Đi từ hạt bụi lang thang
Gần đến ngày rãi tro cốt của
Thầy trên đèo Hải Vân. Cứ nghĩ là sẽ không viết gì về Thầy cả. Chỉ gởi hết
tấm lòng vào nắng và gió để đưa Thầy về với cõi giới thênh thang. Rồi nhận được
những tác phẩm của Thầy do anh em văn nghệ Đà Nẵng gởi vào. Đọc hết một đêm. Thầy
đã sống ra sao mà anh em quý Thầy vậy. Nên viết về Thầy mà cũng là viết cho thế
hệ chúng tôi. Những người còn lại sau phút tro bay hòa cùng biển rộng.
Biết Thầy với bút hiệu
Trần Đới từ năm 1973, lúc đó tập thơ đầu tay của Thầy được ra đời, Tảo
mộ lênhđênh,[1] nhan đề tập thơ để lại điều gì đó trong tâm thức
chút ý niệm siêu hình, vốn là trào lưu thời thượng bây giờ trong giới văn
nghệ trí thức miềnNam. Nhưng khi đọc vào, mới thấy một điều đáng ngạc
nhiên là ngoài những bài có nội dung về Phật, Chúa, Lão Tử, Trang Tử,.... là
hình ảnh của ngôi làng Lăng Cô, với cách mô tả hiện thực, hoặc bằng thể lục
bát, hoặc thất ngôn, cho thấy Trần Đới rất gần gũi với đời thường, với những
trăn trở nhọc nhằn của người dân quê làng Hói Mít nơi Thầy sinh ra.
Rồi rải rác nhiều bài đăng
trên các tạp chí thời danh: Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Tư Tưởng v.v... Lúc
đó chúng ta biết có một Trần Đới với phong thái lục bát vừa trang
nghiêm khi thể nghiệm siêu hình, vừa tiêu dao phiêu bồng khi nói chuyện
rong chơi, vừa tha thiết khi trông về cố quận Lăng Cô. Hỏi ra, biết Thầy đang sống
lang bạc ở Sài gòn cùng nhóm anh em văn nghệ bây giờ, có khi ở
ké trong Viện Đại Học Vạn Hạnh với sự bảo bọc của HT Minh Châu, có khi tạm trú
trong Tổng Vụ Thanh Niên với sự thương tình của HT Thiện Minh. Kế sinh nhai có
khi là nhận việc quét vôi nhà. Nghe kể lại có khi đã nhận được việc rồi cả băng
kéo đến, nhận tiền cọc của chủ nhà xong, quét một đường vôi lên khỏang tường rộng
nhất trong phòng rồi cả nhóm kéo đi nhậu, có khi 2, 3 ngày sau mới trở lại làm
tiếp, khiến chủ nhà kêu trời.
Và khi mà lứa tuổi chúng tôi
đang ngán ngẩm trò chơi chiến tranh, không biết phải dấn thân,
nhập cuộc.. theo cách nào mới phải, mịt mờ tương lai như thế, thì nổi loạn hư
vô, lối thoát qua ngõ thi ca siêu thực là lẽ đương nhiên.
Hình ảnh
Trần Đới và dòng lục bát trong Tảo mộ lênh đênh đã lắng đọng
trong tâm tư, vận vào nỗi khắc khoải siêu hình vừa mới nhen nhúm nhưng có
khi bùng cháy dữ dội trong tâm tưởng
Và nỗi khắc khoải siêu hình
đó càng bùng cháy trong tâm tưởng lớp chúng tôi sau biến cố 1975. Những bế
tắc bên ngoài khi mọi giá trị bị đảo lộn. Bế tắc bên trong là những con sóng
hoang vu siêu hình mãi đánh vào bờ tâm. Lúc đó nơi trú ẩn của chúng tôi
là sân ga với những chén trà khuya thâu đêm, là hiên chùa với giấc ngủ chập chờn
mộng mị trong tiếng chuông khuya lạnh buốt. Và mãi cho đến năm 1982 mới
được gặp Trần Đới. Hồi đó ở Chùa Huyền Không hằng năm cứ đến ngày rằm tháng Hai
là có lễ rất lớn. Khuya 14, quý Sư dành cho anh em văn nghệ các nơi quy tụ về,
gặp gỡ nhau trong hình thức Luận đạo. Tôi gặp Trần Đới trong đêm
đó. Râu tóc bạc phơ, bộ áo vạt hò màu lam bạc phếch phong trần, trên tay ôm một
con chó nhỏ. Anh cho biết Anh nhảy tàu để về Huế, vì hồi đó anh em văn
nghệ lấy tiền đâu mà đủ mua vé tàu. Anh gặp con chó nầy đi lạc vào toa anh ngồi.
Hỏi quanh không ai nhận nó cả, Anh chia cho nó miếng bánh mì hiếm hoi của mình,
rồi ẳm nó về Chùa luôn. Đôi mắt nó trong veo và bình an. Tiếng cười của
anh rất hào sảng khi kể chuyên nầy, và im bặt khi bắt đầu vào buổi Luận đạo.
Hôm đó
quý Sư nói về con đường tu tập của Đức Phật, giáo pháp ngài để lại cho chúng
ta, và phương pháp thực hiện cho người Phật tử tại gia. Bài pháp ngắn gọn,
súc tích, chỉ để nhằm gợi ý cho phần thảo luận của người tham dự. Một vị đã hỏi
về đích đến, phần cao quý nhất khi thực hiện thành tựu phương pháp tu tập như
đã nêu trên. Sư cho biết đó là A-la-hán, và mô tả những chi tiết về quả vị nầy.
Sau khi Sư dứt lời, Trần Đới đứng dậy, chỉ vào con chó nhỏ trên tay, Anh
lễ phép:
-Thưa Sư, ở cảnh giới đó có
chỗ cho con chó nhỏ nầy không?
Sư trả lời dè dặt:
-Tôi chưa vào, nên không biết
ra sao. Nhưng tôi nghĩ. Nếu Anh vào được, thì con chó đó cũng vào được.
Vấn đề được đặt ra và câu trả
lời quá hay đã làm cho buổi Luận đạo đến đó trở nên sinh động. Anh em tìm thấy
nhau trong từng nhịp đập của con tim. Buổi Luận đạo kết thúc quá khuya . Cái lạnh
kinh khủng của Huế lúc trời gần sáng đã kéo chúng tôi lại gần hơn. Lúc đó mới
là lúc nói với Anh những gì đã nghĩ về anh. Tôi đọc cho Anh nghe đoạn thơ tôi
thích nhất (bài nầy bạn bè Huế chúng tôi nhiều người biết, thường đọc cho
nhau nghe những lúc đàn đúm. Sau nầy thấy tập hợp lại trong tập Hạt Bụi
Lang Thang, bản photocopy, 2011)....
Bềnh bồng cây cỏ lên ngôi
Gió mây xuống tóc đá ngồi Tu
di...
Bài thơ lấm tấm lên trang
Bài thơ viết giữa hai hàng tỉnh
say
Lang thang đập vỡ chén này
Chén sau làm biển mời ai xuống
thuyền....
Chúng tôi cũng đã nhiều
lần đập vỡ như thế nầy, nhưng vẫn chưa thấy được một biển rông sông dài để
thả hết những ưu tư của mình vào cho gió trời chắp cánh. Và hỏi anh đã từng
đập vỡ bao nhiêu chén rồi, và lòng đã hóa thành biển đủ rộng và có thuyền
để đón chúng tôi lên chưa. Rồi sẽ đi đến đâu?
Anh nói bằng ánh mắt sáng rực
như sao trời. Làm một điều gì đó cho có ý nghĩa. Dù tuổi đã lớn. Nhưng vẫn
chưa muộn để đem hết tâm trí và thân xác mình làm những gì có giá trị nhất.
Mình khổ rồi mà thấy chung quanh mình còn nhiều cái khổ hơn. Anh nhìn xuống con
chó vẫn vòn nằm trong lòng... Làm gì đó để vơi bớt cái khổ nầy. ... Thấy
mình cũng bớt khổ...
Anh nói rất mộc mạc, không
tu từ bay bổng như trong thơ. Nhưng tấm lòng quá lớn. Đêm đó tôi cảm nhận
Anh đã có một hướng đi mới. Ấn tượng gặp Anh trong đêm đó bàng bạc trong tôi
khá lâu, trong mỗi khi đàn đúm với bạn bè, có ai đó nhắc đến anh hoặc
đọc thơ Anh.
Trưa sầu chiều nhớ mai xa
Biệt ly dậy giữa lòng ta
muôn trùng
Nắng chia bốn biển năm rừng
Ta nằm uống giọt rưng rưng
góc chùa.
Lúc đó, lớp chúng tôi vẫn
tìm đến Chùa như một nơi trú ẩn tâm linh. Chúng tôi thường gọi là để nạp
điện cho bình ắc-quy sau những ngày lang thang. Chữ Chùa nghe
quá thiêng liêng và ấm áp. Mỗi lần nhắc đến, trong lòng bồi hồi
khôn tả. Huống chi là được về ở trong Chùa, dù được nằm bên hiên chùa mà nghe
trọn tiêng chuông. Dù về Chùa là ‘nằm uống giọt rưng rưng..’. Và giọt
rưng rưng bởi ‘Biệt ly dậy giữa lòng ta muôn trùng’ được hóa giải ngay khi
nghe vọng tiếng chuông khuya hay âm vang tiếng mõ đều nhịp trong thời công phu
chiều. Ở Huế là hùa Tra Am với Thầy Bửu Nghiêm, Chùa Thuyền Tôn với Thầy Trường
Khánh, Chùa Khánh Vân với Thầy Quang Huy. Và có lần, trong bước đường vào Phước
Long để dạy Anh văn hợp đồng cho một trường cấp ba, chiều tối xe ngang
qua Nha Trang, tôi đã bỏ cuộc hành trình, xuống xe tìm về ngôi chùa gần
đó khi nghe tiếng chuông đầu hôm. Ngủ ngoài hiên ngôi chùa cũ Hải Đức hồi đó, để
khuya thức giấc nghe trọn hồi chuông từ chánh điện vọng lại. Sáng ra tìm đường
lên khu Học viện cũ, tìm tới Cây khế đồi hoang của Phạm Công Thiện,
nhìn một chút với nỗi ngậm ngùi sâu lắng rồi ra trước
tượng Đức Phật đảnh lễ ngài, lại xuống núi tiếp tục cuộc hành
trình.
Và với Trần Đới thì có:
Chùa Kỳ Viên chùa Kỳ Viên
Nắng về giăng võng nằm
nghiêng góc chùa
Sầu sầu nhìn ngọn lá trưa
Gió bay ngang võng xa mờ tiếng
ru
Ai đi ngàn hướng mịt mù
Ta nằm trong giọt nắng thu nở
vàng...
(Tảo Mộ Lênh Đênh)
Những ‘giọt nắng
thu nở vàng’ đó đã đưa Anh và chúng tôi đi xa hơn. Đi xa hơn cũng có
nghĩa là quay về, và quay về chính là dừng lại. Dừng lại và đứng yên trên
đỉnh Cô liêu.
Gặp lại ở Tịnh
Thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm năm 1995. Bây giờ là Thầy Thông Bác.
Không ngỡ ngàng gì vì trước đó đã được nghe tin Thầy đã xuất gia ở Thường
Chiếu. Và khi Thầy rời Thiền viện, làm Tăng du phương thì nghe tin tôi cũng đã
vào Chùa luôn rồi, chứ không còn nằm ngoài hiên nữa. Gặp nhau tất nhiên
là rất vui. Thầy không có gì khác xưa, vẫn bộ áo vạt hò màu lam đơn giản.
Thầy nói chuyện tu hành nhiều hơn, chứ không nói chuyện văn nghệ như hồi ở Huyền
Không, và tất nhiên, Thầy muốn truyền hết nhiệt tâm tu tập mà Thầy đã cảm
nhận được cho tôi. Đêm đó, đến giờ chỉ tịnh, mời Thầy vào trong liêu để nghỉ,
Thầy không chịu, mắc võng trên cây điều trước phòng tôi nghỉ cho đến
khi thức chúng. Thầy trò lại uống trà trong âm thanh tiếng chuông
khuya. Hồi chuông đã dứt. Câu chuyện chưa tan. Bây giờ, dường như có thể
nghe được nhịp đập tiếng lòng của nhau.
Trở về nghe máu trong tim
Giọt trôi loãng tháng giọt
chìm đỏ năm
Giọt không màu sắc đang rằm
Vàng trăng có giọt chẳng tăm
hơi gì
Trở về cùng gặp lối đi
Xưa sau mỗi bước hồi quy
đang là
Quê mình tỉnh tại bao la
Tâm dừng tánh lặng gặp ta nằm
cười...
(Hành Trạng Tâm Linh)
Thầy về Từ Nghiêm nhiều lần
nữa sau mỗi khi Thầy về Viên Chiếu. Qua Thầy, tôi biết được Sư cô Hạnh
Đạt. Biết nhau, mà cũng không một lần gặp. Đến khi nghe tin Sư cô viên tịch,
lên Viên Chiếu để đưa tiễn Sư cô, lúc ấy mới nhìn thấy Sư cô qua di ảnh.
Mỗi lần Thầy về Từ
Nghiêm, trên chiếc xe đạp cà tàng là đầy đủ tư lương cho cuộc sống một du
tăng. Vẫn mắc võng nằm ngoài cây, sáng mai vào dùng điểm tâm chung với chúng,
nhưng Thầy dùng cơm gạo lức đã nấu sẵn từ hôm trước cùng muối mè. Vào với
chúng là để xin được tặng quà cho mấy chú điệu. Có khi vài bịch bánh, có
khi tiền do quý Sư cô cúng dường cho Thầy. Lần nào cũng vậy, Thầy làm việc
nầy dù không theo nghi thức gì nhưng rất trang trọng.
Thầy nói với tôi, mình vào Chùa đã quá muộn, gieo chút phước điền, mong đời sau
được xuất gia sơm sớm. Tôi càng quý Thầy hơn.
Sau những lần đó Thầy ngõ ý
muốn in những gì Thầy viết từ khi xuất gia, tôi tán thành và hứa giúp Thầy. Thầy
giao mấy cuốn tập học trò bản thảo chép tay. Nhờ đánh máy, dàn trang và
giao lại Thầy sửa lại, rồi cho photocopy thành sách. Khoảng cuối năm
1999, tập sách ra đời với tên Hành trạng tâm linh, bìa do Anh Lâm
(Thầy Thiện Minh) thực hiện. Không biết sau nầy có ai xin giấy phép in lại
cho Thầy không.
Càng về sau, Thầy cõi
du phương của Thầy càng xa. Chỉ nói chuyện với Thầy qua điện thoại. Lo ngại
cho sức khỏe của Thầy, nhưng giọng nói vẫn hào sảng, tiếng cười vẫn
lạc quan. Hỏi thăm, biết khi thì đang ở Saigon, nhà Anh Lâm. Khi ở miền Bắc,
leo núi Yên Tử. Khi ở Đà Nẵng dự Lễ hội Quán Thế Âm ở chùa Thầy Huệ
Vinh. Anh em văn nghệ Đà Nẵng quý mến Thầy, nên dường như Lễ hội Quán Thế Âm
Ngũ Hành Sơn ít khi thiếu bóng Thầy.
Đến bây giờ thì Thầy đã khép
lại một cách rất tuyệt vời, đầy ý nghĩa hành trình của một hạt bụi sau
hơn 80 năm.
‘Tôi chính là hạt bụi
từ vô thỉ đến vô chung đấy chứ. Dù có hóa kiếp cũng là kiếp bụi. Bụi dĩ nhiên
là lang thang. Bụi lang thang từ chợ vào Chùa. Chùa chiền lang thang từ không đến
có, từ vô số lượng đến vô dư. Thời gian lang thang từ vô thủy đến vô
chung. Không gian từ sơn hà đại địa, trăng sao vẫn lang thang, từ ngày qua đêm,
từ thành trú hoại không.
Vậy ra lang thang là tính mệnh,
là bản mệnh của vạn hữu. Nguốn cội chính là nguồn cội lang thang!
Lang thang hè phố tìm
vui
Đất dài khổ não mộng người
còn đi
Đi cho nát sọ tan người
Về cho lũng đất chìm trời
mới yên
Đáo đầu sóng mở hài nhi
Tử sanh vô lộ thì đi với
về
Cánh trà mỏng mảnh đường bay
Chén trà qua sóng, chiếc
giày qua non.
Vậy ra lang thang
chính là sự tiến hóa từ phàm đến thánh, từ khổ não đến an vui. Vậy thì hạt bụi
nầy cũng rất thích lang thang và lang thang là vậy.
(Trần Đới, Hạt Bụi Lang Thang, 2011)
Vậy thì mong rằng Hạt
bụi đó hãy đi bằng nhịp điệu phiêu hốt nhưng đầy bi tráng trong âm
vang Linh ngữ một thời đã chấn động từ bình nguyên sông Hằng lan đến tận mép
rìa pháp giới, và nay hội tụ trên đỉnh đèo Hải Vân gió lộng, ngó xuống Lăng Cô
đèo biển ngàn năm quê người, để đưa Hạt bụi Trần Đới thể nhập cõi
Không.
Gate,
gate, pāragate, pārasaṃgate. Bodhi, svāhā!
(Đi qua, đi qua, qua bờ bên
kia, qua đến bờ bên kia. Nầy Trí tuệ. Xin chúc lành).
[1] Ấn bản Trung Quán. Saigon ViệtNam, tháng 10, năm 1973.
Hình bìa chân dung tác giả.
Nhuận Châu





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét