HỒN THƠ ĐA TÌNH, ĐA CẢM
Lý Thương Ẩn viết nhiều thơ
về tình yêu và để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người. Người ta có
thể thấy tình cảm của Lý Thương Ẩn bàng bạc trong mỗi dòng thơ có vẻ như khó hiểu
vì quá nhiều điển cố. Càng đọc thơ của ông mới hiểu vì sao người ta gọi ông là
“Tiểu Lý”, tôi cho rằng, thơ của Lý Thương Ẩn có chất đa tình hào khoáng, phóng
túng như Lý Bạch, có tình cảm nồng nàn, đau xót thân phận, nỗi thương cảm về cuộc
đời như Đỗ Phủ... nhưng ông vẫn có phong vị và thần vận riêng của mình.
1. … tằm xuân đến thác hãy
còn vương tơ
(Xuân tàm đáo tử ti phương tận)
Trước ông, Bạch Cư Dị từng
nhỏ nước mắt sụt sùi trước số phận của nàng ca kỹ, điều tối kỵ đối với tư tưởng
nho gia chính thống:
Đồng thị thiên nhai luân lạc
nhân,
Tương phùng hà tất tằng
tương thức.
… Tọa trung khấp hạ thùy tối
đa?
Giang Châu Tư mã thanh sam
thấp.
Tỳ bà hành
(Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen
nhau.
… Lệ ai chan chứa hơn người,
Lý Thương Ẩn kín đáo hơn,
nhưng không thiếu tình tứ. Một loạt những bài thơ vô đề của ông, theo các nhà
nghiên cứu, đa số là thơ diễm tình. Hẳn nhiên, ông còn gởi gắm một vài ý khác.
Nhưng nếu đọc kỹ chúng ta sẽ thấy một khát vọng tình yêu tự do, vượt thoát khỏi
những ràng buộc lễ giáo phong kiến.
Để chuyển tải cái “tình
trong như đã mặt ngoài còn e”, để diễn tả niềm vui ngắn ngủi của lữ khách và cô
gái trên bàn tiệc, một mối tình bị ngăn cách bởi thân phận xã hội, bởi cuộc đời
cay nghiệt, thế nhưng lòng của đôi bạn tình vẫn tìm đến nhau, hiểu nhau, nhà
thơ viết:
Thân vô thái phụng song phi
dực,
Tâm hữu linh tê nhất điểm
thông
Vô đề nhị thủ, bài 1
(Tuy thân không có đôi cánh
phụng,
Nhưng lòng tương thông như sừng
linh tê.)
Nỗi cô đơn của người con gái
nơi phòng khuê được tác giả khắc họa với mối đồng cảm sâu sắc. Chuyện ái ân,
chuyện vợ chồng đối với người con gái bị khóa kín nơi buồng sâu tịch mịch, chỉ
là giấc mơ:
Thần nữ sinh nhai nguyên thị
mộng,
Tiểu cô cư xứ bổn vô lang.
(Chuyện Thần nữ mây mưa chỉ
là trong mộng,
Chốn Tiểu cô vắng lặng chẳng
có chồng.)
Yêu dẫu biết là vô ích, là
đau khổ:
Trực đạo tương tư liễu vô
ích,
Lai phương trù trướng thị
thanh cuồng.
Vô đề nhị thủ, bài 2
(Dẫu biết rằng thương nhớ là
vô ích,
Không ngại buồn thương vì
mình si tình.)
Quả đúng là một tài tử đa
tình chính hiệu. Với các nhà nho chính thống, thật khó mà tìm thấy trong thơ họ
những lời lẽ yêu đương nồng nàn tình tứ như thế. Với những người tài tử, nhất
là với Lý Thương Ẩn, mọi sắc thái, mọi cung bậc của tình yêu được ông diễn tả một
cách sâu sắc. Thơ ông bàng bạc nỗi cô đơn, mỗi bài thơ là một nỗi niềm, là mỗi
đợt sóng tình cảm xô đẩy nhau tràn trên mặt giấy, tràn vào lòng người đọc, dạt
dào nỗi u uất.
Mưa gió, sấm rền nhưng người
con gái tưởng như có tiếng xe của người yêu mình đến:
Táp táp đông phong tế vũ
lai,
Phù dung đường ngoại hữu
khinh lôi.
Vô đề tứ thủ, bài 2
(Gió đông phơ phất mưa phùn
bay,
Ngoài ao sen có tiếng sấm
vang nho nhỏ.)
Đó thật sự là nỗi nhớ mong,
nỗi tương tư của những cô gái đương độ xuân thì mở lòng đón nhận tình yêu. Tình
yêu ấy bị ngăn cách, bị ràng buộc nhưng vẫn khát khao nhau, tiếng lòng gọi tình
vươn ra, bất chấp tất cả, như cô gái họ Giả hé rèm nhìn vị quan trẻ họ Hàn, như
nàng Mật phi dành tặng gối cho Tào Thực trước lúc mất. Tất cả đều là chuyện tài
tử gặp giai nhân.
Yêu dẫu biết là đau buồn:
Xuân tâm mạc cộng hoa tranh
phát,
Nhất thốn tương tư nhất thốn
hôi.
Vô đề tứ thủ, bài 2
(Tấm lòng thương nhớ chớ
tranh cùng hoa nở,
Một tấc lòng tương tư thì một
tấc buồn đau.)
Thơ diễm tình của Lý Thương Ẩn
hàm tình sâu sắc, lời lẽ uyển chuyển, ý tứ miên man. Người đọc nếu không đọc kỹ,
không lấy lòng mình ra để thưởng thức thì sẽ không thể khiến và cảm nhận được
làn hương của bông hoa tình yêu trong lời thơ kín đáo của Nghĩa Sơn.
Xuân của đất trời còn mãi,
mà tuổi xuân của con người thì “một đi không trở lại”. Tuổi xuân ngắn ngủi, tâm
sự buồn bã cho số phận khi mùa xuân đến là nỗi đau âm thầm, thấm thía của những
người “gái tơ phút chốc xảy ra nạ dòng” cũng được thể hiện trong thơ Lý Thương Ẩn.
Vì nghèo nên cô gái không lấy được chồng: “Đông gia lão nữ giá bất thụ” (Cô gái
già bên nhà đông không lấy được chồng), trong tiết thanh minh vẫn đi đạp thanh,
nhưng chỉ là để ngắm cảnh các đôi tình nhân du xuân. Để khi đêm về nằm trằn trọc
đến sáng, cảm nhận nỗi cô đơn, sự hẩm hiu của kiếp nghèo trong tịch mịch đêm
dài. Nỗi đau không lấy được chồng ấy chỉ có con én trên rường nhà nghe thấy mà
thôi:
Quy lai triển chuyển đáo ngũ
canh,
Lương gian yến tử văn trường
thán.
Vô đề tứ thủ, bài 4
(Đêm về thao thức đến trời
sáng,
Riêng én trên rường thấu nỗi
đau).
Rồi yêu đương chờ đợi
chỉ vì một lời hứa suông, nhưng thế thôi cũng đủ thỏa nguyện. Người không đến
trong đời thật, thì đến trong giấc mơ, mà xót xa một giấc mơ chia cách. Đớn đau
khóc mãi không thành lời. Rằng phôi pha một giấc mơ xa, người đi biền biệt nhạt
nhòa hương phai:
Lai thị không ngôn khứ tuyệt
tung
Nguyệt tà lâu thượng ngũ
canh chung.
Mộng vi viễn biệt đề nan
hoán,
Thư bị thôi thành mặc
vị nồng.
Vô đề tứ thủ, bài 1
(Bảo rằng sẽ đến nhưng chỉ
là lời nói suông, đi biệt tăm tích,
Trăng xế rọi trên lầu, vẳng
tiếng chuông lúc canh năm.
Trong mơ thấy cùng nàng xa
cách, đau buồn, khóc mãi chẳng thành tiếng,
Tờ thư vội viết cho xong chẳng
cần chờ đến lúc mài mực thật đậm.)
Tình yêu trong thơ Lý Thương
Ẩn cũng vô cùng nồng nàn, sâu sắc, chung thủy. Vua sáng tôi hiền còn dễ gặp
nhau, tài tử giai nhân nào dễ gặp. Đã gặp nhau rồi thì chia lìa lại càng khó
hơn. Lòng người tài tử vương vấn vấn vương như tơ tằm khôn dứt, như nến đỏ rỏ
dòng huyết lệ:
Tương kiến thì nan biệt diệc
nan,
Đông phong vô lực bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ti phương tận,
Lạp cự thành hôi lệ thủy
can.
Vô đề (Tương kiến thì nan…)
(Gặp gỡ nhau đã khó, mà chia
tay cũng khó,
Gió đông không đủ sức làm
trăm hoa tàn héo.
Tằm xuân đến chết mới hết nhả
tơ,
Ngọn nến cháy thành tro mới
khô dòng lệ.)
Đọc những dòng thơ ấy của Lý
Thương Ẩn, có ai không động mối cảm thương, dấy lòng thương cảm? Tâm sự nhớ
nhung mong chờ người yêu trong cách trở, nào biết tỏ cùng ai, đành đem nói cùng
gió xuân:
Đồng hướng xuân phong các tự
sầu.
Đại tặng nhị thủ, bài 1
(Cùng đem nỗi lòng sầu khổ
nói với gió xuân.)
Nỗi niềm chia biệt cùng người
yêu cũng được Thương Ẩn tả rất xúc động và chân tình. Người con gái tự hỏi liệu
người yêu của mình khi đi xa có đau buồn như mình chăng? Đó là tiếng lòng cô
gái đang yêu nên đầy ngờ vực, muốn khẳng định tình cảm của chàng trai với mình:
Tổng bả xuân sơn tảo mi đại,
Bất tri cung đắc kỷ đa sầu.
Đại tặng nhị thủ, bài 2
(Cô gái thường vẽ nét mày
như nét đẹp của núi xuân,
Nào hay chỉ được thêm bấy
nhiêu sầu?)
Những cung bậc của tình yêu,
những hoàn cảnh của tình yêu đều được thể hiện khá thú vị và cảm động trong thơ
Lý Thương Ẩn. Xa cách nhớ thương đã đành, gần nhau nhưng không được tự do yêu
nhau càng đau thương, thê thảm hơn. Những lúc như thế, khát vọng về tình yêu tự
do trỗi dậy trong lòng người con gái tưởng yếu đuối mới mạnh mẽ làm sao khi
nhìn mùa thu đến với hàng liễu xanh thẳm, hồ sen đưa hương:
Uyên ương khả tiện đầu câu bạch,
Phi lai phi khứ yên vũ thu.
Đại tặng
(Thèm được như đôi uyên ương
sống bên nhau đến đầu bạc,
Bay lượn tự do trong mưa
khói mùa thu.)
Rồi có lúc yêu đương chỉ cần
có đủ đôi, được bên nhau, dẫu chịu nhốt trong không gian chật hẹp, không cần phải
trong không gian rộng lớn. Vì không gian càng rộng lớn, sự xa cách càng lớn:
Bất tu trường kết phong ba
nguyện,
Tỏa hướng kim lung thủy lưỡng
toàn.
Uyên ương
(Chẳng cần giữ lời thề nguyền
tự do bay trong sóng gió,
Thà chịu cảnh khóa kín trong
lồng mà đủ đôi.)
Tình yêu trong thơ Lý Thương
Ẩn không dừng lại ở những cuộc tình dang dở, trắc trở, ngăn cách kia, mà còn có
những bài thơ biểu lộ niềm hối tiếc cho tình yêu chính mình đánh mất:
Thường Nga ưng hối thâu linh
dược,
Bích hải thanh thiên dạ dạ
tâm.
Thường Nga
(Thường Nga hối trộm thuốc
tiên,
Tình yêu và nỗi đau như một
đôi bạn thân, yêu không được cũng khổ đau, yêu nhưng lại không được ở cùng nhau
cũng là khổ. Nếu người phụ nữ trong thơ Vương Xương Linh hối tiếc khi khuyên chồng
đi tìm công danh để tuổi xuân đời con gái trôi qua trong tịch mịch u buồn: “Hốt
kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tế mịch phong hầu” (Khuê oán), thì
trong thơ Lý Thương Ẩn, người phụ nữ có chồng làm quan, tưởng được chăn nồng ân
ái, nhưng lại có một nỗi đau khác:
Vô đoan giá đắc kim quy tế,
Cô phụ hương khâm sự tảo triều.
Vị hữu
(Có ngờ đâu lấy được chồng
làm quan cao,
Vào triều sớm để phụ tấm
chăn thơm.)
Chờ đợi và khát khao trao
nhau những lời nồng ấm là nỗi niềm của một người vợ trẻ. Nỗi lòng ấy, được thi
nhân tả rất thật và rất đau:
Đãi đắc lang lai nguyệt dĩ
đê,
Hàn huyên bất đạo túy như
nê.
Ngũ canh hựu dục hướng hà xứ?
Kỵ mã xuất môn ô dạ đề.
Vô đề nhị thủ, bài 1
(Chờ chàng trở về thì trăng
đã xế,
Chuyện trò chẳng được vì
chàng say mềm.
Canh năm không biết lại đi
đâu,
Cỡi ngựa ra khỏi cửa, lũ quạ
kêu đêm.)
Toàn bài không thấy có một lời
than trách của người vợ trẻ với người chồng. Nhưng nỗi cô đơn buồn bã, niềm tức
tưởi của người thiếu phụ như cô đặc trong lòng độc giả bởi tiếng quạ sầu kêu
đêm ấy. Tiếng quạ kêu đêm hay tiếng người thiếu phụ mà khiến lòng người đọc gờn
gợn những cơn sóng cảm xúc? Tiếng quạ kêu đêm trong thơ Lý Thương Ẩn với tiếng
quạ kêu sương khi trăng tà trên bến Phong Kiều của Trương Kế khác nhau lắm.
Trương Kế nghe tiếng quạ kêu khi trăng tà, nguyệt tận, sương rơi trên bến Phong
Kiều, chỉ là tiếng quạ của cảnh vật. Còn tiếng quạ kêu trong thơ của Lý Thương Ẩn
khiến người ta liên tưởng đến tiếng kêu đau đớn của người thiếu phụ không được
hưởng phút giây ấm nồng dẫu lấy được người chồng lương tướng. Yêu đương trắc trở
buồn đau còn nói gì nữa, cả những khi lấy được chồng lương tướng mà vẫn sầu khổ.
Nỗi sầu khổ ấy thấm thía hơn, đau đớn hơn nhiều so với chuyện xui chồng đi tìm
cái ấn phong hầu của người phụ nữ trong bài Khuê oán của Vương Xương
Linh.
Cuộc sống tình yêu bất cứ thời
đại nào, ở đâu, những người yêu nhau cũng cần được ở bên nhau. Lý Thương Ẩn là
người nhìn thấy đời sống tình yêu của vua chúa không bằng đời sống vợ chồng của
người dân thường:
Thử nhật lục quân đồng trú
mã,
Đương thì thất tịch tiếu
Khiên ngưu.
Như hà tứ kỷ vi thiên tử,
Bất cập Lư gia hữu Mạc Sầu.
Mã ngôi, bài 2
(Ngày hôm ấy sáu quân nhất tề
dừng ngựa
[đòi giết Dương Quý phi],
Lúc bấy giờ thực đáng cười
cho chàng Khiên Ngưu
trong đêm mồng bảy tháng bảy.
Tại sao đã làm thiên tử đến
bốn chục năm trời,
Nếu xưa Trang Chu nằm mộng
thấy mình hóa thành bướm, thỏa thích bay lượn, khi tỉnh dậy không biết mình là
bướm hóa thành Trang Chu hay Trang Chu đã hóa bướm mất rồi, thì thơ của Lý
Thương Ẩn cho ta cái cảm giác như thế, không biết là hồn của thi nhân hay là hồn
của những cô gái. Dường như hồn của Lý nhập vào hồn người thiếu phụ, hồn của những
cô gái xuân thì, khiến người đọc thơ Lý Thương Ẩn không biết là Thương Ẩn hay
là những cô gái xuân. Bốn bài thơ Yên đài chính là một bằng chứng sống
động về những điều nói trên. Nỗi niềm tương tư thổn thức, nỗi khát khao mong đợi
gặp gỡ người yêu, nỗi oán hận chia lìa, cách trở, nỗi đớn đau đến rỉ máu, cơn
đoạn trường khôn xiết của cô gái qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông … được
Lý Thương Ẩn khắc họa sống động và tràn đầy tình cảm.
Toàn bài Xuân là nỗi
mong đợi của nàng con gái chia tay cùng người yêu, hồn thẫn thờ chìm trong nỗi
nhớ:
Túy khởi vi dương nhược sơ
thự,
Ánh liêm mộng đoạn văn tàn
ngữ.
Sầu tương thiết võng quyến
san hô,
Hải khoát thiên khoan mê xứ
sở.
Y đái vô tình hữu khoan
trách,
Xuân yên tự bích thu sương bạch.
Yên đài thi tứ thủ, Xuân
(Tỉnh giấc trưa thấy bóng nắng
chiều nhạt ngỡ ánh bình minh,
Nắng chiếu qua rèm, tàn giấc
mộng còn nghe lời ai văng vẳng.
Sầu đem lưới sắt giăng bủa
san hô,
Nhưng trời cao biển rộng biết
tìm nơi đâu.
Lưng áo vô tình rộng thêm
ra,
Khói xuân xanh biếc sương
thu trắng.)
Hạ lại là nỗi khát khao
gặp mặt cùng người yêu, khấn nguyện cùng trăng cầu một tình yêu:
Quế cung lưu ảnh quang nan
thủ,
Yên huân lan phá khinh khinh
ngữ.
Yên đài thi tứ thủ, Hạ
(Bóng trăng tỏa sáng
khó cầm được,
Lời thơm tho như hoa lan, khấn
thầm cùng ánh trăng.)
Khấn trăng cầu nguyện là tục
lệ của những cô gái đang tuổi yêu đương. Trong thơ Đường, chúng ta thỉnh thoảng
bắt gặp hình ảnh này. Hãy xem cô gái trong bài Bái tân nguyệt của Lý
Đoan:
Khai liêm kiến tân nguyệt,
Tức tiện há giai bái.
Tế ngữ nhân bất văn,
Bắc phong xuy la đái.
(Mở rèm đầu tháng trăng
nghiêng,
Vội vàng bước xuống bậc thềm
chắp tay.
Thì thầm khấn khấn ai hay,
Giải xiêm gió bấc lùa bay là
đà.)
Dẫu không nghe được lời nguyện
cầu của cô gái, dẫu chỉ thấy giải áo phơ phất bay trong gió, thế thôi cũng đủ
hình dung tâm tình chờ mong và khát vọng của nàng. Nhưng nó vẫn cứ nhẹ nhàng,
không như người con gái trong thơ của Lý Thương Ẩn từ khẩn cầu đã chuyển sang
trách móc cuộc chia lìa:
Trực giao Ngân Hán đọa bôi
trung,
Vị khiển Tinh phi trấn lai
khứ.
Trọc thủy thanh ba hà dị
nguyên?
Tế hà thủy thanh hoàng hà hồn.
Yên đài thi tứ thủ, Hạ
(Thà để sông Ngân rơi vào
trong chén,
Còn hơn để cho Chức nữ phải
đi lại khó nhọc để gặp người yêu.
Nước đục sóng trong nào có
khác nguồn,
Mà nay lại chia thành sông Tế
nước trong, sông Hoàng hà nước đục.)
Tâm sự ấy sau cùng chuyển
thành khát vọng bên nhau, được kêu gào chứ không còn im ỉm dồn nén:
An đắc bạc vụ khởi sương quần,
Thủ tiếp vân bình hô thái
quân.
Yên đài thi tứ thủ, Hạ
(Làm sao ở trong màn sương mặc
chiếc áo vàng nhạt,
Đón xe của chàng đến mà kêu
tên chàng?)
Xuân chia biệt, Hạ nhớ
nhung, khát khao được gặp gỡ, thì Thu là nỗi tương tư đã thành oán giận:
Dục chức tương tư hoa ký viễn,
Chung nhật tương tư khước
tương oán
Yên đài thi tứ thủ, Thu
(Muốn dệt nỗi tương tư
gởi cho người yêu nơi xa,
Suốt ngày ngồi tương tư người
lại chuyển thành nỗi hận.)
Hình ảnh cô nàng ngồi dệt
tương tư cứ thấy lặp đi lặp lại trong thơ Lý Thương Ẩn:
Kỷ gia duyên cẩm tự,
Hàm lệ tọa uyên ky.
Tức nhật
(Bao nhiêu nhà dệt mãi bức gấm
thư,
Nuốt lệ ngậm ngùi ngồi bên
khung dệt.)
Hoặc như:
Cẩm trường thư trịnh trọng,
Mi tế hận phân minh
Vô đề
(Bao lần dệt bức thư dài gởi
người,
Nỗi sầu hiện rõ trên nét mày
thanh mảnh.)
Tô Huệ dệt thư gởi chồng đã
khiến người đọc thương xót, mà trong thơ Lý Thương Ẩn, nỗi đau xót ấy càng được
đẩy đến cùng. Nỗi hận ấy không vô duyên vô cớ mà bởi nàng bị giam cầm trong buồng
khuê giữa mùa xuân thì phơi phới:
Kim ngư tỏa đoạn hồng quế
xuân,
Cổ thì trần mãn uyên ương
khuân.
Kham bi tiểu uyển tác trường
đạo…
Yên đài thi tứ thủ, Thu
(Ổ khóa cá vàng nhốt tuổi
thanh xuân,
Chăn uyên ương xưa giờ bám đầy
bụi bặm.
Buồn thay, mảnh vườn nhỏ mà
ngỡ như con đường dài,…)
Nếu người con gái trong thơ Khuê
oán của Kim Xương Tự:
Đả khởi hoàng oanh nhi,
Biệt giao chi thượng đề.
Đề thời kinh thiếp mộng,
Bất giác đáo Liêu Tê (Tây).
(Đuổi giùm thiếp cái vàng
anh,
Đừng để nó hót trên cành
trêu ngươi,
Làm tan giấc thiếp đang say,
Dở dang mộng đến Liêu Tây
cùng chồng.)
Thì người con gái trong thơ
của Nghĩa Sơn lại yêu hận trong hiện thực trong kỷ niệm. Sau nỗi tương tư oán
giận là giây phút sống lại với kỷ vật ngày gặp gỡ:
Song đang đinh đinh liên
xích tố,
Nội ký Tương xuyên tương thức
xứ.
Yên đài thi tứ thủ, Thu
(Đôi bông tai và tờ
thư còn để đó,
Trong đó ghi dấu nơi ta quen
nhau trên sông Tương.)
Nhưng một kiếp đợi chờ bờ
môi ngấm lệ ngóng trông, tiếc thương chua xót cho làn hương tình yêu nhòa nhạt
trong tầm tay:
Ca thần nhất thế hàm vũ
khan,
Khả tích hinh hương thủ
trung cố.
Yên đài thi tứ thủ, Thu
(Môi xinh ngậm lệ, một
đời trông ngóng,
Tiếc thay làn hương cứ nhạt
nhòa bay mất trong bàn tay.)
Rồi Thu qua Đông lại,
giờ đây những khát vọng đợi chờ đã nhuốm màu tuyệt vọng. Càng luyến tiếc những
ngày qua, nỗi đau càng thêm lớn:
Phương căn trung đoạn hương
tâm tử.
Yên đài thi tứ thủ, Đông
(Cây hoa gãy cành, nhụy
hoa chết khô.)
Niềm vui ngày xưa đã phai,
chỉ còn người con gái trong thành vắng, tòa thành của cô đơn, tịch mịch:
Không thành bãi vũ yêu chi tại.
Đương thì hoan hướng chưởng
trung tiêu,…
Yên đài thi tứ thủ, Đông
(Khi múa xong thành vắng
lặng, chỉ còn chiếc eo thon.
Ngày xưa từng múa hát vui vẻ
bên nhau nay không còn nữa,)
Một lần nữa, mùi hương của
tình yêu, của hoan lạc lại tan mất trong tay.
… Cô đơn đến chẳng còn
thiết gì đến điểm trang. Nàng chỉ biết ngồi nhìn ánh nến lập lòe thổn thức đến
trời bình minh:
Phá hoàn nụy đọa lăng triêu
hàn,
Bạch ngọc yến thoa hoàng kim
thiền.
Phong xa vũ mã bất trì khứ,
Lạp chúc đề hồng oán thiên
thự.
Yên đài thi tứ thủ, Đông
(Xõa tóc cao, để lệch
búi tóc trong buổi sớm lạnh,
Trâm én ngọc trắng, kẹp ve
vàng cũng biếng cài.
Xe gió ngựa mưa sao không chở
thiếp đi,
Một mình bên ngọn nến khóc hận
trời sáng.)
Nỗi cô đơn được đẩy đến tột
cùng khi nghe tiếng mưa tiếng gió như ngựa xe nơi cõi tình vụt qua. Còn một
mình trong cô quạnh, người và nến cùng rỏ lệ oán than, chỉ mong cho đêm dài vô
tận… Nỗi oán hận tương tư ấy nghe thật giống với nàng ca kỹ thi nhân đất Giang
Hoài Từ Nguyệt Anh:
Chẩm tiền lệ dữ giai tiền
vũ,
(Lệ rơi trên gối, mưa ngoài
chái,
Cách một song khe, rỏ đến
mai.)
Và chắc chắn rằng không có một
nhà nho chính thống nào làm thơ tình tặng cho những nữ đạo sĩ như kiểu Lý
Thương Ẩn:
Thâu đào thiết dược sự nan
kiêm,
Thập nhị thành trung tỏa
thái thiềm.
Ưng cộng tam anh đồng dạ thưởng,
Ngọc lâu nhưng thị thủy tinh
liêm.
Nguyệt dạ trùng ký Tống Hoa
Dương tỉ muội
(Trộm đào, cắp thuốc, cả hai
đều khó vô cùng,
Vầng trăng đẹp bị nhốt trong
tòa thành cao mười hai tầng.
Giá được cùng ba nàng ngắm
trăng đêm nay,
Đã ở lầu ngọc mà sao vẫn như
ở trong rèm thuỷ tinh nơi cấm cung?)
Theo Diệp Thông Kỳ, đời Đường,
những cô gái trong cung bị ép đưa vào đạo quán rất nhiều. Cựu Đường thư,
Văn Tông bản kỷ chép: “Năm thứ ba niên hiệu Khai Thành, …, những cô gái
cho ra khỏi cung có đến bốn trăm tám mươi người, đều được đưa vào ở trong Lưỡng
Nhai tự quán”[4]. Bài thơ như một
lời bày tỏ tình cảm yêu thương của Lý Thương Ẩn dành cho những cô gái bất hạnh,
những nữ đạo sĩ bất đắc dĩ, nhưng cũng là một lời cảm thương đòi hỏi tự do yêu
đương của những người thiếu nữ.
Lý Thương Ẩn còn làm thơ tặng
cho người kỹ nữ lời lẽ hết sức chân thành và nồng nàn:
Bạch nhật tương tư khả nại
hà,
Nghiêm thành thanh dạ đoạn
kinh qua.
Chỉ tri giải đạo xuân lai sấu,
Bất đạo xuân lai độc tự đa.
Tặng ca kỹ nhị thủ, bài 2
(Ban ngày ta nhớ nàng đành
biết làm sao,
Đến đêm cổng thành đóng kín
lại không qua chỗ nàng được.
Chỉ biết rằng xuân đến ta gầy
thêm,
Mà không biết rằng xuân về
ta thêm đơn chiếc.)
Chia tay người ca kỹ mà ông
yêu mến nơi Bản Kiều, Lý Thương Ẩn không giấu được cảm xúc của một tình yêu
chân thành. Ông tả cảm xúc của cô gái quyến luyến trong đêm biệt li, mà cũng có
thể là của chính mình, cả đêm lệ thắm chan hòa:
Thủy tiên dục thướng lý ngư
khứ,
Nhất dạ phù dung hồng lệ đa.
Bản Kiều hiểu biệt
(Khách tiên sắp sửa cỡi cá
chép ra đi,
Cả đêm qua hoa sen rỏ lệ hồng
đầy vơi.)
Tình tứ nhưng kín đáo là những
nét đặc sắc trong thơ tình của Lý Thương Ẩn. Đọc thơ Lý Thương Ẩn, hãy nhập hồn
trong tình ý, trong câu chữ ẩn mật của Ngọc Khê sẽ thấy ở ông một tình yêu nồng
nàn và thắm thiết. Điều đó chúng ta còn nhận thấy trong những bài thơ ông viết
cho người vợ yêu họ Vương của ông.
2. … bao giờ khêu nến song
tây?
(Hà đương cộng tiễn tây song
chúc)
Lý Thương Ẩn là người viết
nhiều bài thơ mang nội dung thương nhớ vợ với tình cảm thiết tha, xúc động nhất
trong các thi nhân thời bấy giờ. Đọc những bài thơ ấy của ông, mới hiểu Lý
Thương Ẩn là người đa tình nhưng lại rất chung tình. Trong bộ phận sáng tác
này, ta có thể chia thành hai giai đoạn, một là giai đoạn vợ ông còn sống, hai
là giai đoạn từ khi vợ ông mất. Bởi chính sự kiện này ảnh hưởng đến rất nhiều
tâm trạng của Lý Thương Ẩn.
Khổ sinh li
Giai đoạn khi vợ của Lý
Thương Ẩn còn sống, tác giả viết nhiều bài thơ gởi vợ, với tình ý kín đáo,
nhưng chân thành và xúc động. Trong thơ, thi nhân luôn nói đến lòng quê, đến giấc
mộng trở về, hy vọng ngày đoàn viên sum họp.
Khi lưu lạc ở đất Ba Thục,
trong đêm mưa gió, ao thu nước biếc dâng đầy xui lòng lữ khách trào nỗi nhớ
thương. Chợt buồn nhớ người ta yêu, nỗi lòng đem gởi ít nhiều tương tư. Ý ấy chợt
thành, vung bút viết thơ, bài thơ ấy trở thành tuyệt tác của Lý Thương Ẩn. Bài
thơ là một tâm trạng miên man dằng dặc, dù chỉ có bốn câu. Cái tình nhung nhớ mong
được trở về bên người vợ thể hiện rất cô đọng nhưng chan chứa tình:
Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ,
Ba sơn dạ vũ trướng thu trì.
Hà đương cộng tiễn tây song
chúc,
Khước thoại Ba Sơn dạ vũ
thì.
Dạ vũ ký bắc
(Nàng hỏi ngày trở về, nhưng
ta chưa biết ngày nào trở lại,
Đêm ở Ba Sơn, mưa làm dâng
nước hồ thu.
Bao giờ cùng nhau khêu nến
bên song tây,
Ta sẽ kể chuyện trong đêm
mưa ở Ba Sơn.)
Nỗi lòng thương nhớ người
thân, nhất là nhớ người vợ yêu trong ông vô cùng mãnh liệt, buồn cho nỗi xuân
tàn hạ đến, cảm khái cuộc đời để lỡ tuổi xuân. Thế nhưng, thân ở trong quân ngũ
ít khi về được, nỗi lòng thương người tình, nhớ quê hương bám theo tơ liễu,
nhưng chẳng phải bám theo một cách đường đường chính chính mà là “trộm” bám bay
ra ngoài thành. Ngang qua bến sông nghe tiếng tử quy khắc khoải kêu, làm lòng lữ
khách nhức nhối một niềm mơ được trở về quê hương, bên người vợ trẻ:
Thân thuộc trung quân thiểu
đắc quy,
Mộc lan hoa tận thất xuân kỳ.
Thâu tùy liễu nhứ đáo thành
ngoại,
Hành quá thủy tây văn tử
quy.
Tam nguyệt thập nhật Lưu Bôi
đình
(Thân ở trong quân ít được về
nhà,
Hoa mộc lan nở hết, lỡ mất
buổi du xuân.
Trộm theo tơ liễu bay ra
ngoài thành,
Đi ngang qua bờ tây sông chợt
nghe tiếng chim tử quy.)
Đọc bài thơ trên, cảm thấy
lòng thấy buồn bã khôn nguôi, hồn mơ màng như đang vướng theo tơ liễu mà bay,
mà bồng bềnh trong không gian. Bài thơ hay ở chỗ tả được cái tình mong nhớ hoài
vọng về người yêu, mong mỏi được trở lại quê nhà nhưng vì việc quân ta không về
nhà thường xuyên được. Nhớ người lắm đành trộm đem lòng bay theo tơ liễu nhờ
gió gởi về cho người yêu chốn quê nhà. Càng hay hơn là khi ngang bến sông, nghe
tiếng tử quy kêu khắc khoải mà ngỡ như giọng người yêu gọi “chàng ơi, về đi”[5]. Nỗi lòng “Hối giao phu tế mịch phong hầu”
của người thiếu phụ trong thơ Vương Xương Linh phảng phất trong thơ Lý Thương Ẩn
bằng tiếng kêu não nùng của chim tử quy.
Lý Thương Ẩn lấy con gái của
Vương Mậu Nguyên vào năm ông mới 25 tuổi, thế nhưng ông vẫn than rằng gặp nhau,
yêu nhau quá muộn, điều đó chứng tỏ ông và vợ rất tâm đầu ý hợp. Có lẽ do thời
gian hai người bên nhau không được nhiều, với Lý Thương Ẩn, những chuỗi ngày
lưu lạc nơi đất khách, cô đơn, nên những bài thơ viết trong lúc ông bôn ba nơi
đất khách bao giờ cũng chan chứa tình yêu nhớ nhung người vợ nơi quê nhà.
Kết ái tằng thương vãn,
Đoan ưu phục chí kim.
… Dao tri triêm sái ý,
Bất giảm dục phân khâm.
Dao lạc
(Yêu nhau đau lòng vì quá muộn,
Lòng ta buồn bã đến mãi giờ…
… Người ở xa ấy biết ý ta buồn
rỏ lệ,
Chắc buồn bã không kém lúc
ta chia li.)
Nhìn cảnh vật xơ xác trong
những ngày cuối năm, tự cảm thương cho thân phận mình luân lạc, cô đơn nơi chân
trời góc biển. Thi nhân động lòng nhớ quê, nhưng chỉ có thể về trong mộng! Ấy
mà, nào được một giấc mộng dài cho trọn vẹn chiêm bao. Giấc mộng về quê của người
lưu lạc vật vờ trầm bổng dưới màn trăng đêm nhàn nhạt. Đã có lần nhà thơ nghe
trong tiếng chim oanh kêu như rỏ lệ làm ướt cánh hoa trên cao trong mùa xuân
lưu lạc:
Xuân nhật tại thiên nha,
Thiên nha nhật hựu tà.
Oanh đề như hữu lệ,
Vị thấp tối cao hoa.
Thiên nhai
(Ngày xuân lưu lạc ở góc trời,
Chân trời thì mặt trời lại xế
bóng.
Chim oanh hót như có nước mắt,
Làm ướt đóa hoa ở trên cao
nhất.)
Cũng có lần tiếng gà gáy sớm
ở Trần Thương làm vụn vỡ, tan hoang giấc mộng hồi hương của người lữ thứ phiêu
bạc ước tìm một chốn dừng chân:
Bách lý âm vân phúc tuyết
nê,
Hành nhân chỉ tại tuyết vân
tê (tây).
Minh triêu kinh phá hoàn
hương mộng,
Định thị Trần Thương bích dã
kê.
Tây nam hành khước ký tương
tống giả
(Trăm dặm mây mờ tuyết đổ
như bùn,
Người ra đi trong trời tây đầy
mây và tuyết.
Buổi sáng, làm tan giấc mộng
về quê của ta,
Chính là tiếng gáy của gà
hoang ở Trần Thương.)
Trong mùa xuân, mưa bụi phơ
phất, hơi giá lạnh lẽo xói vào lòng khách làm rùng mình một niềm thương nhớ,
làm hốt hoảng nỗi nhớ nhà, làm động dậy mối tình chia biệt, và làm khắc khoải
cõi sầu ưu trên dặm đường công danh…
Viễn lộ ưng bi xuân uyển
vãn,
Tàn tiêu do đắc mộng y hy.
Ngọc đương giảm trác hà do đạt?
Vạn lý vân la nhất nhạn phi.
Xuân vũ
(Đường xa vời buồn khi xuân
muộn,
Đêm tàn còn được vài giấc
mơ.
Tờ thư gói chiếc khoen tai
bao giờ đến?
Một cánh nhạn bay trong muôn
dặm mây mờ.)
Mùa xuân sang áo màu khoe sắc,
chỉ riêng thi nhân nằm khoèo buồn bã với chiếc áo bông trắng cũ. Ở đời lắm chuyện
trái ý, lưu lạc ở Bạch Môn mưa bay phơ phất thêm màu lạnh lẽo. Nơi phương xa
người vợ hiền có lẽ cũng buồn bã trong xuân muộn. Mỗi đêm sắp tàn thi nhân cũng
còn được vài giấc mơ sum họp cùng người yêu… Thế rồi chờ đợi một cánh thư?
Nhưng mây mờ muôn dặm thư tờ vắng hoe, chỉ thấy mưa xuân phơi phới bay…
Cuộc đời Lý Thương Ẩn là chuỗi
ngày lưu lạc nổi trôi trong hồ hải cuộc đời, đã nhiều lần ông nén nỗi buồn của
một thân phận lữ khách nơi xứ lạ, ngậm ngùi ca hát, ngậm ngùi say sưa. Có lúc nằm
vùi nơi bến Thanh Chương:
Giang hải tam niên khách,
Càn khôn bách chiến trường.
Thùy năng từ mính đính,
Yêm ngọa kịch Thanh Chương.
Dạ ẩm
(Ba năm thân hồ hải,
Trăm trận cõi vô thường.
Một cuộc say, ai khước?
Nằm vùi trên bến Chương.)
Bao năm nén lệ tủi sầu, mong
nhớ:
Tam niên dĩ chế tư hương lệ,
Cánh nhập tân niên khủng bất
khâm.
Tả ý
(Nhớ quê nén lệ ba năm trọn,
Năm mới vừa sang khó nén rồi!)
Lại có khi bao nỗi niềm nơi
cầu Bá trào dâng thành một bài Lệ thảm thiết:
Lệ người ở nơi ngõ vắng thăm
thẳm, oán cuộc sống lụa là,
Lệ của người cuộc tình chia
cách, suốt ngày ước nguyện phong ba.
Những giọt nước mắt làm trúc
sông Tương thấm vàng đốm nhiều vô kể,
Lệ của bao người rơi trước
bia trên núi Hiện.
Lệ của người ra đi, bỏ cung
cấm, mùa thu nhập vào biên ải,
Nước mắt của quân tàn nơi
trướng Sở, nửa đêm nghe tiếng hát vang.
Trong nỗi niềm cô đơn nơi đất
khách, người lữ thứ luôn nhớ về quê hương, người yêu, gia đình. Đó là cảm xúc
không của riêng ai. Thi nhân muôn đời vẫn thế. Từ “Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Tản Đà dịch: Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai) của Thôi Hạo (Hiệu), rồi “Tổng vị phù vân
năng tế nhật, Trường An bất kiến sử nhân sầu” (Mây mờ che khuất ánh dương, Trường
An chẳng thấy dạ mang mang buồn) của Lý Bạch, cho đến “Lòng quê dờn dợn vời con
nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” của Huy Cận khi nhìn sông nước tràng
giang, đều bắt gặp một nỗi niềm cô đơn của người lữ khách, dẫu không cùng thời
đại, dẫu khác xa về không gian. Nhưng ở Lý Thương Ẩn, nỗi niềm ấy khác với những
thi nhân khác cùng thời với ông. Hoài tài bất ngộ, lênh đênh lưu lạc nay chân
trời mai góc biển, những cảm xúc mơ về quê hương, mơ về người vợ yêu… là những
cảm xúc chân thành dội lên từ tâm khảm của một thi nhân tài tử như Lý Thương Ẩn.
Vì thế, thơ ông là tiếng lòng của một tâm hồn đa cảm, giọng điệu của một tâm sự
buồn bã, của oán thán, của nhớ nhung và bất đắc chí.
Buồn tử biệt
Từ khi mất vợ, Lý Thương Ẩn
làm một loạt những bài thơ biểu lộ tình thương nhớ một người bạn cố tri, một
người vợ tâm đầu ý hợp. Những bài thơ ông viết trong thời gian này, luôn trĩu nặng
tâm sự nhớ nhung, day dứt. Những ám ảnh theo suốt chặng đường đời còn lại của một
thi tài đa sầu đa cảm, đó là lòng quê, giấc mộng trở lại quê hương, giấc mơ sum
họp mịt mờ như mù sa sương sớm, là làn hương còn sót lại trong đình Tây, trong
chăn thúy. Ngồi chuyện trò cùng sen tàn nơi hồ thu, chuyện trò cùng làn hương của
người yêu, người vợ thiên cổ… nỗi ám ảnh ấy như tơ vương của tằm, như tơ ngó
sen, càng kéo càng vươn dài…
Năm Đại Trung thứ 5, Lý
Thương Ẩn thôi làm quan ở Từ Mạc trở về quê, vợ ông là Vương thị mất vào khoảng
mùa hè thu. Trước lúc vợ mất, ông không được gặp vợ lần cuối. Nỗi buồn mất vợ u
uất nghẹn ngào, thi nhân thấy hoa tường vi đỏ như cũng rỏ lệ cảm thương. Con trẻ
ngây thơ vẫn say giấc sau một cơn đau đớn cùng cực, dẫu bóng tà dương dọi vào
giấc ngủ trẻ thơ:
Tường vi khấp u tố,
Thúy đái hoa tiền tiểu.
Kiều lang si nhược vân,
Bão nhật tây liêm hiểu.
Phòng trung khúc
(Hoa tường vi ngậm sương như
khóc thầm,
Cành hoa tường vi mỏng mảnh
xanh biếc, cánh hoa nhỏ nhắn.
Con dại đau buồn lẻ loi như
đám mây nổi,
Ôm gối ngủ, nắng sáng chiếu
vào vẫn chưa dậy.)
Hình ảnh đứa trẻ gợi cho người
đọc những niềm cảm xúc khó tả. Một nỗi cô đơn, bơ vơ tràn ngập dưới bóng tà
huy. Chính hình ảnh ấy càng làm cho nỗi đau của Lý Thương Ẩn thêm đậm nét khi
ánh nhìn của thi nhân chuyển từ con trẻ sang tấm chăn uyên ương ngày cũ. Nhìn tấm
chăn mềm mại vẫn còn đó, chiếu ngọc vẫn còn đây mà vợ đã giã biệt cõi đời để đi
vào cõi mộng! Chỉ thấy đàn cẩm sắt nằm im mặc bụi thời gian phủ mờ bao ký ức:
Quy lai dĩ bất kiến,
Cẩm sắt trường vu nhân.
Phòng trung khúc
(Lúc ta về thì không được gặp
lần cuối,
Chỉ thấy cây đàn gấm vẫn còn
đó.)
Tình cảnh ấy buồn quá, chao
ôi, buồn nghe trong giọng ngập mùi xót xa:
Sầu đáo thiên địa phiên,
Tương khán bất tương thức.
Phòng trung khúc
(Buồn đau đến đất trời
nghiêng ngửa,
Nhìn nhau nhưng chẳng nhận
ra nhau.)
Bài Cẩm sắt là một
trong những bài thơ diễm tình gây nhiều ý kiến từ các nhà bình thơ nhất. Theo Lục
Vĩnh Phẩm thì “nó khái quát cả sự nuối tiếc của cuộc đời ông, cả niềm cảm khái
tráng chí bất thành, cũng có cả chuyện li hợp hoan bi trong đời sống tình yêu”[7]:
Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,
Nhất huyền nhất trụ tư hoa
niên.
Trang sinh hiểu mộng mê hồ
điệp,
Vọng đế xuân tâm thác đỗ
quyên.
Thương hải nguyệt minh châu
hữu lệ,
Lam điền nhật noãn ngọc sinh
yên…
Cẩm sắt
(Cây đàn cẩm sắt cớ gì có
năm mươi dây,
Mỗi dây một trụ khiến ta nhớ
đến những chuyện thời trẻ tuổi.
(Tiếng đàn êm ái, hớn hở)
như Trang Sinh
lầm mình là bướm trong giấc
mộng sớm.
(Có lúc buồn não nuột như)
lòng xuân của Vọng đế
gởi vào tiếng kêu thê thảm của
chim đỗ quyên.
(Lúc thì trong trẻo, thánh
thót) như ánh trăng sáng,
lấp lánh như ngọc hàm lệ
trong lòng biển xanh.
Có lúc nồng nàn ấm áp như nắng
ấm rọi vào ngọc
trên núi Lam Điền tỏa khói.)
Bài thơ không đơn thuần là tả
đàn cẩm sắt, mà còn là một lời hỏi, là duyên cớ để dẫn dắt tình cảm, “mỗi dây mỗi
trụ” làm thành từng đôi từng cặp như thế gợi nỗi đau lẻ bạn của tác giả thêm
sâu, thêm “tiếc hoa niên”. Tả tiếng đàn cẩm sắt nhưng cũng là diễn tả tình cảm
của người đàn với người nghe, lúc mơ màng, sung sướng, lúc đau đớn, ân hận, lúc
trong trẻo, lanh lảnh, lúc ấm áp, trầm lắng… và nỗi niềm của thi nhân khi xưa
nghe tiếng đàn cẩm sắt và nay đàn cẩm sắt nằm im bụi mờ.
Mỗi khi đêm về, tâm hồn tác
giả là nơi trú ngụ của nỗi cô đơn và sầu muộn. Nỗi niềm thương nhớ vợ trào
dâng, thi nhân thoảng nghe mùi hương của vợ như sót lại trong chăn gối, lại một
đêm thức trắng, không phải cùng người khêu nến bên song tây, mà chỉ cùng sen
tàn giãi nỗi muộn phiền uất nghẹn trong tim:
Tây đình thúy bị dư hương bạc,
Nhất dạ tương sầu hướng bại
hà.
(Chốn Tây đình, tấm chăn
xanh còn vương làn hương mỏng,
Cả đêm ta đem nỗi sầu giãi tỏ
với sen tàn.)
Mùi hương cũ của người vợ
yêu là nỗi ám ảnh không bao giờ phai trong tâm trí, trong khứu giác của thi
nhân. “Hương thừa” như còn vương vấn đâu đây, dẫu có qua bao nhiêu thời gian
cũng không tan đi trong cõi yêu của hai người, trong tâm hồn của người ở lại.
Với Lý Bạch, mùi hương của
người đẹp còn thoang thoảng nơi chăn gấm trong giường vắng, người đẹp đi rồi,
ba năm còn nghe hương. Nỗi tương tư của Lão Lý nghe ra thật thấm thía:
Sáng trung tú bị quyển bất tẩm,
Chí kim tam tải văn dư
hương.
Hương diệc cánh bất diệt,
Nhân diệc cánh bất lai.
Tương tư hoàng diệp tận,
Bạch lộ thấp thanh đài.
Ký viễn
(Chăn gấm trong giường cuốn
chẳng nằm,
Đến nay ba năm còn nghe
hương,
Hương cũng không tan hết,
Người cũng không trở lại.
Tương tư lá vàng rụng,
Sương trắng ướt rêu xanh)
Đó cũng là nỗi niềm của Tiểu
Lý, mà mặc nhiên là nỗi niềm chung của mọi người. Nếu Lý Bạch tả nỗi tương tư của
mình trong bài Ký viễn, thì Lý Thương Ẩn lại dàn trải ý ấy suốt những
trang thơ viết về vợ mình.
Liêm thùy mạc bán quyển,
Chẩm lãnh bị nhưng hương.
Như hà vi tương ức,
Hồn mộng quá Tiêu Tương.
Dạ ý
(Tấm rèm buông hờ nửa vén
lên,
Gối lạnh lùng, tấm chăn còn
hương người.
Tại sao lòng ta nhung nhớ,
Nằm mộng, hồn qua vùng Tiêu
Tương.)
Vào khoảng tháng giêng năm Đại
Trung thứ 11 (857), trong lúc xuống vùng Giang Đông (nay là vùng Dương Châu,
Nam Kinh, tỉnh Giang Tô), ngang qua Lạc Dương, ở lại đêm nơi nhà cũ, nơi ông và
vợ từng có một thời vui vẻ, giờ đây nhìn cảnh hoang tàn, cảm cảnh nhớ người,
ông làm bài thơ nhớ vợ hết sức xúc động. Trong đêm vắng, ông trằn trọc không ngủ
được, tiếng dơi vỗ cánh, lũ chuột chạy làm rung màn cửa, thi nhân cứ ngỡ người
vợ của ông năm xưa. Buồn. Chỉ biết ngồi đối bóng trò chuyện cùng làn hương của
vợ nghe thoang thoảng đâu đây:
Biên phất liêm tinh chung
triển chuyển,
Thử phiên song võng tiểu
kinh sai.
Bối đăng độc cộng dư hương
ngữ,
Bất giác do ca Khởi dạ lai.
Chính nguyệt Sùng Nhượng trạch
(Dơi vỗ cánh đập vào màn cửa,
ta trằn trọc không ngủ được,
Chuột chạy làm rung tấm màn
cửa, khiến ta ngỡ lầm có người.
Ngồi đối bóng, cùng nói chuyện
với làn hương cũ sót lại,
Bất chợt ngâm bài Khởi dạ
lai.)
Làn hương cũ còn sót lại ấy
có thật chăng? Trong cảnh thê lương hoang tàn ấy liệu có còn một làn hương để
thi nhân trò chuyện cùng chăng? Tác giả ngoa ngôn chăng? Chim quyên ăn trái
nhãn lồng, Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi (ca dao), “hơi” trong câu
ca trên và “làn hương” trong thơ Lý Thương Ẩn là cùng một lý. Đó chỉ là làn
hương trong trí nhớ, trong hoài niệm của tác giả đối với vợ ông. Mùi hương của
vợ ngày trước luôn phảng phất trong những bài thơ khi ông viết về vợ mình, mùi
hương ấy luôn ám ảnh, lãng đãng trong lòng trong tâm khảm ông. Nếu ai đã từng ở
vào cảnh huống ấy thì biết ngay rằng, tình cảm của Lý Thương Ẩn dành cho vợ là
chân thật.
Từ khi vợ mất, giấc ngủ như
thành xa lạ với thi nhân. Có đêm trò chuyện cùng làn hương cũ, có đêm nghe làn
hương xưa thoang thoảng, thi nhân đem nỗi buồn nói cùng sen tàn. Cũng có khi
trong mơ hồ sương khói nghe sương rơi gõ nhịp lá ngô đồng, nỗi buồn chiếc bóng
của thi nhân càng thêm gấp bội. Nhà thơ ví mình như cánh hạc lẻ bạn, chập chờn
trong tiếng sương thánh thót:
Thử dạ Tây đình nguyệt chính
viên,
Sơ liêm tương bạn túc phong
yên.
Ngô đồng mạc cánh phiên
thanh lộ,
Cô hạc tùng lai bất đắc
miên.
Tây đình
(Đêm nay ở Tây đình trăng
tròn vành vạnh,
Chỉ có rèm thưa làm bạn cùng
khói sương và gió thu.
Cây ngô đồng xin đừng
nghiêng lá khiến sương rơi thánh thót,
Cánh hạc lẻ bạn đã lâu rồi
không được yên giấc.)
Đó là nỗi đau hoài niệm một
thời cùng vợ ở Tây đình, nỗi đau vắng người bạn đời, nay chỉ còn sương khói làm
bạn cùng thi nhân. Nỗi đau thương đằng đẵng khiến người đọc không làm sao cầm nỗi
xúc động, bồi hồi. Thi nhân nhìn gương cũ động lòng nhớ vợ. Ông từng muốn thoát
ra khỏi nỗi nhớ ấy, nhưng càng cố thoát thì càng bị buộc chặt trong hoài niệm:
Ngọc hạp thanh quang bất phục
trì,
Lăng hoa tán loạn nguyệt
luân khuy.
Tần đài nhất chiếu sơn kê hậu,
Tiện thị cô oanh bãi vũ thì.
Phá kính
(Chiếc gương hộp ngọc còn
giữ làm chi nữa,
Hoa lăng tán loạn, bóng nguyệt
khuyết mòn.
Từ sau khi con gà rừng soi
bóng nhảy ở đài Tần,
Thì lúc đó ta cũng như con
oanh nhảy múa một mình.)
Thơ Đường, có bài viết về nỗi
niềm lo lắng cho chồng đi lính thú vùng biên cương không kịp nhận áo của vợ gởi
trong mùa thu lạnh khiến người đọc nao lòng:
Phu thú biên quan thiếp tại
Ngô,
Tây phong xuy thiếp thiếp ưu
phu.
Nhất hàng thư tín thiên hàng
lệ,
Hàn đáo quân biên y đáo vô?
(Chàng lính biên thùy thiếp ở
Ngô,
Gió thu lạnh nổi thiếp buồn
lo.
Một dòng thư viết ngàn dòng
lệ,
Rét đến bên chàng áo đến
chưa?)
Lời nhắn hỏi lo lắng của người
con gái trong thơ Trần Ngọc Lan khiến người đọc nao lòng, thì với Lý Thương Ẩn
nỗi niềm mong vợ gởi áo ấm cũng không khỏi làm người đọc xốn xang:
Kiếm ngoại tùng quân viễn,
Vô gia dữ ký y.
Tản Quan tam xích tuyết,
Hồi mộng cựu uyên ky.
Điệu thương hậu phó Đông Thục
tịch chí Tản Quan ngộ tuyết
(Tòng quân về phía nam vùng
Kiếm Các xa xôi,
Không có người nhà gởi áo
cho mình.
Ở Tản Quan tuyết dày ba thước,
Mơ trở về bên khung cửi
xưa.)
Toàn bài là một nỗi đau giá
lạnh như băng tuyết. Cái rét của giá tuyết trên đường đi cũng không giá lạnh bằng
nỗi cô đơn, không người gởi áo. Nỗi đau buồn ấy, giá lạnh ấy không biết lấy gì
sưởi ấm, đành gởi vào giấc mộng, mơ về tấm chăn uyên ngày xưa, mơ về người bạn
đời.
Nếu trước đây, khi vợ ông chưa
mất, thi nhân luôn mong chờ ngày về sum họp cùng vợ yêu, chờ đợi và hy vọng khi
xưa mãnh liệt bao nhiêu thì lúc này, nỗi lòng ấy càng tái tê bấy nhiêu, tất cả
chỉ còn lại là ảo mộng, là điều ước vời vợi xa xôi. Nỗi cô đơn mất vợ cộng với
việc thất ý trong hoạn lộ khiến thi nhân trở thành trơ trọi, hụt hẫng, trong
trăng ngần đương độ thanh xuân, trong mưa gió não nùng bơ vơ. Thu sang một chiếc
giường trơ, ngoài sân lún phún rêu mờ sắc phong:
Viễn thư quy mộng lưỡng du
du,
Chỉ hữu không sàng địch tố
thu.
Đoan cư
(Thư nhà và giấc mộng về quê
đều mù mịt,
Chỉ trơ chiếc giường trống đối
cùng mùa thu.)
Dạo chơi Khúc Giang, một
danh thắng nổi tiếng đời Đường, mà nào có được một niềm vui, chỉ thấy nỗi niềm
thương nhớ một người đã vắng, và cơn buồn thê lương xâm chiếm lòng tác giả khi
nhớ đến người bạn đời thắm thiết:
Hà diệp sinh thì xuân hận
sinh,
Hà diệp khô thì thu hận
thành.
Thâm tri thân tại tình thường
tại,
Trướng vọng giang đầu giang
thủy thanh.
Mộ thu độc du Khúc Giang
(Khi lá sen mọc lên thì nỗi
hận mùa xuân cũng sinh ra,
Khi lá sen khô đi thì nỗi hận
mùa thu cũng thành.
Biết rằng thân này còn thì
tình này còn mãi,
Buồn ngóng đầu sông, nghe tiếng
nước sông reo.)
Mùa xuân đến hận xuân về;
mùa thu sang hận thu lại. Hận ấy, hận xuân, hận thu kia chỉ có ở những người
như Lý Thương Ẩn. Nỗi hận của mùa thu là nỗi hận của một người mất vợ, mất người
bạn tình. (Vợ Lý Thương Ẩn mất đúng vào khoảng mùa hạ thu). Thế còn sao lại hận
xuân? Hận xuân là bởi sắc xuân tươi nguyên mới mẻ, phô sắc phô hương, mơn mởn
nhựa sống, tràn đầy tình yêu, riêng Lý Thương Ẩn vẫn một mối tình đơn lẻ. Chỉ
có những người chinh phu và chinh phụ lẻ loi, lưu lạc mới dành chữ “hận” cho
xuân mà thôi!
Đọc thơ Lý Thương Ẩn, lại nhớ
đến lời một bài thơ của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh: Cuối trời mây trắng bay, Lá
vàng thưa thớt quá… chỉ còn anh và em, cùng tình yêu ở lại… Còn anh và em
thì còn tình yêu ở lại. Nhưng khi tình yêu còn lại chỉ trong một người mới thấy
thấm thía nỗi da diết buồn thương hoài cảm. Với Lý Thương Ẩn thì dẫu còn một
người ở lại, tình yêu mãi còn. Mới thấy thi nhân muôn đời cách nói thì khác
nhau, nhưng cách nghĩ cách cảm về tình yêu thì gần vẫn thế.
Lý Thương Ẩn là thi nhân của
tình yêu, của cuộc đời, của kiếp người tài hoa. Một tâm hồn dễ dàng rung động
trước những gì nhỏ nhất, tinh tế nhất trong cuộc đời. Một xúc động của tình
yêu, một xúc động của số phận người tài tử cũng khiến cho thi nhân thì thầm hát
ca hay thảm thiết oán than bằng những dòng thơ chân thành. Một người luôn hóa
thân mình trong những lời thơ yêu đương da diết, từ những vần thơ gởi cho những
nữ đạo sĩ, cho những cô gái mang kiếp cầm ca mua vui cho cuộc đời, rồi những vần
thơ viết cho người vợ từ những ngày bên nhau đến những ngày cách xa biền biệt.
Thơ ca là tiếng nói tâm hồn,
là tiếng lòng của thi nhân. Thơ ca thể hiện hết những cung bậc của tình cảm, mọi
suy tư chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người. Như thế, thơ ca mới thật sự trường
tồn cùng tâm hồn nhà thơ và trường tồn trong mỗi tâm hồn độc giả dẫu thời gian
qua đi, dẫu những dòng thơ ấy, dẫu tâm hồn của thi nhân cách xa chúng ta hàng
ngàn năm và hàng vạn dặm.
[1] Phan
Huy Vịnh dịch, tôi theo thuyết cũ, gần đây có người cho rằng bài thơ này do
Phan Huy Thực dịch.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét