1. Những ngày cuối tháng chạp,
trời cao nguyên chỉ còn lướt thướt gió vèo qua những cành cây cao. Ý định trở
về căn nhà cũ đã đến từ một ngụm đắng nằm yên trong trí não. Cơn say mời gọi
tôi quên hết những ngày tháng dật dờ, khiến lòng mềm đi ngoan ngoãn. Đừng
khóc nghe mày. Những tình cảm sẽ làm mày hèn yếu và suốt đời mày chỉ còn là
con bạch tuộc sờ soạng bám víu trong đêm tối. Hãy giữ lòng bình thản như đá gỗ.
Một sự trở về muộn màng. Cuối đường đi tôi sẽ không còn gặp một khuôn mặt nào
nguyên vẹn gần gũi. Căn nhà trên bãi biển nào đó là ngọn hải đăng cho tôi chới
với trông tìm một chút hy vọng nhỏ nhoi một nửa phần đời đã cố vùi quên nhưng
vẫn còn lãng vảng không dứt. Tôi đã bỏ xa tất cả mọi người, kể cả những khuôn
mặt thân yêu nhất, cả chị Huệ, cả Nhàn người tình đầu đem đến cho tôi một thứ
cảm xúc mới lạ của ngày tìm ra tình ái. Tôi đã tự rứt mình ra những ràng buộc
tưởng như khó thể nào từ khước. Phải bước ra khỏi ngưỡng cửa dầu biết rằng mẹ
tôi đã khóc sụt sùi. Hai mươi năm mọc nhánh trong thân thể tôi, tấm thân nhỏ
như con chuột ngày sinh ra cha tôi nhìn bằng con mắt tuyệt vọng. Lớn lên tôi
nghe ông từng nói: “Tướng mày còn làm nên trò trống gì”. Ngày đó làm sao tôi
biết nỗi buồn khổ sẽ xô đẩy đời tôi về những bến bờ xa lạ. Như bây giờ đây,
bà chủ trọ nhìn tôi như một con thú cô đơn. Những câu chuyện nhạt nhẽo kéo
dài buổi cơm chiều lạnh buốt. Tôi im lặng nuốt xong dĩa rau cải, đưa mắt nhìn
ra những mảng nắng hấp hối bên kia ngọn đồi cao.
- Tết này cậu về đâu, hay
cứ ở lại đây với già. Thằng Hai tôi ở lính mãi tận Kontum. Nó giống cậu, suốt
ngày lầm lì không biết buồn phiền chi mà nửa chừng bỏ học xin đi biệt kích. Đồ
con bất hiếu thật cậu à!
Tôi ấm ớ trả lời cho qua
chuyện. Bữa cơm kéo dài mỏi mệt toàn thân tôi nóng ran muốn ngã lăn tìm giấc
ngủ vùi nhưng biết không thể nào chợp mắt. Trí óc tôi chỉ toàn một vùng trắng
xóa. Bóng bà già đứng lên dọn dẹp. Tôi lảo đảo dựa mình vào thành cửa sổ nhìn
đám sương mù bắt đầu lập lờ trên thung lũng. Bên kia những bóng cây đen thẩm.
Một thế giới nào đó thật xa gợi trong hồn tôi nỗi nhớ mập mờ, một hòn đảo mù
khơi dạt dào sóng vỗ đầu ghềnh. Ngày tháng mất hút. Tôi quẹt lửa châm điếu
thuốc run rẩy ở đầu môi. Tôi đã quyết định trở về như một tên phiêu lưu sau
nhiều năm lênh đênh ngoài biển cả, trở về nhìn lại căn nhà dù nơi đó chẳng
tìm được dấu vết nào hàn gắn một tình cảm đã mất.
2. Căn nhà giữa khu vườn nhỏ
nằm trên con đường xuống một bãi biển hoang liêu. Hình như tôi đã ra đời một
buổi tối mùa đông, sau khi cha tôi từ rừng sâu trở về ở trong một gia đình một
người bà con chết đi không người nối dõi. Cha tôi sống âm thầm như cố quên đi
những ngày tháng lao lung. Tuổi trẻ ông hy sinh nhiều cho cuộc kháng chiến
nhưng lịch sử đã qua đi trên đời ông chỉ còn để lại một chuỗi chán chường như
buổi sáng kia thức dậy nhìn bãi biển đầy rác rến bẩn thỉu. Tôi là đứa con
trai đầu tiên và cuối cùng, sinh sau chị Huệ một năm. Chỉ khi lớn lên tôi mới
hiểu được tâm sự của một người hùng thất chí. Kháng chiến cướp đời sống cha
tôi những ngày đẹp đẽ. Tuổi trẻ hy sinh một cách nồng nhiệt nhưng cuối cùng
ông đã bị những thằng bạn phản bội khi cuộc chiến đấu thành công. Xương máu đổ
ra của bao nhiêu người đều vô nghĩa, khi chung quanh chỉ là những lừa đảo, phản
trắc. Cha tôi cũng còn may mắn được nhìn thấy vợ con, nhưng nỗi hận thù vẫn
đuổi theo ăn mòn ngày tháng. Chiều chiều, ông ngồi uống rượu đế ở đầu hiên
nhà. Mẹ tôi lủi thủi không biết nói gì hơn là kiên nhẫn săn sóc những lần ông
say ngủ vùi. Mẹ tôi sai chị Huệ chạy qua nhà hàng xóm xin vôi về ký vào hai
bàn chân ông. Tôi lẩn quẩn ở đầu giường, thỉnh thoảng nghe ông lải nhải những
câu mơ hồ. Chị Huệ đứng rưng rưng nước mắt ở trong góc nhà. Bóng tối sậm xuống
ngoài sân. Mẹ con tôi chẳng thốt một lời chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ vào bờ ập
ập từ cuối đường vọng lại.

Tôi đã sống trong căn nhà
bịt bùng những ám ảnh nghèo túng và nỗi buồn phiền của cha tôi đè nặng xuống
gia đình. Dầu sao tôi và chị Huệ vẫn còn đi học được ở trường tỉnh. Tuổi học
trò thất thễu cùng những ngày lang thang trên bãi cát với chị Huệ. Chiều chiều
chúng tôi dẫn nhau xuống biển, ngồi trên bậc cấp của một lâu đài hoang phế,
nơi nghỉ mát của một tên quan Tây hồi trước. Chị Huệ thường khe khẽ những câu
hát nhè nhẹ mênh mông. Chị hơn tôi một tuổi, thông minh và đẹp nhất trong
vùng. Tôi nhiều lúc được chị cho xem những bức thư tình của mấy người con
trai gởi đến hay dấu trong cuốn vở, nhưng tôi tin rằng chị chưa hề yêu ai. Tuổi
18 của chị buồn như một bông hoa mùa đông. Tôi thích nhìn mắt chị long lanh
những lần chị khóc vì bị mẹ tôi la mắng. Những lần đó, chị thường kéo tôi xuống
ven bìa nước thủng thỉnh dạo chơi cho đến lúc trời sẫm tối. Ánh đèn lấp lánh
ngoài khơi. Mãi sau này tôi mới khám phá hình ảnh so sánh để diễn tả đôi mắt
chị Huệ.
Chị Huệ nhìn tôi bằng đôi
mắt ngạc nhiên, không ngờ tôi có thể hành động liều lĩnh và hăng hái đến như
thế. Tôi muốn nói thật nhiều cho chị Huệ nghe về những tin tức báo chí hằng
ngày, về ông Thầy X cũng bị bắt, tôi muốn giải bày cho mọi người thấy rõ ít ra
mình cũng phải tham gia làm hậu thuẩn cho những đòi hỏi hợp lý.
Sau ngày tôi bị bắt, cha
tôi càng lầm lì hơn. Thỉnh thoảng ông hỏi tôi sau này định làm gì, có muốn đi
học nữa không. Trường đuổi tôi ra khỏi lớp. Tôi buồn bã nói để tôi tự học ở
nhà cuối năm đi thi và kiếm cớ lên cao nguyên tìm việc làm.
3. Đêm phả hơi lạnh buốt trên
da mặt. Tôi bước lên con dốc dẫn đến căn nhà trên ngọn đồi. Chắc chị Hiền còn
thức. Những bậc cấp mù mờ dưới ánh điện vàng yếu ớt. Tôi chập choạng đưa tay
gỏ vào cánh cửa. Tiếng dép kéo trên sàn nhà. Chị Hiền co ro trong chiếc áo
len màu đỏ kéo cao khuất cổ đứng nép vào một bên tránh luồng gió ập vào căn
phòng. Chị Hiền kéo ghế mời tôi ngồi xuống, chiếc bàn con có chiếc áo len đan
bỏ dở. Một bình hoa, mấy bông màu tím sắp héo. Hiền là bạn học cùng lớp với
chị Huệ; ở đây tôi có thể biết tin tức về gia đình. Hiền gầy ốm, làm giáo
viên tại một quận lỵ xa thành phố. Mỗi ngày chị thức dậy sớm đi đến trường
trên chuyến xe đò thứ nhất. Những buổi chiều chị trở về lúc trời bắt đầu đổ lạnh.
Tôi thường gặp chị trên con dốc đó. Tà áo lụa vàng lướt thướt trên những bông
hoa nhỏ màu tím nở đầy quanh năm. Từ ngày đổi lên đây, Hiền ở với người dì lớn
tuổi suốt ngày buôn bán ngoài chợ để trống căn nhà heo hút vắng vẻ. Mấy lần
bà nói tôi sang đó ở cho vui. Tôi từ chối vì đêm đêm phải đi dạy học kèm cho
mấy đứa nhỏ sợ về muộn.

Chị Huệ còn là chiếc cầu
trong trí nhớ mỗi lần tôi nghĩ đến người con gái bên nhà. Nhàn có đôi mắt buồn
như chất đầy phiền muộn mỗi lần tôi bắt gặp nàng ngồi nói chuyện với chị Huệ.
Hai người học hơn tôi một lớp, dẫu vậy cũng chẳng có khoảng cách nào cho đến
một hôm tôi hôn lên mắt Nhàn. Nỗi điên khùng nào đã đẩy tôi vào cuộc phiêu
lưu. Tôi có lý do để tha thứ cho mình, như tình cờ của định mệnh và Nhàn đã
chấp nhận một cách êm đềm. Chị Huệ ngạc nhiên xem như đó chẳng qua là một sự
rồ dại. Tình yêu chẳng đưa tôi đi xa hơn những câu chuyện thân mật, những mơ
mộng đẹp xa vời. Năm sau, gia đình Nhàn về trong Nam. Kỷ niệm thơ ấu xa
dần, tôi chỉ biết âm thầm buồn bã.
Những ngày rục rịch biểu
tình xuống đường từ mấy tỉnh miền Trung lan vào tỉnh lẻ, cha tôi ngồi uống rượu
với một người lạ mặt, trầm ngâm đưa mắt nhìn ra con đường cắt qua trước mặt
nhà. Tôi biết cha tôi đang bàn chuyện xoay quanh tin chính trị ở Sàigòn về
không khí xáo trộn sắp bùng nổ. Ông rót thêm rượu vào ly nhưng chú Trọng (người
lạ mặt) xua tay:
- Thôi anh, tôi còn phải về
sớm. Đêm nay tụi nó viết biểu ngữ, mình phải qua đó trông chừng.
Tôi nghe tiếng cha tôi thở
dài tiễn chú Trọng ra cổng.
Sáng hôm sau tôi thấy chú
Trọng trong đám biểu tình. Tôi có mặt trong những người hò hét đả đảo. Chị Huệ
hoảng hốt nhìn tôi kéo biểu ngữ vào lớp chị hô hào bãi khóa. Kết quả là tôi bị
giam ở tỉnh trong hơn một tuần. Mẹ tôi sợ hãi. Chị Huệ kể cha tôi vẫn bình
tĩnh uống rượu với chú Trọng. Một buổi trưa tôi gặp lại chú đón tôi ra khỏi tỉnh
đường. Chúng tôi chẳng nói gì với nhau. Chú cười. Rồi từ đó tôi không còn gặp
người đàn ông ấy. Có tin chú vào bưng hay bị bắt đưa ra Côn đảo chưa trả về.
Những ngày bồng bột sôi nổi
qua đi để lại trong tôi một thứ buồn nản lạ lùng. Mẹ tôi khóc:
- Con ốm yếu chỉ nên gắng
học hành sau này kiếm việc nuôi lấy thân, chuyện người lớn mặc người ta làm
gì đừng chạy theo. Ba mày già đời còn khổ vì nỗi ấy không thấy à.
Ngày tôi gặp Hiền bước xuống
xe hàng tay xách chiếc vali lớn, trời mưa lâm râm đọng mấy giọt nước long
lanh trên mái tóc dài. Nét mặt ngỡ ngàng của một nữ sinh bắt đầu giáp mặt với
đời sống khiến tôi bâng khuâng xúc động như hình ảnh một con chim vụng về đập
cánh lần đầu để bay đến một vùng trời xa lạ. Tôi mừng rỡ hỏi thăm tin tức gia
đình.
Từ khi tôi bỏ đi năm
ngoái, cha tôi mỗi ngày héo hắt thêm vì những cơn say xé nát thân thể già
nua. Ông uống rượu và chửi bới đủ mọi hạng người. Còn cơn đau nào hỗn loạn bằng
nỗi dằn vặt triền miên của một người thất chí. Chị Huệ bỏ học đi làm trong một
sở Mỹ. Dù tôi tin chị tôi có tâm hồn cao đẹp nhưng thật khổ sở khi nhận ra một
thực tế quá phủ phàng đã đến với những người con gái mong cầu miếng cơm manh
áo. Cha tôi đã chửi rủa, xua đuổi chị Huệ ra khỏi nhà không biết bao nhiêu lần.
- Tao sống thế nào nỗi. Đồ
đĩ thỏa. Nhục quá nỗi nầy thì chết đi con ơi!
Chị Huệ cắn răng khóc lóc,
nhưng chính cha tôi đã chết trước khi chị Huệ sinh ra một đứa con trai tóc
vàng bầu bỉnh. Hình như ông đã kết liễu đời mình bằng một chai dầu nóng hay ống
thuốc nhức đầu hạng nặng. Mẹ tôi khóc hết nước mắt, cuối cùng chỉ còn cách
nuôi đứa cháu lai để chị Huệ tiếp tục đi làm nơi khác.
Từ lúc gặp Hiền, đời sống
lang thang ở đây bỗng có chỗ dừng chân trò chuyện. Những lúc buồn bã tôi sang
nhà Hiền ngồi tán gẩu bâng quơ, đưa mắt nhìn theo những mũi len dịu dàng trên
tay chị, hay nghe chị kể về người chồng sắp cưới bỗng đâu mất tích trong một
cuộc hành quân.
Lần này tôi mời chị dạo xuống
phố. Trời rét như cắt. Tôi co ro trong chiếc áo len cũ không đủ ấm. Qua một
vòng phố, chúng tôi rẽ xuống con đường vắng vẻ. Trong mấy căn nhà vọng ra tiếng
ấm áp bản nhạc có lời tha thiết trong đêm khuya. Người-ơi-mau-về-đây, về-bên-bếp-hồng-đang-chờ-ai.
Tôi nghe đau nhói ở tim. Con đường im lặng chỉ còn nghe tiếng guốc gỏ nhẹ
trên mặt nhựa. Phải chi tôi có một gia đình ấm êm đợi chờ xum họp. Tôi hỏi chị
Hiền biết tin tức về anh ấy không, Hiền buồn bã đáp:
- Mất tích thì coi như chết
rồi. Hiền hết cả hy vọng. Tín xem có người nào bị bắt mà được thả về đâu?
Tôi nói:
- Cũng như gia đình tôi
xem tôi như đã chết. Mà tôi đang hấp hối thật. Một người không còn ước vọng
gì nhen nhún trong lòng thì coi như không còn có mặt trên đời. Chị xem còn ai
chờ mong tôi đâu.
- Bác gái bệnh nặng quá
không còn biết gì. Còn Huệ chắc buồn vô cùng. Đứa con đã lớn. Tại sao Tín
không về nhà lúc bác trai mất? Dầu thế nào ông cũng là người sinh ra mình.
Tín không biết như vậy là tàn nhẫn sao?
Tôi muốn Hiền thôi đừng
nói nữa. Tôi thương mẹ tôi cũng chẳng oán hờn chị Huệ. Không ai hiểu nỗi khổ
tâm phải nhìn sự đổ vở chính giữa những người thân yêu nhất. Đứa con chị Huệ
là một chứng tích bi thảm của một gia đình tán tận. Tôi là một đứa con trai
duy nhất vô dụng dù có mặt hay không ở đó. Tôi chống trả được gì khi hai bàn
tay trắng trơn, không hề đón nhận được chút khích lệ nào để sống.
- Chị Hiền, Tết này tôi sẽ
trở về nhà, về một lần cuối cùng nhìn lại khuôn mặt mẹ tôi. Và tôi cũng sắp từ
biệt chị luôn rồi đó. Tết xong tôi vào trại nhập ngũ.
Sương xuống thật dày, lạnh
cóng. Tôi nghe tiếng chi Hiền khịt mũi. Mái tóc tôi ướt đẫm. Hiền kéo áo măng
tô lên cao, chiếc khăn voan rơi xuống đất. Tôi lặng im nghĩ đến chị Huệ, đến
Nhàn. Nhàn thích khăn voan màu trắng. Dạo đó tôi hứa mua cho Nhàn một chiếc
trong buổi chiều ngồi trên tảng đá cao ven bờ nước mơ mộng theo mấy cánh buồm
trắng ra khơi. Bây giờ không còn mong gặp Nhàn và chắc nàng cũng đã quên.
Đêm thật khuya. Bàn tay chị
Hiền vẫn nằm nguyên trong tay tôi từ lúc nào, tưởng như những ngày tôi cùng
chị Huệ dẫn nhau đi chơi ngoài bãi xa thật tối mới về nhà. Tôi chẳng dám nhìn
trong mắt Hiền. Lòng tôi buồn thảm lạ lùng, thắm thía nỗi cay đắng xót xa
nghĩ đến chị Huệ, đến Nhàn những ngày thơ trẻ. Bên tôi có lẽ Hiền đang nghĩ về
người đàn ông suýt đến với đời mình; làm sao tôi biết được chị đau khổ đến mức
nào. Đời chị là một vết thương non chưa hẳn thành đau đớn. Những ngày dang dở
tiếp theo trong niềm đợi chờ vô vọng. Chiến tranh ở đâu đó gần gủi với chị và
rồi tôi cũng sắp lăn vào như chính cha tôi đã lao mình trong rừng sâu sống những
ngày cùng khổ. Một thế hệ qua rồi, còn chúng tôi vẫn đang thập thò trước những
cạm bẫy mới. Những chị Huệ đang lê thê tủi nhục, những thằng người như tôi
không còn gì mơ ước ngày mai và chị Hiền sẽ còn chịu đựng, mất mát đến bao giờ.
Trên đường trở về nhà, đêm
đã gần giới nghiêm. Ở đầu con dốc, chúng tôi đứng lại nhìn xuống thành phố
bên kia nhấp nhô mái nhà lẫn trong những vũng ánh sáng của đèn đường phủ mù
trắng đục. Lòng tôi mềm xuống nghĩ đến khi phải giã từ cao nguyên và Hiền.
Tôi bỗng nghẹn ngào trong cổ họng khi trên vai tôi đượm mùi ấm áp của một hơi
thở phập phồng âu yếm….
Ý Thức số 7 ngày 15 tháng
1 năm 1971
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét