơ
thiền, thơ Ba Tiêu, những công án của Vô Ngôn Quan, Bích Nham Lục là thành quả
của những đập phá ngôn từ nầy. Anh không thừa nhận là đi theo khuynh hướng nầy
nhưng quả thực anh đã vờn chữ nghĩa như con chó vờn trái banh hay con mèo vờn
con chuột khi chúng đùa nghịch. Vì anh không tin ngôn từ có thể giải bày hết
tâm tư và thực tại. Ngôn từ bất lực là một ám ảnh không nguôi đối với anh.
Không viết, không nói không được nhưng nói viết rồi cũng chẳng đến đâu:
Thưa rằng : nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi
vào
(Chào Nguyên Xuân)
Xin lời nói ở trên môi
Là ở lại bên đời quên nhau
(Lời Xuân)
Lời sai trên miệng sẽ không
là lời
(Lời Xuân)
Nói nữa là thôi, lời là lở dở
(Thưa)
Ðể thấy rằng thơ không đủ gọi
(Không Ðủ Gọi)
Lời chưa nói cũng như lời đã
trao
(Nausicaa)
Anh đùa với thơ và anh
đùa bằng thơ. Tôi không nhớ ai đã gọi Jacques Prévert là le jongleur spirituel.
Tôi mong ước được mượn tiếng đó để tạm gọi anh. Kẻ hí lộng với chữ nghĩa.
Ðọc thơ anh có khi phải trồng
chuối như một đạo sĩ yoga, bởi vì anh cũng đã lộn đầu xuống đất chổng chân lên
trời khi làm thơ. Anh có những bài thơ không biết kết chỗ nào, bởi vì câu kết
là câu mở đầu cho bài thơ vừa đọc hay một bài thơ khác. Câu kết của bài thơ sau
đây là ví dụ:
Em nghiêng tai ta nói nhỏ
chuyện nầy
(Bữa Hôm Nay)
Biết rang chừ đây nói nữa
(Kim Trọng Tại Sao)
Vòng ma nghiệt mấy lần ta rất
sợ
Giờ xin em đếm lại một hai
và
(Không Nói Nữa)
Phút trùng lai là ngó vội
nhau và...
(Thưa)
Mai sau dù có đi về
Xin nhìn gió rụng nghành tre
thưa rằng
Em về)
Ta người viễn khách đưa tin
Bỗng đờ đẫn đứng chợt nhìn
nhận ra
(Xuân Thôn Nữ)
Thơ của anh giống như một điệu
nhạc cổ của Ấn Ðộ, Trung Hoa hay Việt Nam. Chơi liền tù tì cả ngày cả tháng
cũng được hay dừng lại một “bài” cũng xong. Ðọc thơ anh mà nghĩ rằng mình biết
rõ anh muốn nói gì thì cũng liều như là nghĩ rằng mình chẳng hiểu anh nói gì cả.
Bỏ thương vương nặng, thơ của anh là một chén thuốc đắng dịu dàng chỉ dành cho
những kẻ liều ham thắc mắc vấn nạn.
Và liều nhất có lẽ là câu hỏi:
“Anh là ai, thưa anh Bùi Giáng?” Bởi vì người hỏi có thể nghe câu trả lời đồng
vọng từ vô biên: “Bùi Giáng là ai, thưa anh?”.



































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét