Phạm Chu Sa có thơ đăng trên các báo văn nghệ Sài Gòn từ
1970, khi ông đang theo học Đại Học Vạn Hạnh, cùng lúc làm biên tập và là thư
ký tòa soạn tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh, từ 1971 đến cuối năm 1973 thì bị
bắt quân dịch, bị đẩy lên Tây Nguyên, đến đầu năm 1975, ông đào ngũ trốn về
Sài Gòn.
Cả ba tập thơ của ông xuất hiện trước công chúng có một khoảng
cách khá dài, Những nụ tình xanh do cơ sở Đồng Dao xuất bản năm 1972. Đến
tháng 2 năm 1975, ông tự xuất bản tập Trên đồi sương phủ, lúc mà cuộc chiến
bùng nổ ác liệt và đến hồi gần kết thúc, nên tập thơ bị bỏ ngỏ, không thể tới
tay độc giả.
Tuy khoảng cách xuất hiện khá xa nhau về thời gian, nhưng
thơ của Phạm Chu Sa trước sau vẫn là cõi mộng mênh mông tình. Đó là những cuộc
tình lỡ, tình say, tình ảo… Cho tới khi ngã rẽ cuộc đời ông là lính thú -
quân dịch - trên vùng đất Tây Nguyên heo hút. Heo hút, nhưng không thiếu tiếng
đạn bom. Vì vậy, thơ ông vẫn vang vọng âm sắc của những mối tình uất nghẹn,
chia lìa vượt thời gian như đang hít thở khói trời lồng lộng. Và ông làm thơ
không phải mang tâm thức của kẻ lưu đày mà, vượt lên trên khói lửa vẫn là những
vần điệu ngọt ngào đến cay đắng của chàng thư sinh đang bước nốt đoạn đường của
mộng, của say cùng tỉnh thức theo trăm ngả phân ly để hoàn tất nốt cuộc lữ
trong nỗi cô đơn cùng tận.
Bắc Phương Hành, ông viết vào tháng 2.1973 sau ngày ký
hiệp định Paris, tràn đầy cảm xúc như mâu thuẫn nhau: Vừa khấp khởi mừng vui
vì hòa bình sắp lập lại trên quê hương đã quá đỗi điêu tàn, vừa ngậm ngùi
thương nhớ bao nhiêu người đã nằm xuống.!.. Đó là những người bạn, người
tình, là nhân thế nổi trôi bềnh bồng quanh ông, trên quê hương ông, để những
giờ khắc khơi vơi, một mình đâu đó, nơi đèo cao dốc thẳm, chốn núi rừng thâm
u kéo dài những u hoài chồng chéo nhau:
Hai mươi năm nối thành bi khúc
Bài ca buồn bã nối điêu tàn
Những ngựa ngủ vùi lòng đất chết
Những đời nằm xuống vẫn hoang mang
Màu quê cũ rưng hồn lữ khách
Chút lòng lận đận với quê hương…
(Một nửa, trg 12)
Thời khắc ông viết bài hành này là lúc ông tưởng tượng ra một
cuộc hành trình từ Nam ra Bắc khi quê hương ngưng tiếng súng (vì hiệp định
đã ký), hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, không còn giòng sông
chia cắt, non sông nối liền một dải:
Ta đi biển thét lời giông bão
Sá gì chút gió mặn chiều hô
Mà không dựng thẳng cờ minh đạo
Soi một giòng sông nối một giòng…
Mới dợm bước chân khởi cuộc lữ hành (mới chỉ là tưởng tượng)
thi sĩ đã nâng chén rượu nhạt chia tay người tình - chia tay một cuộc tình:
… Ví thử đời ta men rượu nhạt
Mời em nhân buổi tiễn đưa này
Chắc cũng buốt môi người cúi mặt
Còn chút tình xưa như khói bay
(Một nửa, trg 7)
Tôi nghĩ, khi sử dụng thể hành, thì nhà thơ có thể giải bày
trọn vẹn tâm cảm gần xa, nên trước kia, những Trần Huyền Trân, Nguyễn
Bá Trác, Nguyễn Bính đã đẩy câu thơ chuồi dài tới tận sau này với những Độc
hành ca, Hồ trường,Hành Phương Nam… nên Phạm Chu Sa đã chọn thể hành như để gửi
gắm tấc lòng, để giải bày những ưu uất sâu kín, ông đã mang theo cùng năm
tháng?
Ông thản nhiên đón nhận số phận đẩy đưa. Thản nhiên đến mức
lạnh lùng trong bài hành thứ hai: Trường Sơn hành như một định mệnh
khắc nghiệt đời ông được báo trước.
Núi chẻ đèo cao rừng thăm thẳm
Núi tiếp rừng xanh nắng trải thảm
Chân bước dò trên xác lá khô
Hồn mở vào cửa mộng hư vô
(…) Mang trên vai nửa đời tuổi trẻ
Nhìn quanh ta chập chùng bóng xế
Bước vội, nhưng nhịp nhàng nhịp nhàng
Đầy ắp hồn thơ điệu cuồng vang
(Một nửa, trg 32)
Giữa đại ngàn Trường Sơn thâm u, tâm hồn và bản thân ông vừa
chìm ngập vào thiên nhiên hùng vĩ mà gờn gợn để tiếp tục, vừa thản nhiên quan
sát và liên tưởng đến số phận “tàn xiêu, mây trôi” của mình trong thời gian
biếm trích nơi vùng đất chết:
Trường Sơn núi dài hằn vết chém
Nát bấy hồn ta làm muôn mảnh
Máu đỏ ngầu sông núi thân yêu
Ta nhìn ta bóng đổ tàn xiêu
Trường Sơn núi biếc trời đứng bóng
Rền vang tiếng bước thời gian vọng
Lắng chìm hơi thở thời gian xuôi
Đời ta như một bóng mây trôi
(Một nửa, trg 37)
Trong buổi nhiễu nhương, tâm cảm nơi ông chừng như là những
mộng mị trôi nổi có không từ “thời gian vọng” đến “thời gian xuôi” như cách gắn
liền quá khứ xa tới hiện tại gần, là nỗi cô đơn của kẻ lưu đày trên chính
ngay mảnh đất ông đang bước tới, gắn chặt, thở khói trời u uẩn. Ông chìm khuất
và mất tăm giữa cái ồn ào trống rỗng, là tiếng kêu bi thiết của con chim gục
ngã trên tổ rơm thông thống lỗ méo nụ hoang hoác:
Bằng hữu lang thang người mỗi ngả
Ông gọi ai đến nỗi phải mang theo nỗi trống trải dặm dài,
ông thở với lớp lớp mây trắng đùn quanh chóp núi trống trơn, nghêu ngao với
những cuộc tình nhân thế dẫy đầy ảo mộng?
Thật ra, không phải tới tận bây giờ Phạm Chu Sa, (khi Một
nửa đến với độc giả như một cuộc tương phùng sau chừng ấy năm dài im lặng) mới
hé lộ những rơi rớt tang thương những cuộc tình lỡ, mà trước đó, ông đã khơi
gợi như một phiên thư âm bản ở hai tập: Những nụ tình xanh
(1972) và Qua đồi sương phủ (1975). Đó là những âm tiết
khởi đầu bật lên nỗi hoài nhớ mênh mông một kiếp người, một cuộc tình như
khói như sương và rồi đọng lại trong tâm trí ông như một bức ảnh hoen nhòe màu thời gian.
Tình em cuộn tròn như con mèo ốm
Vo viên đời anh như điếu thuốc
(…)
Anh cũng muốn hỏi em biết điều gì không
Đêm và bóng tối
Đã quanh quẩn trong anh nửa đời mộng thực
(Những nụ tình xanh, trg 54-55)
Đó là những lời tự thú ngọt chát và cay sè nơi cõi lòng
ông, liêu xiêu nơi hai bờ mộng thực. Nhớ lại những năm trọ học cùng ông trên
căn gác gỗ đường Nguyễn Huỳnh Đức (nay là Huỳnh Văn Bánh), Phú Nhuận, nhìn bờm
tóc ông nhuốm ráng chiều màu nắng quái ngoài hành lang, nhìn cái dáng xiêu
xiêu thẫn thờ dưới cột đèn ngã chúi về đêm trong con hẻm nhỏ và hai tay trong
túi quần và ánh mắt như màu tối đậm trên bờ tường thấp loang lổ, tôi đã tự hỏi:
ông tự tìm kiếm chính mình trong nỗi cô đơn hay hoài nhớ về những gì ông đã
đánh rơi đâu đó, là những hình bóng nhập nhòa, hiển hiện trên bờ tường đá
ong, những mất mát luôn vây bủa, bi luỵ không ít đến cuộc đời ông?
Những thứ rơi vãi dọc đời ông, không hình hài rõ nét. Chúng
chợt bật lên trong ông, có khi là một cơn mưa dầm, một ngày nắng cháy. Cũng
có khi đang có chút se lạnh trong lớp khí trời từ phương bắc tràn về, xám đục
đến ảm đạm:
Ở Sài Gòn thèm một ngày mưa bụi
Thèm nhạc sầu của gió bấc heo may
(…) Mưa ở đây mưa quá đỗi bất thường
Và nắng gắt cháy cả tình mới chớm
(Một nửa, trg 15)
Khoảng không gian trơ khấc và nhão nhoét kia bất chợt trườn
vào tâm trí ông, để cuối cùng chỉ còn là nỗi trống không, mà khởi đầu là những
nhớ nhung trong mất mát không cùng:
Ở Sài Gòn chiều không em mây nổi
Nhớ em nghe giá buốt dậy trong hồn
Bài thơ này (Ở Sài Gòn), ông viết xong vào tháng 6 năm
1973, nửa năm sau hiệp định Paris. Nỗi hoang mang và nhớ nhung hỗn độn nơi
ông, trong chính nội dung bài thơ không để người đọc khám phá điều gì về thời
cuộc. Nhưng ẩn giấu phía sau những ngày Sài Gòn anh bỏ quên mộng tưởng/Đêm
đèn màu rực sáng nỗi ưu tư/Cơn mộng nhỏ môi dậy thì thiếu nữ/ Sao niềm đau chợt
buốt nhức không ngờ lại dẫn ta đến những liên tưởng về những hoang mang
của ông trong khoảnh khắc “còn một chút Sài Gòn” trước khi ông trở thành gã
đào binh. Ông giấu cái thực trong mộng tưởng. Ông cất nỗi ngậm ngùi trên vai
áo, để mấy chục năm sau, cũng Sài Gòn ấy lại khơi gợi hình ảnh Sài Gòn trước,
vẫn là những tâm trạng Ở Sài Gòn bây giờ có những sớm mai buồn muốn
khóc/ Mặt trời mù cơn ngái ngủ bình minh/ Những giọt cà phê buồn rơi lặng lẽ/ Sóng sánh màu mắt em (Ở Sài Gòn bây giờ, trg 52). Những hình ảnh của Sài
Gòn trước và bây giờ vẫn cứ nguyên vẹn trong ông, vẫn là sớm mai buồn,
giọt cà phê buồn, vẫn rơi lặng lẽ và dồn nén thành màu mắt em,
chiếm trọn tâm hồn ông, không thay thế, không ai khác ngoài em.
Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó Dostoievsky viết, đại ý rằng: “cả đời
tôi chỉ muốn đẩy tới tận cùng những gì người khác chỉ làm được có một nửa”.
Phạm Chu Sa thì không đủ lực để làm cái công việc vĩ đại của đại văn hào Dos.
Ông không tuyên bố hoàn thiện cuộc đời bị xáo tung, mà đơn giản là tìm trong
chính mình, đi tìm một nửa của cuộc đời mình bị rơi lạc nơi đồi hoang núi sâu
hay giữa lòng thành phố tràn ngập ánh đèn? Chuỗi dài quẩn quanh tìm kiếm cái
đã mất trong con người chính mình đến mệt nhoài những hơi thở dốc. Và khi tìm
thấy thì hệ quả là:
Quá nửa đời anh đi tìm một nửa
Một nửa nào thất lạc của anh xưa
Khi tìm được thì nửa anh vụn vỡ
Nên làm sao ta ráp lại cho vừa.
Hàn gắn lại em ơi đời tạm bợ
Một chiều say một sớm tỉnh một khuya buồn
Một giọng hát một điệu cười khúc khích
Cũng tràn đầy cả hạnh phúc đau thương
(Một nửa, trg 104)
Nhà thơ Du Tử Lê có một nhận xét về Phạm Chu Sa, theo tôi
là chính xác: “… và người đọc đã bắt gặp một cái gì đó, một cái gì đó có
thể nhìn như một Phạm Chu Sa. Một cái gì không thể mang một tên gọi khác… Tôi
muốn ví thơ ông như một giòng sông xanh, nhưng dưới đáy lại ẩn sẵn khá nhiều
sóng ngầm”.
Cuộc đời ông chưa bao giờ yên ả. Và thơ ông cũng vậy, ẩn
bên dưới sự phẳng lặng là những giòng chảy ngầm cuồng phẫn, chờ chực bùng lên
những đợt sóng gầm gào. Thoạt lướt qua, tưởng chừng như những câu thơ kia
dung dị, đôi khi mang hơi thở chung của những chàng thi sĩ trước năm 1975, là
những buồn chán, cột đèn vàng, giọt cà phê đen… tâm trạng của một thời tan
tác. Nhưng ẩn bên dưới ngữ nghĩa tầng sâu lại là những cuồng khích, bung vỡ
sôi sục, đôi khi nhuốm màu sắc phản kháng của tuổi trẻ:
Bằng màu đen của bóng tối cạm bẫy
Trốn chạy nỗi căm hận khô đắng
Trốn chạy niềm cô đơn
Cuồng loạn những điệu kèn da đen buổi dạ hội hóa trang
Sự bất lực của âm thanh
Và bóng tối đồng lõa
(Một nửa, trg 63)
Thời nhiễu nhương, tuổi trẻ phản kháng, tuổi trẻ gào rống,
tuổi trẻ xuống đường, buồn nôn, phẫn nộ, chán chường… không phải là điều mới
lạ. Thời nào và ở đâu tuổi trẻ cũng nhạy cảm trước các vấn đề xã hội, thời cuộc...
Xã hội và thời cuộc nhớp nhếch như là mệnh đề tiên thiên xô ngã con người vào
“vũng trống”, và họ bất lực gào lên:
Đêm thành phố thật buồn
Mười giờ tối còi giới nghiêm reo vội vã
Đêm chợt im vắng trong niềm sôi sục
Sẽ vỡ tung một sớm mai nào
(Những nụ tình xanh, trg 72)
Có lẽ, sẽ rất thừa thãi khi các nhà đạo đức, trong bối cảnh
xã hội suy đồi, phong hóa, lên tiếng chỉ trích sự mất cân bằng trong suy nghĩ
và hành động của giới trẻ. Thời kỳ đó, Phạm Chu Sa thuộc lớp tuổi hai mươi,
nhưng không tĩnh yên để lắng nghe, để nhìn, đọc những lời rao giảng như Thiền
sư Nhất Hạnh đã từng viết: “Tôi rưng rưng nước mắt, vì tôi được nghe chính tiếng
nói của lòng tôi, tiếng tự thú của lòng tôi… Nếu các em biết thương yêu và tha
thứ thì hồn nước cũng sẽ giật mình, đời chúng ta sẽ lên sức sống, tủi hờn sẽ
lắng xuống và niềm kiêu hãnh sẽ vươn lên. Nếu các em biết thương yêu và tha
thứ thì súng đạn cũng sẽ phải thở dài, tàu bay cũng sẽ phải khóc, lựu đạn sẽ
phải im tiếng, và quê hương ta sẽ không còn là một bãi chiến trường” (Nói với
tuổi hai mươi). Nhưng khốn nỗi, đó chỉ là cách nhìn của thầy Nhất Hạnh. Tuổi
trẻ không còn đủ tỉnh táo để bước đi trên những con đường gập ghềnh, hỗn độn.
Đó cũng là nét chung với đa phần. Phạm Chu Sa không tự tách mình ra khỏi đống
bùng nhùng kia, ông viết:
Khép kín trái tim.
Hai tay vo tròn quá khứ
Hồn chết lịm từng phiến băng tan
Ta cúi đầu bỏ trốn
Ngôi mộ đời cỏ úa xương người
(Những nụ tình xanh, trg 30)
Lúc này, trong tay tôi chỉ còn hai tập: Những nụ tình xanh
và Một nửa (Trên đồi sương phủ, ngay chính tác giả cũng không giữ nổi), nhưng
khi soi rọi lại, có vẻ như Một nửa là sự nối dài từ tập thơ đầu tay. Vẫn giọng
điệu ấy, vẫn tâm tình ấy. Hơi thở từ thơ ông tưởng chừng như mong manh khói
sương, nhưng đằng sau lại là những ẩn ức, những bất lực, trắc trở… cả đời
ông cất công tìm kiếm, ráp nối cho trọn vẹn. Khốn thay, thảy đều không theo
đúng ý ông:
Lang hang rong rừng vắng
Hái một cụm hoa sầu
Ồ khắp trời mây trắng
Biết lối về nơi đâu?
(NNTX, trg 59)
Trời cao trăng nở rộ
Lữ khách trên đường khuya
Bóng nhòa trong sương lạnh
Nhớ nhà, đâu lối về?
40 năm trước ông không tìm ra “lối về” cho riêng mình, thì
đến 40 năm sau ông vẫn loay hoay tự tra vấn:
Như đời ta vốn đã quá ngu ngơ
Đi tìm mãi những điều không có thật!
Cám ơn đời từ niềm tin thứ nhất
Thứ hai, ba, tư… cho đến cuối cùng
(Một nửa, trg 103)
Cuối cùng thì đâu là “lối về” của ông?
Có lẽ, xin tạm mượn mấy dòng sau của nhà thơ Du Tử Lê nhận
xét về tác phẩm Phạm Chu Sa dể kết thúc bài viết này:
“Phạm Chu Sa, với những bài thơ mới, nơi nửa sau của thi phẩm
“Một nửa” đã cho thấy ông vượt qua được ngưỡng cửa ngáng trở tàn khốc của thời
gian. Thơ của họ Phạm ở những năm tháng sau 1975, tuy căn để, đa số vẫn là những
thao thiết về tình yêu. Nhưng đó là một thứ tình yêu đã ra khỏi hố, hầm ẩn
náu của những xung động tình cảm đôi lứa thuần túy. Mà, tình yêu, trong cõi
giới thi ca Phạm Chu Sa hôm nay, là những vấn nạn được cất lên từ những tâm
bão nhân sinh. Những cật vấn tử/ sinh. Kiếp/ đời. Theo tôi, đó là những câu
thơ được chắt ra từ những chiêm nghiệm đời sống đã sắc xuống. Để tự thân, thơ
có được chiều sâu và, độ rộng… Trong ‘Một nửa’ của họ Phạm, cá nhân tôi rất thích những câu thơ như, ‘Tự đào huyệt chôn mình/ như một tên tử tội/ a
ha ta hóa trang/ làm anh hề múa rối.’ Hoặc, ‘Hạnh phúc trơ vơ trên dây
thong lọng/ em kịp mua về đốt hết nhân gian.’ Hoặc ‘Dã quỳ thắp nắng/ chìm
dần trong sương/ nhặt bóng tà dương/ ném vào vô tận.’ Hoặc nữa, ‘Một chân
thò lỗ huyệt/ một chân nhảy lò cò/ đi tìm phương bất diệt,’ vân vân…” (dutule.com)
Phạm Chu Sa
Tên thật: Phạm Đình Thống
Sanh năm 1949 tại Bình Định, Trung phần Việt Nam
Cựu sinh viên ĐH Vạn Hạnh.
Trước 1975, cộng tác với Tuổi Ngọc, Vấn Đề, Văn, Khởi Hành…
Sau 1975, làm nhiều nghề kiếm sống, rồi làm Phóng viên,
Biên tập viên các báo: Thanh Niên, Gia Đình và xã Hội; Phụ trách phía
Nam tạp chí Ngày Nay (Hiệp Hội UNESCO - VN). Cộng tác với các báo, tạp
chí: Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Phụ Nữ TP. HCM, Kiến Thức Ngày Nay, Xưa
và Nay…
Thơ đã xuất bản:
- Những nụ tình xanh, NXB Đồng Dao
(1972)
- Qua đồi sương phủ, Tác giả XB (tháng 2-1975)
- Một nửa, NXB Thanh Niên (2011)
|
Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2019
Phạm Chu Sa mênh mông cõi tình
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em
"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét