Ðường lên núi cao
Chàng dũng sĩ thắng cương ngựa.
Con ngựa mầu nâu, lông mướt mịn, ngước cao đầu lắc mấy cái cho đỡ mỏi cổ rồi
thong thả bước xuống khu cỏ xanh. Chiếc bờm bay theo gió mỗi khi nó chồm về
phía trước. Bốn chiếc cẳng cao cuồn cuộn bắp thịt chắc nịch. Nó hí một tiếng rồi
tung vó như muốn băng mình vào một khoảng tự do bát ngát. Ðồi cỏ non xanh ngợp
mắt chạy dài từ chân đồi xuống mãi thung lũng phía xa. Thỉnh thoảng có những bụi
hoa lau mầu trắng bạc lấp lánh khi nắng ngả. Chàng dũng sĩ nhìn con ngựa tung
vó trên thảm cỏ mà thấy lòng mở ra, đón tới một tiếng gọi thật cao cả như thảm
cỏ mênh mông và vó ngựa là chính chàng đang đắm mình trong tiếng gọi đó.
Chàng chỉ khoảng hai mươi.
Khuôn mặt hơi hình trái soan. Ðôi mắt sáng tin tưởng. Trong sáng của ánh mắt với
nụ cười yêu đời trên nét mặt làm tỏa ra một sức sống hoạt bát, lanh lẹn. Vùng
trán biểu lộ thông minh. Mái tóc bay theo gió chiều phiêu bạt. Ống tay áo rộng
bay phành phạch trước gió mạnh. Áo choàng xanh mầu nước biển in đậm lên nền cỏ
đang nẩy mầm xanh mơn mởn như mầu xanh chuối non. Chàng chống tay lên thanh
gươm dài đeo bằng sợi giây vải mầu vàng sậm. Chiếc chuôi gươm bằng bạc thỉnh thoảng
phản chiếu ánh sáng mặt trời lóe lên những ánh sao sáng ngời.
Chàng dũng sẽ trẻ đứng một
mình bên lưng đồi thoai thoải. Tâm hồn chàng rộn lên ước mơ của hi vọng. Chàng
đang sống những ngày đẹp nhất trong đời chàng. Lí tưởng căng phồng như con thuyền
no gió đang ra khơi. Gió núi về thênh thang. Trời lồng lộng mây bay. Và mầu cỏ
ngút ngút chạy về phía cuối chân trời. Lòng chàng cũng mở ra như thế. Tim chàng
đang ấp ủ một giấc mơ phi thường. Chàng đang trên đường đi tìm giấc mơ đó.
Chàng đã bỏ lại phố phường, từ giã bạn bè, xin kiếu mẹ cha. Chàng đang lên đường
cho một giấc mơ kì diệu của mười lăm năm về trước.
Chàng nhớ ngày chàng chỉ là
cậu bé lên bốn, lên năm. Một hôm cậu đang đứng ngẩn ngơ bên đường cát bụi bay mịt
mù. Cậu bé thấy chân tay dơ bẩn, đầu tóc rối bù cát lấm. Chiếc áo loang lổ những
vết nhơ lấm lem. Cậu chỉ là đứa bé thích nghịch đất cát như bao tuổi thơ khác.
Cậu đang đứng lẻ loi một mình bên đường, thì có ông già hiền từ đến dẫn cậu đi.
Ông già phúc hậu, mái tóc bạc phơ, chòm râu dài đẹp như đuôi con sóc bông. Cậu
để ông dắt tay. Rồi trong khoảnh khắc cậu thấy hiện ra một con suối trong. Cỏ
và hoa nở khắp rừng. Chim hót líu lo như mùa xuân có vũ tiệc. Tiếng chim vút
lên cao như con diều gặp gió mạnh rồi thả mình lững lờ, có lúc tiếng chim lại
chìm xuống như con diều đứt giây, lao chao. Cậu chưa bao giờ thấy cảnh thần
tiên như thế. Trong phút chốc, cậu quên hết tất cả quá khứ và khu làng nhỏ của
cậu. Những cánh bướm rực rỡ rủ cậu vào cuộc chơi đuổi bắt thú vị. Bên bờ suối
là đá sạch cỏ non mọc ở giữa những khe đá như giải nhung xanh. Cậu cúi đầu nhìn
xuống dòng suối. Từng đàn cá nhỏ mầu vàng óng tung tăng trong hạnh phúc. Ðuôi
cá ngũ mầu xanh xanh, đỏ đỏ xòe ra như giải quạt nan ve vẩy dưới suối êm.
Ông tiên nhân hậu nhắc bổng
cậu lên rồi thả cậu xuống dòng suối. Cậu thấy dòng suối trở nên đục. Ðất cát dơ
bẩn của cậu làm thành những làn nước đen như có khói. Nhưng con suối đem những
làn nước dơ ấy chảy xuôi về một nơi nào đó mà cậu không biết. Dòng suối lại trở
nên trong vắt và lúc ông tiên đem cậu lên bờ thì chiếc áo thành mới tinh. Da cậu
trắng hồng. Cậu bé thấy mình đẹp hẳn ra. Những ngón tay mũm mĩm chứ không đen đủi
nữa. Móng tay không còn cáu ghét và lòng bàn tay hồng hào như tay thiên thần. Cậu
bé đang sung sướng thì tự nhiên cảnh vật thần tiên từ từ mờ nhạt rồi biến mất.
Tỉnh dậy khỏi giấc chiêm bao cậu bé thấy mình xấu xí chứ không đẹp như trong giấc
mơ.
Theo thời gian cậu lớn dần.
Bao nhiêu giấc mộng cậu đều quên hết chỉ nhớ riêng có giấc chiêm bao đêm đó
thôi. Cậu tin tưởng rằng con suối đẹp ấy hiện diện ở đâu đó trên cõi đời này.
Nuối tiếc bóng hình đẹp đẽ sau khi được ông tiên đưa xuống suối tắm. Cậu ước mơ
đi tìm dòng suối kì diệu.
Bây giờ, mười lăm năm sau, cậu
đã là một thanh niên tuấn tú. Chiều nay, dừng chân bên đồi cỏ với con tuấn mã
là một trong những buổi chiều cậu đang rong ruổi đi tìm dòng suối ấy.
Con tuấn mã vừa chạy vừa hí
rộn ràng. Nó không giấu nổi nỗi vui đang dâng lên như sóng. Mỗi lúc gió càng mạnh.
Bên cạnh rừng phi lao, một người, một ngựa tung vó hướng về phía mặt trời. Tiếng
vó ngựa đập trên bờ đá nghe rộn ràng như khúc nhạc hùng của đoàn binh đang lên
đường.
Thời gian rơi xuống theo
bóng những hoàng hôn. Lại một chiều nữa dừng chân. Ðây là lần đầu tiên con ngựa
nâu thấy biển. Gió biển lành lạnh mang theo hơi nước, một cảm giác nó chưa từng
bao giờ có trong đời. Những khu vườn rộng, những đồi cỏ đã cho nó một cảm giác
nao nao vì nó có thể chạy nhẩy mà không sợ vấp ngã. Nhưng khu vườn vẫn còn cây.
Ðồi cỏ rộng cũng vẫn còn lắm giây leo vướng víu. Biển thì hoàn toàn khác hẳn.
Biển vô tận. Nó chưa bao giờ thấy mầu xanh hùng tráng như thế. Nó tưởng tượng rằng
nó có thể nhắm mắt mà chạy. Chạy về phương bắc, chạy về hướng nam, chạy khắp cả
mà không có gì cản lối. Lòng nó nôn nao hồi hộp. Ý nghĩ về tự do đó làm sức sống
căng đầy bắp thịt. Gần đến biển, nó đứng giơ hai chân lên trời. Bờm lông bay
tơi bời vì gió mạnh như rừng cờ của đoàn binh ra trận. Nó hí vang cả khu rừng
phi lao. Trên bờ đá mầu xám tro và vàng nâu, áo người dũng sĩ nổi lên như bức
tranh. Rừng phi lao phía sau ào ào như bão tố mỗi khi gió đổ về.
Gió mạnh quá làm chàng phải
giữ chặt vạt áo. Tóc chàng trôi nổi bềnh bồng. Chàng có vẻ đẹp của một sĩ quan
đang đứng quan sát trận địa để thúc quân. Biển vô tận. Mầu xanh của biển chập
chùng, ngút ngút. Mặt trời đang lên bừng bừng. Bờ đá. Gió. Sóng. Chàng dũng sĩ
đứng đó cho gió thổi. Nghe sóng vỗ lời thề. Nhìn biển mặc khải những điều huyền
nhiệm. Và đón nhận Ý thâm sâu của mặt trời.
BÀI CA CỦA BIỂN
Hãy cúi đầu khuất phục vì chẳng
có quyền uy nào không bị biển cả xóa nhòa. Biển bao la như tình thương thập giá.
Mà biển cũng tàn bạo như lửa cháy đốt thành Sôđôma. Có tiếng than sau cơn động
đất kinh hoàng. Có đổ vỡ ngổn ngang. Nhưng ít nhất cũng còn chút chứng tích để
nhớ, để thương. Biển thì lạnh lùng. Biển dửng dưng. Biển không có xót thương.
Chỉ một cái rùng mình nhẹ biển chẳng để lại dấu vết của đớn đau. Những cánh buồm
ngạo mạn nhất, những lòng người sỏi đá nhất, biển không cần thách thức, một làn
sóng ập đổ. Chìm sâu. Biển lại bình thản trở về khuôn mặt của biển. Lặng lẽ.
Không dấu vết. Dửng dưng lạnh lùng. Biển nuốt trửng cả mặt trời huyền bí. Sâu
lòng biển là những nấm mồ trân châu ngọc quý!
Nhưng cũng hãy ngợi ca biển
vì chỉ có biển mới có quyền năng thanh tẩy. Biển thiết tha như thập giá. Biển
có tâm hồn chúc phúc cho trong ngắt nở giữa vẩn đục phù sa. Thập tự vẫn nghìn
năm giang tay chịu đọa đầy cho hồn nhân loại nhẹ bớt sầu thương tội lỗi. Biển vẫn
mãi mãi trung thành mở tay đón nhận những dòng sông ngàu đục rác rưởi hôi tanh.
Chẳng có tội đời nào về với thập giá mà không được biến đổi thành ngọc ngà. Chẳng
có dòng sông phù sa nào về với biển mặn mà không thành sương trời trắng nõn
trên đồi xa. Cánh tay thập giá đã giang thẳng giữa mùa hạ cho hồn tôi có bóng
mát nghỉ chân. Biển đã sai đi những dòng mưa mùa cho rừng khô lá nở nụ, ươm
hoa.
Thập giá ngàn đời yêu
thương. Biển mãi mãi là con đường mời dòng sông đi về.
LÍ TƯỞNG CỦA ÐÁ
Người có sự sống nên người
đã chết. Ðá không cần sự sống vì đá vĩnh cửu ngàn năm. Chiều đông. Tháng hạ. Rừng
thu. Nắng xuân. Lòng người rung lên hạnh phúc như sợi tơ vào lúc gió xuân sang
nhưng lại chùng xuống như giây đàn sai nhịp vào lúc cõi vắng ủ dột của mùa mưa.
Ðá cứ muôn đời là đá. Sinh ra làm người nhưng ai đã sống trọn vẹn tiếng gọi phải
sống là người. Ðá cứng lòng đá không lỗi phạm.
Mưa phùn gõ những phím lặng
và rừng hoa héo hắt. Khi đông về là sầu giăng bay rối là rừng cây trầm ngâm cúi
mặt. Khi tiếng thu thở dài là rừng cây u buồn tiễn đưa. Ly biệt. Tan tác chia
phôi. Có thương nhớ muộn phiền. Ðá cứ vuốt xuôi thời gian đi qua, cứ lớp lớp
ngìn sau đổ tới. Ðá ngàn năm vẫn là đá. Ðá không cảm lạnh vì gió mùa thu. Ðá
không buồn vì nắng quái mùa hạ.
Tôi ẩn náu bên bờ đá cho mũi
tên độc của kẻ thù bắn gẫy. Ðá là thành lũy che chở tôi. Ðá không sợ hãi trước
bão tố quyền uy. Ðá không thách đố nhưng không nhượng bộ. Khốn cho kẻ nào giơ
chân đạp đá nhọn.
LỜI THỀ CỦA SÓNG
Còn giáo đường thì còn lầu
chuông. Còn biển thì còn sóng vỗ. Rì rào. Hơi thở của biển gởi về vũ trụ. Sóng
chẳng bao giờ mỏi mệt vỗ khúc ru ngái ngủ, biếng nhác. Tháp chuông có thể u buồn
vì không có lời chuông phổ khúc nhạc thương. Sóng cứ rì rào. Ðêm. Ngày. Sóng vẫn
mãi mãi ngàn đời. Nắng. Mưa.
Lòng người có thể bỏ lối lên
cao, quên lầu chuông hoang vắng. Lòng người có thể để lửa tin yêu trong tim lịm
tắt, có thể u hoài thất vọng dâng lên. Lòng người có thể lạc lối đi xa. Lòng
người có thể ngẩn ngơ rối bời đứng nhìn lựa chọn phân vân.
Sóng cứ ru lời viên miễn.
Sóng chỉ chọn lựa một lần cho được làm sóng rồi sóng ngàn năm trung tín với lời
thề. Lòng người có thể đam mê. Sóng ngàn năm trong lòng biển cả. Sóng thật thà
đem lời thủy triều gởi lên vũ trụ làm điệu trầm ca. Hãy học ở sóng lòng thủy
chung. Hãy nhìn chiều sóng với dáng đổ trung thành.
Í CỦA MẶT TRỜI
Như lời thiên đàng rải xuống
nhân gian, cho người khôn ngoan, cho kẻ bất hạnh. Mặt trời chiếu sáng nhưng
không khoe khoang. Ðịa đàng thủa xưa chưa có lời dụ dỗ của Evà, địa đang hôm
nay với gian nan của Ađam vẫn chỉ có một mặt trời. Mặt trời vẫn chỉ có một thứ
ánh sáng.
Thập giá yêu tất cả. Mặt trời
không xa lạ với gã ăn mày, không ngại làm quen với kẻ trắng tay. Mặt trời không
sa ngã mà chọn là của riêng ai. Mãi mãi là lửa. Trọn đời vô tư.
Như thập giá kiên nhẫn đợi
chờ. Mặt trời thở ấm cho đời, cho tôi. Như thập giá nghìn năm không bao giờ tăm
tối. Mặt trời nghìn năm chẳng bao giờ lầm lỗi. Có thập tự nên có cứu rỗi. Có mặt
trời nên mới có tôi, có đời.
Như thập giá khiêm tốn giã từ
bào thai của trời, sinh xuống làm người đi chân đất. Mặt trời đã chân tình cúi
đầu cầu kinh, đã xin biển cả rửa tội mỗi ngày lúc mới hừng đông. Như thập giá
đã đem sự sống đi trên cõi chết. Mặt trời đã phá bóng đêm đốt cháy ngọn đuốc
cho tôi biết đường đi lên.
Một mặt trời mà mỗi ngày một
khai sinh. Xin cho hôn nhân cũng thế. Một người yêu mà mỗi ngày một tình yêu.
Hãy về cùng thập giá. Xin được như mặt trời.
Con tuấn mã đứng nhìn biển
mà không yên chân, mầu xanh của biển như thúc dục nó chạy tới. Thỉnh thoảng nó
lại hí vang trời. Chàng dũng sĩ lắng nghe biển cả. Cúi đầu nhận ý của sóng. Trầm
tư về lí tưởng của đá. Và cầu kinh với mặt trời. Những chân lí đơn sơ mà chàng
thấy khó học quá. Nhỏ bé mà lại thênh thang rộng lớn. Trái tim chàng không chứa
hết. Trí tuệ chàng không lãnh hội đủ. Tất cả đều cao vượt tầm tay ngắn. Chàng
thấy mình nhỏ như con ốc sên bò từng bước lần mò bên rừng phi lao quá thăm thẳm.
Ðây mới là bước đầu đi tìm dòng suối. Ðây mới chỉ là lời nói của một góc nhỏ
trong vũ trụ bao la. Người dũng sĩ bước từng bước chậm, suy tư.
Trăng sáng vằng vặc. Ðêm ở
biển thật diệu huyền. Rừng sao lấp lánh ở rất cao. Ngàn sao cũng óng ánh ở rất
thấp. Trên trời cao. Trên mặt biển. Trăng đổ ánh vàng xuống bờ đá. Trăng rải
sáng xuống sóng biển nhấp nhô. Sóng bạc đã thành những giải lụa vàng, sáng ngời
nối đuôi nhau đến vô tận ngả nghiêng theo lời ru của gió.
Ðã mấy mùa trăng? Mầu biển
có nhạt phai? Rừng phi lao có thay lá? Chàng không nhớ rõ. Lãng đãng. Phiêu du
bồng bềnh. Thời gian chập chùng. Chàng nghe như có những biến đổi trong hồn. Lời
nói của biển quá trầm ngâm. Ý của mặt trời làm cho chàng già dặn. Miệt mài của
sóng cũng làm cho chàng biết dè dặt khi mơ ước. Tâm hồn chàng đã khác xưa. Và
nghe như cả thể xác cũng đã biến đổi.
MƯỜI NĂM SAU
Mới thoáng đó lắng nghe lời
nói của vũ trụ. Mới thoáng đó chưa thuộc bài học thứ nhất của đá, chưa hiểu cạn
ý của sóng, chưa bắt được lời ca của biển mà đã gần mười năm trời qua. Chàng
hôm nay không còn là chàng thanh niên trẻ dắt ngựa ngồi nghỉ ở ven đồi nữa. Chiếc
áo choàng màu xanh cũng đã lốm đốm vết tích thời gian. Phải mất mười năm dừng
chân học bài vỡ lòng trên đường tìm về núi cao.
Một sáng bình minh rực nắng
hồng, chàng lên đường tiếp tục cuộc rong ruổi trường chinh. Bài học vỡ lòng đã
gợi ý cho chàng chất liệu để suy tư. Ðể nhìn mình, để kiếm tìm hàm số liên hệ
giữa chàng và vũ trụ. Trên đường đi, chàng bắt đầu độc thoại:
- Tôi là ai trong vũ trụ?
- Ngươi là kẻ đến từ cát bụi
của vũ trụ, rồi lại trở về với bụi cát. Vũ trụ là tất cả, là tuyệt đối, là vô
biên, là quyền năng, là tình thương.
- Vì sao tôi lại sinh ra?
- Ðể lãnh ân lộc của vũ trụ.
- Vì sao tôi lại chết đi?
- Ðể vũ trụ ban tặng hạnh
phúc.
- Trong thời gian giữa sinh
ra và chết tôi được kêu gọi để làm gì?
- Lắng nghe lời của vũ trụ:
Phá đi một đập ngăn gian dối
để dòng nước thành dòng sông thật thà luân chuyển.
Cắt đi vòng kẽm gai ích kỉ để
đàn bò gầy khỏi đứng nhỏ lệ nhìn cánh đồng cỏ non bát ngát ngoài kia.
Rỡ xuống một mái ngói tham
lam cho ánh sáng bình yên dọi vào căn hầm tối. Hãy gọi mặt trời. Hãy xin chút lửa
đem xuống vực sâu cho người hành khất tìm lối đi ra.
Phá đi hàng rào thô bạo cho
bầy bướm thơ ngây vào thăm những luống cúc vàng.
Hãy pha mật ong trong li nước
đầy.
Hãy biến nhà tù trở thành
trường học.
Chàng dũng sĩ thúc con tuấn
mã phi nhanh hơn. Con ngựa nâu không mệt mỏi nhưng còn hứng chí tung vó hồng
đua theo lá rừng, theo gió mà lướt tới. Những lời độc thoại tựa như những đốm lửa
tí tách báo hiệu một cánh đồng rực lửa sẽ bùng cháy nơi đầu núi. Lí tưởng tìm về
non cao hứa hẹn những giọt sương ngọt, một dòng suối kì diệu. Chàng xiết chặt
giây cương. Mắt sáng ngời tin yêu. Cuộc đời chung quanh chàng đẹp quá. Ðúng ra,
không phải cuộc đời chung quanh chàng mà là cuộc đời trong hồn chàng. Khi cuộc
đời ấy đẹp thì tất cả đều đẹp.
Chàng đi xa lắm. Thời gian
chảy, thời gian trôi đưa chàng vào một khúc đường mới. Ðường mới nhưng cũng chỉ
là một nối tiếp trên lối về đỉnh núi cao. Chàng thấy thoang thoáng mùi hương rất
lạ, mà cũng như đã quen thân. Lạ, vì đã lâu rồi chàng không cảm thấy. Quen, vì
một thủa chàng đã gần gũi, đã bắt gặp. Trên khúc đường mới có lấm tấm mưa phùn.
Ðôi lúc chàng đã run run vì gió lạnh. Rừng cây trước mặt hình như không còn là
rừng phi lao vi vút mà có gai thấp cao, gai dầy mỏng.
Bước chân ngựa cũng bắt đầu
chậm. Một chiều chàng dừng chân lắng nghe và chàng đã thực sự thấy gió, mưa, nỗi
nhớ của hương, rừng và gai.
CÔ ÐƠN CỦA MƯA
Có lời ca bảo giọt mưa là những
giọt lệ rơi lã chã trên xác con lạnh giá. Mưa rơi đầm đìa, mưa rơi trên lá, mưa
làm ướt áo mẹ già. Mưa mang sầu giăng mắc đó đây. Mưa trong hồn hay mưa ngoài
trời, nếu mưa không dứt vẫn là những tiếng mưa che tiếng nụ cười.
Mưa nhạt nhòa. Mưa làm dòng
sông nổi sóng xô đẩy bóng thuyền nan. Mưa làm hoa lá tơi tả. Ðêm mưa tí tách là
đêm mưa vào hồn từng giọt sầu.
Ánh lửa bập bùng. Ðống than
hồng nổ lắp bắp reo vui trong lò sưởi. Nhìn những tàn than đỏ bay từng vệt dài
theo ống khói. Một li trà nóng. Một bàn tay thân thương. Ấm cúng quá! Êm đềm
quá! Có ai mà muốn lên đường trong gió bụi mưa sa với những chiều ảm đạm như thế.
Có ai mà không ngại ngùng. Mưa rơi cản lối ngăn.
Ðường của chàng đi đã vắng
trời quang mây tạnh. Bây giờ lại còn gió bay, lại còn ướt sũng vai gầy thì nó
còn hiu hắt đến đâu. Mưa làm chim ướt cánh. Mưa làm rừng già thôi vang tiếng
hót. Mưa ngăn lối chim bay về tổ. Mưa đem về tan tác cô đơn.
THỬ THÁCH CỦA GAI
Có người đi gieo lúa, rồi hạt
rơi bên vệ đường, hạt rơi trong đất tốt. Hạt được một trăm, hạt được sáu chục.
Có những hạt rơi trong bụi gai. Phấn đấu mà ngoi lên. Chằng chịt bó gai già phủ
xuống. Gai là hàng rào giới hạn. Họ thích tặng nhau những cành hồng có gai vì
cho đi nào cũng không thể là dâng hiến hết lòng. Tặng vật kỉ niệm dấu ái đến
đâu thì cũng chỉ là một phần đời chứ chưa là cả cuộc đời. Gai của những đóa hồng
ý nghĩa là đó. Cho đi đấy mà vẫn giữ lại. Mời nhau vào chơi mà vẫn có hàng rào.
Gai trên lối đi. Gai trong
lòng người. Người ta không thể tìm được những cành hồng không có gai. Ðành vậy,
cho nhau màu hồng của hoa, nhưng cũng cho nhau đau đớn của gai. Nhận của nhau tấm
lòng cũng là đón những mũi tên. Gai là hàng rào, thì chối từ gai cũng là chối từ
bước vào khu vườn quý hóa mà gai gìn giữ. Chối từ gai thì cũng mất hoa. Gai cản
ngăn cho bàn tay ngại ngùng rút lại. Gai chằng chịt phủ xuống cho gai tỏ sức
quyền uy.
Chàng dũng sĩ nhìn lối đi trổ
nhánh gai dài. Gai mầu nhiệm nhất là gai trên vòng đầu Ðức Kitô. Chàng thấy cả
hai, gai trên lối đi trước mặt và gai trong tâm trí.
NỖI NHỚ CỦA HƯƠNG
Thoang thoảng như có hương của
một loài hoa quen. Ðã lâu rồi chàng dũng sĩ tưởng là bóng hình loài hoa đó đã
nhạt nhòa. Hôm nay gió lại đem hương về. Gió len lén vào hồn, gió tỉ tê bảo
chàng dừng bước để đi về một vùng kí ức xa mơ. Gốc hoa trắng bên tường đá. Những
chiếc bông trắng nho nhỏ chàng đã một lần cài lên tóc của một người thiếu nữ
năm chàng mười bẩy tuổi. Năm chàng nghe tiếng gọi bảo chàng đi tìm dòng suối
nhiệm mầu. Dừng chân bên đường, nẻo rừng trước mặt thấp thoáng từng chùm phong
lan đây đó. Hương nhẹ nhàng như những giọt nước mắt êm làm chàng mềm lòng. Nỗi
nhớ gọi chàng trở về với bàn tay đã một thủa làm chàng xao xuyến. Chàng đã dũa
móng tay mềm cho nàng, để móng tay cấu tình yêu cho thêm sâu, thêm kỉ niệm ngọc
ngà, cho nhớ đầy hồn thơ.
Bâng khuâng. Hương lãng đãng
như khói mà làm vướng víu bước chân. Hương nhẹ nhàng như mây mà chàng phải vất
vả chống đỡ. Chàng cảm nghiệm sâu xa rằng hương không bao giờ chết. Hương chỉ
quay mặt nhưng hương vẫn ở đó. Vắng bóng hương trong không gian không có nghĩa
là chàng đã hoàn toàn tự do. Chàng cũng nhìn thấy bước đường gian nan làm sao để
hòa đồng mà không bị đồng hóa. Bắt tay nhưng không nắm giữ.
LỜI NGĂN CỦA RỪNG
Trước mặt là rừng già. Bóng
tối chởn vởn. Rừng già im lìm nhưng có đe dọa. Hết rồi, những thời chàng thổi
sáo bên khu rừng phi lao vi vu gió reo. Hết rồi, thời chàng cưỡi ngựa thong thả
lên đồi hái sim. Rừng bây giờ là chắn lối bước qua. Gai làm rách áo người đi.
Giây leo làm vấp ngã chân nai. Từ rừng già có lời cảnh cáo nghiêm khắc:
- Hãy lui về mảnh vườn non
mà yên phận bên vườn cà, luống cải!
- Nhưng ta muốn đi tìm dòng
suối có làn nước trong mơ.
- Bóng tối!
- Nhưng ta có đèn lí tưởng
đang sáng trong hồn.
- Gian nan!
- Nhưng ta có kiên nhẫn chịu
đựng.
- Rừng già còn dài!
- Nhưng đời ta chỉ có một hướng
đi tới.
- Nếu ngươi không bao giờ tới?
- Ta sẽ chết trên đường ước
mơ!
Chàng dũng sĩ quất ngựa băng
mình vào rừng. Ngàn cây trút lá xào xạc. Con tuấn mã sợ sệt chùn bước. Chàng
dũng sĩ giơ tay sờ thanh gươm chưa bao giờ xử dụng tới.
Thấm thoát thế mà chàng đã bỏ
lại xa ngôi làng nhỏ có hương hoa bưởi hoa cau. Ðã cách xa người thiếu nữ xuân
thì ấy mười mấy năm rồi. Trên đường gian nan, lúc đơn côi là lúc chàng nhớ
thương nhiều về những gì đã bỏ lại. Những ngày đầu trên đường đi tìm dòng suối
là những quãng ngày đẹp. Những ngày thỉnh giáo với vũ trụ là dòng thời gian êm
đềm nhất. Mặt trời soi cho chàng biết ý. Biển nói cho chàng bí mật của chiều
sâu. Sóng nhắc nhở cho chàng một lời thề không bao giờ phôi pha. Và đá chỉ cho
chàng lí tưởng phải đi. Giai đoạn ấy có ánh sáng, có mây che mát, có trời cao.
Hồn chàng ngập ứ hi vọng. Mắt lúc nào cũng sáng ngời nhìn về tương lai với bàn
tay sẵn sàng giơ lên, với bàn chân sẵn sàng bước tới.
Nhận lời chỉ giáo của vũ trụ
vừa xong thì quãng thời gian êm ả ấy cũng lui bước. Bây giờ là gai, não lòng của
mưa, nuối tiếc của hương, và muộn phiền vì bóng của rừng. Trận chiến trên đường
lên núi cao bắt đầu gian nan. Sau tiếng nói của biển, của đá, của mặt trời thì
mưa phùn đối diện. Có lời ngăn cản của rừng. Phũ phàng của thương nhớ gọi giao
tranh tới. Ðời chàng dũng sĩ thương đau từ đây.
Lời gọi đi tới của mặt trời
hòa vào nỗi nhớ của hương bảo quay về.
Lời thề của sóng hòa vào cô
đơn của mưa giăng mắc lo âu.
Lời cao thượng của biển hòa
vào bóng tối yếu đuối của rừng.
Lí tưởng của đá hòa vào nỗi
đau của gai bảo chàng hãy so đo tính toán hơn thiệt.
Chàng dũng sĩ không ngờ trên
đường về núi cao lại có những gian nan lớn thế. Không bao giờ có giao tranh giữa
xum họp và tạ từ, giữa cô đơn và yêu thương, giữa thánh thiện và tội lỗi nếu
không có con người. Lầm lẫn và hoàn hảo không bao giờ hiện hữu nếu không có con
người. Vì sự có mặt của chàng nên chúng mới có mặt. Nếu chàng vắng bóng, lập tức
chúng cũng mất dạng. Ngay khi có mặt của chàng thì tham lam và nhân ái cũng có
mặt, hạnh phúc và đau khổ cũng nẩy sinh. Chỉ vì chàng mà tất cả được sinh ra
nên khi có giao chiến giữa các đối nghịch thì cũng chỉ là giao chiến vì chàng
và ở trong chàng. Không có giao chiến nào độc lập, xẩy ra ngoài tâm hồn con người.
Mặt trời và biển, mưa và
gai, đá và sóng, và rừng có mặt chỉ vì chàng có mặt, bởi đó, chàng thấy mình giữ
vai trò quan trọng chủ thể của nhiều thứ hiện hữu chung quanh. Không có con người
thì không có suy tư, không có vũ trụ. Mà cho dù vũ trụ có hiện hữu đi nữa, nếu
không có con người thì hiện hữu của vũ trụ chỉ là chết khô vì tự chúng không biết
sự hiện hữu của mình. Biển hiện hữu nhưng ý nghĩa của biển chỉ hiện hữu khi có
con người. Mưa có thể hiện hữu nhưng nỗi cô đơn của mưa chỉ hiện hữu trong tâm
hồn con người. Ðá có thể hiện hữu nhưng lí tưởng của đá, ý nghĩa của đá là do
chính con người ban cho nó. Gạt bỏ con người, tất cả mọi hiện hữu thành mờ nhạt
ý nghĩa. Mà không còn ý nghĩa thì sự có mặt chỉ là thừa.
Ý tưởng đó cho chàng xác tín
sự có mặt của chàng mang một ý nghĩa vô cùng thâm sâu. Cuộc đời ở trong chàng.
Vũ trụ ở trong chàng. Thánh thiện và tội lỗi, gai và biển, mặt trời và mưa, tất
cả không có gì ở ngoài chàng. Như thế thì chàng cũng có thể bước tới mà cũng có
thể quay về. Vì đi tới hay ở lại cũng đều ở trong chàng. Mùi hương của đóa lan
rừng làm chàng nhớ về một bờ tóc xa xưa. Chàng quay lại nhìn lối đi đã bỏ sau
lưng. Hình ảnh thương mến lãng đãng, dạt dào.
Ðang khi chàng bâng khuông
thì giữa rừng già im lặng có tiếng nói:
- Kẻ tra tay vào cày mà còn
ngoảnh lại đàng sau thì không xứng đáng ước mơ mùa gặt!
Dường như lời nói ấy có vẻ nặng
quá. Rồi có âm vang sửa lại như sau:
- Kẻ tra tay vào cày mà còn
ngoảnh lại đàng sau thì khó mà mong mùa gặt.
Chàng dũng sĩ cảm thấy bớt
đau vì âm vọng đó đã đổi lại từ "không xứng đáng" thành "khó mà
mong mùa gặt." Lời nói sửa lại đó cho chàng đỡ xót xa dù rằng vẫn còn
trách cứ. Chàng hỏi:
- Mùa gặt ở đâu?
Có tiếng đáp lại:
- Ở đàng trước mặt. Ở con đường
đi tới. Vì thế mỗi lần quay mặt lại chỉ làm chậm bước chân, làm mùa gặt càng xa
thêm.
- Khi nào thì tôi có mùa gặt?
- Khi mà đôi tay người nông
phu sưng lên vì lao tác!
Chàng ngạc nhiên khi con tuấn
mã bước vào lối rẽ mòn. Chàng thấy như đây không hoàn toàn là rừng già hoang dại.
Dường như có lối đi. Thì ra trước chàng cũng đã có nhiều người qua lại nơi đây.
Phải có nhiều bước chân tới khu rừng này nên mới làm thành đường đi. Nhưng lối
đi đã bị bỏ hoang lâu ngày. Cỏ phủ kín, có nhiều khúc không làm sao tìm được dấu
vết là đã một thời dập dìu vó ngựa. Ðiều ấy chứng tỏ đã lâu lắm rồi không còn
bước chân đạt tới nữa. Hoặc cho dù có thì chắc cũng lẻ loi như chàng chiều nay.
Con tuấn mã như có linh tính
báo trước một điều gì sắp xẩy ra. Nó chạy nhanh hơn. Thỉnh thoảng lại hí lên
sau bao nhiêu ngày im lặng. Nó có vẻ hân hoan rõ ràng. Chàng dũng sĩ cũng thấy
hồi hộp. Ðường càng tiến tới càng thu hút vó ngựa hồng. Lòng chàng cũng càng
thêm phấn khởi. Lá cỏ chung quanh hình như cũng đổi khác.
Chàng không nhận ra thay đổi
đã bắt đầu từ chỗ nào, nó từ từ, nó dần dần giống như chiếc áo ướt phơi dưới nắng.
Làm sao biết được lúc nào là khởi điểm của khô? Khó mà trả lời. Ðường về thượng
trí là một tiến tới liên lỉ, không đứt đoạn. Thánh thiện phải chắp nối từng điểm
nhỏ, và những điểm nhỏ ấy làm nên sợi giây dài. Bóng mầu đen sậm của rừng già
chuyển sang màu xanh nhạt rồi xanh non mơ màng. Áo của chàng đã hết ẩm ướt vì
mưa phùn, gió bạc. Trời chỉ còn sương mát chứ không còn những trận mưa xối xả.
Thoang thoảng bóng chim đã bay ngân nga trên lưng trời. Càng đi tới thì đường
càng có nhiều đá cuội trắng. Những viên đá nhỏ như hạt bắp làm vó ngựa kêu dâng
khúc nhạc xào xạc, đều đặn. Hoa ở đây cũng khác. Gió cũng nhẹ nhàng.
Sắp tới đỉnh núi rồi sao? Sắp
gặp ngọn suối diệu kì rồi sao? Chàng dũng sĩ vui mừng và chàng biết chắc chắn
khu đất này rất lạ, khác tất cả những đoạn đường chàng đã đi qua là sự thay đổi
trong chính hồn chàng. Một sự thay đổi như ý mong muốn. Càng đi lên cao nắng
càng hồng. Chàng đã nghe tiếng nước chảy róc rách, êm êm ở đâu đó. Nhạc rì rào
văng vẳng, chàng cũng thấy mùi mật ong thơm ngọt. Bên lối đi hoa nở xanh tươi.
Tiếng chim hót mỗi lúc mỗi giòn dã, cao vút. Con tuấn mã cũng như nghe được những
tiếng vó ngựa khác đang tiến về khu rừng này nên nó luôn luôn hí như để báo hiệu
cho đồng chủng biết sự có mặt của nó ở đây, đang mong ngày gặp gỡ. Tất cả cảnh
vật đều thần tiên. Cánh lá mầu nhung đỏ thẫm rơi nằm đầy trên lối đi lót đá cuội
trắng. Ðẹp nhất là những đóa hoa vàng. Mỗi khi gió thổi những tầu lá nhỏ, dài
như lá lúa xanh non múa tít rối vào nhau. Chiếc hoa vàng ở giữa làn cỏ biếc nổi
lên, huy hoàng lên như người thiếu nữ thủa xa xưa phơi áo lụa giữa trời tháng hạ,
gió tháng năm lùa rối tà áo bay vờn quanh nàng. Hoa nhiều quá. Càng đi lên, hoa
khắp cả. Những sợi giây leo giống như hoa tóc tiên cuốn bên gốc cổ thụ cao rợp
bóng mát. Từng chùm hoa phong lan leo trên bờ đá rêu xanh.
Chàng xuống ngựa, dẫm trên
cát mịn. Ðường bây giờ không còn đất nữa mà là cát trắng ngần. Con tuấn mã được
nghỉ ngơi, nằm vươn mình trên cỏ xanh mượt. Sau bao nhiêu ngày đi tìm dòng suối
của lí tưởng, bây giờ chàng đã sắp đến nơi. Người dũng sĩ ngồi mơ màng nhìn trời
cao trong vắt không một gợn mây.
Tiếng chân trên sỏi của một
vó ngựa khác mỗi lúc một gần. Chàng dũng sĩ hồi hộp, giờ đây chàng lại sắp có
thêm người bạn đồng hành. Tiếng ngựa mỗi lúc mỗi gần. Chàng sốt ruột đứng lên
nghe ngóng xem tiếng ngựa đang đến từ phía nào. Dưới đường lên thung lũng có
cát bụi bay. Một con bạch mã đang trên đường về phía chàng. Bầy chim hoảng sợ vụt
vào gió mỗi khi con bạch mã phóng như một lời chào hội ngộ. Áo của chàng tráng
sĩ cỡi con bạch mã bay như cờ trong chiều gió. Nghe tiếng ngựa hí, con tuấn mã
của chàng cũng nhẩy chồm dậy ngơ ngác tìm đồng chủng. Người tráng sĩ giơ tay
chào chàng nhưng tiếng nói của gã bị tiếng gió đang reo lấn át:
- Lên đường!
Con bạch mã vút qua chỗ
chàng đang đứng. Chàng cũng vội lên ngựa đuổi theo con bạch mã. Hai con ngựa hồng
đổ dồn dập bước chân trên đá sỏi trắng. Chàng đã có một bạn đồng hành.
Người tráng sĩ cỡi con bạch
mã vừa mới tới mặc chiếc áo khoác nâu. Khi người tráng sĩ đứng trước mặt ông
già gác cổng chàng dũng sĩ áo xanh mới thấy rõ chiếc áo nâu của người tráng sĩ
kia đã phai mầu, tay áo đã bạc phếch, gấu áo rách tua tủa. Nước da của chàng sạm
nắng mặt trời. Khuôn mặt cũng rắn đầy nghị lực phi thường. Trên bờ vai phía
sau, áo rách một khoảng để lộ ra vết thương còn trầy da như bị té ngựa. Cánh
tay cũng có vết máu. Trên trán, vết thương cũng chưa lành hẳn.
Nghe ông già nói. Tráng sĩ
rút thanh gươm đưa ra trước mặt ông già. Chàng dũng sĩ áo xanh thấy thanh gươm
của người tráng sĩ nọ đã bị sứt mẻ. Ðầu gươm bị gẫy. Thanh gươm mang nhiều vết
loang lổ của đất cát, có những vết đen như nhựa thông khô. Chiếc chuôi gươm
cũng rạn nứt. Dấu tích của một thời giao tranh ác liệt. Lúc người tráng sĩ tra
thanh gươm vào vỏ, chàng dũng sĩ mới để ý đến chiếc bao, nó đã bị đập vỡ để lộ
nguyên một khoảng gươm dài ra ngoài. Chàng tráng sĩ áo nâu đứng nghiêm như tác
phong của một sĩ quan trong quân kỉ. Ông già lại nói điều gì đó. Chàng tráng sĩ
giơ hai bàn tay ra trước mặt ông. Bây giờ chàng dũng sĩ áo xanh mới thấy hai
tay sưng vù, tím bầm. Lòng bàn tay tím đỏ, nát dập như bị hai vết chém đâm qua.
Những ngón tay sưng húp làm chàng dũng sĩ chỉ nhìn thôi mà cũng có cảm tưởng
đau nhức. Chàng rùng mình vì không hiểu đôi tay sưng như thế thì làm sao mà người
tráng sĩ có thể cầm cương ngựa được suốt cuộc hành trình dài.
Cánh cửa mở rộng. Con bạch
mã hí lên sung sướng. Tiếng hí vang động khắp núi đồi, rồi nó chồm vó phóng vút
vào phía trước mặt.
Có tiếng kèn trổi lên và như
có những cung nhạc rất lạ. Máu trong tim chàng đổ dồn dập. Dập dìu đó đây nghe
như xôn xao. Núi đồi cũng như say trong mật ong rừng. Chàng có linh cảm rằng ở
rất gần đây đang có vũ tiệc. Có ánh sáng và hoa, có trầm hương và những li rượu
nạm vàng. Có bình yên vô tận. Có nắng hồng rải hạnh phúc. Có gió hiền đong đưa
từng giải lụa, từng tơ vàng óng ả. Chàng hồi hộp quá đỗi cho một chờ mong sắp bắt
gặp.
Bây giờ đến lượt chàng dũng
sĩ áo xanh. Ông già cũng bảo chàng giơ thanh gươm như chàng tráng sĩ áo nâu lúc
nẫy đã làm. Thanh gươm của chàng tuy cũng có vết tích giao chiến nhưng vẫn mới,
lấp lánh như một thỏi bạc.
Ông lại bảo chàng giơ tay.
Ðôi tay đẹp như tay của tiểu thư chỉ biết đến sách vở chứ không bao giờ phải
cày sâu cuốc bẫm. Trên ngón tay áp út có chiếc nhẫn vàng rất xinh. Ông già
không nói nhưng từ từ như có mây sương phủ, bóng ông mờ phai dần. Chàng hốt hoảng
gọi. Màn sương lại loãng tan và hình ông già lại hiện ra rõ ràng như trước.
Chàng linh cảm như sắp có điều gì chẳng lành xẩy đến. Chàng nói với ông:
- Dạ thưa ngài xin để tôi đi
qua cổng Ðịnh Mệnh này.
Ông già lắc đầu bảo chàng:
- Không ai được vào nơi đây
nếu không phải là kẻ được Thượng Ðế chọn.
- Tôi đã được gọi và tôi đã
bỏ tất cả để tìm lên đây.
- Nhưng ta không thấy dấu hiệu
nào bảo cho ta biết ngươi là kẻ thuộc về khu vườn hạnh phúc này.
Chàng dũng sĩ rút trong túi
áo ra một cây thánh giá bằng vàng ròng. Ðấy là cây thánh giá đi sản từ ba, bốn
đời truyền lại. Ông già từ chối:
- Vậy dấu hiệu của kẻ được
chọn là gì?
Ông già lại bảo chàng giơ
bàn tay ra. Tay chàng trắng trẻo dễ thương. Chiếc nhẫn trên ngón áp út làm bàn
tay chàng càng thơ mộng và có mầu lãng mạn nữa.
Ông già lắc đầu từ chối:
Dấu của kẻ được chọn là có
thương tích vì cùng chịu đóng đinh với Ngài. Vết đinh chứ không phải đinh, vết
thương thập giá chứ không phải thập giá.
Nói xong ông già biến mất.
Chiếc đèn đã bị thổi tắt. Bóng tối nghẽn đường ước mơ. Khi ông già mất dạng thì
chung quanh chàng hoang vắng khô cằn. Không còn chim hót thảnh thơi. Chàng khát
nước, mong một li nước trong cơn mệt nhưng tiếng róc rách của con suối thì ở
quá sâu. Ðất đá gồ ghề, những con đường sỏi trắng không còn nữa. Mùi ngai ngái
của đất ẩm, mùi hăng hắc của nấm rừng làm chàng khó chịu. Cả khu rừng chỉ phất
phơ vài bông hoa dại lẻ loi. Chàng lên đường. Lá ở đây mục nát, những con bọ
đen bò lầm lũi trên đống rác mục. Cô đơn về trong tim. Chàng muốn gọi nhưng chỉ
có mình chàng, chẳng có ai để tìm một chút ủi an. Chung quanh là vắng vẻ mênh
mông. Mất. Lạc lối. Người dũng sĩ không còn nhận ra đây là đâu nữa. Cái hoang dại
mà chàng phải đối diện không phải là vắng bóng người, vì bao năm nay chàng đã
rong ruổi một mình. Hoang dại bây giờ lại tuyệt vọng, nó mở ra như một hố thẳm
không đáy. Sự hoang dại của con tim trở thành đối thủ với chính mình. Không còn
ai để mà than trách thì than trách chỉ là cay nghiệt với mình. Chàng muốn đâm
thanh gươm vào ngực nhưng không đủ can đảm. Chàng muốn chẻ thanh gươm vào mặt
nhưng không đủ can đảm. Và chính cái nhát đảm ấy cũng là một cay đắng. Chàng muốn
oán trách nhưng oán trách ai, vì có ai ở đây đâu. Chàng muốn gọi một lời nhưng
gọi về đâu. Tất cả chỉ là hoang vu. Chàng hiểu hỏa ngục chính là nơi mình đay
nghiến mình, nơi biết mình vĩnh viễn là kẻ thù của chính mình.
Trên khu đồi khô cằn, vất vưởng
một bóng người lạc lõng.
(Tôi muốn kết câu chuyện ở
đây. Mỗi người có thể tự tìm cho mình một lối kết khác, nhẹ nhàng hơn? Nếu lối
kết trên đây bi đát thì tôi có thể mở ra một lối ngõ như sau)
Con ngựa đã già. Chàng dũng
sĩ ngồi đau khổ trên gò đất mối. Thất vọng nghẽn lối như ngập khói dầy đặc
trong hồn. Ðưa tay vuốt ngực. Khó thở. Cô độc. Chàng lững thững đi về phía có
tiếng róc rách. Dòng suối ở vực sâu, oan kiên. Chiếc nhẫn trên ngón tay chỉ dầy
vò cho oan trái càng thêm khổ sở. Chàng tháo chiếc nhẫn vàng xinh, đưa lên nhìn
lần cuối rồi thả xuống vực sâu. Một âm thanh nhỏ vang lên khi chiếc nhẫn chạm mặt
nước.
Từ âm thanh nhỏ trong dòng
suối có tiếng vọng trong hồn bảo chàng nhìn lên đồi:
- Mùa gặt ở đàng trước mặt.
- Khi nào thì tôi có mùa gặt?
- Khi tay người nông phu
sưng lên vì lao tác.
Ðiệp khúc ấy mơ hồ cho chàng
một hi vọng mong manh. Ngước lên, chàng thấy ngọn núi không còn xa. Nhưng còn
gì nữa đâu mà cố gắng? Cửa đã đóng? Chàng nhìn bàn tay phân vân. Lại ngó lên
núi cao. Ðường nào đi mãi rồi cũng đến nơi? Sông nào chảy mãi rồi cũng ra biển?
Nhưng làm sao lên được núi cao.
- Hãy trung thành như sóng vỗ!
Hãy bền bỉ như thủy triều!
Ði nữa sao? Chàng nhớ về bài
học của biển. Gian nan? Chàng nhớ đến bài học của gai, và đôi hoa tai của người
thiếu nữ. Nhan sắc và vết thương của gai không thể tách rời. Chàng lại nhìn bàn
tay trắng trẻo. Nghĩ ngợi vô chừng.
- Dấu của kẻ được chọn là
thương tích của đinh chứ không phải đinh, là thương tích của thập giá chứ không
phải thập giá.
Lời của ông già đã xác định.
Bấy giờ chàng nghe như chàng đã tránh né nhiều lần trong đời chàng. Chàng lên
đường nhưng tâm hồn chưa trọn vẹn siêu thoát. Bàn tay chàng vẫn chưa có dấu vết
của lao tác nhọc nhằn. Chàng nhận thức một điều kiện tàn khốc là phải chấp nhận
đớn đau như người thiếu nữ muốn có nhan sắc phải chấp nhận cành gai. Ðến lúc đó
chàng mới nhìn ra con người thật của chàng. Chàng đã ca ngợi khổ đau bằng văn
chương chứ không phải bằng cuộc sống niềm tin. Chàng đã viết những bài thơ ca
ngợi đồi máu với thập tự cho đời mà lãng quên chính mình. Rong ruổi tìm ngọn suối
của chàng sẽ mãi mãi là ảo tưởng cho đến khi chàng nắm chặt những mũi gai nhọn
trong tay.
Những ý tưởng trên vừa làm
chàng xót xa nhưng cũng cho chàng hơi ấm. Chàng biết vẫn còn hi vọng ở phía xa.
Hi vọng nằm ở cành gai nhọn chứ không phải chỉ ở trong ước mơ. Mơ ước chỉ là khởi
điểm. Tim chàng ấm dần, máu chàng đỏ dần mầu náu nóng. Chàng nhìn rõ chứ không
còn mơ hồ. Chàng không còn lựa chọn nào khác. Chàng không còn tránh né nào
khác. Ðường lên núi cao là đường không nhượng bộ. Tuyệt đối không có nhượng bộ.
Tuyệt đối không có thay thế. Những suy tư về tuyệt đối dứt khoát ấy đẩy chàng đến
một quyết định sau cùng. Chàng nhìn lên ngọn núi, mơ hồ thấy những ngọn than hồng
từ từ rực sáng rồi thành biển lửa cháy bùng dữ dội. Nhưng biển lửa ấy chỉ cháy
bùng khi chàng lao mình đi tới với tất cả thương đau, gian nan. Nhìn biển lửa của
thách đố mời gọi, chàng xốc ngựa, che giấu nỗi đau, thúc ngựa lên đường.
Ði chưa được nửa ngày thì đường
trở nên gồ ghề toàn đá nhọn. Chàng phải xuống dắt ngựa theo. Lần đầu mới xuống
khỏi ngựa chàng đã trượt chân té ngã, ê ẩm cả đầu gối. Trèo qua được một quãng
thì bàn tay chàng đã xước da vì phải bám chặt vào đá mà bò. Chân chàng rớm máu.
Giờ gian nan đã điểm. Một con suối sâu hoắm trước mặt. Con ngựa già không thể
vượt qua được nữa. Người dũng sĩ thương con tuấn mã đến ứa lệ. Chàng phải từ
giã con tuấn mã. Chàng phải dẫm lên đá nhọn mà đi. Ðến ôm con ngựa lần cuối.
Chàng thấy như xé ruột gan khi phải dứt lìa một thân mến sau cùng. Chàng nhìn
con ngựa lần cuối, giơ tay vẫy chào vĩnh viễn rồi tìm theo lối đi nhỏ dẫn xuống
vực sâu. Nước ở bên dưới chảy như thác lũ. Thấy một chỗ an toàn nhất, chàng lấy
hết sức mình nhẩy qua. Bờ đá vỡ lở rơi xuống ầm ầm. Toàn thân chàng lơ lửng
trên không. Bờ bên kia chưa tới. Chàng kinh hoàng rụng rời khi biết mình không
thể đặt chân được lên bờ bên kia. Vực đá sâu thẳm. Chàng hét lên sợ hãi, đập mạnh
tay bám vào gốc tre già đã bị chặt cụt nhọn hoắt. Một mũi đâm ngọt lịm, gốc tre
sắc như dao đâm xiên qua lòng bàn tay treo chàng lơ lửng giữa bờ đá. Toàn thân
run lên vì đau đớn, sợ hãi. Mồ hôi và máu chảy đầm đìa. Sức nặng của toàn thân
xé rách dần bàn tay. Máu chảy dốc theo cánh tay. Nhưng nếu không có gốc tre
xuyên qua bàn tay để giữ lại, chàng đã rơi xuống vực sâu nát bấy. Ðôi chân co
quắp giữ lấy bờ đá. Khi chàng leo lên được thì bàn tay như toạc ra. Chàng không
còn bước vững nữa. Lảo đảo cố té. Còn lại bàn tay duy nhất vội giơ ra chống đỡ.
Chồng đá rung động sập xuống, máu chảy chan hòa nhuộm đỏ một vùng đá cứng. Con
ngựa hí lên đau thương nhìn chủ nó thân yêu gục chết.
Khi có điệu nhạc vô thường
trổi lên thì Vườn Hạnh Phúc biết là sắp có một dũng sĩ đến. Cả Vườn Hạnh Phúc
xôn xao chờ đón. Chàng tráng sĩ áo nâu nheo mắt nhìn và chàng nhận ra ngay vị
dũng sĩ đang đến trong tiếng đàn sáo hoan ca tưng bừng là người đã từng bị từ
chối ở cổng thành.
Lời suy tư:
Ðường lên núi cao của
Phaolô:
Những điều gì bất cứ người
ta dám làm, thì, thật tôi nói như nổi khùng, tôi cũng dám làm. Họ là người
Hippri ư? Tôi cũng thế! Họ là người Israel ư? Tôi cũng thế! Họ là dòng giống
Abraham ư? Tôi cũng thế! Họ là tôi tớ Ðức Kitô ư? Tôi nói rất mực điên khùng là
tôi còn hơn gấp mấy! Hơn nhiều bởi công lao, hơn nhiều bởi tù rạc, đòn vọt, lắm
lần hầu đã vong mạng. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh đòn ba mươi chín trượng,
ba lần tôi bị tra tấn, một lần tôi bị ném đá, ba lần tôi đã đắm tầu, và đã qua
một ngày một đêm chơi vơi trong lòng biển. Tôi chịu nguy hiểm vì sông ngòi,
nguy hiểm vì trộm cướp, nguy hiểm vì người đồng chủng, nguy hiểm vì dân ngoại,
nguy hiểm nơi thành thị, nguy hiểm chốn hoang vu, nguy hiểm trên biển cả, nguy
hiểm nơi những anh em giả. Lao đao vất vả bởi thao thức thường bữa, bởi đói
khát, bởi nhịn ăn lắm bận, bởi lạnh rét, bởi mình trần (2 Cor. 11:22-27).
Ðường lên núi cao của người
thanh niên:
- Thưa Thầy tôi phải làm gì
để được sự sống đời đời?
- Nếu ngươi muốn nên trọn
lành, thì hãy đi bán hết những gì ngươi có mà cho người nghèo, ngươi sẽ được
kho tàng trên trời, đoạn hãy đến theo Ta. Nghe lời đó người thanh niên cúi mặt
bỏ đi buồn rầu (Mt. 19:23-24).
Lời cuối
* Chuyện chỉ là tưởng tượng.
Nhưng đường về cõi vĩnh hằng là có thật. Kẻ được chọn sẽ là người mang thương
tích của thập giá chứ không phải kẻ chỉ ca ngợi thập giá, điều ấy có thật. Mặt
trời và biển là điều có thật. Gai và đau khổ là điều có thật. Ðơn độc trong mưa
là điều có thật. Gian nan để theo đuổi lí tưởng là điều có thật. Trong những điều
có thật này, Phaolô bảo rằng ông không quản ngại gian nan, vì "gian nan
trong hiện tại gây nên cho ông đời đời một khối vinh quang siêu vời tuyệt đỉnh,
miễn sao đừng dán mắt vào những điều trông thấy được, vì hữu hình là phù vân,
vô hình mới trường cửu" (2 Cor. 4:16-18).
* Nếu những điều trông thấy
là phù vân, vô hình mới trường cửu, thì, có phải những gì vô hình trong tưởng
tượng cũng chưa chắc là tưởng tượng phù vân?.
Nguyễn Tầm Thường



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét